6. Giáo Pháp Có Thể Áp Dụng Cho Bản Thân

21/07/20183:13 SA(Xem: 122)
6. Giáo Pháp Có Thể Áp Dụng Cho Bản Thân

VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
LỜI PHẬT DẠY
VỀ SỰ HÒA HỢP TRONG CỘNG ĐỒNG VÀ XÃ HỘI
HỢP TUYỂN TỪ KINH TẠNG PĀLI

The Buddha’s Teachings on Social
and Communal Harmony
An Anthology of Discourses from the Pāli Canon

by

BHIKKHU BODHI
Wisdom Publications 2016

Việt dịch:
Nguyên Nhật Trần Như Mai
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC

 

CHƯƠNG I – CHÁNH   KIẾN

  

6. GIÁO PHÁP CÓ THỂ ÁP DỤNG CHO BẢN THÂN

 

Các gia chủ ở Bamboo Gate (Trúc Môn) đến bạch Thế Tôn :’ Xin Thế Tôn giảng cho chúng con Giáo pháp nào để chúng con có thể sống hạnh phúc tại giasau khi chết sẽ được tái sanh vào cõi thiện lành, vào thiên giới.”

 

- Vậy, này các gia chủ, ta sẽ giảng cho các ông Giáo pháp có thể áp dụng cho bản thân. Hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ giảng.

 

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

 

Các gia chủ ở Trúc Môn vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau :

 

- Này các gia chủ, thế nào là Giáo pháp có thể áp dụng cho bản thân ? Ở đây, này các gia chủ, một vị thánh đệ tử suy nghĩ như sau: ‘Ta là người muốn sống, không muốn chết; ta mong ước được hạnh phúcghê sợ đau khổ. Vì ta là người muốn sống… và ghê sợ đau khổ, nếu có người nào đoạt mạng sống của ta, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với ta. Giờ đây nếu ta muốn đoạt mạng sống kẻ khác – của người muốn sống, không muốn chết, người mong muốn được hạnh phúcghê sợ đau khổ - điều ấy sẽ không ưa thích, không vừa ý đối với người ấy. Những gì không ưa thích, không vừa ý đối với ta thì cũng không ưa thích, không vừa ý đối với kẻ khác. Làm sao ta có thể gây tổn hại cho kẻ khác bằng những điều mà chính bản thân ta cũng không ưa thích, không vừa ý ?’ Sau khi suy nghĩ như thế, vị thánh đệ tử từ bỏ sát sanh, thuyết phục người khác từ bỏ sát sanh, và ca ngợi việc từ bỏ sát sanh. Như vậy, hành động về thân của vị ấy đươc thanh tịnh cả ba phương diện ( thân, khẩu, ý ).

 

“ Lại nữa, này các gia chủ, một vị thánh đệ tử suy nghĩ như sau : ‘Nếu có người nào lấy của ta những gì ta không cho họ, nghĩa là họ ăn trộm, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với ta. Giờ đây, nếu ta lấy của người khác những gì họ không cho ta, nghĩa là ta ăn trộm, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với họ. Những gì không ưa thích, không vừa ý đối với ta thì cũng không ưa thích, không vừa ý đối với kẻ khác. Làm sao ta có thể gây tổn hại cho kẻ khác bằng  những điều mà chính bản thân ta cũng không ưa thích, không vừa ý ?’ Sau khi suy nghĩ như thế, vị thánh đệ tử từ bỏ lấy của không cho, thuyết phục người khác từ bỏ lấy của không cho, và ca ngợi việc từ bỏ lấy của không cho. Như vậy, hành động về thân của vị ấy được thanh tịnh cả ba phương diện. ( thân, khẩu, ý ).

 

“ Lại nữa, này các gia chủ, một vị thánh đệ tử suy nghĩ như sau :‘Nếu người nào phạm tà dâm với vợ của ta, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với ta. Giờ đây, nếu ta phạm tà dâm đối với vợ của người khác, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với họ. Những gì không ưa thích, không vừa ý đối với ta thì cũng không ưa thích, không vừa ý đối với kẻ khác. Làm sao ta có thể gây tổn hại cho kẻ khác bằng những điều mà chính bản thân ta cũng không ưa thích, không vừa ý ?’ Sau khi suy nghĩ như thế, vị thánh đệ tử từ bỏ tà dâm, thuyết phục người khác từ bỏ tà dâm, và ca ngợi việc từ bỏ tà dâm. Như vậy, hành động về thân của vị ấy được thanh tịnh cả ba phương diện ( thân, khẩu, ý ).

 

“ Lại nữa, này các gia chủ, một vị thánh đệ tử suy nghĩ như sau : ‘Nếu có người nào làm tổn hại an vui của ta bằng những lời nói láo, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với ta. Giờ đây, nếu ta làm tổn hại an vui của người khác bằng những lời nói láo, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với người ấy. Những gì không ưa thích, không vừa ý đối với ta thì cũng không ưa thích, không vừa ý đối với kẻ khác. Làm sao ta có thể gây tổn hại cho kẻ khác bằng  những điều mà chính bản thân ta cũng không ưa thích, không vừa ý ?’ Sau khi suy nghĩ như thế, vị thánh đệ tử từ bỏ nói láo, thuyết phục người khác từ bỏ nói láo, và ca ngợi việc từ bỏ nói láo. Như vậy, hành động về khẩu của vị ấy được thanh tịnh cả ba phương diện. ( thân, khẩu, ý ).

 

“Lại nữa, này các gia chủ, một vị thánh đệ tử suy nghĩ như sau : ‘Nếu có người chia rẽ bạn bè ta bằng lời nói gây chia rẽ, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với ta. Giờ đây, nếu ta chia rẽ bạn bè của người khác bằng lời nói gây chia rẽ, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với người ấy…” Như vậy, hành động về khẩu của vị ấy được thanh tịnh cả ba phương diện. ( thân, khẩu, ý ).

 

“Lại nữa, này các gia chủ, một vị thánh đệ tử suy nghĩ như sau : ‘Nếu có người nói với ta bằng lời thô bạo, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với ta. Giờ đây, nếu ta nói với người khác bằng lời thô bạo, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với người ấy…” Như vậy, hành động về khẩu của vị ấy được thanh tịnh cả ba phương diện. ( thân, khẩu, ý ).

 

“Lại nữa, này các gia chủ, một vị thánh đệ tử suy nghĩ như sau : ‘Nếu có người nói với ta bằng lời phù phiếm, vô ích, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với ta. Giờ đây, nếu ta nói với người khác bằng lời phù phiếm, vô ích, đó là điều không ưa thích, không vừa ý đối với người ấy. Những gì không ưa thích, không vừa ý đối với ta thì cũng không ưa thích, không vừa ý đối với kẻ khác. Làm sao ta có thể gây tổn hại cho kẻ khác bằng  những điều mà chính bản thân ta cũng không ưa thích, không vừa ý ?’ Sau khi suy nghĩ như thế, vị thánh đệ tử từ bỏ nói lời phù phiếm, thuyết phục người khác từ bỏ nói lời phù phiếm, và ca ngợi việc từ bỏ nói lời phù phiếm. Như vậy, hành động về khẩu của vị ấy được thanh tịnh cả ba phương diện. ( thân, khẩu, ý ).

 

 

                                    ( Tương Ưng BK, Ch 11- VII: 5-12, tr 519-523 )

Tạo bài viết
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!