Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tám Ngàn Câu

04/04/20199:05 SA(Xem: 362)
Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tám Ngàn Câu


BÁT-NHà
BA-LA-MẬT-ĐA
TÁM NGÀN CÂU & KỆ TÓM LƯỢC
Anh dịch: Edward Conze
Việt dịch: Đỗ Đình Đồng

 

BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA

TÁM NGÀN CÂU

 

  Mục Lục

 

Chương I. Thực hành Nhất thiết chủng trí

  1. Dẫn nhập
  2. Tính Tịch diệt của Ngã
  3. Nghĩa của ‘Bồ-tát’
  4. Nghĩa của ‘Đại sĩ’
  5. Nghĩa của ‘Đại thừa’
  6. Chứng đắc

 

Chương II. Thích-đề (Sakra)

  1. Lời mở đầu
  2. Làm sao Trụ trong Không, hay Bát-nhã Ba-la-mật
  3. Các Thánh và Mục đích của họ đều là Ảo ảnh
  4. Hoa của Thích-đề
  5. Tu Luyện trong Bát-nhã Ba-la-mật
  6. Tính Vô biên của Bát-nhã Ba-la-mật
  7. Thọ ký

 

Chương III. Tôn trọng Pháp khí của các Ba-la-mật,

                    Giữ các Phẩm tính thiện Vô lượng

  1. Những Lợi thế Thế gian của Bát-nhã Ba-la-mật
  2. Sự Sùng bái Bát-nhã Ba-la-mật so với sự

Sùng bái chư Phật

  1. Bát-nhã Ba-la-mật, một Đại Thần chú
  2. Bát-nhã Ba-la-mật và các Ba-la-mật khác
  3. Thêm những Ưu thế nữa từ Bát-nhã Ba-la-mật

 

Chương IV. Sự Công bố các Phẩm tính

  1. Giá trị Tương đối của Xá lợi của Như Lai

và của Bát-nhã Ba-la-mật

  1. Tỉ dụ Ngọc Như ý
  2. Giá trị Vô thượng của Bát-nhã Ba-la-mật

Chương V. Tính Cách mạng của Công đức

  1. Bát-nhã Ba-la-mật, Nguồn Công đức
  2. Bát-nhã Ba-la-mật Giả hiệu
  3. Bát-nhã Ba-la-mật Vĩ đại hơn bất cứ Món

quà Tinh thần nào khác

 

Chương VI. Hồi hướngHoan hỉ

  1. Công đức Vô thượng của Hồi hướngHoan hỉ
  2. Tầm vóc của Hoan hỉ
  3. Vấn đề Siêu hình
  4. Làm sao Tránh được những Cái thấy Điên đảo
  5. Quán xét Công đức

 

Chương VII. Địa ngục

  1. Tán ca Bát-nhã Ba-la-mật
  2. Ưu thế của Bát-nhã Ba-la-mật đối với

các Ba-la-mật khác

  1. Bát-nhã Ba-la-mật Không đem lại gì cả
  2. Tại sao Bát-nhã Ba-la-mật Vĩ đại
  3. Nguyên nhân Tin Bát-nhã Ba-la-mật
  4. Nhân và Quả của Không tin

 

Chương VIII. Thanh tịnh

  1. Sự Thâm sâuTính Thanh tịnh của Bát-nhã Ba-la-mật
  2. Chấp trước
  3. Vô chấp
  4. Như Hư khôngTiếng vang
  5. Kết luận

 

Chương IX. Tán thán

  1. Bát-nhã Ba-la-mật Hoàn toàn Thanh tịnh
  2. Hiệu quả của Bát-nhã Ba-la-mật
  3. Chuyển Bánh xe Pháp thứ hai
  4. Cách thức và Phẩm tính của Bát-nhã Ba-la-mật

Chương X. Công bố các Phẩm tính Mang trong Tâm

  1. Hành vi Quá khứThái độ Hiện tại đối với

Bát-nhã Ba-la-mật

  1. Những Phẩm tính Xứng đáng của một Bồ-tát đắc

Bát-nhã Ba-la-mật

  1. Năm Tỉ dụ Minh họa Sự Gần gũi với Giác ngộ Viên mãn
  2. Tại sao các Bồ-tát được chư Phật ưu ái
  3. Thái độ Đúng đối với Bát-nhã Ba-la-mật
  4. Những Chướng ngại đối với Bát-nhã Ba-la-mật
  5. Vị Bồ-tát được chư Phật hộ trì
  6. Tiên đoán về Sự Truyền bá Bát-nhã Ba-la-mật
  7. Miêu tả các Bồ-tát sẽ học Bát-nhã Ba-la-mật

 

Chương XI. Những Việc làm của Ma vương

  1. Những Việc làm Dị biệt của Ma vương
  2. Bát-nhã Ba-la-mật và các Kinh của hàng Thanh văn
  3. Những Việc làm Dị biệt của Ma vương
  4. Nguồn gốc Bất hòa giữa Thầy và Trò
  5. Sự Sai hướng của Mục đích
  6. Thêm sự Bất hòa giữa Thầy và Trò
  7. Ma vương Khuyên bỏ Bát-nhã Ba-la-mật
  8. Sự Đối lập giữa Ma vương và Phật

 

Chương XII. Chỉ ra Thế gian

  1. Bát-nhã Ba-la-mật Mẹ của chư Phật
  2. Như Lai Biết Thế gian Như thế nào
  3. Làm sao Như Lai biết Tâm của Chúng sinh
  4. Các Tướng Thâm sâu, và Chúng bị ràng buộc

như thế nào

  1. Thế giới Cho thấy Rỗng không

 

Chương XIII. Không thể Nghĩ bàn

  1. Năm Thuộc tính của Bát-nhã Ba-la-mật
  2. Sự Tái sinh Tinh thần Kết quả từ Tri kiến này
  3. Không Có gì để Nắm bắt
  4. Phản ứng của chư Thiên

 

Chương XIV. Các Tỉ dụ

  1. Tái sinhVị laiQuá khứ
  2. Những Hành vi của một Bồ-tát Thất bại trong

Bát-nhã Ba-la-mật

  1. Bốn Tỉ dụ

 

Chương XV. Chư Thiên

  1. Phận sự của Người Mới tu
  2. Một Bồ-tát Trợ giúp Chúng sinh Như thế nào
  3. Miêu tả Bát-nhã Ba-la-mật

 

Chương XVI. Chân như

  1. Chân như Như Lai
  2. Trái đất Rung chuyển, và Số đông Được cứu
  3. Bát-nhã Ba-la-mậtPhương tiện Thiện xảo
  4. Giác ngộTánh không
  5. Những Điều Tiên quyết để đi đến Giác ngộ

 

Chương XVII. Biểu tượng, Biểu hiệu, và Dấu hiệu

          của Bất thối chuyển

  1. Những Biểu hiệu Dị biệt của Bất thối chuyển
  2. Những Việc làm của Ma vương
  3. Thêm những Biểu hiệu của Bất thối chuyển

 

Chương XVIII. Tánh Không

  1. Những Trạm dừng Thâm sâu
  2. Làm saoTheo dõi Bát-nhã Ba-la-mật
  3. Công đức
  4. Vô lượng, Rỗng không và Thuyết thoại
  5. Không Tăng hay Giảm

 

Chương XIX. Nữ Thần sông Hằng

  1. Tùy thuộc Phát sinh
  2. Không Phát triển
  3. Không có Trợ duyên Khách quan và không Tự hữu
  4. Năm chỗ Gây sợ hãi
  5. Tiên đoán của Nữ Thần Sông Hằng

 

Chương XX. Bàn về Phương tiện Thiện xảo

  1. Tánh khôngBiên tế của Thực tại
  2. Ba Tỉ dụ
  3. Các Cửa đến Giải thoát và những Lời nguyện

về Chúng sinh

  1. Bất Thối chuyển
  2. Những Kinh nghiệm về Mộng và Tướng của

Bất thối chuyển

  1. Bất Thối chuyển và Huyền lực của Thành thật

 

Chương XXI. Những Việc làm của Ma Vương

  1. Kiêu mạn và Huyền lực của Thành thật
  2. Kiêu mạn trong Nối kết với sự Công bố Tên
  3. Lỗi lầm trong Nối kết với Xả ly

 

Chương XXII. Thiện Tri thức

  1. Các Thiện Tri thức
  2. Không, Nhiễm và Tịnh
  3. Chú ý đến Bát-nhã Ba-la-mật, và Viên ngọc có

Giá trị Lớn

  1. Không và sự Tăng trưởng trong Giác ngộ

 

Chương XXIII. Thích-đề

  1. Địa vị Thượng đẳng của Bồ-tát
  2. Báo đáp của Bát-nhã Ba-la-mật

 

Chương XXIV. Tự phụ

  1. Những Duyên Mở ra cho một Bồ-tát đối với

Tác động của Ma Vương

  1. Thái độ Đúng của Bồ-tát đối với các Bồ-tát khác

 

Chương XXV. Huấn luyện

  1. Một Bồ-tát được Huấn luyện Như thế nào trong

Nhất Thiết trí

  1. Sự Có ít Bồ-tát
  2. Bát-nhã Ba-la-mật Hiểu tất cả các Ba-la-mật khác
  3. Công đức từ Bát-nhã ba-la-mật
  4. Bồ-tát và Thanh văn

 

Chương XXVI. Như huyễn

  1. Thích-đề Tán thán các Bồ-tát
  2. Hoan hỉ, Chuyển Công đức
  3. Bản tánh của Huyễn

 

Chương XXVII. Cốt lõi

  1. Can đảm của vị Bồ-tát trong Khó khăn
  2. Vị Bồ-tát được chư Thiên Bảo vệ, và Chống lại Ma vương
  3. Chư Phật Tán thán Bồ-tát ấy
  4. Giác ngộChân như
  5. Không và Sự Trú trong Bát-nhã Ba-la-mật

 

Chương XXVIII. Avakirnakusuma

  1. Sự Tiên đoán về Avakirnakusuma
  2. Tán thán Bát-nhã Ba-la-mật
  3. Truyền Kinh cho A-nan-đa
  4. Cõi Phật Bất Động (Akshobhya Buddha)
  5. Tịch diệt, Không Tịch diệt và Bát-nhã Ba-la-mật
  6. Những Lợi thế Phát xuất từ Bát-nhã Ba-la-mật

 

Chương XXIX. Những Phương pháp Tiếp cận

 

Chương XXX. Tát-đà-ba-luân

  1. Tát-đà-ba-luân Lên đường tìm Bát-nhã Ba-la-mật
  2. Miêu tả Thành Chúng hương, và Đời sống của Bồ-tát Đàm-vô-kiệt
  3. Danh sách và Nghĩa của các Tam-muội
  4. Tát-đà-ba-luân và Người Con gái của Thương nhân
  5. Cuộc Gặp gỡ với Đàm-vô-kiệt

 

Chương XXXI. Bồ-tát Đàm-vô-kiệt

  1. Sự Đến và Đi của các Như Lai
  2. Tát-đà-ba-luân Tự Hy sinh
  3. Đàm-vô-kiệt Chứng minh Pháp

 

Chương XXXII. Trao phó

  1. Kết thúc Câu chuyện Tát-đà-ba-luân
  2. Bát-nhã Ba-la-mật được Trao phó cho A-nan-đa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương I

 

THỰC HÀNH NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ

 

  1. DẪN NHẬP

 

     Một thời tôi nghe như vầy. Đức Thế Tôn trú ở thành Vương Xá[1], trên núi Linh Thứu, cùng với chúng đại tỳ-kheo, với 1.250 vị, tất cả đều là A-la-hán, – đã hết rỉ lậu, không cấu uế, điều ngự đầy đủ, hoàn toàn tự tại trong tâm, khéo giải thoáttrí tuệ, thuần chủng, những Rồng lớn, việc làm đã xong, phận sự đã thành tựu, gánh nặng đã đặt xuống, phúc lợi riêng đã thành tựu, những kiết sử ràng buộc trở nên tịch diệt, tâm khéo được giải thoát bằng chánh kiến, trong sự điều tâm hoàn toàn – ngoại trừ một vị duy nhất, tức Tôn giả A-nan-đa.[2]

     Đức Thế Tôn nói với Trưởng lão Tôn giả Tu-bồ-đề[3]: Bây giờ hãy làm nó rõ ràng, này Tu-bồ-đề, với chư Bồ-tát, đại sĩ, bắt đầu từ bát-nhã ba-la-mật, làm sao các Bồ-tát, đại sĩ, tiến vào bát-nhã ba-la-mật!

     Vì thế Tôn giả Xá-lợi-phất[4] tự nghĩ: [4] Trưởng lão Tôn giả Tu-bồ-đề, sẽ giảng giải bát-nhã ba-la-mật của chính ngài ấy, vén mở bát-nhã ba-nhã ba-la-mật bằng hành tác và sức lực của riêng ngài ấy, hay nhờ thần lực của Phật? 

     Tôn giả Tu-bồ-đề, nhờ thần lực của Phật, biết rằng Tôn giả Xá-lợi-phất đã đàm luận như thế trong tâm ngài ấy, nói với Tôn giả Xá-lợi-phất: Bất cứ điều gì, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, các đệ tử của Thế Tôn dạy, tất cả đều biết là việc làm của Như Lai[5]. Vì trong pháp do Như Lai chứng minh họ tự huấn luyện mình, họ giác ngộ chân tánh của nó, họ giữ nó trong tâm. Từ đó về sau không một điều gì họ dạy mâu thuẫn với chân tánh của pháp. Ấy đúng là đưa ra sự chứng minh pháp của Như Lai. Bất cứ điều gì những người con đó của một gia đình thiện lương thuyết giảng đều là bản tánh của pháp, họ không đưa vào sự mâu thuẫn với thực tánh của pháp.

 

  1. TÍNH TỊCH DIỆT CỦA NGÃ

 

     Vì thế Tôn giả Tu-bồ-đề, do thần lực của Phật, bạch với Đức Thế Tôn: Thế Tôn đã nói, ‘Bây giờ hãy làm nó rõ ràng, này Tu-bồ-đề, với chư Bồ-tát, đại sĩ, bắt đầu từ bát-nhã ba-la-mật, các Bồ-tát, đại sĩ tiến vào bát-nhã ba-la-mật như thế nào!’ Khi nói về ‘Bồ-tát,’ chữ ‘Bồ-tát’ ấy chỉ pháp gì? Con không, Ôi Thế Tôn, thấy pháp ‘Bồ-tát’ đó [5], cũng không thấy pháp gọi là ‘bát-nhã ba-la-mật.’ Vì thế con không tìm, không hiểu, cũng không thấy pháp ‘Bồ-tát,’ hay ‘bát-nhã ba-la-mật,’ con sẽ giáo huấn hay khuyến dụ Bồ-tát gì trong bát-nhã ba-la-mật gì? Nhưng, Ôi Thế Tôn, nếu khi nêu ra điều này, tâm của Bồ-tát ấy không trở nên sợ sệt, cũng không thản nhiên, không thất vọng cũng không ngã lòng, nếu ngài ấy không bỏ đi hay trở nên chán nản, không run rẩy, không sợ hay kinh hãi, ấy chính là Bồ-tát này, đại sĩ này, được giáo huấn trong bát-nhã ba-la-mật. Một cách chính xác, nên biết đây là bát-nhã ba-la-mật của Bồ-tát ấy, là sự giáo huấn của ngài ấy trong bát-nhã ba-la-mật. Như thế khi ngài ấy trụ vững chắc, đó là sự giáo huấn và khuyến dụ của ngài ấy. Hơn nữa, khi một Bồ-tát theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật và phát triển nó, ngài ấy sẽ tự huấn luyện mình rằng không tự kiêu về tâm bồ-đề đó. Tâm ấy là vô tâm, vì trong yếu tánh tâm trong sáng.

     Xá-lợi-phất: Tâm ấy mà nó là vô tâm, là cái gì đó mà nó có [hiện hữu]?

     Tu-bồ-đề: Ở đó có hiện hữu không, hay người ta có thể lãnh hội không, ‘có’ hay ‘không có’ trong trạng thái vắng mặt của tâm này?

     Xá-lợi-phất: Không, không phải thế. [6]

     Tu-bồ-đề: Vậy thì đó có phải là câu hỏi thích hợp khi Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi hay tâm ấy mà nó là vô tâm là một cái gì đó mà nó có?

     Xá-lợi-phất: Thế thì trạng thái vắng mặt tâm này là gì?

     Tu-bồ-đề: Ấy là không có sự biến đổi hay phân biệt.

     Xá-lợi-phất: Vậy ngài có giảng điều này không, ngài Tu-bồ-đề, ngài người mà đức Thế Tôn đã tuyên bố là đệ nhất trong những người An trụ. Và vì lý do đó, [tức là bởi vì không tự kiêu về tâm bồ-đề] nên được xem là một Bồ-tát không thể bỏ giác ngộ viên mãn, và là một người không bao giờ ngừng đem bát-nhã ba-la-mật đến tâm. Hoặc một người muốn tu luyện ở mức độ của Thanh văn, hay Duyên giác, hay Bồ-tát, – một người lắng nghe bát-nhã ba-la-mật này, chấp nhận nó, giữ trong tâm, tụng nó, nghiên cứu nó, truyền bá nó cho người khác, và trong chính bát-nhã ba-la-mật này người được phú bẩm sự thiện xảo trong phương tiện sẽ tận lực, với mục đích tìm ra tất cả các pháp tạo thành một Bồ-tát. [7] Chỉ trong bát-nhã ba-la-mật này tất cả các pháp kiến lập một vị Bồ-tát, và Bồ-tát ấy sẽ tự huấn luyện và tận sức mình, được chỉ ra đầy đủ. Ngài ấy muốn tu luyệngiác ngộ viên mãn cũng sẽ lắng nghe, v.v…, bát-nhã ba-la-mật này. Người được phú bẩm thiện sự xảo trong phương tiện nên tận sức mình chỉ trong bát-nhã ba-la-mật này, với mục đích tìm được tất cả các pháp kiến lập một vị Bồ-tát.

