Chương XX – MAGGAVAGGA - (Phẩm Con Đường)

15/06/20144:18 CH(Xem: 1562)
Chương XX – MAGGAVAGGA - (Phẩm Con Đường)
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
Dhammapada
KINH LỜI VÀNG
Việt - lục bát thi hóa - Pāḷi
( In lần thứ 5, có chỉnh sửa và nhuận sắc lần cuối)

Chương XX 
MAGGAVAGGA 
(Phẩm Con Đường)

273.

Tối cao: Bát chánh Con Đường!

Tối cao: Tứ đế, tỏ tường khổ ai!

Tối cao: Lìa ái trong ngoài!

Tối cao: Pháp nhãn giữa loài hai chân!

 

Maggān’aṭṭhaṅgiko seṭṭho

saccānaṃ caturo padā,

virāgo seṭṭho dhammānaṃ

dvipadānañ ca cakkhumā.

­œ

274.

Đó là duy nhất Con Đường

Chẳng lối nào khác: “Thanh lương kiến phần”!(1)

Ma vương nhìn ngắm, than thầm

Lo âu, sợ hãi thế nhân đi vào!

 

Eso va maggo natthañño

dassanassa visuddhiyā,

Etaṃ hi tumhe paṭipajjatha

mārassetaṃ pamohanaṃ.

­œ

275.

Lối này nếu quyết đi theo

Ái hà khô cạn, rong bèo tang thương!
Như Lai chỉ dạy Con Đường

Chặt lìa gai chướng, thanh gươm tuệ phần!

 

Etaṃ hi tumhe paṭipannā

dukkhassantaṃ karissatha,

akkhāto vo mayā maggo

aññāya sallakanthanaṃ.

­œ

276.

Ra đi nỗ lực tầm tư

Như Lai là bậc Đạo Sư chỉ bày

Ai “tâm đạo lộ”(1) đủ đầy

Ma vương đâu dễ buộc dây kéo hoài!

 

Tumhehi kiccaṃ ātappaṃ

akkhātāro tathāgatā,

paṭipannā pamokkhanti

jhāyino mārabandhanā.

­œ

277.

Khi tuệ quán chiếu tỏ tường

Các hành vốn dĩ vô thường xưa nay

Thoát ly khổ não, đọa đày

Thanh Tịnh Đạo, ai rày chớ quên!

 

Sabbe saṅkhārā aniccā’ti

yadā paññāya passati,

atha nibbindati dukkhe

esa maggo visuddhiyā.

­œ

278.

Khi tuệ quán chiếu tỏ tường

Các hành vốn dĩ đau thương, khổ nàn

Thoát ly phiền não, chán nhàm

Thanh Tịnh Đạo, Niết-bàn tìm đâu?!

 

Sabbe saṅkhārā dukkhā’ti

yadā paññāya passati,

atha nibbindati dukkhe

esa maggo visuddhiyā.

­œ

279.

Khi tuệ quán chiếu tỏ tường

Các pháp vô ngã, chẳng thường là ta

Thoát ly phiền não, ác tà

Thanh Tịnh Đạo, chẳng xa lối về!

 

Sabbe dhammā anattā’ti

yadā paññāya passati,

atha nibbindati dukkhe

esa maggo visuddhiyā.

­œ

280.

Tuổi trẻ sức lực dồi dào

Lại sống buông thả, lao chao biếng lười!
Tinh thần suy nhược, rã rời

Làm sao có Tuệ mà soi Con Đường?

 

Uṭṭhānakālamhi anuṭṭhahāno

yuvā balī ālasiyaṃ upeto,

Saṃsannasaṅkappamano kusīto

paññāya maggaṃ alaso na vindati.

­œ

281.

Giữ gìn lời nói chánh chơn

Hộ phòng tâm ý trắng trơn sạch làu

Thân quen hành ác, dứt mau!

Ba nghiệp thanh tịnh, đạo mầu chứng tri!

 

Vācānurakkhī manasā susaṃvuto

kāyena ca nākusalaṃ kayirā,

ete tayo kammapathe visodhaye

ārādhaye maggamisippaveditaṃ.

­œ

282.

Tu thiền thì Tuệ phát sanh

Không thiền thì Tuệ mong manh phụt tàn!

Hữu và phi hữu hai đàng(1)

Suốt thông, nỗ lực dễ dàng Tuệ tăng!

 

Yogā ve jāyatī bhūri

ayogā bhūrisaṅkhayo,

etaṃ dvedhāpathaṃ ñatvā

bhavāya vibhavāya ca,

tath’āttānaṃ niveseyya

yathā bhūri pavaḍḍhati.

­œ

283.

