Chương XXVI - BRĀHMAṆAVAGGA - (Phẩm Bà-la-môn)

16/06/20143:44 CH(Xem: 1431)
Chương XXVI - BRĀHMAṆAVAGGA - (Phẩm Bà-la-môn)
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
Dhammapada
KINH LỜI VÀNG
Việt - lục bát thi hóa - Pāḷi
( In lần thứ 5, có chỉnh sửa và nhuận sắc lần cuối)

Chương XXVI 
BRĀHMAṆAVAGGA

(Phẩm Bà-la-môn)(1)

 

383.

Hỡi này! Người bà-la-môn!

Hãy mau tinh tấn, cắt dòng mà đi!

Bao nhiêu ái dục viễn ly

Không còn tạo tác, vô vi, vô hành!

 

Chinda sotaṃ parakkamma

kāme panuda brāhmaṇa,

saṅkhārānaṃ khayaṃ ñatvā

akataññūsi brāhmaṇa.

­œ

384.

Khi người tuệ, định đủ đầy

Bờ kia sẽ đạt, ở đây, tức thì!

Bao nhiêu thằng thúc đoạn ly

Bà-la-môn đã liễu tri tỏ tường!

 

Yadā dvayesu dhammesu

pāragū hoti brāhmaṇo,

Athassa sabbe saṃyogā

atthaṃ gacchanti jānato.

­œ

385.

Bên này sông, bên kia sông,

Cả hai không có, cũng không bờ nào!

Thoát ly phiền não buộc rào

Bà-la-môn gọi, đúng sao, danh người!

 

Yassa pāraṃ apāraṃ vā

pārāpāraṃ na vijjati,

vītaddaraṃ visaṃyuttaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

386.

Tu thiền ly nhiễm, vô trần

Sống đời ẩn dật, tinh cần sớm hôm

Hoàn thành mục đích chánh chơn

Như Lai gọi, bà-la-môn, chính người!

 

Jhāyiṃ virajamāsīnaṃ

katakiccamanāsavaṃ,

uttamatthaṃ anuppattaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

387.

Mặt trời chiếu sáng ban ngày

Mặt trăng soi rạng nước mây đêm dài

Gươm đao, nhung giáp ngời ngời

Đức vua, quân lính khắp nơi trận tiền

Bà-la-môn lúc định thiền

Ánh sáng rực rỡ xóa miền tối đen

Nhưng vinh hạnh suốt ngày đêm

Hào quang đức Phật vô biên, vô ngần!

 

Divā tapati ādicco

rattiṃ ābhāti candimā,

sannaddho khattiyo tapati

jhāyī tapati brāhmaṇo,

atha sabbamahorattiṃ

buddho tapati tejasā.

­œ

388.

Dứt ác gọi bà-la-môn

Sống đời an tịnh – sa-môn chính là!

Tự mình cấu uế lìa xa,

Tu sĩ ẩn dật, “xuất gia”, đúng từ!

 

Bāhitapāpo’ti brāhmaṇo

samacariyā samaṇo’ti vuccati,

pabbājayamattano malaṃ

tasmā ‘‘pabbajito’’ti vuccati.

­œ

389.

Đánh đập Phạm Chí(1), không nên!

Phạm Chí đánh trả không kềm nổi sân!

Người đánh xấu hổ một phần

Còn người đánh lại, nhiều lần xấu hơn!

 

Na brāhmaṇassa pahareyya

n’āssa muñcetha brāhmaṇo,

dhī brāhmaṇassa hantāraṃ

tato dhī yassa muñcati.

­œ

390.

Phạm Chí không trả thù ai

Là điều lợi ích lâu dài về sau!

Khi dứt ái luyến, vọng cầu

Tâm hại chận đứng, khổ sầu tự tiêu!

 

Na brāhmaṇassetadakiñci seyyo

yadā nisedho manaso piyehi,

yato yato hiṃsamano nivattati

tato tato sammatimeva dukkhaṃ.

­œ

391.

Với người ba nghiệp ác xa

thân khẩu ý ôn hòa, vô vi

Ngày đêm tỉnh giác hộ trì

Bà-la-môn ấy, đúng vì danh xưng!

 

Yassa kāyena vācāya

manasā n’atthi dukkaṭaṃ,

saṃvutaṃ tīhi ṭhānehi

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

392.

Hiểu thông giáo pháp nhờ ai

Từ bậc Toàn Giác, Như Lai giáo truyền

Như Phạm Chí thờ lửa thiêng

Ta phải thành kính khắc tên đá vàng!