     Tu-bồ-đề: Tôi không tìm được bất cứ cái gì tương ứng với chữ  ‘Bồ-tát,’ hay chữ ‘bát-nhã ba-la-mật,’ – mà lúc ấy tôi nên giáo huấn và khuyên nhủ Bồ-tát nào trong bát-nhã ba-la-mật nào? Chắc chắn ấy sẽ là điều đáng tiếc nếu tôi không thể tìm được chính cái ấy, chỉ bằng chữ thôi sẽ khiến cho một Bồ-tát sinh ra và lìa đời. Hơn nữa, như thế cái gì được chỉ định thì không tương tục cũng chẳng phải không tương tục, không gián đoạn cũng chẳng phải không gián đoạn. Vì sao? Bởi vì nó không hiện hữu. Đó là [lý do] tại sao nó không tương tục cũng chẳng phải không tương tục, không gián đoạn cũng chẳng phải không gián đoạn. Nên thừa nhận một vị Bồ-tát không trở nên sợ hãi khi được dạy bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này [8] là không thiếu trong bát-nhã ba-la-mật, khi trụ ở địa bất thối chuyển của Bồ-tát, trụ vững chắc, vì không trụ ở bất cứ nơi nào. Hơn nữa, một Bồ-tát theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật và phát triển nó, không nên trụ trong sắc, v.v… Bởi vì, khi trụ trong sắc, v.v…, ngài ấy theo đuổi trong tác động của sắc, và không phải trong bát-nhã ba-la-mật. Vì trong khi theo đuổi trong tác động của sắc, ngài ấy không thể có được bát-nhã ba-la-mật, cũng không tận sức mình vì nó, cũng không hoàn thành nó. Khi không hoàn thành bát-nhã ba-la-mật, ngài ấy không thể đi đến nhất thiết trí, chừng nào ngài ấy còn là người cố gắng thích hợp với những cái chủ yếu lẫn tránh. Vì trong bát-nhã ba-la-mật thì sắc không thích hợp. Nhưng sự không thích hợp của sắc, v.v…, không phải là sắc, v.v… Và bát-nhã ba-la-mật cũng không thể thích hợp được. Như vậy một Bồ-tát nên theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật. Nên gọi nội kiến tập trung này của một vị Bồ-tát là ‘sự không thích hợp của tất cả các pháp.’ Nó quảng đại, cao quí, không giới hạn và vững vàng, không bị bất cứ một Thanh văn hay Duyên giác nào chia xẻ. Không thể bám giữ chính cảnh giới Nhất thiết trí, bởi vì không thể nắm bắt nó bằng tướng. Nếu có thể nắm bắt nó bằng tướng, thì Du sĩ Tiên-ni[6] không có niềm tin nơi đạo của chúng ta. Du sĩ Tiên-ni tin quyết tri kiến này của nhất thiết trí, và là một ‘tín đồ’ ông ta [9] nhập vào tri kiến với một phạm vigiới hạn. Ông ta không chấp giữ sắc, v.v… Ông ta cũng không bình luận tri kiến đó với hân hoan và khoái lạc. Ông ta cũng không xem nó là bên trong sắc, v.v…, cũng không phải bên ngoài, cũng không cả hai bên trong và bên ngoài, cũng không khác hơn sắc, v.v…Trong đoạn kinh này, Du sĩ Tiên-ni, là người luôn luôn tin quyết vào tri kiến của nhất thiết trí, được gọi là tín đồ. Ông ta nhận chân tánh của các pháp làm tiêu chuẩn của mình, và tin quyết vào vô tướng, vì thế ông ta không chấp giữ bất cứ pháp nào ông ta có thể thích nghi hay buông thả. Ông ta cũng không quan tâm đến cả Niết-bàn. Nên biết đây cũng là bát-nhã ba-la-mật của một Bồ-tát, mà ông ta không chấp giữ sắc, v.v…, và ông ta không nhập Niết-bàn giữa đường, trước khi ông ta giác ngộ mười lực của Như Lai, bốn vô úy của ngài, và mười tám pháp bất cộng của một vị Phật. Vì thế, nên biết đây cũng là bát-nhã ba-la-mật của một Bồ-tát. [10] Thêm nữa, một Bồ-tát theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật và phát triển nó, nên quán sátthiền định về ba-la-mật đó là gì, ai có nó, và về bát-nhã ba-la-mật này là pháp vô hữu, bất khả đắc. Khi các quán sát này không làm Bồ-tát ấy sợ, thì biết ngài ấy là một Bồ-tát sở hữu bát-nhã ba-la-mật.

     Xá-lợi-phất: Làm sao biết được một Bồ-tát sở hữu bát-nhã ba-la-mật, khi chính sắc không sở hữu tự tánh của sắc, v.v…; khi bát-nhã ba-la-mật không sở hữu tự tánh của bát-nhã ba-la-mật; khi chính nhất thiết trí không sở hữu tự tánh của nhất thiết trí?

     Tu-bồ-đề: Đúng vậy, thưa ngài Xá-lợi-phất. Sắc tự nó không sở hữu tự tánh của sắc, v.v… Bát-nhã ba-la-mật không sở hữu tướng của ‘bát-nhã ba-la-mật.’ Tướng không sở hữu tự tánh của tướng. Cái có tướng không sở hữu tự tánh của cái có tướng, và tự tánh không sở hữu tướng của tự tánh. [11]

     Xá-lợi-phất: Song, vị Bồ-tát tu luyện trong đây sẽ đi đến nhất thiết trí chứ?

     Tu-bồ-đề: Ngài ấy sẽ đi đến. Bởi vì tất cả các pháp đều bất sinh, và không đi đến. Khi theo đuổi như thế, một Bồ-tát đến gần nhất thiết trí. Ở gần nhất thiết trí, thân, ý, và tướng của ngài ấy sẽ trở nên hoàn toàn thanh tịnh, vì thuần thục chúng sinh, và ngài ấy sẽ gặp chư Phật. Như vậy một Bồ-tát theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật đến gần nhất thiết trí.

     Tu-bồ-đề nói thêm về vị Bồ-tát ấy: Ngài ấy theo đuổi trong tướng khi ngài ấy theo đuổi trong sắc, v.v…, hay trong tướng của sắc, v.v…, hay trong ý tưởng rằng ‘sắc là tướng,’ hay trong tùy thuộc phát sinh của sắc, hay trong sự dừng lại hay hủy diệt của sắc, hay trong ý tưởng rằng ‘sắc là rỗng không.’ hay ‘Tôi theo đuổi’ hay ‘Tôi là một Bồ-tát.’ Vì ngài ấy thực tế theo đuổi trong ý tưởng ‘Tôi là một Bồ-tát’ như là cái căn bản. [12] Hay, khi nó xảy ra với ngài ấy ngài ấy theo đuổi như thế, theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật và phát triển nó,’ – ngài ấy chỉ theo đuổi trong tướng. Nên biết một Bồ-tát như thế là không thiện xảo trong phương tiện.

     Xá-lợi-phất: Vậy thì ngài ấy phải theo đuổi như thế nào nếu ngài ấy theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật? 

     Tu-bồ-đề: Ngài ấy không nên theo đuổi trong các uẩn, cũng không theo đổi trong tướng, cũng không theo đuổi trong ý kiến rằng ‘các uẩn là tướng,’ cũng không theo đuổi trong sự sinh của các uẩn, trong sự trụ hay diệt của chúng, cũng không theo đuổi trong ý kiến rằng ‘các uẩn rống rỗng,” hay ‘Tôi theo đuổi,’ hay ‘Tôi là một Bồ-tát.’ Và [13] không nên nảy sinh, ‘ngài ấy theo đuổi như thế, theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật và phát triển nó.’ Ngài ấy theo đuổi nhưng không vui thích những ý kiến như ‘Tôi theo đuổi,’ ‘Tôi không theo đuổi,’ ‘Tôi không theo đuổi cũng chẳng không theo đuổi,’ và cùng cái [bốn] ấy với ‘Tôi sẽ theo đuổi.’ Ngài ấy không đến gần bất cứ pháp nào cả, bởi vì tất cả các pháp không thể tiếp cận và không thể thích hợp. Vậy thì vị Bồ-tát ấy có nội kiến tập trung ‘Không nắm bắt bất cứ pháp nào bằng danh, sự quảng đại, cao quí, không bị giới hạnvững chắc, không bị bất cứ Thanh văn hay Duyên giác nào chia xẻ. Khi trú trong nội kiến tập trung này, một Bồ-tát sẽ nhanh chóng đạt được giác ngộ viên mãn mà các Như Lai quá khứ đã thọ ký cho ngài ấy. Nhưng khi trú trong định đó, ngài ấy không phê bình nó, cũng không nghĩ ‘Tôi được nhiếp thọ,’ ‘Tôi sẽ nhập định,’ ‘Tôi đang nhập định,’ Tôi đã nhập định.’ Tất cả, trong mỗi và mọi cách, không hiện hữu đối với ngài ấy. [14]

Xá-lợi-phất: Người ta có thể thị hiện định ấy không?

Tu-bồ-đề: Không, thưa ngài Xá-lợi-phất. Bởi vì người con ấy của gia đình thiện lương không biết cũng không nhận thức nó.

Xá-lợi-phất: Ngài nói rằng người ấy không biết cũng không nhận thức nó ư?

Tu-bồ-đề: Tôi nói, vì định ấy không hiện hữu.

Thế Tôn: Nói khéo đấy, Tu-bồ-đề. Và một Bồ-tát nên tu luyện như thế trong ấy, bởi vì lúc ấy ông ta tu luyện trong bát-nhã ba-la-mật.

Xá-lợi-phất: Khi tu luyện như thế, ngài ấy tu luyện trong bát- nhã ba-la-mật ư?

Thế Tôn: Khi tu luyện như thế, ông ấy tu luyện trong bát-nhã ba-la-mật.

Xá-lợi-phất: Khi tu luyện như thế, ngài ấy tu luyện trong những pháp nào?

Thế Tôn: Ông ấy không tu luyện trong bất cứ pháp nào hết. [15] 

Bởi vì các pháp không hiện hữu theo cách như thế như những người, ngu không có học, tầm thường quen giả sử.

     Xá-lợi-phất: Thế thì chúng hiện hữu thế nào?

     Thế Tôn: Vì chúng không hiện hữu, thế là chúng hiện hữu. Và như thế, vì chúng không hiện hữu[7], chúng được gọi là [quả của] vô minh[8]. Những người ngu ngốc, không học, tầm thường cứ ở trong chúng. Mặc dù không hiện hữu, họ kiến lập tất cả các pháp. Khi kiến lập các pháp, chấp giữ hai biên, họ không biết hay thấy các pháp đó [trong thực tướng của chúng]. Vì thế họ kiến lập tất cả các pháp không hiện hữu. Khi kiến lập chúng, họ cứ ở hai biên. Rồi họ tùy thuộc vào cái mắc xích như là sự thật căn bản, và kiến lập các pháp quá khứ, vị lai, và hiện tại. Sau khi kiến lập, họ cứ ở trong danh và sắc. Họ kiến lập tất cả các pháp không hiện hữu, họ không biết cũng không thấy đạo như thật. Hậu quả, họ không tiến hành từ ba giới, và không thức tỉnh trước biên tế của thực tại. Vì lý do đó, họ đi đến chỗ trở thành những ‘người ngu’ kiểu mẫu. Họ không có niềm tin nơi chánh pháp. Nhưng một Bồ-tát không ở lại nơi bất cứ pháp nào.

     Xá-lợi-phất: Khi tu luyện như thế, có phải đó là một Bồ-tát tu luyện trong nhất thiết trí?

     Thế Tôn: Khi tự tu luyện như thế, một Bồ-tát không những tu luyện trong nhất thiết trí, mà ông ấy còn tu luyện trong tất cả các pháp, [16] Khi tự tu luyện như thế, một Bồ-tát được tu luyện trong nhất thiết trí, đến gần nó, tiến đến nó.

     Tu-bồ-đề: Nếu, Ôi Thế Tôn, có người hỏi, – Người huyễn này sẽ được tu luyện trong nhất thiết trí, sẽ đến gần nó, sẽ đi đến nó chăng? Nên giải thích như thế nào?

     Thế Tôn: Tôi sẽ hỏi ông một câu ngược lại, ông có thể trả lời theo cách hay nhất của ông.

     Tu-bồ-đề: Thật khéo nói, Ôi Thế Tôn. Và Tôn giả Tu-bồ-đề lắng nghe đức Thế Tôn.

     Thế Tôn: Ý ông thế nào, Tu-bồ-đề, có phải sắc, v.v…, là một

vật, và huyễn là một vật khác?

     Tu-bồ-đề: Dạ không, bạch Thế Tôn. Bởi vì không phải như thế, không phải huyễn là một vật, và sắc, v.v…, là một vật khác; sắc

chính là huyễn, huyễn chính là sắc.

     Thế Tôn: Ý ông thế nào, Tu-bồ-đề, có phải ý niệm ‘Bồ-tát’ ấy, cái thống trị ấy, khái niệm ấy, sự phát biểu theo qui ước ấy, – ở trong năm thủ uẩn không?    

     Tu-bồ-đề: Vâng, đúng ạ. Bởi vì một Bồ-tát tu luyện mình trong bát-nhã ba-la-mật sẽ tu luyện mình như một người huyễn vì giác ngộ vô thượng. [17] Vì nên nhớ rằng năm thủ uẩn giống như một người huyễn. Bởi vì Thế Tôn đã nói rằng sắc giống như huyễn. Và cái gì là đúng với sắc cũng đúng với sáu căn, và năm thủ uẩn

     Tu-bồ-đề: Các vị Bồ-tát mới lên xe sẽ không run rẩy khi họ nghe sự giảng giải này sao? 

     Thế Tôn: Họ sẽ run rẩy khi họ rơi vào tay các ác tri thức, nhưng không [run rẩy] nếu họ rơi vào tay các thiện tri thức.

     Tu-bồ-đề: Vậy thì ai là thiện tri thức của Bồ-tát?

     Thế Tôn: Những người giáo huấn và khuyên nhủ ông ta trong các ba-la-mật. Những người chỉ cho ông ta những hành vi của Ma vương, nói ‘đây là cách nhận ra những lỗi lầmhành vi của Ma vương. Đây là những lỗi lầmhành vi của Ma vương. Ông nên loại bỏ chúng sau khi ông nhận ra chúng.’ Nên biết những người này là thiện tri thức của một Bồ-tát, một đại sĩ, được trang bị chiếc áo giáp vĩ đại, lên đường trên chiếc xe lớn, đã lên xe đại thừa. [18]

 

  1. NGHĨA CỦA ‘BỒ-TÁT’

 

     Tu-bồ-đề: Về những gì Thế Tôn đã nói, khi nói về ‘Bồ-tát,’ –

chữ ‘Bồ-tát’ có nghĩa là gì?

     Thế Tôn: Không cái gì thực có là nghĩa của chữ ‘Bồ-tát.’ Bởi vì một Bồ-tát tu luyện mình trong vô chấp đối với tất cả các pháp. Vì Bồ-tát ấy, đại sĩ ấy, thức tỉnh trong vô chấp đối với giác ngộ viên mãn theo nghĩa ông ấy hiểu tất cả các pháp. Bởi vì ông ấy lấy giác

ngộ làm mục đích của mình, nên được gọi là Bồ-tát,[9] đại sĩ.

 

  1. NGHĨA CỦA ‘ĐẠI SĨ’

 

     Tu-bồ-đề: Lại nữa, khi Thế Tôn nói một Bồ-tát là ‘một đại sĩ,’ – vì lý do gì mà gọi một Bồ-tát là một đại sĩ?

     Thế Tôn: Một Bồ-tát được gọi là ‘một đại sĩ’ theo nghĩa ông ấy

 sẽ khiến cho một khối lớn, một tập thể chúng sinh đạt cái cao nhất.

     Xá-lợi-phất: Một Bồ-tát được gọi là một ‘đại sĩ’ theo nghĩa gì cũng rõ ràng đối với con. [19]

     Thế Tôn: Vậy thì bây giờ hãy làm rõ ràng ý ông là gì!

     Xá-lợi-phất: Một Bồ-tát được gọi là một ‘đại sĩ’ theo nghĩa ngài ấy chứng minh pháp đến độ những sai lầm to lớn sẽ bị bỏ đi, – những tà kiến như sự giả định về ngã, chúng sinh, thọ giả (linh hồn), người, hữu, vô hữu, đoạn, thường, nhân cách, v.v…

     Tu-bồ-đề: Một Bồ-tát được gọi là ‘đại sĩ’ theo nghĩa gì cũng rõ ràng đối với con. [19]

     Thế Tôn: Vậy thì bây giờ hãy làm rõ ràng ý ông là gì!

     Tu-bồ-đề: Một Bồ-tát được gọi là một ‘đại sĩ,’ nếu ngài ấy vẫn không chấp trước, không dính líu, tâm bồ-đề, tâm nhất thiết trí, tâm bất bình đẳng, tâm bình đẳng với những cái bất bình đẳng, không được bất cứ một Thanh văn hay Duyên giác nào chia xẻ. Bởi vì tâm nhất thiết trí [tự nó] không có rỉ lậu, và không bao gồm [thế giới thực nghiệm]. Và trong khía cạnh tâm nhất thiết trí, không có rỉ lậu và không bao gồm, ngài ấy vẫn không chấp trước và không dính líu. Theo nghĩa đó một Bồ-tát thực đến chỗ trở thành một ‘đại sĩ’ kiểu mẫu.

     Xá-lợi-phất: Vì lý do gì ngài ấy không chấp trước ngay cả với tâm đó, và không dính líu với nó?

     Tu-bồ-đề: Bởi vì nó không phải là tâm.

