Cúng Dường Mây Cam Lồ

22/04/20152:56 CH(Xem: 2640)
Cúng Dường Mây Cam Lồ

CÚNG DƯỜNG MÂY CAM LỒ

Choden Rinpoche luận giảiGyalten Deying chuyển ngữ

Thanh Liên &  Mai Tuyết Ánh hiệu đính
Viet Nalanda Foundation 
(For Free Distribution Only)

 

MC LC

cung-duong-may-cam-lo biaLời Giới Thiệu của Dịch Giả (bản Anh ngữ)

PHẦN I: Luận giải về Luyện Tâm Bát Đoạn của Kadampa

Geshe Langri Thangpa Dorje Senge

PHẦN II: Luận giải về Thoát Khi Bn SBám Chp
của Jetsun Drakpa Gyaltsen

PHẦN III: Luận giải về Tonglen, Hành Trì Cho và Nhn

PHẦN IV: Luận giải về Ba Điểm Tinh Yếu của Đường Tu Giác Ng
của Je Tsongkhapa

PHẦN V: Luận giải về Năm Điểm ChGiáo vPháp Chiết

Xut Tinh Cht của Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ II,

Gendun Gyatso

Thỉnh cầu các Lama của Dòng Truyền Thừa

Cầu Nguyện

Thuật Ngữ

Thư Mục

Giới Thiệu Về Tác Giả

Phương Danh Ấn Tống

Lời Giới Thiệu của Dịch Giả

(Bản dịch Anh ngữ)

Pháp Luyện Tâm, hay lojong (blo sbyong), theo nguyên văn có nghĩa là “luyện tập hay tịnh hóa tâm”. Nó đề cập đến các pháp thiền quán mà ta áp dụng để tịnh hóa tâm, cũng như loại sách diễn tả những pháp tu này. Những “kỹ thuật” nội tâm này tóm tắt đường tu của Phật pháp, vì chúng trình bày cách phiền não được đối trị ra sao ở mức độ thế tục, và hoàn toàn bị tiêu diệt ở mức độ siêu việt. Vì thế, pháp luyện tâm rút tỉa các điểm cốt tủy, tinh túy từ những lời dạy của Đức Phật.

Truyền thống của pháp luyện tâm đã được vị cao tăng Ấn Độ vĩ đại A-đề-sa (Atisa Dipamkara Srijnana) (982-1054) đưa vào Tây Tạng, người đã du hành đến nước này vào năm 1042.

Trước đó, A-đề-sa đã thu thập các chỉ giáo về pháp luyện tâm (blo sbyong) từ các vị bổn sư chính người Ấn Độ của ngài, gồm có ngài Pháp Xứng (Dharmakirti [Serlingpa]), ngài Dharmaraksita và Đức Di Lặc (Maitreyanatha). Các giáo huấn này đã được A-đề-sa truyền thụ dần cho Dromtonpa (1005- 1064), vị đại đệ tử người Tây Tạng của ngài. Tuy nhiên, những giáo huấn này đã không được tiết lộ hay phổ biến trong công chúng qua nhiều năm, cho đến khi các hành giảđủ khả năng thực hành các chỉ giáo này.

Choden Rinpoche đã phân chia các giáo huấn này thành năm phần. Phần thứ nhất, thứ hai, thứ tư và năm gồm có luận giải của các tác phẩm luyện tâm chính bằng Tạng ngữ, còn phần thứ ba là các chỉ giáo từ kinh nghiệm tu tập riêng của Rinpoche. Năm phần này kết hợp với nhau, tạo thành những lời khuyên hữu hiệu và thực tiễn về cách khắc phục các cảm thọ tiêu cực, kẻ thù nội tại của chúng ta.

Phần đầu tiên là một luận giải về Luyện Tâm Bát Đoạn (Blo sbyong tshig brgyad ma) của Geshe Langri Thangpa (1054-1123), một đệ tử của Geshe Potowa (1031-1106). Tác phẩm này cũng là nguồn cảm hứng cho bài Luyn Tâm Tht Điểm (blo sbyong don bdun ma) của Geshe Chekawa (1102- 1176), được hoan nghênh khắp nơi. Tám đoạn kệ trình bày cốt tủy tinh túy của pháp luyện tâm. Đồng thời, chúng biểu lộ sự giản dị nhưng khó khăn của việc thực hành các giáo huấn này.

