Chương XXIV - TAṆHĀVAGGA - (Phẩm Ái Dục)

16/06/20143:34 CH(Xem: 2331)
Chương XXIV - TAṆHĀVAGGA - (Phẩm Ái Dục)
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
Dhammapada
KINH LỜI VÀNG
Việt - lục bát thi hóa - Pāḷi
( In lần thứ 5, có chỉnh sửa và nhuận sắc lần cuối)

Chương XXIV
TAṆHĀVAGGA
(Phẩm Ái Dục)

334.

Biết chăng ái dục lòng người

Dây leo nẩy tược, dể duôi khác nào!

Kiếp này, kiếp khác bám vào

Vượn kia ham trái, thấp, cao chuyền cành!

 

Manujassa pamattacārino

taṇhā vaḍḍhati māluvā viya,

So plavati hurāhuraṃ

phalaṃ icchaṃ va vanasmi vānaro.

­œ

335.

Ai người khắng khít đê hèn

Buông lung ái dục, đua chen dối lừa

Cỏ bīraṇa gặp mưa

Muộn phiền nảy nở, dây dưa dính chùm!

 

Yaṃ esā sahatī jammī

taṇhā loke visattikā,

sokā tassa pavaḍḍhanti

abhivaṭṭhaṃ va bīraṇaṃ.

­œ

336.

Ai người thiện trí đời này

Tự điều các dục, tự xây thành trì

Như nước kia chảy trượt đi

Lá sen chẳng đọng, sầu bi nào còn?

 

Yo cetaṃ sahate jammiṃ

taṇhaṃ loke duraccayaṃ,

sokā tamhā papatanti

udabindu va pokkharā.

­œ

337.

Như Lai thường dạy các con:

Về đây tụ họp, lòng son tín thành

Dục tham bứng gốc cho nhanh!

Như đào lấy rễ cỏ tranh khác gì

Đừng để Ma Vương khinh khi

Như cơn tràn lũ cuốn đi rác bèo!

 

Taṃ vo vadāmi bhaddaṃ vo

yāvantettha samāgatā,

taṇhāya mūlaṃ khaṇatha

usīrattho va bīraṇaṃ,

Mā vo naḷaṃ va soto va

māro bhañji punappunaṃ.

­œ

338.

Cây kia dẫu bị chặt rồi

Còn nguyên chùm rễ, vẫn chồi nẩy lên

Nếu chưa nhổ “ái tùy miên”

Muộn sầu sanh mãi, tương duyên, tương tồn!

 

Cây kia dẫu bị chặt rồi

Còn nguyên chùm rễ, nẩy chồi lớn mau

Nếu chưa diệt “ái ngủ sâu”

Nó còn sống mãi, khổ sầu sống theo!

 

Yathāpi mūle anupaddave daḷhe

chinno pi rukkho punareva rūhati,

evampi taṇhānusaye anūhate

nibbattatī dukkhamidaṃ punappunaṃ.

­œ

339.

Ba mươi sáu ái(1) hướng dòng

Bởi do tư tưởng, bởi lòng hỷ tham(2)

Si mê, tà kiến thế gian

Theo cơn thác lũ, ngập tràn cuốn đi!

 

Yassa chattiṃsati sotā

manāpasavanā bhusā,

vāhā vahanti duddiṭṭhiṃ

saṅkappā rāganissitā.

­œ

340.

Than ôi! Ái dục chảy lan

Day leo bìm quấn, mọc tràn khắp nơi

Trí nhân thấy rễ, thấy chồi

Mài gươm tuệ nhãn bén ngời chém phăng!

 

Savanti sabbadhi sotā

latā ubbhijja tiṭṭhati,

tañca disvā lataṃ jātaṃ

mūlaṃ paññāya chindatha.

­œ

341.

Mỗi khi ái dục phát sanh

Ngũ trần chờ sẵn cuốn nhanh người vào

Mong tìm hỷ ái khác nào

Sanh, già chờ sẵn – gai rào túm chân!

 

Saritāni sinehitāni ca

somanassāni bhavanti jantuno,

te sātasitā sukhesino

te ve jātijarūpagā narā.

­œ

342.

Kẻ bị ái dục buộc ràng

Thỏ nằm trong rọ, kinh hoàng xiết bao!

Mong chi tính chuyện bôn đào

Thúc thằng(1) quấn xiết, khổ lao nhiều bề!

 

Tasiṇāya purakkhatā pajā

parisappanti sasova bandhito,

saṃyojanasaṅgasattakā

dukkhamupenti punappunaṃ cirāya.

­œ

343.

Kẻ bị ái dục buộc ràng

Thỏ nằm trong rọ, kinh hoàng xiết bao!

Sa-môn thấy rõ khổ lao

Viễn ly ái dục, mở rào, tự do!

 

Tasiṇāya purakkhatā pajā

parisappanti sasova bandhito,

tasmā tasiṇaṃ vinodaye

bhikkhu ākaṅkhantaṃ virāgamattano.

­œ

344.