     Xá-lợi-phất: Có phải tâm đó, là không vô tâm, là một cái gì đó mà nó là [hiện hữu] không? [20]

     Tu-bồ-đề: Có hiện hữu ở đó không, hay người ta có thể nhận

biết không, là ‘có’ hoặc ‘không có’ trong trạng thái tâm vắng mặt này?

     Xá-lợi-phất: Không, không phải thế.

     Tu-bồ-đề: Thế thì làm sao Tôn giả Xá-lợi-phất có thể nói, ‘có phải tâm đó, là vô tâm, là một cái gì đó mà nó có [hiện hữu] không?

     Xá-lợi-phất: À, ngài có giảng giải điều này không, ngài là người mà Thế Tôn tuyên đã công bố là đệ nhất trong những người An trụ.

     Vì thế Tôn giả Phú-lâu-na,[10] con trai của ngài Di-lặc,[11] nói với Thế Tôn: ‘Đại sĩ,’ người được gọi như thế, được trang bị chiếc áo giáp vĩ đại là người đó, người đó lên đường bằng xe đại thừa, được lên xe đại thừa. Đó là tại sao người đó đến chỗ trở thành một ‘đại sĩ’ kiểu mẫu.  

     Tu-bồ-đề: Vĩ đại thế nào mà tôn xưng ngài ấy danh hiệu gọi là ‘được trang bị chiếc áo giáp vĩ đại’? 

     Thế Tôn: Ở đây Bồ-tát ấy, đại sĩ ấy, nghĩ như vầy: ‘Tôi sẽ đưa vô số chúng sinh đến Niết-bàn nhưng không có chúng sinh nào đến Niết-bàn, hay được đưa đến Niết-bàn.’ Tuy nhiên nhiều chúng sinh trong ấy có thể đưa đến Niết-bàn, song không có chúng sinh nào được đưa đến Niết-bàn, cũng không có sự đưa đến Niết-bàn. Vì như thế là chân tánh của các pháp, thấy bản tánh của các pháp là hư huyễn. [21] Cũng vậy, Tu-bồ-dề, nếu một nhà ảo thuật khôn lanh, hay người tập sự của nhà ảo thuật, triệu gọi một đám đông người ở ngã ba dường, và rồi lại làm họ biến mất. Ý ông thế nào, Tu-bồ-đề, có ai bị người nào giết, hay ám sát, hay hủy diệt, hay bị làm cho biến mất không?

     Tu-bồ-đề: Thật không có, bạch Thế Tôn.

     Thế Tôn: Dù vậy một Bồ-tát, một đại sĩ, đưa vô số chúng sinh đến Niết-bàn, song không có chúng sinh nào được đưa đến Niết-bàn, hay đưa những người khác đến đó. Nghe sự giảng giải này mà không sợ, đó là điều vĩ đại đem danh hiệu cho Bồ-tát ấy được biết như là ‘được trang bị chiếc áo giáp vĩ đại.’

     Tu-bồ-đề: Theo con hiểu nghĩa lời dạy của Thế Tôn, vì chắc

chắn không phải được trang bị chiếc áo giáp mà vị Bồ-tát này, vị đại sĩ này, nên được biết đến.

     Thế Tôn: Đúng vậy. Vì nhất thiết trí không phải được tạo ra,

không phải không được tạo ra, không phải kết quả.   

     Tu-bồ-đề: Đúng vậy. Vì sắc, v.v…, [22] chẳng phải bị ràng buộc hay được giải thoát. Và điều đó cũng đúng với Như của sắc, Như của thọ, v.v…

 

     Phú-lâu-na:  Nhưng vậy thì cái gì là sắc của cái mà ngài nói nó

không phải bị ràng buộc cũng không được giải thoát, và cái gì là Như của sắc, v.v…?

     Tu-bồ-đề: Sắc của người huyễn thì không buộc cũng không giải. [23] Bởi vì trong chân tướng nó chẳng ở đó, bởi vì nó ly cách, bởi vì nó bất sinh. Đây là chiếc áo giáp vĩ đại, chiếc áo giáp vĩ đại của một Bồ-tát, của một đại sĩ, được trang bị chiếc áo giáp vĩ đại, đã lên đường bằng chiếc xe lớn, đã lên chiếc xe đại thừa.

     Sau những lời này Tôn giả Phú-lâu-na im lặng.

 

  1. NGHĨA CỦA ‘ĐẠI THỪA’

 

     Tu-bồ-đề: Ấy là như thế, Ôi Thế Tôn, một Bồ-tát, một đại sĩ, được trang bị cái áo giáp vĩ đại, và trở thành người lên đường trên chiếc xe lớn, đã lên chiếc xe đại thừa. Nhưng thế nào là chiếc xe đại thừa? Làm sao biết người ấy đã lên đường trên chiếc xe đó? Nó từ đâu tới và đi về đâu? Nó sẽ đứng ở chỗ nào? Ai sẽ tới bằng phương tiện xe đại thừa này?

     Thế Tôn: ‘Đại thừa’ [chiếc xe lớn] là chữ đồng nghĩa của vô lượng. ‘Vô lượng’ có nghĩa là vô cùng. Nó từ ba giới tới. Nó ra đi đến nơi không có trợ duyên khách quan nào. Ấy sẽ là một Bồ-tát, một đại sĩ, sẽ đi tới, – người ấy sẽ đi tới bất cứ nơi nào. Cũng không một người nào ra đi trên đó. Nó sẽ không trụ ở bất cứ chỗ nào. [Và cuối cùng], bằng phương tiện chiếc xe đại thừa này không một ai đi tới, không một ai đã đi tới, không một ai sẽ đi tới. [24] Bởi vì không pháp nào trong các pháp này, – người ấy đi tới, và bởi [pháp] đó mà người ấy đi tới – hiện hữu, cũng không thể đạt được các pháp. Vì tất cả các pháp không hiện hữu, pháp gì có thể đi tới bởi pháp gì? Như thế, Tu-bồ-đề, một Bồ-tát, một đại sĩ, được trang bị chiếc áo giáp vĩ đại, và lên chiếc xe đại thừa.

     Tu-bồ-đề: Thế Tôn nói về ‘chiếc xe đại thừa.’ Vượt qua thế giới với chư thiên, người, a-tu-la, chiếc xe ấy sẽ đi tới. Vì nó cũng như hư không, và quá ư quảng đại. Như trong hư không, trong chiếc xe này như thế có chỗ cho vô lượngvô số chúng sinh. Chiếc xe đại thừa của chư Bồ-tát, chư đại sĩ cũng vậy. Người ta không thể thấy nó đến, hay đi, và chỗ trú của nó không hiện hữu. Như vậy người ta không thể đến chỗ bắt đầu của chiếc xe lớn này, cũng không thể đến chỗ cuối hay chỗ giữa của nó. Nhưng nó tự đồng nhất mọi nơi. Vì thế, người ta nói về ‘chiếc xe đại thừa.’

     Thế Tôn: Nói khéo đấy, Tu-bồ-đề. Nó là như thế. Nó như vậy mà nó là chiếc xe lớn của các Bồ-tát, các đại sĩ. Đã tu luyện ở trong đó, các Bồ-tát thực đạt đến nhất thiết trí, đã đạt đến, sẽ đạt đến.

     Phú-lâu-na: Trưởng lão Tu-bồ-đề này, khi được hỏi về bát-nhã ba-la-mật, ngài ấy tưởng rằng chiếc xe đại thừa là một vật gì đó có thể chỉ ra được. [25]

     Tu-bồ-đề: Ôi Thế Tôn, con có nói về chiếc xe đại thừa mà không vi phạm bát-nhã ba-la-mật chứ?

     Thế Tôn: Ông có nói. Ông chỉ ra chiếc xe đại thừa phù hợp với bát-nhã ba-la-mật.

 

  1. CHỨNG ĐẮC

 

     Tu-bồ-đề: Nhờ thần lực của Phật, Ôi Thế Tôn. Hơn nữa, Ôi Thế Tôn, một Bồ-tát [bắt đầu cuộc hành trình] không tiến gần [mục đíchcảnh giới Bồ-tát viên mãn] từ nơi bắt đầu, không ở nơi kết thúc, cũng không ở chặng giữa. Bởi vì Bồ-tát thì vô biên như sắc, v.v…, vô biên. Ngài ấy không tiến gần ý kiến ‘Bồ-tát là sắc,’ v.v… Điều đó cũng không hiện hữu, và không nhận biết được. Như vậy trong mỗi và mọi cách con không được bất cứ pháp nào trong các pháp kiến lập một Bồ-tát. Con không thấy pháp mà chữ ‘Bồ-tát’ chỉ. Bát-nhã ba-la-mật con cũng không thấy cũng không đạt được. Nhất thiết trí con cũng không thấy, cũng không đạt được. Vì trong mỗi và mọi cách con không nhận biết cũng không thấy pháp ấy, – pháp gì con nên dạy và khuyên nhủ qua pháp gì và trong pháp gì? ‘Phật,’ ‘Bồ-tát,’ ‘bát-nhã ba-la-mật,’ tất cả chỉ là danh tự. Và những gì các danh từ ấy chỉ là một cái gì đó bất tạo. Nó như là có ngã. [26] Mặc dù chúng ta nói về ‘ngã,’ nhưng tuyệt đối ngã là một cái gì đó bất tạo. Vì thế tất cả các pháp khôngtự tánh, sắc là cái gì, v.v…, mà không thể nắm bắt, và cái gì đó không được tạo ra. Như vậy sự kiện tất cả các pháp khôngtự tánh giống như sự kiện chúng không được tạo ra. Nhưng sự bất tạo của tất cả các pháp khác với [chính] những pháp đó. Làm sao con dạy và khuyên nhủ sự bất tạo trong bát-nhã ba-la-mật mà nó cũng là bất tạo? Nhưng người ta không thể nhận biết tất cả các pháp khác hơn là bất tạo, dù chúng là những pháp kiến lập một vị Phật, hay một Bồ-tát, hay người đi đến giác ngộ. Nếu một Bồ-tát, khi được dạy điều này, không sợ, thì nên biết rằng ‘Bồ-tát này, đại sĩ này, theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật, phát triển nó, quán sát nó, và thiền định về nó.’ Bởi vì thời gian ấy Bồ-tát không tiếp cận sắc, v.v…, cũng không đi đến sắc. Vì sự bất sinh của sắc, v.v…, không phải là sắc, v.v… [27] Sự bất diệt của sắc, v.v…, không phải là sắc, v.v…Sự bất sinh và sắc vì thế không phải hai, cũng không phân chia. Sự bất diệt và sắc vì thế không phải hai cũng không phân chia. Cũng như người ta gọi nó là ‘sắc,’ v.v…, người ta làm một phép đếm về cái gì không phải là hai. Như vậy vị Bồ-tát quán sát trong bát-nhã ba-la-mật tất cả các pháp trong tất cả các chủng, và lúc đó ngài ấy [28] không tiếp cận sắc, v.v…

     Xá-lợi-phất: Như tôi hiểu lời dạy của Tôn giả Tu-bồ-đề, Bồ-tát cũng là bất sinh. Nếu Bồ-tát là bất sinh, vậy thì làm sao ngài ấy tiếp tục cuộc hành hương khó khăn, và làm sao có thể trải nghiệm những đau khổ đó vì chúng sinh?

     Tu-bồ-đề: Tôi không tìm một Bồ-tát tiếp tục cuộc hành hương khó khăn. Trong bất cứ trường hợp nào, người theo đuổi trong sự tưởng khó thì không phải là một Bồ-tát. Bởi vì người tạo ra sự tưởng khó không thể làm việc hạnh phúc cho vô số chúng sinh. Trái lại, người ấy hình thành ý niệm thong dong, hình thành ý niệm tất cả chúng sinh, dù đàn ông hay đàn bà, là cha mẹ và con cái của mình, và như vậy người ấy tiếp tục cuộc hành hương của một Bồ-tát. Vì thế một Bồ-tát nên đồng nhất tất cả chúng sinh với cha mẹ và con cái của mình, vâng, ngay cả với tự ngã của riêng mình, như vầy: ‘Vì tôi, chính tôi, muốn hoàn toàn không có tất cả mọi đau khổ, cũng như tất cả chúng sinh muốn hoàn toàn không có tất cả mọi đau khổ.’ Hơn nữa về tất cả chúng sinh, nên hình thành ý niệm: ‘Ta không nên bỏ rơi tất cả những chúng sinh này. Ta nên giải thoát họ khỏi cái khối đau khổ vô lượng ấy! và ta không nên sinh ra ý nghĩ ghét họ, dù cho ta bị chặt chân tay hằng trăm lần!’ Như vậy một Bồ-tát sẽ nâng cao trái tim mình lên. Khi trụ như một người có trái tim như thế, thì ngài ấy sẽ không theo đuổi cũng không trụ như người tưởng khó. [29] Hơn nữa một Bồ-tát nên phát sinh ý nghĩ ‘như trong mỗi và mọi cách ngã không hiện hữu, và không đến gần được, cũng vậy trong mỗi và mọi cách tất cả các pháp đều không hiện hữu, và không đến gần được.’ Ngài ấy nên ứng dụng ý niệm này với tất cả các pháp, bên trong và bên ngoài. Khi ngài ấy trụ như người có trái tim như thế, thì ngài ấy sẽ không theo đuổi, cũng không trụ, như người tưởng khó. Nhưng khi Tôn giả Xá-lợi-phất nói rằng ‘bất sinh là Bồ-tát,’ quả thật như thế, ‘bất sinh là Bồ-tát.’

     Xá-lợi-phất: Thêm nữa, có phải chỉ Bồ-tát là bất sinh hay các pháp kiến lập ngài ấy cũng vậy?

     Tu-bồ-đề: Các pháp kiến lập ngài ấy cũng là bất sinh.

     Xá-lợi-phất: Có phải các pháp kiến lập một Bồ-tát bất sinh hay cảnh giới của nhất thiết trí cũng vậy?

     Tu-bồ-đề: Cảnh giới của nhất thiết trí cũng là bất sinh.

     Xá-lợi-phất: Có phải chỉ cảnh giới của nhất thiết tríbất sinh hay các pháp kiến lập nó cũng vậy?

     Tu-bồ-đề: Các pháp kiến lập nhất thiết trí cũng là bất sinh.

     Xá-lợi-phất: Có phải chỉ các pháp kiến lập nhất thiết tríbất sinh hay hạng người thường cũng vậy?

     Tu-bồ-đề: Người thường cũng là bất sinh.  

     Xá-lợi-phất: Có phải chỉ hạng người thường bất sinh hay các

pháp kiến lập họ cũng vậy?

     Tu-bồ-đề: Các pháp kiến lập hạng người thường cũng là bất sinh. [30]

     Xá-lợi-phất: Thưa Tôn giả Tu-bồ-đề, nếu một Bồ-tát là bất sinh và các pháp kiến lập ngài ấy cũng vậy, cảnh giới nhất thiết trí cũng vậy, các pháp kiến lập nó cũng vậy, hạng người thường cũng vậy, và các pháp kiến lập họ cũng vậy, – thế thì chắc chắn một Bồ-tát không có bất cứ một gắng sức nào cũng đạt đến cảnh giới của nhất thiết trí ư?

     Tu-bồ-đề: Tôi không ước mong chứng đắc một pháp bất sinh, cũng không [ước mong] tái hợp nhất với một [pháp bất sinh]. Hơn nữa, nguời ta có đạt được sự chứng đắc một pháp bất sinh qua một pháp bất sinh không?

     Xá-lợi-phất: Vậy thì người ta có đạt được sự chứng đắc bất sinh qua một pháp bất sinh, hay qua một pháp sinh không?

     Tu-bồ-đề: Vậy thì một pháp bất sinh được sinh, hay nó không được sinh?

     Xá-lợi-phất: Thế thì sự sinh một pháp mà pháp ấy là sự bất sinh, hay sự bất sinh một pháp mà pháp ấy là sự sinh?

     Tu-bồ-đề: Nói một pháp sinh là một pháp bất sinh là không thể hiểu được.

     Xá-lợi-phất: Nói bất sinh cũng không thể hiểu được.

     Tu-bồ-đề: Bất sinh chỉ là thuyết thoại. Bất sinh chỉ xuất hiện trước con mắt tâm. Bất sinh chỉ là tia sáng trong tâm. Tuyệt đối nó không là cái gì hơn thế. 

     Xá-lợi-phất: Nên xếp Tôn giả Tu-bồ-đề vào hạng nhất của những người thuyết giảng pháp. [31] Dù người ta có thể vấn nạn ngài ấy bằng bất cứ cách nào, ngài ấy cũng tìm được đường ra, ngài ấy không lạc ra ngoài [lời dạy đúng về] chân tánh của Pháp, và ngài ấy không mâu thuẫn với chân tánh đó của Pháp.

     Tu-bồ-đề: Đây là Chân như Cứu cánh của Thế Tôn, yếu tánh của Thanh văn, những người không có bất cứ sự ủng hộ nào, như thế, khi bị vấn nạn bằng bất cứ cách nào, họ cũng tìm được lối ra, không mâu thuẫn với chân tánh của các pháp, cũng không xa lìa nó. Và

bởi vì họ không tùy thuộc vào bất cứ một pháp nào.

     Xá-lợi-phất: Nói hay, ngài Tu-bồ-đề. Và cái gì là ba-la-mật của các Bồ-tát [không cho phép họ] tùy thuộc vào bất cứ pháp nào?

     Tu-bồ-đề: Bát-nhã ba-la-mật, phúc lợi cho tất cả [ba] thừa, cũng là ba-la-mật [không cho phép họ] nương tựa vào bất cứ pháp nào, bởi vì [nó cho thấy rằng] tất cả các pháp không có sự hộ trợ nào cả [vì thế không thể cống hiến gì hết]. Vì nếu một Bồ-tát, khi được dạy bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, mà không sợ, lúc ấy nên biết rằng ngài ấy tự điều chỉnh mình phù hợp với bát-nhã ba-la-mật, và ngài ấy không thiếu sự chú ý này [đối với những sự kiện chân thật về các pháp]. 