 

Yamhā dhammaṃ vijāneyya

sammāsambuddhadesitaṃ,

sakkaccaṃ taṃ namasseyya

aggihuttaṃ’va brāhmaṇo.

­œ

393.

Chẳng vì bện tóc, thọ sanh

Chẳng vì giai cấp, thanh danh gia đình

Với ai chánh hạnh, tuệ minh,

Bà-la-môn ấy, xứng vinh gọi là!

 

Na jaṭāhi na gottena

na jaccā hoti brāhmaṇo,

yamhi saccañca dhammo ca

so sucī so ca brāhmaṇo.

­œ

394.

Người ngu kia có ích gì,

Đầu thì bện tóc, áo thì da dê?!

Bên trong ác uế, u mê

Bên ngoài trang sức nếp nề chơn tu!?

 

Kiṃ te jaṭāhi dummedha

kiṃ te ajinasāṭiyā,

abbhantaraṃ te gahanaṃ

bāhiraṃ parimajjasi.

­œ

395.

Đắp y vải lượm bên đường

Gân xanh lồ lộ, trơ xương, ốm gầy

Rừng sâu, thiền định tháng ngày

Cô đơn Phạm Chí, ai tày danh xưng?

 

Paṃsukūladharaṃ jantuṃ

kisaṃ dhamanisanthataṃ,

ekaṃ vanasmiṃ jhāyantaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

396.

Phải đâu do mẹ cha sanh

Thai bào dòng giống mà thành bla-môn?

Nó chỉ là tên gọi suông

Níu đeo cấu uế, nối guồng dục tham

Không phiền não, chẳng buộc ràng

Mới là Phạm Chí, dự hàng chân tu!

 

Na cāhaṃ brāhmaṇaṃ brūmi

yonijaṃ mattisambhavaṃ,

bhovādi nāma so hoti

sace hoti sakiñcano,

akiñcanaṃ anādānaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

397.

Cắt đứt rễ má, dây mơ

Đoạn lìa trói buộc, chẳng lo sợ gì

Vượt xa dính mắc hữu vi

Như Lai sẽ gọi, đúng vì bla-môn!

 

Sabbasaṃyojanaṃ chetvā

yo ve na paritassati,

saṅgātigaṃ visaṃyuttaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

398.

Bỏ dây nọng(1), bỏ dây cương(2)

Đai da cùng với sợi thừng thèo leo!(3)

Đập tan trục, chốt buộc đeo(4)

Bla-môn, Phạm Chí - tên theo đúng người!

 

Bỏ dây cương, bỏ đai da

Bỏ luôn dây nọng, giết Ma ngủ ngầm!

Đập tan trục, chốt ngu đần

Làm người sáng suốt, dự phần bla-môn!

 

Chetvā naddhiṃ varattañ ca

sandānaṃ sahanukkamaṃ,

ukkhittapalighaṃ buddhaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

399.

Người không tức giận bao giờ

Trước lời phỉ báng: Lặng tờ, nín thinh!

Dẫu cho roi trượng phạt hình

Lấy đức nhẫn nại làm binh hộ phòng

Tâm từ rải khắp hư không,

Những kẻ như vậy, xứng dòng bla-môn!

 

Akkosaṃ vadhabandhañca

aduṭṭho yo titikkhati,

khantībalaṃ balānīkaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

400.

Người mà vô hận, vô sân

Làm tròn bổn phận, tự tâm, tự điều

Là thân cuối, sống tiêu diêu

Đúng bậc Phạm Chí, chẳng nhiều lắm đâu!

 

Akkodhanaṃ vatavantaṃ

sīlavantaṃ anussadaṃ,

dantaṃ antimasārīraṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

401.

Lá sen chẳng giữ mưa sa

Đầu kim chẳng dính hạt hoa cải vàng

Vô y, vô nhiễm thế gian

Những người như vậy, xứng làm bla-môn!

 

Vāri pokkharapatte va

āraggeriva sāsapo,

yo na limpati kāmesu

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

402.

Ở đây, ở thế gian này

Ai người thấy khổ, diệt ngay khổ sầu

Bỏ gánh nặng xuống bên cầu

Sống đời siêu thoát, đứng đầu bla-môn!

 

Yo dukkhassa pajānāti

idheva khayamattano,

pannabhāraṃ visaṃyuttaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

403.