Đã tìm vui chốn rừng già

Để mong thoát khỏi căn nhà thế gian

Nhưng kìa! Chúng lại lộn quàng!

Mái xưa trở lại, buộc ràng hơn xưa!

 

Yo nibbanatho vanādhimutto

vanamutto vanameva dhāvati,

taṃ puggalametha passatha

mutto bandhanameva dhāvati.

­œ

345.

Bậc trí đã dạy như vầy:

Dùng gai hay sắt làm dây chẳng bền!

Nhưng lòng bám víu bạc tiền

Vợ con, vàng ngọc - cố kiên hơn nhiều!

 

Na taṃ daḷhaṃ bandhanamāhu dhīrā

yadāyasaṃ dārujaṃ pabbajaṃ ca,

sārattarattā maṇikuṇḍalesu

puttesu dāresu ca yā apekkhā.

­œ

346.

Bậc trí đã dạy như vầy:

Sự trói buộc nọ là dây quá bền!

Dẫu tơ mảnh, dẫu lụa mềm

Vấn quấn, vẫn siết, trược phiền thế gian

Xuất gia: Chẳng tiếc, chẳng màng

Cắt lìa, tận diệt, lên đàng thảnh thơi!

 

Etaṃ daḷhaṃ bandhanamāhū dhīrā

ohārinaṃ sithilaṃ duppamuñcaṃ,

etampi chetvāna paribbajanti

anapekkhino kāmasukhaṃ pahāya.

­œ

347.

Những ai tham ái đắm say

Sẽ rơi trở lại loay hoay giữa dòng

Nhện giăng lưới, tự sa tròng

Bậc trí cắt đứt, rỗng không, khước từ!

 

Ye rāgarattānupatanti sotaṃ

sayaṃkataṃ makkaṭako va jālaṃ,

etampi chetvāna vajanti dhīrā

anapekkhino sabbadukkhaṃ pahāya.

­œ

348.

Quá khứ, hiện tại, vị lai

Thảy trôi đi hết, xa ngoài dặm không!

Bỏ thế tình, thoát qua sông

Sao còn lặn hụp giữa dòng tử sinh?

 

Trôi đi! Dĩ vãng trôi đi!

Tương lai cũng vậy, chẳng gì, trôi luôn!

Hiện tại theo nước chảy suông

Chẳng gì chứa giữ, vui buồn thoảng xa!

Ôi nhân sinh, kiếp người ta!

Phủi chân tất cả, bước qua cõi này!

Sao đành sanh tử vướng vây?

Bờ kia giải thoát, nước mây thanh bình!

 

Muñca pure muñca pacchato

majjhe muñca bhavassa pāragū,

sabbattha vimuttamānaso

na punaṃ jātijaraṃ upehisi.

­œ

349.

Người kia tư tưởng chẳng lành

Nuôi lớn dục lạc, nảy sanh tâm hồn

Ái tham như nước thông nguồn

Nước càng chảy mãi, ái duồn tăng thêm

Là dây trói buộc chắc bền

Ma Vương đã xỏ xiên tặng đời!

 

Vitakkapamathitassa jantuno

tibbarāgassa subhānupassino,

bhiyyo taṇhā pavaḍḍhati

esa kho daḷhaṃ karoti bandhanaṃ.

­œ

350.

Người kia vui thích niệm lành

Chế ngự dục lạc nảy sanh tâm hồn

Ái tham, cắt mạch nước nguồn

Nước kia khô cạn, ái còn ẩn đâu?

Bứt dây trói buộc hai đầu

Ma Vương ngơ ngác, trước sau khó tìm!

 

Vitakkūpasame ca yo rato

asubhaṃ bhāvayate sadā sato,

esa kho byantikāhiti

esa checchati mārabandhanaṃ.

­œ

351.

Tới đích, sợ hãi bỏ xa

Dục tham lưu lạc, không nhà mà nương!

Mũi tên sanh tử chẳng vương,

Thân này thân cuối, biết phương nào tìm?

 

Mục tiêu vị ấy đạt rồi

Gỡ hết lo sợ, gỡ mồi dục tham

Mũi tên sinh tử bắn quàng!

Thân này chẳng dính, biết đàng nào truy?

 

Niṭṭhaṅgato asantāsī

vītataṇho anaṅgaṇo,

acchindi bhavasallāni

antimoyaṃ samussayo.

­œ

352.

Ái không, chấp thủ cũng không,

Ngữ nguyên vô ngại, suốt thông tứ từ(1)

Trước sau cú pháp nhiên như

Biện tài, thiện xảo, kinh thư lòng mình

Bậc như vậy quả Vô Sinh

Vĩ nhơn, đại trí, tuệ minh khó lường!

 

Vītataṇho anādāno

niruttipadakovido,

akkharānaṃ sannipātaṃ

jaññā pubbāparāni ca,

sa ve antimasārīro

mahāpañño mahāpuriso’ti vuccati.

­œ

353.

Như Lai tất cả vượt qua

Vượt qua trói buộc căn nhà thế gian

Như Lai tất cả phục hàng

Thấy rõ tất cả hỗn mang lòng người!