     Xá-lợi-phất: Một Bồ-tát không thiếu sự chú ý khi ngài ấy được điều chỉnh phù hợp với bát-nhã ba-la-mật thì thế nào? [32] Vì nếu một Bồ-tát không thiếu sự chú ý, thì ngài ấy [tự động] sẽ thiếu sự điều chỉnh để phù hợp với bát-nhã ba-la-mật. Và nếu không thiếu sự điều chỉnh phù hợp với bát-nhã ba-la-mật, ngài ấy sẽ thiếu sự chú ý. Nhưng nếu [ở] một Bồ-tát mà hai sự kiện là ngài ấy không thiếu sự chú ý và ngài ấy không thiếu sự trú trong bát-nhã ba-la-mật, cùng thuộc về nhau, thì tất cả chúng sinh cũng sẽ không thiếu sự trú trong bát-nhã ba-la-mật. Bởi vì họ cũng trú không thiếu chú ý.

     Tu-bồ-đề: Nói hay, nhưng tôi phải chứng minh lại cho ngài, mặc dù Tôn giả Xá-lợi-phất đã nắm đúng vấn đề chừng nào lời nói còn liên quan. Bởi vì nên biết rằng chú ý không có tự tánh theo cách chúng sinh không có tự tánh; chú ý không thực hữu theo cách chúng sinh không thực hữu; chú ý ly cách theo cách chúng sinh ly cách; chú ý không thể nghĩ bàn theo cách chúng sinh không thể nghĩ bàn; những hành động chú ý của tâm không trải qua quá trình đưa đến giác ngộ theo cách chúng sinh không trải qua quá trình đó; những hành động của chú ý không trải qua quá trình đưa đến giác ngộ theo bất cứ chân nghĩa nào hơn chúng sinh trải qua. Qua sự chú ý có tánh cách như thế tôi ước mong rằng một Bồ-tát, một Đại sĩ, có thể trú ở chỗ trú này. 

 

Chương II

 

THÍCH-ĐỀ[12]

 

  1. TỰA

 

     Lại cũng lúc đó, nhiều thiên đến hội ấy, và ngồi chỗ của mình: Thiên đế Thích-đề, với bốn vạn thiên của [trời] Ba mươi ba; bốn hộ vệ thế gian, với hai vạn thiên thuộc đám tùy tùng của Bốn Đại Thiên vương; Phạm-thiên, người trị vì thế giới này, với một vạn thiên thuộc đám cùng đi của Phạm-thiên; và năm ngàn thiên của cõi Tịnh Độ. Nhưng thần lực của Phật, sự trang nghiêmuy quyền của ngài vượt qua ngay cả sự huy hoàng của chư thiên, một báo đáp cho những hành vi họ đã làm trong quá khứ.

     Thích-đề: Thưa ngài Tu-bồ-đề, nhiều ngàn thiên đây đến hội này, và đã ngồi chỗ của họ, bởi vì họ muốn nghe về bát-nhã ba-la-mật từ ngài Tu-bồ-đề thánh thiện, và lắng nghe lời khuyên của ngài ấy cho các Bồ-tát, sự giáo huấn và khuyên nhủ của ngài ấy. Rồi một Bồ-tát trụ trong bát-nhã ba-la-mật như thế nào, tu luyện trong bát-nhã ba-la-mật như thế nào, hiến mình cho bát-nhã ba-la-mật như thế nào?  

     Tu-bồ-đề: Vậy thì hãy để tôi giải thích cho ngài, nhờ thần lực, sự trang nghiêmuy lực của Phật. Chúng thiên nào chưa phát tâmgiác ngộ viên mãn, nên làm thế. Tuy nhiên, chúng thiên nào chắc chắn họ đã an toàn ra khỏi thế gian này [tức là, những vị A-la-hán đã đạt lần sinh cuối cùng, và nghĩ rằng họ đã làm xong tất cả] là không thích hợp cho giác ngộ viên mãn [bởi vì họ không muốn đi, vì bi tâm, trở lại với sinh tử]. Vì sao? Cơn lụt sinh tử bao vây họ lại. [34] Không có khả năng tái sinh lại nhiều lần, họ không thể phát tâmgiác ngộ viên mãn. Song nếu họ cũng phát tâmgiác ngộ viên mãn, tôi cũng sẽ xác nhận cho họ. Tôi sẽ không bít lấp thiện căn của họ. Vì nên dương cao những pháp phân minh nhất lên trên

tất cả các pháp khác.

     Thế Tôn: Khéo nói đấy, Tu-bồ-đề. Ông khéo khuyến khích các Bồ-tát.

     Rồi Tu-bồ-đề thưa với Thế Tôn: Chúng con nên biết ơn Thế Tôn, không nên không biết ơn. Vì trong quá khứ, trong sự hiện diện của các Như Lai quá khứ, Thế Tôn đã vì chúng con, sống đời phạm hạnh với giác ngộmục đích của ngài. Ngay cả sau khi ngài đã nhất định trở thành một Bồ-tát [một chúng sinh hiến mình cho giác ngộ], các vị đệ tử vẫn dạy bảo và khuyên nhủ ngài ấy trong các ba-la-mật, và do theo đuổi trong đó ngài ấy đã sản sinh ra tri kiến cùng tột. Dù như thế chúng con cũng sẽ trợ giúp, bênh vực, giúp đỡ, và hộ trì các Bồ-tát. Bởi vì các Bồ-tát ấy, nếu chúng con trợ giúp, bênh vực, giúp đỡ và hộ trì các ngài ấy, sẽ sớm biết giác ngộ viên mãn.

 

  1. LÀM SAO TRỤ TRONG KHÔNG,

HAY BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Rồi Tu-bồ-đề nói với Thích-đề: Này ngài Kiều-thi-ca, bây giờ hãy lắng nghe và chú ý kỹ. Tôi sẽ dạy ngài một Bồ-tát trụ trong bát-nhã ba-la-mật như thế nào. [35] Được trang bị với chiếc áo giáp vĩ đại, Bồ-tát ấy nên phát triển như thế để ngài ấy không trụ ở bất cứ chỗ nào trong những chỗ này: không ở sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không ở sắc, thanh, hương, vị, xúc, ý; không ở nhãn thức, v.v…, cho đến: không ở ý thức, v.v…, cho đến: không ở các đại, tức là, đất, nước, lửa, gió, khí, thức: không ở các trụ cột niệm, chánh tinh tấn, những đường đến thần thông, các căn, các lực, các giác chi, các Đạo phần, không ở các quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, hay A-la-hán; không ở cảnh giới Duyên giác, cũng không ở cảnh giới Phật. Ngài ấy không nên trụ ở ý niệm ‘đây là sắc,’ ‘đây là thọ,’ v.v…, đến: ‘đây là cảnh giới Phật.’ Ngài ấy không nên trụ ở các ý niệm ‘sắc, v.v…, là thường, [hay] vô thường’; [36] ‘sắc là hiền hay ác’; ‘sắc là ngã, hay không phải ngã,’ ‘sắc là dễ thương hay đáng ghét,’ ‘sắc là rỗng không, hay nhận biết được như một cái gì đó.’ ngài ấy không nên trụ ở ý niệm các quả của đời sống phạm hạnh (thánh thiện) lấy sự cao quí của chúng từ Vô vi[13]. Hay người được quả Dự lưu thì xứng đáng với các vật bố thí, và sẽ tái sinh bảy lần là nhiều nhất. Hay người được quả Nhất lưu thì xứng đáng với các vật bố thí, nhưng vì chưa hoàn toàn thắng đến cuối cùng, sẽ tạo ra một kết cuộc xấu sau khi người ấy đến thế gian này một lần nữa. Hay người được quả Bất lai thì xứng đáng với những vật bố thí, không trở lại thế gian này một lần nữa, và sẽ đạt Niết-bàn ở chỗ khác. Hay một A-la-hán thì xứng đáng với các vật bố thí, và sẽ chỉ ở đây trong chính cuộc hiện hữu này đạt được Niết-bàn trong cõi vô dư Niết-bàn. Hay một Duyên giác thì xứng đáng với những vật bố thí, và sẽ đạt được Niết-bàn sau khi vươn lên trên mức độ Thanh văn, nhưng không đạt mức độ Phật. Một vị Phật thì xứng đáng với các vật cúng dường, và sẽ đạt được Niết-bàn nơi Niết-bàn của Phật, trong cõi vô dư Niết-bàn, sau khi đã vươn lên trên mức độ của người thường, của Thanh văn, và của Duyên giác, đã đem hạnh phúc cho vô số chúng sinh, đã đưa đến Niết-bàn trăm ngàn na-do-tha[14] câu-lợi[15] chúng sinh không đếm được, đã làm kiên cố vô số chúng sinh [37] của cảnh giới Thanh văn, cảnh giới Duyên giác, và cảnh giới Phật viên mãn, đã trụ ở địa của một vị Phật và đã làm việc làm của một vị Phật, – do đó ngay cả một Bồ-tát cũng không nên trụ chỗ trụ của mình.

     Vì thế Tôn giả Xá-lợi-phất tự nghĩ: Nếu vì thế ngay cả một người không trụ chỗ của mình, vậy thì làm sao người ta trụ và tu luyện mình? Tôn giả Tu-bồ-đề, nhờ thần lực của Phật, biết được tâm ý của Tôn giả Xá-lợi-phất và nói: Này ngài Xá-lợi-phất, ý ngài thế nào, đức Như Lai trụ ở đâu?

     Xá-lợi-phất: Như Lai chẳng trụ ở đâu cả, bởi vì tâm ngài ấy không tìm sự hộ trợ nào. Ngài ấy không trụ nơi cái gì hữu vi cũng không trụ nơi cái gì vô vi, cũng không từ những chỗ ấy hiện ra.

     Tu-bồ-đề: Dù vậy một Bồ-tát sẽ trụ và tu luyện mình. Ngài ấy sẽ quyết định rằng ‘như Như Lai không trụ ở bất cứ chỗ nào, cũng chẳng không trụ, [38] không trụ riêng cũng chẳng không trụ riêng, tôi cũng sẽ như vậy.’ Cũng vậy ngài ấy nên tu luyện mình ‘như Như Lai được đặt định, như vậy tôi sẽ trụ, và tu luyện mình.’ Ngài ấy tu luyện mình như vậy. ‘Như Như Lai được đặt định, như vậy tôi sẽ trụ, khéo được đặt định bởi vì không có chỗ nào để trụ.’ Dù vậy một Bồ-tát nên trụ và tu luyện mình. Khi tu luyện như thế, ngài ấy tự điều chỉnh mình hợp với bát-nhã ba-la-mật, và sẽ không bao giờ ngừng đem nó đến tâm.

 

  1. CÁC VỊ THÁNH VÀ MỤC TIÊU CỦA HỌ

ĐỀU LÀ ẢO ẢNH

    

     Do vậy ý nghĩ đến với một vài vị trong các thiênhội chúng: Những gì các vị tiên nói và thì thầm, chúng ta hiểu dù lầm thầm. Những gì ngài Tu-bồ-đề vừa bảo chúng ta, chúng ta không hiểu. Tu-bồ-đề đọc được ý nghĩ của họ, và nói: Chẳng có gì để hiểu, chẳng có gì để hiểu cả. Vì không cái gì đặc biệt để chỉ ra, không cái gì đặc biệt để giải thích.

     Do đó các thiên nghĩ: Nguyện ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện mở rộng điều này! Nguyện ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện mở rộng điều này! Những gì ngài Tu-bồ-đề Thánh Thiện khám phá, chứng minh, và dạy ở đây còn hoằng viễn hơn hoằng viễn, vi tế hơn vi tế, thâm sâu hơn thâm sâu. Tu-bồ-đề đọc được ý nghĩ của họ, và nói: Không ai có thể đạt được bất cứ quả nào của đời sống phạm hạnh hay giữ nó, – từ quả Dự lưu đến giác ngộ viên mãn – [39] trừ phi người ấy kiên nhẫn chấp nhận tính bất khả đắc của pháp ấy.

     Rồi các thiên đó nghĩ: Nên nguyện điều gì cho những người giống như người xứng đáng lắng nghe giáo pháp từ ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện? Tu-bồ-đề đọc được ý nghĩ của họ, và nói: Những ai học giáo pháp từ tôi nên nguyện giống như huyễn hóa của ảo thuật, vì họ sẽ không nghe lời nói của tôi cũng không chứng nghiệm các sự kiện họ diễn đạt.

     Chư thiên: Chúng sinh như huyễn ảnh, họ không phải chỉ là huyễn ảnh chứ?

     Tu-bồ-đề: Giống như huyễn như mộng là những chúng sinh đó. Vì không phải là hai thứ khác nhau là ảo ảnh huyễn thuật và chúng sinh, là mộng và chúng sinh. Tất cả những sự kiện khách quan cũng giống như ảo ảnh huyễn thuật, như mộng. Các hạng thánh khác nhau, từ bậc Dự lưu đến cảnh giới Phật, cũng giống như ảo ảnh huyễn thuật, như mộng. [40]

     Chư thiên: Một vị Phật giác ngộ viên mãn, ngài nói, cũng giống như ảo ảnh huyễn thuật, như mộng ư? Cảnh giới Phật, ngài nói, cũng giống như ảo ảnh huyễn thuật, như mộng ư?

     Tu-bồ-đề: Ngay cả Niết-bàn, tôi nói, giống như ảo ảnh huyễn thuật, như mộng. Những thứ khác còn hơn thế nữa!

     Chư thiên: Ngay cả Niết-bàn, ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện, ngài nói, giống như ảo ảnh, như giấc mộng ư?

     Tu-bồ-đề: Dù cho ngẫu nhiên có thể có bất cứ vật gì phân minh hơn, tôi cũng nói nó giống như ảo ảnh, như mộng. Vì không phải hai vật khác nhau là ảo ảnh và Niết-bàn, là mộng và Niết-bàn.

     Vì thế Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn-giả Phú-lâu-na, con của ngài Di-lặc, Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la[16], Tôn giả Ma-ha Ca-chiên-diên[17], Tôn giả Ma-ha Ca-diếp-ba[18] và các Đại Đệ tử khác, cùng với nhiều ngàn Bồ-tát, nói: Ngài Tu-bồ-đề, ai sẽ là người lãnh hội được bát-nhã ba-la-mật như được giải thích ở đây?

     Vì thế Tôn giả A-nan-đa nói với các Trưởng lão đó: Các Bồ-tát không thể đọa lạc sẽ lãnh hội nó, hay những người đã đạt chánh kiến, hay các vị A-la-hán đã khô hết rỉ lậu.

     Tu-bồ-đề: Không ai lãnh hội bát-nhã ba-la-mật này như được giải thích ở đây [tức là, được giải thích theo cách như thế mà thực ra không có giải thích gì cả]. [41] Vì đã không chỉ ra, soi sáng, hay thông tri một pháp nào. Vì thế sẽ không có ai có thể lãnh hội nó.

 

  1. HOA CỦA THÍCH-ĐỀ

 

     Do đó ý nghĩ này đến với Thích-đề: Bây giờ hãy để tôi, để lễ

bái bài pháp được ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện dạy này, biến ra một số hoa, và rải chúng lên ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện. Rồi Thích-đề triệu gọi hoa và rải chúng lên Tôn giả Tu-bồ-đề. Tôn giả Tu-bồ-đề nghĩ cho mình bằng cách đáp: Những hoa này [bây giờ] xuất hiện giữa chư thiên của trời Ba mươi ba mà trước kia ta đã không chú ý đến. Những hoa này, Thích-đề rải, là những huyễn hóa. Chúng không phải là sinh ra từ cây, bụi cây hay dây leo. Những hoa này Thích-đề rải là tâm tạo. Thích-đề đáp: Những hoa ấy không có sinh ra gì cả. Vì thực ra không có hoa, hoặc chúng xuất ra từ tâm, hay từ cây, bụi cây hay dây leo. Lúc ấy Tu-bồ-đề nói: Như ngài nói, ngài Kiều-thi-ca[19], ‘những hoa này đã không sinh ra gì cả, [42] không phải từ tâm, cũng không từ bụi cây hay dây leo’ – bởi vì cái chẳng bao giờ sinh ra thì không phải là hoa.

 

  1. TU LUYỆN TRONG BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Rồi ý nghĩ đến với Thiên đế Thích-đề: Trí tuệ thâm sâu, chắc chắn, là ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện, ở đấy ngài ấy giải thích sự hiện hữu chỉ bằng danh từ [của tất cả các pháp riêng rẽ], không đưa nó vào mâu thuẫn [với mô phạm chân lý], nhưng mở rộnggiảng giải một cách đơn giản. Rồi ngài ấy nói với Tôn giả Tu-bồ-đề: Đúng như vậy. Vị Bồ-tát nên tự tu luyện như thế trong đó [trong nội kiến này] như ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện chỉ ra.

     Tu-bồ-đề: Ngài ấy nên như vậy. Khi tự tu luyện như thế, ngài ấy không tu luyện mình trong quả của bậc Dự lưu, cũng không trong quả của đời sống phạm hạnh, cho đến cảnh giới Phật. Khi tu luyện mình ở các địa ấy, tu luyện mình trong cảnh giới Phật, hay ở cảnh giới nhất thiết trí; và vì thế ở trong Phật pháp vô lượngvô số. Vì thế một người tu luyện mình không vì sự tăng của sắc, thọ, v.v…, cũng không vì sự giảm của chúng; [43] không thích hợp với sắc, v.v…, cũng không buông chúng đi. Một người tu luyện mình không chấp giữ bất cứ pháp nào khác, ngay cả nhất thiết trí, không làm xuất sinh một, hay làm một biến mất. Khi tu luyện như thế, một Bồ-tát tu luyện trong nhất thiết trí, và ngài ấy sẽ đi đến nhất thiết trí

     Thích-đề: Một Bồ-tát sẽ đi đến nhất thiết trí, dù cho ngài ấy không tu luyện mình chấp giữ bất cứ pháp nào, – ngay cả nhất thiết trí, – cũng không sản sinh một hay làm một biến mất?