Người có trí tuệ thâm sâu

Nẻo tà, đường chánh - đâu đâu cũng rành

Đạt thông tối thượng pháp hành

Những người như vậy, trọn lành bla-môn!

 

Gambhīrapaññaṃ medhāviṃ

maggāmaggassa kovidaṃ,

uttamatthamanuppattaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

404.

Xuất gia, thế tục hai hàng

Đến đi chẳng luyến, dặm ngàn thong dong

Cô đơn, thiểu dục bên lòng

Như Lai sẽ bảo, xứng dòng bla-môn!

 

Xuất gia, cư sĩ chẳng thân

Non xanh vô ngại, dặm trần an như

Gió xao chẳng gợn tâm tư

Cô đơn, thiểu dục, đúng từ bla-môn!

 

Asaṃsaṭṭhaṃ gahaṭṭhehi

anāgārehi cūbhayaṃ,

anokasāriṃ appicchaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

405.

Trượng đao vị ấy bỏ rồi

Chúng sanh vô hại, với đời vô sân

Cũng không xúi bẫy hại ngầm

Lòng từ quảng đại, chẳng lầm bla-môn!

 

Nidhāya daṇḍaṃ bhūtesu

tasesu thāvaresu ca,

yo na hanti na ghāteti

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

406.

Thân thiện giữa đám nghịch thù

Với người hung dữ, ôn nhu, ôn hòa

Sống vô nhiễm giữa trần sa

Những vị như vậy, chính là bla-môn!

 

Aviruddhaṃ viruddhesu

attadaṇḍesu nibbutaṃ,

sādānesu anādānaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

407.

Tham sân chẳng dính vào lòng

Ngã kiêu, tật đố thảy dòng nước trôi

Hạt cải kia - đầu kim rơi!

Những người như vậy, sống đời bla-môn!

 

Yassa rāgo ca doso ca

māno makkho ca pātito,

sāsaporiva āraggā

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

408.

Nói lời chẳng mất lòng ai

Dựng xây, chân thật, hòa hài, ôn nhu

Nói lời thâm thiết, bi từ

Bla-môn là vậy, đúng như danh người!

 

Akakkasaṃ viññāpaniṃ

giraṃ saccaṃ udīraye,

yāya nābhisaje kañci

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

409.

Vật kia dầu ngắn hay dài

Dầu to hay nhỏ của ai chẳng màng

Xấu, tốt không lấy, không ham

Những bậc như vậy, xứng làm bla-môn!

 

Yodha dīghaṃ va rassaṃ vā

aṇuṃ thūlaṃ subhāsubhaṃ,

loke adinnaṃ nādiyati

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

410.

Rỗng không, chẳng một hy cầu

Đời này, đời kế chẳng đâu bận lòng

Thảnh thơi, siêu thoát trần hồng

Những người như vậy, đúng dòng bla-môn!

 

Āsā yassa na vijjanti

asmiṃ loke paramhi ca,

nirāsāsaṃ visaṃyuttaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

411.

Người mà tham ái tiêu vong

Do nhờ trí tuệ đoạn lòng hoài nghi

Thể nhập bất tử, vô vi

Như Lai sẽ gọi, đúng vì bla-môn!

 

Yassālayā na vijjanti

aññāya akathaṃkathī,

amatogadhamanuppattaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

412.

Người đã vượt thoát hai điều

Cả thiện và ác, tiêu diêu cõi ngoài

Không bụi bặm, chẳng sầu ai

Những người như vậy, trí tài bla-môn!

 

Yodha puññañca pāpañca

ubho saṅgamupaccagā,

asokaṃ virajaṃ suddhaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

413.

Lòng kia không bợn, sạch làu

Sáng trong, vắng lặng, vui sầu chẳng xao

Ái và thủ, hữu vẫy chào

Bla-môn là vậy, ai nào khác đâu!

 

Candaṃva vimalaṃ suddhaṃ

vippasannamanāvilaṃ,

nandībhavaparikkhīṇaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

414.

Vũng lầy nầy đã bước ra(1)

Con đường nguy hiểm thoát xa hồi nào(2)

Đại dương đời sống dạt dào(3)

Xuyên qua, đi khỏi ba đào sân si(4)

Cắt lìa ái dục, hoài nghi

Tịch tịnh, vô trước, thoát ly mọi miền

Chẳng còn đâu nữa “tùy miên”

Những bậc như vậy, vinh hiền bla-môn!