Phần thứ hai là một luận giải về Thoát Khi Bn SBám Chp (Zhen pa bzhi bral), do Jetsun Drakpa Gyaltsen (1147- 1216) sáng tác. Ngài là con trai của Sachen Kunga Nyingpo (1092-1158) và em trai của Sonam Tsemo (1142-1182). Trong năm vị đạotối cao của dòng truyền thừa Sakya (Tát-ca), cha và anh của ngài là hai vị hành giả đứng đầu (Sachen Kunga Nyingpo) và thứ nhì (Sonam Tsemo), còn ngài là vị thứ ba. Tác phẩm này đưa ra bốn cách thức hành trì: cách trở thành một hành giả thực hành Pháp, cách phát tâm xả ly, tâm đại bi tuệ giác tánh Không.

Trong phần thứ ba, Choden Rinpoche đưa ra giải thích chi tiết về hành trì Cho và Nhận (gtong len), từ kinh nghiệm tu tập riêng của ngài. Nói một cách ngắn gọn thì đây là pháp luyện tâm chính yếu, qua đó ta nhận những nỗi khổ của tất cả chúng sanh khi hít vào, và trao tặng tất cả những thiện hạnh cùng công đức của mình cho chúng sanh khi thở ra. Pháp tu này cũng được miêu tả như pháp tu tập bình đẳng ngã tha và hoán chuyển ngã tha. Chỉ giáo này cô đọng lại những lời khuyên trong hai tác phẩm giáo pháp đầu.

Phần thứ tư là một luận giải về Ba Điểm Tinh Yếu ca Đường Tu Giác Ng(Lam gtso rnam gsum) của Lama Tông Khách Ba (Je Tsongkhapa) (1357-1419). Tác phẩm của ngài Tông Khách Ba chính là một luận giải về tác phẩm Đèn Soi No Giác của đại sư A-đề-sa (Atisa), bộ luận chính gốc của truyền thống Lamrim ở Tây Tạng, giải thích về các giai đoạn (rim) của đường tu (lam) giác ngộ. Hai tác phẩm này có chút ít khác biệt, vì trong khi Đèn Soi Nẻo Giác giải thích về ba loại chúng sanh (sơ căn, trung cănthượng căn), thì Ba Điểm Tinh Yếu của Đường Tu Giác Ngộ lại chú trọng vào ba loại tâm thức mà các chúng sanh trung cănthượng căn cần phải phát triển, đó là tâm xả ly, bồ đề tâmtuệ giác tánh Không.

Phần thứ năm là một luận giải về Năm Điểm ChGiáo vPháp Chiết Xut Tinh Cht (Bcud len gyi dgams pa rim pa lnga pa'i khrid) của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Hai, Gendun Gyatso (1475-1542). Chiết xuất (len) tinh chất (bcud) nói về các pháp tu cho phép chúng ta hành trì Pháp bằng cách tự nuôi dưỡng mình bằng thực phẩm vi tế, như tinh chất của các loại hoa, các khoáng chất và v.v... Nó cũng được áp dụng cho sức khỏe và sự trường thọ. Đoạn sách này đề cập đến các đề mục như cách tìm kiếmnhận ra nguyên liệu để làm thuốc, cách chế tạo thuốc và cách dùng thuốc sau khi chế tạo xong.

Năm phần này minh họa các đề mục trong một phạm vi rộng lớn, liên quan đến pháp luyện tâm và cách một hành giả cần phải phát triển nhiều kỹ năng khác nhau trong quá trình luyện tâm. Mặc dù tinh túy của đường tu đã được tóm tắt theo hai khía cạnh phương tiệntrí tuệ, việc phát triển phương tiệntrí tuệ đòi hỏi vô số cách thức khác nhau, bởi vì tâm thức cần được tôi luyện của chúng ta rất phức tạp và đa dạng, đồng thời lại sâu rộng.