     Tu-bồ-đề: Ngài ấy sẽ đi đến. [44]

     Thích-đề lúc ấy nói với Xá-lợi-phất: Một Bồ-tát nên tìm bát-nhã ba-la-mật ở đâu?

     Xá-lợi-phất: Trong lời giải thích của Tôn giả Tu-bồ-đề.

     Thích-đề: Nhờ thần lực của ai, và uy lực của ai, mà ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện dạy bát-nhã ba-la-mật?

     Xá-lợi-phất: Nhờ thần lực của Như Lai, và uy lực của Như Lai.

     Tu-bồ-đề: Quả thực ấy là thần lực của Như Lai, thưa ngài Thích-đề, nhờ đó tôi dạy bát-nhã ba-la-mật. Và khi ngài hỏi, ‘Một Bồ-tát nên tìm bát-nhã ba-la-mật ở đâu?’, câu trả lời là: Ngài ấy không nên tìm nó trong sắc, cũng không tìm trong bất cứ uẩn nào khác; cũng không tìm trong cái gì khác hơn sắc, hay bất cứ uẩn nào khác. Bởi vì bát-nhã ba-la-mật không phải là một trong các uẩn, cũng không khác hơn các uẩn. [45]

 

  1. TÍNH VÔ CÙNG CỦA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Thích-đề: Bát-nhã ba-la-mật này, thưa ngài Tu-bồ-đề, là một ba-la-mật vĩ đại, vô hạn, vô lượng, vô cùng.

     Tu-bồ-đề: Đúng vậy. Vì sao? Bát-nhã ba-la-mật vĩ đại, vô hạn, vô lượng, và vô cùng bởi vì sắc, thọ, v.v…, cũng vậy. Vì thế người ta không ở lại trong sự tin quyết rằng đây là một ‘ba-la-mật vĩ đại,’ một ‘ba-la-mật vô hạn,’ một ‘ba-la-mật vô lượng,’ và ‘ba-la-mật vô cùng.’ Đó là tại sao bát-nhã ba-la-mật là một ba-la-mật vĩ đại, vô hạn, vô lượng, và vô cùng. [46] Bát-nhã ba-la-mật là một ba-la-mật vô cùng bởi vì các vật cũng như chúng sinh [cá thể] đều vô cùng. Bát-nhã ba-la-mật là một ba-la-mật vô cùng bởi vì người ta không thể được nó ở đầu, giữa, hay cuối của bất cứ một sự thật khách quan nào [vì là một pháp, nó không có tự tánh]. Hơn nữa, bát-nhã ba-la-mật là một ba-la-mật vô cùng bởi vì tất cả những sự thật khách quan đều vô tận, vô biên, và đầu, giữa, và cuối của chúng không nhận biết được. Vì không thể biết được đầu, giữa và cuối của sắc, v.v… Theo cách ấy bát-nhã ba-la-mật la một ba-la-mật vô cùng lý do là vì sự vật vô cùng. Hơn nữa, một chúng sinh thì vô tậnvô biên bởi vì đầu, giữa hay cuối của nó bất khả đắc. Vì thế, bát-nhã ba-la-mật là một ba-la-mật vô cùng là vì chúng sinh vô cùng.

     Thích-đề: Làm sao mà, ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện, bát-nhã ba-la-mật là một ba-la-mật vô cùnglý do chúng sinh vô cùng?

     Tu-bồ-đề: Không phải thế, bởi vì số chúng sinh quá lớn và phong phú.

     Thích-đề: Vậy thì làm sao, thưa ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện, bát-nhã ba-la-mật một ba-la-mật vô cùnglý do chúng sinh vô cùng? [47]

     Tu-bồ-đề: Chữ ‘chúng sinh’ chỉ thực thể gì?

     Thích-đề: Chữ ‘chúng sinh’ không chỉ pháp hay vô pháp. Nó là một từ được thêm vào [cái gì thực sự ở đó] như là một cái gì ngẫu nhiên, vô căn cứ, không là cái gì trong tự thể, không tìm thấy nơi sự thực khách quan.

     Tu-bồ-đề: Do đó [tức là, do nói chữ ‘chúng sinh’] bất cứ chúng sinh nào cũng hiện ra [như là sự thực tối hậu]?

     Thích-đề: Quả thực không, ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện!

     Tu-bồ-đề: Khi không một chúng sinh nào hiện ra, làm sao có thể có được sự vô cùng của họ. Nếu một Như Lai, với giọng nói ở mức vô cùng, với giọng nói sấm rền thâm sâu của ngài ấy, nên phát âm, trong vô số kiếp như cát sông Hằng, chữ ‘chúng sinh,’ ‘chúng sinh,’ – vì thế ngài ấy sẽ sản sinh, hay ngừng lại, bất cứ chúng sinh nào, trong quá khứ, vị lai hay hiện tại ư?

     Thích-đề: Quả thực không, thưa ngài Tu-bồ-đề Thánh thiện! Bởi vì chúng sinh xưa nay thanh tịnh, hoàn toàn thanh tịnh.

     Tu-bồ-đề: Theo cách này bát-nhã ba-la-mật cũng là một ba-la- mật vô cùng bởi lý do chúng sinh vô cùng. Theo cách này, nên biết bát-nhã ba-la-mật vô cùng do chúng sinh vô cùng. [48]

  1. THỌ KÝ

 

     Vì thế chư thiên chung quanh Thích-đề, Phạm-thiên và Ba-xà-ba-đề,[20] và các nhóm nam và nữ chung quanh các Tiên nhân[21]  hét lên ba lần khải hoàn: Chào Pháp! Chào Pháp! Chào Pháp giới của Pháp! Và họ thêm: Đẹp thay là Trưởng lão Tu-bồ-đề bây giờ đã chỉ ra, chứng minh, phô bày và làm sáng tỏ cách Như Lai đến thị hiện như thế nào. Là chủng của Như Lai vì thế chúng ta sẽ quan tâm vị Bồ-tát sở hữu bát-nhã ba-la-mật viên mãn này và trú trong đó.

     Lúc ấy Thế Tôn nói: Đúng thế, Ôi chư thiên! Tôi cũng đã làm như vậy, khi tôi gặp đức Như Lai Nhiên Đăng[22] ở kinh đô Dipavati, thành vương xá, sở hữu đầy đủ bát-nhã ba-la-mật này, vì thế đức Như Lai Nhiên Đăng, đã tiên đoán rằng một ngày kia tôi sẽ giác ngộ viên mãn, và nói với tôi: “Ông, người Bà-la-môn trẻ, trong một thời vị lai, sau số kiếp không thể tính được, sẽ trở thành một Như Lai, tên là Thích-ca-mâu-ni, – được phú bẩm tri kiếnđức hạnh, Thiện Thệ, một thế gian giải, không ai vựơt qua được, người thuần thục của những người chưa thuần thục, thầy của Trời và người, một vị Phật, một Thế Tôn!”

     Chư thiên đáp: Kỳ diệu, Ôi Thế Tôn, quá ư kỳ diệu, Ôi Thiện Thệ, nhất thiết trí được bát-nhã ba-la-mật này nuôi dưỡngnâng cao nhiều biết bao nơi các Bồ-tát, các đại sĩ!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương III

 

SỰ TÔN KÍNH PHÁP KHÍ CỦA CÁC BA-LA-MẬT,

CHỨA GIỮ CÁC PHẨM TÍNH THIỆN VÔ LƯỢNG

 

  1. NHỮNG LỢI THẾ THẾ GIAN CỦA

BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Đức Thế Tôn thấy chư thiên đã tụ hội và an tọa, các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam cư sĩnữ cư sĩ tụ hội và an tọa, và ngài nói với chư thiên như vầy: Ma vương và nhóm của y sẽ không thể làm hại những người thọ nhận bát-nhã ba-la-mật, mang nó trong tâm, thuyết giảng, nghiên cứutruyền bá nó. Người và ma cũng sẽ không làm hại họ được. Họ cũng sẽ không chết không đúng lúc. Các thiên ấy lên đườnggiác ngộ viên mãn, nhưng chưa nắm được bát-nhã ba-la-mật này, sẽ tiếp cận người đã [50] làm được như thế, lắng nghe người ấy, và sẽ hiểu, v.v…, bát-nhã ba-la-mật này. Một người sùng mộ bát-nhã ba-la-mật này chắc chắn sẽ không bao giờ cứng đơ vì sợ hãi, – dù người ấy ở trong rừng, dưới gốc cây, hay trong một túp lều, hay một chỗ trống, hay một con đường, hay một đại lộ, một rừng cây, hay trên biển cả.

     Bốn Đại Thiên Vương: Kỳ diệu, Ôi Thế Tôn, là những người hiểu, v.v…, bát-nhã ba-la-mật này nên rèn luyện cho chúng sinh trong ba thừa, song không nhận thức bất cứ chúng sinh nào. Chúng tôi, Ôi Thế Tôn, sẽ bảo vệ những người như thế. [51]

     Thích-đề, Phạm-thiên, và các Thiên khác cũng hứa bảo vệ người theo bát-nhã ba-la-mật.

     Thích-đề: Kỳ diệu, Ôi Thế Tôn, là hiểu, v.v…, bát-nhã ba-la-mật này, người ta sẽ được rất nhiều lợi thế ngay cả ở đây và bây giờ. Khi thọ nhận bát-nhã ba-la-mật, người ta có thọ nhận tất cả sáu ba-la-mật không?

     Thế Tôn: Có. Hơn nữa, khi nhận lấy, v.v…, bát-nhã ba-la-mật,

người ta được các lợi thế ở đây và bây giờ. Hãy chú ý lắng nghe, tôi sẽ dạy ông đó là những lợi thế nào.

     Hãy cứ như vậy, thưa Thế Tôn, chư thiên đáp.

     Thế Tôn: Những cãi vã, thỏa thuậnmâu thuẫn của những người phản đối pháp của tôi sẽ biến mất một cách đơn giản; những ý định của những người chống đối sẽ không được thực hiện. [52] Bởi vì nó là sự thật đối với những người theo bát-nhã ba-la-mật, những tranh luận đó sẽ biến mất một cách đơn giản, và sẽ không trụ lại. Đây là một lợi thế ngay cả ở đây và bây giờ. Có một loại cỏ, tên là Ma-đề[23], chữa tất cả độc. Giả sử một con rắn độc, bị đói, thấy một con vật, và đuổi theo, theo mùi thơm, để ăn nó; nhưng nếu con vật đó đi đến một vùng đất có loại cỏ ấy và đứng đó, lúc ấy mùi của cỏ đó khiến cho con rắn quay trở lại. Bởi vì tính chất chữa trị của cỏ ấy mạnh đến độ chế ngự được độc của con rắn. Cũng vậy, những cãi vã, thỏa thuận, và mâu thuẫn đối với những người theo bát-nhã ba-la-mật sẽ được hiển bày, tĩnh chỉ, và giải tỏa, [53] qua ngọn lửa ác liệt của bát-nhã ba-la-mật, qua uy lực của nó, qua sức mạnh của nó, qua sự thấm nhiễm uy lực của nó. Chúng sẽ biến mất, và không phát triển hay trụ lại. Vì sao? Bởi vì bát-nhã ba-la-mật làm giảm bớt tất cả ác, – khỏi lòng tham chấp Niết-bàn, không làm nó gia tăng. Chư thiên, tất cả chư Phật, và tất cả chư Bồ-tát, sẽ bảo vệ những người theo bát-nhã ba-la-mật. Đây sẽ là một lợi thế ngay cả ở đây và bây giờ. Hơn nữa, lời nói của người theo bát-nhã ba-la-mật sẽ trở nên có thể chấp nhận được, mềm dịu, độ lượng, và thích đáng. Giận dữ và tự phụ sẽ không chế ngự được người ấy. Bởi vì bat-nhã ba-la-mật thuần thụcchuyển hóa người ấy. Giận dữ và tự phụ người ấy không tăng. Thù địch cũng như cái ác sẽ không bám giữ người ấy, cũng không có ngay cả có khuynh hướng hướng về chúng. [54] Người ấy sẽ tâm niệmthân thiện. Người ấy tư duy: ‘Nếu ta nuôi dưỡng ác ý trong ta, các căn của ta sẽ thành mảnh mún, nét mặt của ta sẽ bị hỏng, và trong bất cứ trường hợp nào, nó cũng hoàn toàn phi lý mà ta, người đã lên dường vì giác ngộ viên mãn, và muốn tự tu luyện vì nó, sẽ hứng chịu hậu quả của giận dữ.’ Theo cách này người ấy sẽ nhanh chóng lấy lại được chánh niệm. Đây sẽ là một lợi thế khác ngay cả ở đây và bây giờ.

     Thích-đề: Kỳ diệu làm sao bát-nhã ba-la-mật này được dựng lập để kiểm tra và huấn luyện các Bồ-tát.

     Thế Tôn: Hơn nữa, này Kiều-thi-ca, nếu một người theo bát-nhã ba-la-mật ra chiến trường, đến tiền tuyến, người ấy không thể mất mạng mình nơi đó. Không thể có chuyện người ấy sẽ mất mạng vì sự tấn công của người nào khác. [55] Nếu có người đánh người ấy – bằng kiếm, hay gậy, hay cục đất, hay bất cứ vật gì khác – thì thân người ấy không thể bị đánh trúng. Bởi vì đại tri thức là cái này, bát-nhã ba-la-mật; một tri thức không có đo lường, một tri thức hoàn toàn không có sự đo lường, một tri thức không gì vượt qua được, một tri thức làm bình đẳng những cái không bình đẳng là cái này, bát-nhã ba-la-mật. Bởi vì khi người ta tu luyện mình trong tri thức này, thì người ta không có ý quấy rầy sự yên ổn của mình hay của người khác. Vị Bồ-tát, vị đại sĩ được tu luyện trong tri thức này, sẽ đạt đến giác ngộ viên mãn, sẽ đạt được tuệ tri của nhất thiết trí. Một khi được giác ngộ viên mãn vị ấy sẽ đọc được ý nghĩ của tất cả chúng sinh. Bởi vì với các Bồ-tát, các đại sĩ được tu luyện trong tri thức này, không gì là không đạt được, không biết, không chứng ngộ. Đó là tại sao người ta nói tuệ giác của nhất thiết trí. Đây là một lợi thế khác ngay cả ở đây và bây giờ. [56]

     Thêm nữa, bát-nhã ba-la-mật này được viết xuống thành sách và đã được thờ ở đâu, nó đã được học hiểu, v.v…, ở đâu, ở đó người và ma không thể làm hại, ngoại trừ là hình phạt cho những hành vi quá khứ. Đây là một lợi thế khác ngay cả ở đây và bây giờ.

     Cũng như, này Kiều-thi-ca, những người và ma đó đi đến đạo tràng, hay đến vùng lân cận nó, hay bên trong nó, hay đến gốc cây giác ngộ, không thể bị người và ma làm đau, hay làm bị thương, hay bị chiếm đoạt, ngay cả với sự trợ giúp những chúng sinh ác thú, ngoại trừ là sự trừng phạt những hành vi trước kia. Bởi vì trong đó, các Như Lai quá khứ, vị laihiện tại đạt được giác ngộ, các ngài nâng đỡ tất cả chúng sinhtiết lộ với họ sự không sợ, không thù nghịch, không kinh hãi. Cũng vậy, này Kiều-thi-ca, nơi nào người ta thọ nhận, v.v…, bát-nhã ba-la-mật này nơi ấy chúng sinh không thể bị người và ma làm khổ. [57] Bởi vì bát-nhã ba-la-mật này biến địa điểm nó ở thành cái rương đựng thánh tích chân thật cho chúng sinh, – đáng được thờ phụngchiêm ngưỡng, – thành nơi nương náu cho những chúng sinh đến đó, một nơi qui y, một chỗ nghỉ ngơi và vơi bớt cuối cùng. Đây là một lợi thế khác ngay cả ở đây và bây giờ. 

    

  1. SỰ SÙNG BÁI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

SO VỚI SỰ SÙNG BÁI CHƯ PHẬT

 

     Thích-đề: Giả sử có hai người. Một trong hai người đó, một người con trai hay một người con gái của gia đình thiện lương, đã viết xuống bát-nhã ba-la-mật này thành một quyển sách; rồi người ấy đặt nó lên, tôn vinh, sùng kính, thờ phụng, và trang nghiêm nó bằng hoa trời, nhang, mùi thơm, tràng hoa, thuốc cao, bột thơm, tràng phan, lọng, phướn, chuông, cờ, với những hàng đèn chung quanh, và với nhiều loại thờ cúng. Người kia đặt trong Tháp miếu xá-lợi của đức Như Lai đã nhập Bát Niết-bàn; người ấy sẽ giữ và bảo tồn chúng; người ấy sẽ tôn vinh, thờ cúngtrang nghiêm chúng bằng hoa trời, nhang, v.v…, như trước. Trong hai người ấy, người nào, Ôi Thế Tôn, có công đức lớn hơn?

     Thế Tôn: Tôi sẽ hỏi ông về điểm này, và ông có thể trả lời cách tốt nhất theo khả năng của ngài. Như Lai, khi đạt và biết được giác ngộ viên mãn hay nhất thiết trí, trong đó Như Lai đã tu luyện con người nhất thiết tríNhư Lai đem lại bằng những thực hành nào? [58]

     Thích-đề: Đó là vì đức Thế Tôn đã tu luyện mình chính trong bát-nhã ba-la-mật này mà Như Lai đã có được và biết giác ngộ viên mãn hay nhất thiêt trí.