 

Yo imaṃ palipathaṃ duggaṃ

saṃsāraṃ mohamaccagā,

tiṇṇo pāragato jhāyī

anejo akathaṃkathī,

anupādāya nibbuto

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

415.

Ai người bỏ dục đi ra

Khước từ đời sống căn nhà thế gian

Dục hữu - đốt cháy tiêu tan!

Những bậc như vậy, dự hàng bla-môn!

 

Yodha kāme pahantvāna

anāgāro paribbaje,

kāmabhavaparikkhīṇaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

416.

Ai người bỏ ái đi ra

Khước từ đời sống căn nhà thế gian

Ái hữu - đốt cháy tiêu tan

Những bậc như vậy, đồng hàng bla-môn!

 

Yodha taṇhaṃ pahantvāna

anāgāro paribbaje,

taṇhābhavaparikkhīṇaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

417.

Lìa xa ràng buộc cõi người

Lìa luôn dính mắc cõi trời cao sang

Thoát bao cám dỗ huy hoàng

Những bậc như vậy, ngồi hàng bla-môn!

 

Hitvā mānusakaṃ yogaṃ

dibbaṃ yogaṃ upaccagā,

sabbayogavisaṃyuttaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

418.

Thản nhiên: Ưa, ghét - hai bờ!(1)

Sanh y(2) lìa đoạn, lặng tờ tâm tư

Thế gian(3), chiến thắng trượng phu!

Bla-môn tên gọi, cho dù là ai!

 

Hitvā ratiñca aratiñca

sītibhūtaṃ nirūpadhiṃ,

sabbalokābhibhuṃ vīraṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

419.

Là người hiểu biết hoàn toàn

Sự sống, sự chết các hàng chúng sanh

Không ái luyến, đào thoát nhanh

Tự mình giác ngộ, xứng dành bla-môn!

 

Cutiṃ yo vedi sattānaṃ

upapattiñca sabbaso,

asattaṃ sugataṃ buddhaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

420.

Đã lậu tận, dứt sanh y

Chấm dứt thọ mạng ra đi phương nào?

Chư thiên dẫu thấp hay cao

Dạ-ma, nhân loại biết sao mà lần?

Là La-hán, là Thánh Nhân,

Là bậc tối thượng, xuất trần bla-môn!

 

Yassa gatiṃ na jānanti

devā gandhabbamānusā,

khīṇāsavaṃ arahantaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

421.

Ai mà quá, hiện, vị lai

Sống không sở hữu, trong ngoài sạch lau

Sạch lau cũng chẳng mắc câu

Những người như vậy, đứng đầu bla-môn!

 

Yassa pure ca pacchā ca

majjhe ca n’atthi kiñcanaṃ,

akiñcanaṃ anādānaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

422.

Ví như trâu chúa kiên hùng

Đại sĩ, vô úy, vô cùng quý cao

Bậc chiến thắng cả trần lao

Tuệ tri, giác ngộ - khác nào bla-môn!

 

Usabhaṃ pavaraṃ vīraṃ

mahesiṃ vijitāvinaṃ,

anejaṃ nhātakaṃ buddhaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

423.

Ai đời trước thấy rõ ràng

Cảnh khổ đọa xứ, cảnh nhàn chư thiên

Đã tận sanh diệt các miền,

Trí tuệ cao viễn tự viên, tự thành

Mâu-ni, đạo sĩ đã đành

Là bậc Bất Tử, tên dành bla-môn!

 

Pubbenivāsaṃ yo vedi

saggāpāyañca passati,

atho jātikkhayaṃ patto

abhiññāvosito muni,

sabbavositavosānaṃ

tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ.

­œ

BỐ THÍ, PHÁP THÍ VÔ SONG

HƯƠNG THƠM THÙ THẮNG

CHẲNG ĐỒNG PHÁP HƯƠNG

BẬC TRÍ BIẾT CÁCH CÚNG DƯỜNG

KIẾN TRI CHƠN CHÁNH 

CON ĐƯỜNG PHÚC VINH!