Các đoạn văn không nằm trong các ngoặc vuông thuộc về bản chánh văn tiếng Tây Tạng của Choden Rinpoche. Những chữ trong ngoặc vuông là từ ngữ bổ sung của dịch giả trong bản Anh ngữ để làm rõ câu văn. Lun Gii Truyn Khu ca Choden Rinpoche

Choden Rinpoche tôn quý, Losang Gyalten Jikdrel Wangchuk, đã ban các luận giải truyền khẩu về các tác phẩm trên và chỉ giáo của ngài đã được ghi chép lại. Bản viết tay đã được chính Rinpoche hiệu đính và ấn tống bằng Tạng ngữ, trong một quyển sách với nhan đề Cúng Dường Mây Cam L:

Một Sưu Tập Giáo Hun vPháp Luyện Tâm và các Đề Tài Khác. Bản văn này chuyển dịch tác phẩm của Rinpoche ra Anh ngữ. Geshe Gyalten là người khởi xướng và cố vấn cho đề án này.

Choden Rinpoche

cung-duong-may-cam-lo-2Choden Rinpoche tôn quý là một hành giả du già, học giả và một vị thầy danh tiếng trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Ngài ra đời năm 1931 ở miền Đông Tây Tạng, trong một gia đình mộ đạo, nổi tiếng về công phu thiền quán. Lúc còn nhỏ, ngài đã được Reting Rinpoche xác nhận là vị tái sanh của Lama Choden ở Tu Viện Rongpo Rabten. Reting Rinpoche là một vị lama rất được tôn kính, người đã được chấp nhận là một ứng viên trong việc tìm kiếm vị tái sanh của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Hai. Vào lúc 7 tuổi, Choden Rinpoche thọ giới Sa di với Phabongkha Rinpoche và được đặt tên Losang Gyalten Jikdrel Wangchuk. Theo lời khuyên của Phabongkha Rinpoche, ngài gia nhập Tu Viện Sera Je lúc 15 tuổi. Trong thời gian này, các vị thầy chính của ngài là Trijang Rinpoche, Phabongkha Rinpoche và các vị lama lỗi lạc khác. Những vị lama này đã ban cho ngài các lễ quán đảnhtruyền khẩu, cũng như các chỉ giáo cốt tủy để giúp ngài phát triển các thực chứng về giáo pháp. Năm 28 tuổi, ngài hoàn tất chương trình tu học năm đề tài chính, và mặc dù Trijang Rinpoche khuyên ngài nên nhanh chóng tham dự cuộc thi tốt nghiệp ngay lúc ấy, ngài đã theo lời khuyên của vị trụ trì Tu Viện Sera Je vào lúc đó và tiếp tục chương trình tu học của mình. Không lâu sau đó, việc người dân Tây Tạng nổi dậy để phản đối Trung Hoa xâm chiếm Tây Tạng đã làm gián đoạn việc học của ngài, và ngài đã nhập thất trong một gian phòng nhỏ, biệt lập ở Lhasa trong hơn mười chín năm, dựa vào các kinh sách mà ngài đã học thuộc lòng. Năm 1985, Rinpoche trốn thoát sang Ấn Độ. Thể theo lời yêu cầu của Đức Đạt Lai Lạt Ma, ngài tiếp tục giảng dạy tại Tu Viện Sera ở miền Nam Ấn Độ, trên khắp thế giới và ở trung tâm Phật giáo của ngài tại California.

pdf_download_2
Cúng Dường Mây Cam Lồ, Choden Rinpoche, Gyalten Deying dịch


Tạo bài viết
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.
Cuộc thi “Ăn chay an lạc” mong muốn mọi người được ăn chay đúng cách. Bởi trên thực tế, có một nhóm người ăn chay nhưng vẫn chưa có sức khoẻ tốt, thậm chí bị béo phì.. là do ăn nhiều sản phẩm từ bột mì trắng như bánh ngọt, bánh, kẹo, nước ngọt, đồ uống đóng chai. Khi tiêu thụ những thực phẩm này dù là chay nhưng vẫn chưa đúng cách. Ăn chay đúng cần biết kết hợp nhiều rau xanh và vitamin từ thực phẩm khác.
Khóa Tu Học Phật Pháp Bắc Mỹ Lần Thứ 8 năm 2018 sẽ do Thiền Viện Chân Không - Hawaii đảm nhiệm việc tổ chức, địa điểm và thời gian được sắp xếp như sau: - Địa điểm: ALA MOANA HOTEL - 410 Atkinson Drive, Honolulu, Hawaii 96814 - Thời gian: Từ Thứ Ba đến Thứ Hai, ngày 11-17 tháng 9 năm 2018.