     Thế Tôn: Vì thế Như Lai không lấy tên mình theo sự kiện Như Lai có được con người nhục thân mà từ sự kiện Như Lai có được nhất thiết trí. Và nhất thiết trí này của Như Lai đến từ bát-nhã ba-la-mật. Mặt khác, con người nhục thân của Như Lai là kết quả của sự thiện xảo trong phương tiện bát-nhã ba-la-mật. Và điều đó trở thành nền tảng vững chắc cho [sự đắc thành] tri kiến nhất thiết trí [của những người khác]. Do nền tảng này ủng hộ mà xảy ra sự tiết lộ tri kiến nhất thiết trí, sự tiết lộ Phật thân, Pháp thân, Tăng-già thân. Sự có được con người nhục thân như thế là nguyên nhân tri kiến nhất thiết trí. Khi nền tảng vững chắc của tri kiến đó mà nó có, vì tất cả chúng sinh, trở thành cái rương chứa thánh tích đích thực, đáng được lễ bái, tôn vinh, kính trọngchiêm ngưỡng. Sau khi tôi đến Bát Niết-bàn, xá-lợi của tôi cũng sẽ được thờ phụng. Vì lý do này mà người ấy sao chép và sùng bái bát-nhã ba-la-mật tạo ra công đức lớn hơn. Vì trong khi làm như thế, người ấy sùng bái tri kiến nhất thiết trí. [59] Người con trai hay người con gái của gia đình thiện lương sao chép bát-nhã ba-la-mật, và thờ phụng nó, sẽ sinh công đức nhiều hơn. Vì do sùng bái bát-nhã ba-la-mật, người ấy sùng bái tri kiến nhất thiết trí.

     Thích-đề: Có thể nào những người của Diêm-phù-đề đó, không sao chép bát-nhã ba-la-mật này, không thọ nhận, không học hiểu nó, không thờ phụng nó, không biết Thế Tôn dạy rằng sùng bái bát-nhã ba-la-mật là có lợi ích lớn! Làm sao họ không ý thức Thế Tôn đã dạy rằng sùng bái bát-nhã ba-la-mật đem lại những lợi thế, báo đáp lớn! Nhưng họ không biết điều này, họ không ý thức điều này! Họ không có niềm tin nơi nó!

     Thế Tôn: Này Kiều-thi-ca, ý ông thế nào, bao nhiêu người trong cõi Diêm-phù-đề được phú bẩm niềm tin hoàn toàn nơi Phật, Pháp, và Tăng-già? [60]

     Thích-đề: Chỉ một ít.

     Thế Tôn: Đúng vậy, Kiều-thi-ca. Chỉ một ít người trong cõi Diêm-phù-đề bẩm sinh với niềm tin nơi Phật, Pháp, và Tăng-già. Còn ít hơn những người ít ỏi đó là những người đạt được quả Dự lưu, rồi sau đó, quả Nhất lai, hay quả Bất hoàn. Còn ít hơn nữa là người đạt quả A-la-hán. Ít hơn nữa là những người chứng được sự giác ngộ của Duyên giác. Ít hơn nữa là những người phát tâm đến giác ngộ đầy đủ. Ít hơn nữa là những người phát tâm đến giác ngộ đầy đủ, làm mạnh tâm đó. Ít hơn nữa là những người phát tâm đến giác ngộ đầy đủ, làm mạnh tâm đó, cộng thêm trú với hết sức tinh tấn. Ít hơn nữa là những người theo đuổi thiền định về bát-nhã ba-la-mật. Ít hơn nữa là những người theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật. Ít hơn nữa là những người, khi theo đuổigắng sức trong bát-nhã ba-la-mật, trú ở địa của Bồ-tát bất thối chuyển. Ít hơn nữa, khi theo đuổigắng sức trong bát-nhã ba-la-mật, sẽ biết giác ngộ viên mãn. Ít hơn nữa, khi theo đuổigắng sức trong bát-nhã ba-la-mật, thực biết giác ngộ viên mãn. Bây giờ, những Bồ-tát ấy trụ ở địa của Bồ-tát bất thối chuyển, và biết giác ngộ viên mãn, họ giảng giải bát-nhã ba-la-mật cho những người con trai và con gái của gia đình thiện lương [61] nhiệt tâm muốn tu luyện mình và gắng sức trong bát-nhã ba-la-mật. Và đến phiên họ thọ nhận bát-nhã ba-la-mật, học và sùng bái nó. Mặt khác, có vô số chúng sinh phát tâmgiác ngộ, làm mạnh tâm niệm giác ngộ đó, theo đuổi hướng về giác ngộ, – và có lẽ chỉ một hay hai người trong bọn họ có thể trú ở địa của Bồ-tát bất thối chuyển! Vì giác ngộ viên mãn thì khó đạt đến nếu kém tinh tấn, giãi đãi, một chúng sinh thấp kém, có ý nghĩ, ý kiến, ý địnhtrí tuệ thấp kém. Rồi thì, nếu có người muốn biết nhanh giác ngộ viên mãn, người ấy nên sẵn sàng và liên tục nghe và học bát-nhã ba-la-mật này. Vì người ấy sẽ hiểu rằng trong quá khứ, khi là một Bồ-tát, đức Như Lai đã tu luyện trong bát-nhã ba-la-mật; người ấy cũng nên tu luyện trong đó mà người ấy [bát-nhã ba-la-mật] là Đạo sư của mình. Trong bất cứ trường hợp nào, dù Như Lai còn tại thế hay đã nhập Niết-bàn, các Bồ-tát nên trở lại với bát-nhã ba-la-mật này. [62] Thế thì, này Kiều-thi-ca, nếu có người, để thờ phụng Như Lai đã nhập Niết-bàn, xây nhiều câu-lợi[24] Tháp miếu bằng bảy báu, thờ xá-lợi của Như Lai trong đó, và suốt đời tôn vinh xá-lợi bằng hoa, v.v…, rồi người ấy, nhờ sức mạnh đó, sẽ có được rất nhiều công đức không?

     Thích-đề: Người ấy sẽ được, Ôi Thế Tôn.

     Thế Tôn: Nhiều hơn thế sẽ là công đức của một người thực sự tin vào bát-nhã ba-la-mật này; tin tưởng phó thác nơi nó, tịch tĩnh trong niềm tin, tâm bồ-đề của người ấy phát khởi, với ý muốn nhiệt thành, nghe nó, học nó, mang nó trong tâm, tụng đọc và nghiên cứu nó, truyền bá, chứng minh, giải thích, xiển dương và niệm nó, soi sángchi tiết cho người khác, khai mở nghĩa của nó, thẩm tra nó bằng tâm mình; dùng trí tuệ của mình đến độ đầy đủ nhất, xem xétthấu triệt; sao chép nó, bảo tồn và cất giữ bản sao chép ấy – như thế thiện pháp có thể trường tồn, như thế sự dẫn đạo của chư Phật không thể bị hủy diệt, như thế thiện pháp tiếp tục được ủng hộ, vì sự dẫn đạo của các ngài ấy sẽ không cạn kiệt, – cuối cùng, tôn vinh và thờ phụng bát-nhã ba-la-mật này. [63] Nhiều hơn nữa sẽ là công đức của người sùng mộ bát-nhã ba-la-mật so sánh không chỉ với công đức của một người xây nhiều câu-lợi Tháp miếu làm bằng bảy báu, thờ xá-lợi của Như Lai. Nó sẽ nhiều hơn công đức của một người làm đầy toàn thể cõi Diêm-phù-đề bằng những Tháp miếu như thế. [64] Nó sẽ nhiều hơn công đức do tất cả chúng sinh tạo ra trong một thiên thế giới bốn châu nếu mỗi một chúng sinh được xây một Tháp miếu như thế. [65] Cũng như, nếu tất cả chúng sinh trong một tiểu thiên thế giới, [66] hay một trung thiên thế giới, [67] hay một đại thiên thế giới cũng làm như thế. [68] Hay đặt ra một trường hợp tưởng tượng, tất cả chúng sinh trong một đại thiên thế giới đồng thời trở thành người, và mỗi người xây một Tháp miếu như thế; và nếu mỗi người xây tất cả các Tháp miếu đó, và tôn vinh chúng trong một kiếp hay phần còn lại của một kiếp; [69] thì người sùng mộ bát-nhã ba-la-mật ấy vẫn có công đức nhiều hơn công đức kết quả từ hậu quả của những hành vi công đức của tất cả những chúng sinh dựng và thờ phụng vô số Tháp miếu đó.

     Thích-đề: Đúng vậy, Ôi Thế Tôn. Vì người tôn vinh bát-nhã ba-la-mật, theo nghĩa tuyệt đối, người ấy tôn vinh chư Phật quá khứ, vị laihiện tại trong tất cả các thiên thế giới, chỉ có tri kiến của một vị Phật có thể nhận biết được. Công đức của người ấy sẽ nhiều hơn ngay cả công đức của tất chúng sinh trong các đại thiên thế giới vô số như cát sông Hằng, [70] nếu mỗi một chúng sinh trong số đó xây một Tháp miếu, và nếu mỗi một chúng sinh trong số đó xây tất cả các Tháp miếu đó, và tôn vinh chúng trong một kiếp hay trong phần còn lại của một kiếp.

 

  1. BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT, MỘT ĐẠI THẦN CHÚ  

     Thế Tôn: Đúng vậy, Kiều-thi-ca. Công đức của người sùng mộ bát-nhã ba-la-mật nhiều hơn công đức đó; nó vô lượng và không thể tính toán, [71] không thể nghĩ bàn, không thể so sánh, không thể giới hạn. Bởi vì nhất thiết trí của chư Như Lai đến từ bát-nhã ba-la-mật; sự thờ xá-lợi của Như Lai đến từ nhất thiết trí. Vì thế sự tích lũy công đức của người sùng mộ bát-nhã ba-la-mật không mang tỉ lệ tương xứng nào với sự tích lũy công đức sinh ra từ sự xây Tháp miếu, làm bằng bảy báu, chứa và thờ phụng xá-lợi của Như Lai. [72]

     Vì thế bốn vạn thiên đó trong hội chúng nói với Thiên đế Thích-đề: Thưa Ngài, hãy thọ nhận bát-nhã ba-la-mật! Bát-nhã ba-la-mật ấy, thưa Ngài, nên được thọ nhận, trì tụng, nghiên cứu và giải thích!

     Thế Tôn: Này Kiều-thi-ca, hãy thọ nhận bát-nhã ba-la-mật, trì tụng, nghiên cứugiải thích nó! Vì nếu các A-tu-la hình thành ý tưởng có đánh nhau với chư Thiên của Trời Ba mươi ba, và nếu ông, Kiều-thi-ca, ghi nhớ trong tâm và niệm bát-nhã ba-la-mật này, thì các A-tu-la sẽ lại bỏ ý tưởng đó. [73]

     Thích-đề: Một tri thức vĩ đại là bát-nhã ba-la-mật này, một tri thức không có sự đo lường, một tri thức hoàn toàn không có đo lường, một tri thức không gì vượt qua được, một tri thức vô song, một tri thức làm bình đẳng những cái bất bình đẳng.

     Thế Tôn: Đúng thế, Kiều-thi-ca. Nhờ tri thức này, tức bát-nhã ba-la-mật, chư Phật quá khứ biết giác ngộ viên mãn. Nhờ tri thức này chư Phật vị lai sẽ biết nó [giác ngộ viên mãn]. Nhờ tri thức này chư Phật hiện tại thực biết nó [giác ngộ viên mãn]. Nhờ tri thức này tôi biết nó [giác ngộ viên mãn]. [74] Chỉ nhờ tri thức này mười thiện đạo hoạt động trở thành thị hiện trên thế gian, bốn thiền hợp tác với các giác chi, bốn tâm vô lượng hợp tác với các giác chi, bốn chứng đắc vô tướng được các giác chi duy trì, sáu thần thông hợp tác với các giác chi, ba mươi bảy pháp kiến lập các giác chi, vắn tắt, tám vạn bốn ngàn pháp môn, tri kiến của Phật, tri kiến của bậc Tự-hữu, tri kiến bất khả tư nghị. Nhưng khi trong thế gian không có các Như Lai, thì các Bồ-tát, – được phú bẩm sự thiện xảo trong các phương tiện như là kết quả nghe sự tuôn chảy của bát-nhã ba-la-mật trong quá khứ (khi có các Phật), đầy lòng thương xót chúng sinh, đến thế gian này vì thương xót, – nuôi dưỡng trong thế gian mười thiện đạo, bốn thiền vì không hợp tác với các giác chi, v.v…, đến: năm thần thông không hợp tác với các giác chi. [75] Cũng như nhờ cái đĩa mặt trăng, tất cả cây, cỏ, sao và các chòm sao được chiếu sáng theo uy lựcsức mạnh của chúng, như thế sau khi Như Lai nhập diệtChánh Pháp của Ngài biến mất, trong sự vắng mặt các Như Lai, dù đúng đắn, chính trực, xuất sắc, hay đời sống phạm hạnh được thai nghén và thị hiện trong thế gian, tất cả cái đó đến từ vị Bồ-tát ấy, đã được ngài ấy đem đến, truyền bá từ sự thiện xảo trong phương tiện của ngài ấy. Nhưng nên biết sự thiện xảo trong phương tiện của các Bồ-tát đến từ bát-nhã ba-la-mật. Hơn nữa, những người sùng mộ bát-nhã ba-la-mật, vì thế, nên mong nhiều lợi thế ở đây và bây giờ.

     Thích-đề: Đó là những lợi thế nào?

     Thế Tôn: Những người sùng mộ sẽ không chết một cách không đúng lúc, không vì độc, hay kiếm, hay lửa, hay nước, hay gậy, hay bạo động. Khi họ nhớ đến và niệm bát-nhã ba-la-mật này, [76] những tai họa đe dọa họ từ vua hay hoàng tử, từ các quan cố vấn và các quan thượng thư của vua, sẽ không xảy ra. Nếu các vua, v.v…, cố ý làm hại những người hay nhớ đến và niệm bát-nhã ba-la-mật họ sẽ không thành công; bởi vì bát-nhã ba-la-mật phù hộ họ. Mặc dù các vua, v.v…, có thể tiếp cận họ với ý định làm hại, thay vì thế họ sẽ quyết định chào mừng các vua quan ấy, cải hóa họ, lễ phépthân thiện với họ. Vì bát-nhã ba-la-mật này bày tỏ thái độ từ bi đối với tất cả chúng sinh. Vì thế, dù cho người sùng mộ bát-nhã ba-la-mật có thể ở giữa nơi hoang vắng bị nhiều rắn độc tràn vào phá hoại, người cũng như ma không thể làm hại họ được, ngoại trừ là một hình phạt cho những hành vi quá khứ.

     Liền đó, một trăm du sĩ của những môn phái khác đến gần đức Thế Tôn với ý thù hận. Thiên đế Thích-đề, nhận biết những du sĩ đó từ xa, và nghĩ: Chắc chắn những du sĩ của các phái khác đó đang đến gần Thế Tôn với ý nghĩ thù hận. Rồi hãy để ta nhớ lại bát-nhã ba-la-mật này nhiều như ta đã học được từ Thế Tôn, [77] đưa nó vào tâm, tụng niệm và loan truyền nó, như thế những du sĩ đó không thể đến gần đức Thế Tôn, và sự thuyết giảng bát-nhã ba-la-mật này không thể bị gián đoạn.

     Vì thế Thiên đế Thích-đề, hồi tưởng bát-nhã ba-la-mật này nhiều như mình đã học được từ đức Thế Tôn, đưa nó đến tâm, niệm và triển khai nó. Những du sĩ của các phái khác do đó đã cung kính vái chào Thế Tôn từ đằng xa, và bỏ đi, theo con đường của họ.

     Vì thế khiến cho Tôn giả Xá-lợi-phất [suy nghĩ]: Vì lý do gì những du sĩ dị giáo đó cung kính vái chào đức Thế Tôn từ đằng xa và ra đi theo đường của họ?

     Thế Tôn: Khi Thiên đế Thích-đề, nhận thức ý nghĩ của những du sĩ thù nghịch của các phái khác đó, ông ta hồi tưởng bát-nhã ba-la-mật này, đưa nó đến tâm, niệm và loan truyền nó, với mục đích khiến cho những du sĩ của các phái khác muốn tranh cãi, biện luận và làm trở ngại quay trở lại, đề phòng họ đến gần nơi bát-nhã ba-la-mật này đang được giảng dạy. Và tôi đã cho phép Thiên đế Thích-đề. Bởi vì tôi thấy không có một pháp thanh tịnh nào nơi các du sĩ đó. [78] Tất cả họ muốn đến gần với ý niệm thù nghịch, với những suy nghĩ thù địch.

     Vì thế, Ác Ma nghĩ: Bốn chúng của Như Lai tụ hội, ngồi mặt đối mặt với Như Lai. Mặt đối mặt [với Như Lai] chư thiên này của cõi dục và cõi sắc chắc chắn sẽ được thọ ký tại hội chúng là những Bồ-tát sẽ giác ngộ viên mãn. Bây giờ hãy để ta đến gần làm mù họ. Do đó Ma vương triệu gọi bốn đoàn quân, và di chuyển hướng về chỗ Thế Tôn.

     Vì thế Thiên đế Thích-đề, nghĩ: Chắc chắn đây là Ác Ma, triệu gọi bốn đoàn quân, di chuyển hướng về chỗ Thế Tôn. Nhưng cách dàn trận của đoàn quân này không phải là cách dàn trận của đoàn quân của Vua Tần-bà-sa-la[25], không phải của đoàn quân của Vua Ba-tư-nặc[26], không phải của đoàn quân của tộc Thích-ca[27] hay của tộc Licchavi. Từ lâu Ác Ma, đã theo đuổi Thế Tôn, tìm cơ hội để đột nhập, tìm cơ hội để đi vào, ý định làm chúng sinh đau đớn. Bây giờ tôi sẽ hồi tưởng bát-nhã ba-la-mật này, đem đến tâm, niệm và loan truyền nó. Vì thế Thích-đề hồi tưởng, đem đến tâm, niệm và loan truyền nó. [79] Tức thời Ác Ma, lại quay lưng bỏ đi.