MỤC LỤC

 

Chương I – YAMAKAVAGGA - (Phẩm Song Đối). 1

Chương II – APPAMĀVAGGA - (Phẩm Không Phóng Dật). 22

Chương III – CITTAVAGGA - (Phẩm Tâm). 35

Chương IV – PUPPHAVAGGA - (Phẩm Hoa). 47

Chương V – BĀLAVAGGA - (Phẩm Kẻ Ngu). 63

Chương VI - PAṆḌTAVAGGA - (Phẩm Trí Hiền). 80

Chương VII – ARAHANTAVAGGA - (Phẩm A-la-hán). 95

Chương VIII – SAHASSAVAGGA - (Phẩm Một Ngàn). 106

Chương IX – PĀPAVAGGA - (Phẩm Ác). 123

Chương X - DAṆḌAVAGGA - (Phẩm Hình Phạt). 137

Chương XI – JARĀVAGGA - (Phẩm Già). 155

Chương XII – ATTAVAGGA - (Phẩm Tự Ngã). 167

Chương XIII – LOKAVAGGA - (Phẩm Thế Gian). 178

Chương XIV – BUDDHAVAGGA - (Phẩm Đức Phật). 191

Chương XV – SUKHAVAGGA - (Phẩm An Lạc). 210

Chương XVI – PIYAVAGGA - (Phẩm Thương, Ái). 223

Chương XVII – KODHAVAGGA - (Phẩm Phẫn Nộ). 236

Chương XVIII – MALAVAGGA - (Phẩm Uế Trược). 251

Chương XIX - DHAMMAṬṬHAVAGGA - (Phẩm Công Bình và Chánh Hạnh). 272

Chương XX – MAGGAVAGGA - (Phẩm Con Đường). 289

Chương XXI - PAKIṆṆAKAVAGGA - (Phẩm Tạp Lục). 307

Chương XXII – NIRAYAVAGGA - (Phẩm Khổ Cảnh). 324

Chương XXIII – NĀGAVAGGA - (Phẩm Voi). 339

Chương XXIV - TAṆHĀVAGGA - (Phẩm Ái Dục). 354

Chương XXV – BHIKKHUVAGGA - (Phẩm Tỳ-khưu). 381

Chương XXVI - BRĀHMAṆAVAGGA - (Phẩm Bà-la-môn). 405


 




(1) Trong phẩm nầy, từ brāhmaṇa (bà-la-môn) đồng nghĩa với samaṇa (sa-môn) đều là bậc thanh tịnh, vắng lặng - ở đây đức Phật muốn chính danh lại nghĩa đúng đắn của một bà-la-môn chơn chánh, do vào thời ấy, giới bà-la-môn đã hành trì quá sai lạc.

(1) Là một cách phiên âm khác của brāmaṇa.

(1) Tà kiến

(2) Sân hận

(3) Luyến ái.

(4) Tuỳ miên kiết sửvô minh.

(1) Vũng lầy tham ái.

(2)Con đường dục vọng.

(3) Vòng luân hồi trầm luân sinh tử.

(4) Xuyên qua, vượt thoát 4 dòng lũ: Dục lậu đưa đến dục bạo lưu (kāmogho); hữu lậu đưa đến hữu bạo lưu (bhavogho); kiến lậu đưa đến kiến bạo lưu (diṭṭhogho); vô minh đưa đến vô minh bạo lưu (avijjogho).

(1) Ưa thuộc tham, ghét thuộc sân; tham sân là gốc của ái (taṇhā).

(2) Nương tựa mà sanh khởi, bám víu vào đời sống

(3) Loka: Thế gian, nội giới cũng như ngoại giới; ở đây hàm chỉ ngũ uẩn.

Tạo bài viết
10/08/2011(Xem: 37085)
18/04/2016(Xem: 5158)
02/04/2016(Xem: 3930)
27/03/2014(Xem: 12573)
06/08/2010(Xem: 36730)
Đó là danh hiệu đồng đội tặng cho Anh mỗi khi tập trung cùng Đội Tuyển Quốc Gia Ý thi đấu quốc tế ,đặc biệt ở những kỳ World Cup ,và Anh thường được tín nhiệm giao đeo băng đội trưởng .
Vì vậy,trước vấn đề nghiêm trọng của nhân dân và đất nước, trong nguy cơ tiềm ẩn một cuộc xâm lăng bằng di dân và đồng hóa của Cộng Sản Trung Quốc, Văn Phòng Điều Hợp Liên Châu thuộc các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, GHPGVNTN Hoa Kỳ, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, và GHPGVNTN Hải Ngoại tại Canada đồng thanh LÊN TIẾNG:
10 giờ 30 sáng Thứ Bảy ngày 30 tháng 06 năm 2018 tại Chùa Quang Thiện 704 E. “E” St. Ontario, CA 91764. Số Phone: (909) 717 – 2433; (714)763-6580; (714)386-8869; (909)319-4344; (408) 637-8105