Hãy đốn rừng!(1) Chẳng chặt cây!(2)

Là rừng dục vọng ẩn đầy quỷ ma

Rừng to, rừng nhỏ không tha(3)

“Không rừng”(4) mà sống, gọi là sa-môn!

 

Vanaṃ chindatha mā rukkhaṃ

vanato jāyate bhayaṃ,

chetvā vanañca vanathañca

nibbanā hotha bhikkhavo.

­œ

284.

Cho dầu một bụi cỏn con

Nữ nam ái luyến vẫn còn chồi leo

Ái kia cứ buộc, cứ đeo

Bê đòi vú mẹ, bám theo, dính hoài!

 

Yāvaṃ hi vanatho na chijjati

aṇumattopi narassa nārisu,

paṭibaddhamanova tāva so

vaccho khīrapakova mātari.

­œ

285.

Dây tình xin chớ xót thương

Cắt lìa cành cọng, sen vương thu tàn

Nuối chi những buộc, những ràng

Sống đời an tịnh: Con Đàng Tôn Sư!

 

Ucchinda sinehamattano

kumudaṃ sāradikaṃ va pāṇinā,

santimaggameva brūhaya

nibbānaṃ sugatena desitaṃ.

­œ

286.

Mùa mưa ta sống ở đây

Hạ này cũng vậy, thu rày đi đâu?

Người ngu tính chuyện dài lâu

Có nghe sự chết gõ đầu hỏi thăm?

 

Idha vassaṃ vasissāmi

idha hemantagimhisu,

iti bālo vicinteti

antarāyaṃ na bujjhati.

­œ

287.

Những ai say đắm thế gian

Bám vào con cái, vào đàn vật nuôi

Sự chết cũng cuốn theo người

Như làng mê ngủ, lũ trôi chẳng ngờ!

 

Taṃ puttapasusammattaṃ

byāsattamanasaṃ naraṃ,

suttaṃ gāmaṃ mahoghova

maccu ādāya gacchati.

­œ

288.

Lấy ai để bảo trợ ta?

Họ hàng con cái hay cha mẹ mình?

Khi mà sự chết rập rình

Cô đơn chịu nghiệp, vắng thinh chẳng người!

 

Na santi puttā tāṇāya

na pitā nāpi bandhavā,

antakenādhipannassa

n’atthi nātīsu tāṇatā.

­œ

289.

Bậc trí biết như vậy rồi

Tự chăm giới hạnh, chẳng rời oai nghi

Dọn đường thanh tịnh, tuệ tri

Sớm thành chánh đạo vô vi Niết-bàn!

 

Etaṃ atthavasaṃ ñatvā

paṇḍito sīlasaṃvuto,

nibbānagamanaṃ maggaṃ

khippameva visodhaye.



(1) Dassanassa visuddhiyā: Với cái thấy thanh tịnh (Tri kiến thanh tịnh).

(1) Người thực hành bát chánh đạo.

(1) Hai đàng: Rõ thông định và tuệ; tham và sân; thiền sắc giớivô sắc giới; hữu (hữu ái), phi hữu (phi hữu ái).

(1) Rừng dục vọng.

(2) Theo chú giải, khi đức Phật dạy “hãy đốn rừng”, có một số vị tỳ-khưu hiểu theo nghĩa đen, nên ngài phải nói tiếp là “ không chặt cây” – vì rừng là rừng dục vọng, không phải là rừng cây thật .

(3) Dục, nhiễm ô lớn nhỏ.

(4) Không còn dục vọng, nhiễm ô.

Tạo bài viết
10/08/2011(Xem: 37081)
18/04/2016(Xem: 5140)
02/04/2016(Xem: 3922)
27/03/2014(Xem: 12567)
06/08/2010(Xem: 36727)
Đó là danh hiệu đồng đội tặng cho Anh mỗi khi tập trung cùng Đội Tuyển Quốc Gia Ý thi đấu quốc tế ,đặc biệt ở những kỳ World Cup ,và Anh thường được tín nhiệm giao đeo băng đội trưởng .
Vì vậy,trước vấn đề nghiêm trọng của nhân dân và đất nước, trong nguy cơ tiềm ẩn một cuộc xâm lăng bằng di dân và đồng hóa của Cộng Sản Trung Quốc, Văn Phòng Điều Hợp Liên Châu thuộc các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, GHPGVNTN Hoa Kỳ, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, và GHPGVNTN Hải Ngoại tại Canada đồng thanh LÊN TIẾNG:
10 giờ 30 sáng Thứ Bảy ngày 30 tháng 06 năm 2018 tại Chùa Quang Thiện 704 E. “E” St. Ontario, CA 91764. Số Phone: (909) 717 – 2433; (714)763-6580; (714)386-8869; (909)319-4344; (408) 637-8105