     Do đó chư thiên của Trời Ba mươi ba triệu gọi hoa trời Mạn-đa-la[28], bay qua không trung, và rải lên đức Thế Tôn. Và họ kêu lên trong khải hoàn: “Chắc chắn bát-nhã ba-la-mật này đã đến với người của Diêm-phù-đề từ lâu!” Nắm lấy thêm hoa Mạn-đà-la, họ rải và rắc lên Thế Tôn, và nói: “Ma vương và nhóm của y sẽ không có cơ hội để nhập vào các chúng sinh thuyết giảng và phát triển bát-nhã ba-la-mật, hay theo đuổi nó. Những chúng sinh nghe và học bát-nhã ba-la-mật sẽ được phú bẩm không phải với những thiện căn nhỏ. Những người đến nghe bát-nhã ba-la-mật này đã thực hành phận sự của họ nơi các bậc Chiến Thắng trong quá khứ. Nhiều hơn thế biết bao là những người sẽ học và niệm, sẽ được tu luyện trong Như, tiến đến nó, nỗ lực vì nó; họ sẽ là những người tôn vinh các Như Lai. [80] Vì nó ở trong bát-nhã ba-la-mật này mà người ta nên tìm nhất thiết trí. Giống như tất cả những viên ngọc đều do đại dương sinh sản, và nên tìm chúng qua đại dương, cũng vậy nên tìm viên ngọc nhất thiết trí vĩ đại của các Như Lai qua biển lớn bát-nhã ba-la-mật.”

     Thế Tôn: Đúng vậy, Kiều-thi-ca. Viên ngọc vĩ đại nhất thiết trí của chư Như Lai đến từ biển lớn bát-nhã ba-la-mật.

 

  1. BÁT-NHÃBA-LA-MẬT,

VÀ CÁC BA-LA-MẬT KHÁC

 

     A-nan-đa: Thế Tôn không tán thán bố thí ba-la-mật hay bất cứ ba-la-mật nào của năm ba-la-mật đầu; ngài không nói tên của chúng.

Ngài chỉ tán thán bát-nhã ba-la-mật, nói một mình tên của nó.

Thế Tôn: Đúng vậy, A-nan-đa. Vì bát-nhã ba-la-mật kiểm soát năm ba-la-mật ấy. Ý ông thế nào, A-nan-đa, có thể gọi bố thí không hồi hướng đến nhất thiết tríbố thí ba-la-mật chăng?

A-nan-đa: Dạ không, Thế Tôn.

Thế Tôn: Với các ba-la-mật kia cũng vậy. [81] Ý ông thế nào, A-nan-đa, có phải bát-nhã mà nó chuyển các thiện căn bằng cách hồi hướng chúng đến nhất thiết trí là không thể nghĩ bàn chăng?

     A-nan-đa: Dạ, không thể nghĩ bàn, hoàn toàn không thể nghĩ bàn.

     Thế Tôn: Vì thế Bát-nhã ba-la-mật có tên từ sự thù thắng vô thượng[29] của nó. Qua nó, các thiện căn, hồi hướng đến nhất thiết trí, có tên ‘các ba-la-mật.’ Do vì nó hồi hướng các thiện căn đến nhất thiết tríbát-nhã ba-la-mật kiểm soát, hướng dẫn, chỉ đạo năm ba-la-mật. Như vậy, năm ba-la-mật ấy chứa trong bát-nhã ba-la-mật, và hạn từ ‘bát-nhã ba-la-mật’ chỉ là một từ đồng nghĩa chỉ sự hoàn thành của sáu ba-la-mật. Vậy thì, khi công bố bát-nhã ba-la-mật, tất cả sáu ba-la-mật được công bố. Giống như những viên ngọc, rải rác đây đó trên trái đất rộng lớn, phát triển khi tất cả các duyên thuận lợi; trái đất rộng lớn ủng hộ chúng, và chúng phát triển nhờ sự ủng hộ của trái đất rộng lớn; dù vậy, hiện thân trong bát-nhã ba-la-mật, năm ba-la-mật ấy yên nghỉ trong nhất thiết trí, chúng phát triển bởi vì được bát-nhã ba-la-mật ủng hộ; và vì được bát-nhã ba-la-mật duy trì chúng có tên ‘ba-la-mật.’ [82] Như vậy là bát-nhã ba-la-mật kiểm soát, hướng dẫn, chỉ đạo năm ba-la-mật ấy. 

 

  1. NHỮNG LỢI THẾ NỮA TỪ BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Thích-đề: Cho đến bây giờ Như Lai chưa công bố tất cả những phẩm tính của bát-nhã ba-la-mật, những phẩm tính người ta có được bằng cách học, nghiên cứu, và niệm bát-nhã ba-la-mật, tôi đã học được từ Thế Tôn, và loan truyền [mà giờ đây các ngoại đạoMa vương đã phải quay đi]!

     Thế Tôn: Đúng vậy, Kiều-thi-ca. Hơn nữa, không chỉ người học, nghiên cứu và niệm bát-nhã ba-la-mật, sẽ có những phẩm tính đó, mà còn người thờ phụng bản sao chép nó, tôi dạy, người ấy cũng sẽ có những lợi thế đó ở đây và bây giờ. [83]

     Thích-đề: Tôi cũng sẽ bảo vệ người thờ phụng bản sao chép bát-nhã ba-la-mật, và còn nhiều hơn thế nữa là người học, nghiên cứu và niệm nó.

     Thế Tôn: Nói khéo đấy, Kiều-thi-ca. Hơn nữa, khi có người niệm bát-nhã ba-la-mật này, nhiều trăm Thiên sẽ đến gần, nhiều ngàn, nhiều trăm ngàn Thiên cũng lắng nghe pháp. Và khi nghe pháp, các Thiên đó sẽ muốn tạo ra sự sẵn sàng nói nơi người thuyết pháp đó. Ngay cả khi người ấy không muốn nói, các Thiên đó vẫn mong rằng, do sự kính trọng của họ đối với pháp, sự sẵn sàng sẽ phát sinh nơi người ấy, và người ấy sẽ cảm thấy được thúc giục dạy. [84] Đây lại là một phẩm tính khác mà người nào đó có được ngay ở đây và bây giờ khi học, nghiên cứu, và niệm bát-nhã ba-la-mật. Hơn nữa, tâm của những người dạy bát-nhã ba-la-mật này vẫn sẽ không sợ trước bốn chúng. Họ sẽ không sợ bị những người thù nghịch nạn vấn, vì bát-nhã ba-la-mật bảo vệ họ. Chìm ngập trong bát-nhã ba-la-mật người ta không thấy sự thù nghịch, không thấy những kẻ hành động với lòng thù nghịch, cũng không thấy những kẻ muốn thù nghịch. Như vậy, được bát-nhã ba-la-mật duy trì, người ta sẽ không bị chỉ tríchsợ hãi tác động. Người nào đó cũng có được những phẩm tính này chỉ ở đây và bây giờ khi nghe, nghiên cứu và niệm bát-nhã ba-la-mật. Thêm nữa, người ấy sẽ thân mật với cha mẹ mình, với bạn bè, thân nhânbà con, với Sa-môn (Sramanas) và Bà-la-môn. Người ấy sẽ có tài và có khả năng biện luận, hợp với pháp, bất cứ phản biện nào có thể phát sinh, và có thể giao tiếp với những phản vấn. Những phẩm tính này cũng có người có được ngay ở đây và bây giờ khi học, nghiên cứu, và niệm bát-nhã ba-la-mật. [85] Hơn nữa, Kiều-thi-ca, trong các Thiên của Bốn Đại Thiên Vương các Thiên đã lên đườnggiác ngộ viên mãn sẽ quyết tâm đến chỗ mà người ta đã đặt bản sao chép bát-nhã ba-la-mật, và thờ phụng nó. Họ sẽ đến, nhìn lên bản sao chép bát-nhã ba-la-mật này, kính chào nó, lễ bái nó, học, nghiên cứu và niệm nó. Rồi họ lại ra đi. Và điều đó áp dụng cho tất cả chư Thiên, đến các Thiên cao nhất. [88] Và người con trai hay người con gái của một gia đình thiện lương nên ước nguyện rằng chư Thiên, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ga-ru-đa, Khẩn-na-la, Mô-ha-ra-ga, người và ma, ở mười phương trong vô số thiên thế giới, với sự trợ giúp của sách này, nên thấy bát-nhã ba-la-mật, bái chào nó, kính lễ nó, học, nghiên cứu, và niệm nó; rồi họ nên trở về các thế giới của họ; và họ có thể bố thí món pháp thí này. Tuy nhiên, Kiều-thi-ca, ông không nên nghĩ rằng chỉ trong thế giới bốn châu này các Thiên của cõi dục và của cõi sắc, đã lên đườnggiác ngộ viên mãn, sẽ quyết định trở lại chỗ đó. Không phải vậy, Kiều-thi-ca, ông nên xem! Không, tất cả chư Thiên trong đại thiên thế giới, đã lên đườnggiác ngộ viên mãn, sẽ quyết định đến chỗ đó. Họ sẽ đến, nhìn lên bản sao chép bát-nhã ba-la-mật này kính chào nó, kính bái nó, học, nghiên cứu và niệm nó. Hơn nữa, cái nhà, căn phòng, hay chỗ của người thờ phụng bát-nhã ba-la-mật sẽ được canh giữ tốt. Không ai làm hại người ấy, ngoại trừ là một hình phạt cho những hành vi quá khứ. Đây là một phẩm tính khác mà một người có được ngay ở đây và bây giờ. [89] Vì chính các Thiên có năng lực, và các chúng sinh siêu nhiên khác, sẽ quyết định đến chỗ đó.

     Thích-đề: Làm sao biết được chư Thiênchúng sinh siêu nhiên khác đến chỗ đó nghe, v.v…, bát-nhã ba-la-mật?  

     Thế Tôn: Khi một người tưởng ở một nơi nào đó một thứ ánh sáng cao vời hay ngửi mùi của một tiên nhân chưa từng ngửi trước kia, rồi người ta nên biết chắc rằng một Thiên, hay một chúng sinh siêu nhiên khác, đã đến, đã đến gần. Hơn nữa, những thói quen sạch sẽ và thanh tịnh sẽ hấp dẫn các Thiên đó, v.v…, và sẽ làm họ vô cùng thích thú, quá vui, đầy nhiệt tình và hoan hỉ. Nhưng các thần có năng lực nhỏ hơn, đã chiếm trước chỗ đó, sẽ quyết định bỏ đi. Vì họ không thể chịu được vẻ huy hoàng, sự trang nghiêm và cao quí của các Thiên đầy năng lực đó, v.v… Và khi chính các Thiên đầy năng lực ấy, v.v…, sẽ quyết định đến với người ấy hoài, người sùng mộ bát-nhã ba-la-mật đó sẽ có được rất nhiều niềm tin tịch tĩnh. Đây là một phẩm tính khác mà người con trai hay người con gái của một gia đình thiện lương sẽ có được ngay ở đây và bây giờ. Hơn nữa, không nên hình thành bất cứ thói quen không sạch sẽ hay bất tịnh nào trong phạm vi chỗ trú đó của người chỉ đường đến Pháp; vả lại sự kính trọng sâu xa của người ta đối với nó vẫn không đầy đủ. Hơn nữa, người sùng mộ bát-nhã ba-la-mật sẽ không bị mệt mỏi nơi thân hay tâm. Thoải mái người ấy nằm xuống, thoải mái người ấy bước đi. Trong giấc ngủ người ấy không thấy ác mộng. Khi thấy bất cứ điều gì trong mộng, [91] người ấy chỉ thấy các Như Lai, hay Tháp miếu, hay Bồ-tát, hay các Đệ tử của Như Lai. Khi nghe âm thanh, người ấy sẽ nghe âm thanh của các ba-la-mật và của những giác chi. Người ấy sẽ chỉ thấy các cây giác ngộ; và ở bên dưới những cây ấy là các Như Lai, trong khi các Ngài thức tỉnh với giác ngộ viên mãn. Và người ấy cung sẽ thấy những người Giác ngộ viên mãn chuyển bánh xe pháp như thế nào. Và người ấy sẽ thấy nhiều Bồ-tát, tụng bát-nhã ba-la-mật này, hân hoan vì sự hợp xướng của nó, tuyên bố nên đạt nhất thiết trí như thế nào, nên tịnh hóa Phật địa như thế nào. Người ấy được cho thấy sự thiện xảo trong các phương tiện. Người ấy nghe âm thanh tuyệt vời của giác ngộ viên mãn của chư Phật, chư Thế Tôn: ‘Ở phương này, ở phần này của thế giới, trong thiên thế giới này, dưới cái tên này, một Như Lai chứng minh pháp, có nhiều ngàn Bồ-tát và Thanh văn, nói đúng hơn là được nhiều trăm ngàn na-do-tha câu-lợi Bồ-tát và Thanh văn, vây quanh và tháp tùng.’ Khi có những giấc mộng như thế, người ấy sẽ ngủ thong dong, sẽ thức dậy thong dong. Ngay cả khi bị ném thức ăn, thân của người ấy vẫn cảm thấy thoải mái và quá ư nhẹ nhàng. Không một khuynh hướng ý nghĩ nào phát sinh nơi người ấy vì quá nhiệt tình với thức ăn. Người ấy sẽ chỉ có sự thích thú nhẹ nhàng với thức ăn. [92] Một người sùng mộ bát-nhã ba-la-mật không có ham muốn mãnh liệt nào đối với thức ăn, và chỉ có sự thích thú nhẹ nhàng đối với nó, ngay cả một tỳ-kheo, tu tập Du-già, và đã ra khỏi định, – bởi vì những ý nghĩ của người ấy trào tràn với những thích thú khác. Vì ở mức độ đó, người ấy đã hiến mình sùng mộ sự phát triển bát-nhã ba-la-mật, đến mức độ đó các thiên sẽ cung cấp thức ăn của trời cho người ấy. Những phẩm tính này cũng đạt được ngay cả ở đây và bây giờ. Nhưng lại nữa, Kiều-thi-ca, nếu có người sao chép bát-nhã ba-la-mật thành tập, và thờ phụng nó, nhưng không học, nghiên cứu và niệm nó; và nếu có người khác thực tin bát-nhã ba-la-mật, tin tưởng phó thác cho nó, và quyết ý vì nó, niềm tin tịch tĩnh, ý nghĩ hướng đến giác ngộ, tâm ý nhiệt thành, nghe nó, học nó, mang nó trong tâm, tụng đọc và nghiên cứu nó, soi sáng nó một cách chi tiết cho người khác, khai mở nghĩa của nó, dùng tâm thẩm tra nó, và dùng tối đa trí tuệ của mình quán sát nó toàn triệt; biên chép nó, bảo tồn và đem cất bản biên chép ấy, như thế thiện pháp có thể trường tồn, như thế sự dẫn đạo của chư Như Lai không thể bị đoạn diệt, như thế thiện pháp không thể biến mất, như thế các Bồ-tát, các đại sĩ, có thể được tiếp tục trợ giúp, vì sự dẫn đạo của họ sẽ không thất bại, – và cuối cùng, tôn vinh và thờ phụng bát-nhã ba-la-mật này; rồi càng sinh chậm công đức càng nhiều. [93] Những người muốn có được những phẩm tính phân biệt này ở đây và bây giờ nên bắt chước người ấy, và họ nên thực tin vào bát-nhã ba-la-mật, v.v…, đến: bởi vì sự dẫn đạo của các ngài ấy sẽ không thất bại. Người ấy sẽ quyết tâm chia xẻ nó với những người muốn nó. Như thế con mắt vĩ đại Dẫn đạo của chư Phật sẽ không thất bại, hoặc đối với người ấy hoặc đối với những người khác trong sự truy cầu đức hạnh. Thêm nữa, bát-nhã ba-la-mật nên được tôn vinh và sùng bái trong tất cả mọi thời. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương IV

 

CÔNG BỐ CÁC PHẨM TÍNH

 

  1. GIÁ TRỊ TƯƠNG ĐỐI CỦA XÁ-LỢI NHƯ LAI

VÀ CỦA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Thế Tôn: Này Kiều-thi-ca, một mặt nếu ông được cho cõi Diêm-phù-đề này đầy ắp xá-lợi của chư Như Lai; và nếu mặt khác, ông có thể chia xẻ một tập sao chép bát-nhã ba-la-mật này; và nếu ông phải chọn giữa hai cái ấy, ông chọn cái nào?