Như Lai ái dục diệt rồi

Suốt thông vạn pháp, sống đời thắng tri

Thoát tất cả, chẳng vướng gì

Như Lai ai sánh, nói chi là thầy?

 

Sabbābhibhū sabbavidūhamasmi

sabbesu dhammesu anūpalitto,

sabbañjaho taṇhakkhaye vimutto

sayaṃ abhiññāya kamuddiseyyaṃ.

­œ

354.

Mọi thí, pháp thí vô song!

Hương thơm thù thắng, chẳng đồng pháp hương

Niềm vui “pháp hỷ” khó lường

Ái diệt tối thượng, khổ ương tận lìa!

 

Sabbadānaṃ dhammadānaṃ jināti

sabbarasaṃ dhammaraso jināti,

sabbaratiṃ dhammarati jināti

taṇhakkhayo sabbadukkhaṃ jināti.

­œ

355.

Tài sản làm hại người mê

Nhưng không hại kẻ “kết bè” vượt sông!

Tham giàu đã hại mình xong

Còn dìm kẻ khác trong dòng nước đen!

 

Hananti bhogā dummedhaṃ

no ca pāragavesino,

bhogataṇhāya dummedho

hanti aññeva attānaṃ.

­œ

356.

Cỏ dại tai hại ruộng đồng

Ái tham nhiễm độc giữa lòng thế gian

Quý thay! Những bậc “ly tham”!

Cúng dường vị ấy, phúc vàng kết xây!

 

Tiṇadosāni khettāni

rāgadosā ayaṃ pajā,

tasmā hi vītarāgesu

dinnaṃ hoti mahapphalaṃ.

­œ

357.

Cỏ dại tai hại ruộng đồng

Hận sân nhiễm độc giữa lòng thế nhân

Quý thay! Những bậc “ly sân”!

Cúng dường vị ấy, phúc ân dồi dào!

 

Tiṇadosāni khettāni

dosadosā ayaṃ pajā,

tasmā hi vītadosesu

dinnaṃ hoti mahapphalaṃ.

­œ

358.

Cỏ dại tai hại ruộng đồng

Si mê, nhiễm độc đời không khó gì!

Quý thay! Những bậc “ly si”!

Cúng dường vị ấy, thắng tri phước mầu!

 

Tiṇadosāni khettāni

mohadosā ayaṃ pajā,

tasmā hi vītamohesu

dinnaṃ hoti mahapphalaṃ.

­œ

359.

Cỏ dại tai hại ruộng đồng

Ái dục nhiễm độc chẳng hòng chừa ai!

Quý thay! Dục ái bỏ ngoài

Cúng dường vị ấy, phúc đài kết hoa!

 

Tiṇadosāni khettāni

icchādosā ayaṃ pajā,

tasmā hi vigaticchesu

dinnaṃ hoti mahapphalaṃ.


(1) Ái dục (taṇhā): 6 ái dục có từ 6 căn; 6 ái dục có từ 6 trần - tức là 12 ái dục; cộng với 3 thời quá khứ, hiện tại, vị lai thành ra 36 loại ái dục.

(2) 6 căn ái tham, hỷ tham ngũ trần.

(1) Thằng là sợi dây; thúc là bó buộc.

(1) Đạt tuệ phân tích, tứ vô ngại giải.

Tạo bài viết
10/08/2011(Xem: 37093)
18/04/2016(Xem: 5198)
02/04/2016(Xem: 3945)
27/03/2014(Xem: 12591)
06/08/2010(Xem: 36741)
Trước hiểm họa mất nước mà nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chuẩn bị Dự luật thành lập ba đặc khu kinh tế:Vân Đồn-Quảng Ninh, Bắc Vân Phong-Khánh Hòa, Phú Quốc-Kiên Giang, thời hạn cho thuê đất có thể lên đến 99 năm như một sự đổ bộ của Trung Quốc với mục tiêu mở rộng ảnh hưởng và bành trướng chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Bắc Kinh,
Khóa tu lần này được sự quang lâm chứng minh của Hòa Thượng Thích Minh Hồi - Viện chủ Như Lai Thiền Tự và dưới sự hướng dẫn của Sư Giác Minh Luật cùng quý Đại Đức Giảng sư trẻ như: ĐĐ. Thích Châu Đạt, Thích Đạt Tín, Thích Vui Mừng, Thích Bắt Hải, Ven. Guan Zhen... cũng đồng trở về chứng minh, tiếp sức và hướng dẫn Giáo thọ cho khóa tu học.
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận. Đối với Phật tử, tinh thần thượng võ đã nằm sẵn trong năm giới, vì nếu không thượng võ, có nghĩa là đi trộm hào quang của đấu thủ khác, của đội tuyển khác, của quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu giữ được thượng võ mà thiếu vắng từ bi, cũng không đúng Chánh pháp. Bởi vì từ bi do vì muôn dân mà làm, chứ không vì kiêu mạn.