     Thích-đề: Chỉ bát-nhã bala-mật này. Bởi vì tôi yêu mến sự Dẫn đạo của chư Như Lai. Như Thế Tôn có nói: “Các Pháp thân là chư Phật, chư Thế Tôn. Nhưng, này các tỳ-kheo, các ông không nên nghĩ rằng thân cá nhân này là thân của tôi. Này các tỳ-kheo, các ông nên thấy tôi từ sự thành tựu của Pháp thân.” Nhưng nên thấy thân Như Lai như là do thực tế (biên tế của thực tại) mang đến, tức là, do bát-nhã ba-la-mật. Không phải là, Ôi Thế Tôn, tôi thiếu kính trọng xá-lợi của Như Lai. Trái lại, tôi thực sự kính trọng nó. Vì đến từ bát-nhã ba-la-mật này mà xá-lợi của Như Lai được thờ phụng, và do đó, khi một người thờ phụng bát-nhã ba-la-mật này thì sự thờ phụng xá-lợi của Như Lai cũng được thờ phụng. Vì xá-lợi của Như Lai đến từ bát-nhã ba-la-mật. Cũng như chiếc ngai vàng của tôi ở Diệu pháp[30], cung điện của chư Thiên. Khi tôi ngồi lên đó, [95] chư Thiên đến chờ tôi. Nhưng khi tôi không ngồi, chư Thiên, vì kính trọng tôi, họ kính trọng chỗ ngồi của tôi, đi nhiễu quanh nó, và lại bỏ đi. Vì họ hồi tưởng rằng, ngồi trên chỗ ngồi ấy, Thiên đế Thích-đề, chứng minh Pháp với chư Thiên của Trời Ba mươi ba. Cũng vậy, bát-nhã ba-la-mậtnhân duyên nổi bật thực sự nuôi dưỡng nhất thiết trí của Như Lai. Xá-lợi của Như Lai, mặt khác, là những món ký gửi đích thực của nhất thiết trí, nhưng đó không phải những điều kiện hay lý do đích thực, cho sự sản sinh tri kiến đó. Vì nguyên nhân tri kiến của nhất thiết trí bát-nhã ba-la-mật cũng được thờ phụng qua xá-lợi của Như Lai. Vì lý do này, của hai món đã đề cập trước, tôi chỉ chọn bát-nhã ba-la-mật của Như Lai. Nhưng không phải vì tôi thiếu kính trọng xá-lợi của Như Lai. [Chọn như thế] tôi thực có sự kính trọng nó, vì xá-lợi đó được thờ phụng bởi vì được bát-nhã ba-la-mật thấm nhập. Và nếu tôi phải chọn giữa tập sao chép bát-nhã ba-la-mật ở một bên và cả một đại thiên thế giới đày ắp xá-lợi của Như Lai ở bên kia, [96] tôi vẫn chỉ chọn bát-nhã ba-la-mật này, vì cùng lý do. Vì xá-lợi của Như Lai là những món ký gửi chân thật của tri kiến nhất thiết trí, nhưng chính tri kiến ấy đến từ bát-nhã ba-la-mật. Rồi vì thế, trong hai món đó tôi chỉ chọn bát-nhã ba-la-mật này. Nhưng đó không phải là tôi thiếu kính trọng xá-lợi của Như Lai. [Chọn như thế] tôi thực sự có sự kính trọng đối với xá-lợi. Tuy nhiên, xá-lợi được thờ phụng bởi vì nó đến từ bát-nhã ba-la-mật này, và được bát-nhã ba-la-mật này thấm nhập.

 

  1. TỈ DỤ NGỌC NHƯ Ý

 

     Giống như viên ngọc vô giáđặc tính ngăn ngừa người và ma không vào được nơi đặt nó. Nếu có người bị ma ám, người ta chỉ phải giơ viên ngọc này ra, và ma sẽ bỏ đi. Nếu có người bị gió đè và dùng viên ngọc này khi thân bị xẹp, người đó sẽ giữ gió ấy lại, ngăn ngừa nó không trở nên tệ hơn, khiến nó giảm nhẹ. Sẽ có hiệu quả tương tự khi áp dụng cho thân bỏng vì nước mật, nghẽn vì đờm, hay đau vì hậu quả của chứng bệnh phát sinh do sự rối loạn các chất dịch. [97] Nó sẽ chiếu sáng bóng tối của đêm đen tối nhất. Trong nóng, nó sẽ làm mát địa điểm đặt nó. Trong lạnh nó sẽ làm ấm. Sự có mặt của nó xua đi rắn độc và những độc vật khác ra khỏi những vùng chúng phá hoại. Nếu có người đàn ông hay đàn bà bị rắn độc cắn, người ta chỉ cần cho họ nhìn thấy ngọc ấy; và sự thấy nó sẽ chống lại độc ấy, và làm nó bỏ đi. Những phẩm tính của ngọc này là như thế. Nếu có người có nhọt trong mắt, hay sự thấy của mắt bị mờ, hay một chứng bịnh nơi mắt, hay mắt có vảy, người ta chỉ cần đặt ngọc ấy lên mắt, và chỉ sự có mặt của nó thôi sẽ loại trừ và làm dịu được những đau đớn đó. Những phẩm tính của nó là như thế. Đặt vào nước, nó nhuộm tất cả nước màu của nó. Bọc nó trong vải trắng và ném vào nước, nó làm nước thành trắng. Cũng vậy, khi bọc hay buộc nó trong vải màu xanh đen, hay vàng, hay đỏ, hay đỏ đậm, hay trong vải có bất cứ màu gì khác, nó sẽ nhuộm nước ấy thành màu của vải ném vào. Nó cũng sẽ làm trong bất cứ chất đục gì có thể có trong nước. Bẩm sinh với những phẩm tính như thế là viên ngọc đó. [98]

     A-nan-đa: Những viên ngọc này, ngài Kiều-thi-ca, thuộc về thế giới của các thần hay thuộc về người ở Diêm-phù-đề?

     Thích-đề: Những ngọc ấy được tìm thấy ở nơi các thần. Mặt khác, những viên ngọc tìm thấy nơi những người ở Diêm-phù-đề thì khá thô, nhỏ hơn và không được phú cho những phẩm chất như thế. Chúng vô cùng kém hơn những viên ngọc trời. Nhưng những [ngọc] đó ở nơi các thần thì tốt và đầy đủ tất cả các phẩm tính khả hữu. Nếu bây giờ viên ngọc đó được đặt vào giỏ, hay đặt trên giỏ, thì cái giỏ ấy sẽ vẫn đáng ham muốn sau khi người ta lấy viên ngọc ra. Cái giỏ, nhờ các phẩm tính của viên ngọc, sẽ trở một thành vật mong ước tối thượng. Cũng như thế, Ôi Thế Tôn, là những phẩm tính tri kiến của nhất thiết trí đến từ bát-nhã ba-la-mật. Ấy cũng như câu chuyện về xá-lợi của Như Lai, người đi đến Bát Niết-bàn, được thờ phụng. Vì nó là món ký gửi của tri kiến nhất thiết trí. Và như sự chứng minh pháp của chư Phật và chư Thế Tôn trong tất cả các thiên thế giới nên được sùng bái bởi vì nó đến từ bát-nhã ba-la-mật, sự chứng minh pháp của pháp sư cũng vậy. Như quan hầu cận của nhà vua không sợ gì quyền lực của vua [99] và được đám người rất đông sùng bái, cũng vậy người thuyết giảng pháp, bởi vì, nhờ thần lực của Pháp thân, người ấy không sợ và được đám người rất đông sùng bái. Nhưng xá-lợi của Như Lai được sùng bái vì cùng lý do mà người ta sùng bái sự chứng minh pháp và người thuyết giảng pháp.

 

  1. GIÁ TRỊ VÔ THƯỢNG CỦA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Rồi vì thế, Ôi Thế Tôn, nếu có hai phần; và nếu không chỉ đại thiên thế giới này, mà nếu còn tất cả các thiên thế giới, vô số như cát sông Hằng, đầy xá-lợi của Như Lai, được đặt xuống như là phần thứ nhất; và tập sách sao chép bát-nhã ba-la-mật như là phần thứ hai. Nếu tôi được mời chọn một trong hai và lấy nó, tôi sẽ chỉ lấy bát-nhã ba-la-mật này. Ấy không phải, Ôi Thế Tôn, là tôi thiếu kính trọng đối với xá-lợi của Như Lai. Sự kính trọng của tôi đối với xá-lợi là thực. Nhưng bát-nhã ba-la-mật thấm nhập nhất thiết trí, và xá-lợi của Như Lai được thờ phụng bởi vì nó đến từ nhất thiết trí. Như vậy, sùng bái bát-nhã ba-la-mật thực rasùng bái chư Phật và chư Thế Tôn, quá khứ, vị lai, và hiện tại. Hơn nữa, Ôi Thế Tôn, người nào muốn thấy, hợp với pháp, chư Phật và chư Thế Tôn chỉ hiện hữu bây giờ trong vô lượngvô số các thiên thế giới, nên theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật, tạo nỗ lực trong nó, phát triển nó. [100]

     Thế Tôn: Đúng thế, Kiều-thi-ca. Tất cả chư Như Lai đúng là nợ bát-nhã ba-la-mật này sự giác ngộ của họ, – dù họ sống trong quá khứ, vị lai hay hiện tại. Tôi bây giờ, này Kiều-thi-ca, cũng là một Như Lai, đúng là tôi nợ bát-nhã ba-la-mật này sự giác ngộ của tôi.

     Thích-đề: Ba-la-mật vĩ đại là bát-nhã ba-la-mật. Vì nó cho phép Như Lai biết và thấy đúng những ý nghĩ và hành động của tất cả chúng sinh.

     Thế Tôn: Đúng thế, Kiều-thi-ca. Ấy là bởi vì một Bồ-tát theo đuổi một thời gian lâu trong bát-nhã ba-la-mật này mà ông ấy biết và thấy đúng ý nghĩ và hành động của tất cả chúng sinh.

     Thích-đề: Một Bồ-tát chỉ theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật và không [theo đuổi] trong các bát-nhã kia ư?

     Thế Tôn: Ông ấy theo đuổi trong tất cả sáu ba-la-mật. Nhưng là bát-nhã ba-la-mật [101] kiểm soát Bồ-tát ấy khi ông ấy bố thí hay trì giới, hay tự hoàn thiện mình trong nhẫn nhục, hay nỗ lực tinh tấn, hay nhập định, hay minh sát các pháp. Sự phân biệt hay khác nhau giữa sáu ba-la-mật này là bất khả đắc, – tất cả chúng được sự thiện xảo trong phương tiện duy trì, hồi hướng đến bát-nhã ba-la-mật, hồi hướng đến nhất thiết trí. Chỉ vì người ta không nghĩ ra có sự phân biệt hay khác nhau nào giữa những cái bóng ném xuống của những cây khác nhau ở Diêm-phù-đề, – dù màu của chúng có thể khác nhau, hình dáng, lá, hoa và quả của chúng, chiều cao và chu vi của chúng – nhưng tất cả chúng chỉ được gọi là ‘những cái bóng’; dù vậy sự phân biệt hay khác nhau giữa sáu ba-la-mật là bất khả đắc, – tất cả chúng được sự thiện xảo trong các phương tiện duy trì, hồi hướng đến bát-nhã ba-la-mật, hồi hướng đến nhất thiết trí.

     Thích-đề: Được phú bẩm những phẩm tính vĩ đại là bát-nhã ba-la-mật này, những phẩm tính vô lượng, những phẩm tính vô biên!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương V

 

TÍNH CÁCH MẠNG CỦA CÔNG ĐỨC

 

  1. BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT, NGUỒN CÔNG ĐỨC VĨ ĐẠI

 

Thích-đề: Chúng ta hãy xem lại hai người. Một người tin thực sự bát-nhã ba-la-mật, tin tưởng phó thác nơi nó, v.v…, đến: vì sự dẫn đạo của người ấy sẽ không thất bại [như ở trg. 62]. Và khi nghe sự giải thích này, người ấy quyết định rằng mình sẽ không bao giờ bỏ bát-nhã ba-la-mật này, – chắc chắn lợi ích rất nhiều, lợi thế rất lớn, kết quả rất lớn, phần thưởng rất lớn, được phú bẩm những phẩm tính rất vĩ đại! – người ấy sẽ canh giữ nó, bởi vì nó quá khó đạt. Và chính người ấy sẽ tôn vinh, sùng bái và ngưỡng mộ nó. Người kia trước hết tôn trọng nó, rồi bố thí một bản sao cho một người con trai hay con gái khác của một gia đình thiện lương, ham muốn nó, và nhiệt tình hỏi xin nó. [103] Trong hai người này người nào có công đức lớn hơn, người có ý định cho nó hay người không có ý định cho nó?

Thế Tôn: Tôi sẽ hỏi ông về điểm này, và ông có thể trả lời cách tốt nhất theo khả năng ông. Nếu người một mình tôn vinh xá-lợi của Như Lai sau khi nhập Bát Niết-bàn, chăm sóc và bảo tồn nó; và nếu người kia không chỉ tự mình tôn vinh xá-lợi của Như Lai, chăm sóc và tôn trọng nó, nhưng thêm vào đó tiết lộ nó với những người khác, cho đi, và chia xẻ, hy vọng rằng sự thờ phụng xá-lợi sẽ trở nên lan rộng, vì thương xót chúng sinh; rồi trong hai người, người nào sẽ được nhiều công đức hơn: Người trong khi tự mình thờ phụng xá lợi, tiết lộ, cho và chia xẻ với những người khác hay người một mình đơn độc thờ nó?

Đế thích: Người chia xẻ với những người khác. [104]

Thế Tôn: Đúng vậy, Kiều-thi-ca. Người bố thí bát-nhã ba-la-mật này cho những người khác, giúp đỡ những người khác, có ý định bố thí, người ấy nhờ sức mạnh đó sẽ có công đức lớn hơn. Thêm nữa nếu người ấy đi đến chỗ có những người trở thành những khí cụ thích hợp cho bát-nhã ba-la-mật này, và chia xẻ với họ, thì người ấy còn có nhiều công đức hơn. Hơn nữa, này Kiều-thi-ca, công đức của người khiến tất cả chúng sinh trong châu Diêm-phù-đề theo mười đường nghiệp thiện và an định họ trong đó sẽ nhiều không?

Thích-đề: Sẽ nhiều.

Thế Tôn: Nhiều hơn sẽ là công đức của người làm bản sao chép bát-nhã ba-la-mật này, tin nơi nó và có niềm tin nơi nó, niềm tin tịch tĩnhkiên định; sẽ phát tâmgiác ngộ và với ý định nồng nhiệt sẽ cúng dường bát-nhã ba-la-mật này cho một Bồ-tát khác đã phát tâm bồ-đề; trước hết sẽ hoàn thiện chính mình bằng cách viết và đọc tụng không mệt mỏi; rồi sau khi lao động nhiều nhiệt tình, người ấy sẽ thuyết phục vị Bồ-tát kia, giải thích bát-nhã ba-la-mật này cho Bồ-tát ấy, khiến cho đến với nó, làm đầy nhiệt tâm vì nó, [105] làm cho ông ấy hoan hỉ nơi nó, bằng lời nói của mình đưa ông ấy đến với nó, giáo dục ông ấy trong nó, làm sáng những lợi ích của nó cho ông ấy, làm sạch ý nghĩ của ông ấy, phá tan những nghi ngờ của ông ấy; và nói với ông ấy như sau: “Hãy đến đây, hỡi người con trai của gia đình thiện lương, hãy tu luyện mình trong chính Đạo của Bồ-tát này, vì kết quả của sự tu luyện này, sự theo đuổi này, sự đấu tranh này chắc chắn anh sẽ nhanh chóng tỉnh thức với giác ngộ viên mãn. Sau đó anh sẽ giáo dục vô số chúng sinh trong sự tịch diệt hoàn toàn của thực thể tái sinh, nói cách khác, trong sự tiết lộ biên tế của thực tại.” Bởi vì ông ấy có ý định bố thí, vì thế công đức của ông ấy nhiều hơn. Và điều này đúng dù cho nếu so sánh nó với công đức của một người trụ trong sự tuân theo mười đường nghiệp thiện tất cả chúng sinh trong các thiên thế giới bất kỳ cỡ nào, [106] ngay cả trong tất cả các thiên thế giới có nhiều như cát sông Hằng. [107] Hay nếu so sánh nó với công đức của người an định cho những người khác trong bốn thiền, bốn Vô lượng, bốn chứng đắc vô tướng, năm thần thông, trong bất cứ số thiên thế giới nào. [112] Trong mỗi trường hợp, một người không những chỉ viết bát-nhã ba-la-mật này và tụng nó một mình, mà còn viết nó cho những người khác và bố thí cho họ, sẽ dễ dàng có công đức nhiều hơn. Hơn nữa, này Kiều-thi-ca, một người cũng sẽ được công đức nhiều hơn nếu người ấy thâm mật với nghĩa ấy khi tụng bát-nhã ba-la-mật này; và viết nó cho những người khác, bố thí nó, xiển dương và làm nó sáng rõ, cả nghĩa và chữ.   

 

  1. BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT TƯƠNG TỰ (GIẢ HIỆU)

 

     Thích-đề: Rồi người ta có thể giải thích bát-nhã ba-la-mật này không?

     Thế Tôn: Có thể, nên giải thích cho người không hiểu nó. Vì trong vị lai bát-nhã ba-la-mật giả hiệu sẽ xuất hiện. Khi nghe nó, người không hiểu [bát-nhã ba-la-mật thực là gì] nên ý thức [rằng lắng nghe bát-nhã ba-la-mật giả hiệu] sẽ bị hỏng, nếu người ấy muốn được giác ngộ viên mãn.

     Thích-đề: Trong vị lai người ấy nên làm thế nào để nhận ra nếu và khi nào người ta xiển dương bát-nhã ba-la-mật giả hiệu? [113]

     Thế Tôn: Trong vị lai sẽ có một vài tỳ-kheo thân không phát triển, hành vi đạo đức, ý nghĩtrí tuệ không phát triển, ngu và đần như cừu, không có trí tuệ. Khi họ tuyên bố rằng họ sẽ xiển dương bát-nhã ba-la-mật, thực tế họ sẽ xiển dương cái giả hiệu của nó. Họ sẽ xiển dương bát-nhã ba-la-mật giả hiệu bằng cách dạy rằng sự vô thường của sắc, v.v…, phải được giải thích là sự đoạn diệt của sắc, v.v… Gắng sức vì nội kiến đó, theo họ, đó sẽ là sự theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật. Nhưng trái lại, không nên xem sự vô thường của sắc, v.v…, như là sự đoạn diệt của sắc, v.v… Vì xem sự vật theo cách đó có nghĩa là theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật giả hiệu. Vì lý do đó, Kiều-thi-ca, nên xiển dương nghĩa của bát-nhã ba-la-mật. Bằng cách xiển dương nó, người ta sẽ được công đức nhiều hơn.

 

  1. BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT VĨ ĐẠI HƠN BẤT CỨ

MÓN QUÀ TINH THẦN NÀO KHÁC

 

     Và công đức đó sẽ nhiều hơn nếu người ta thiết định chúng sinh trong bất cứ con số nào của các thiên thế giới trong quả của người Nhập lưu. [116] Và điều đó cũng duy trì tốt quả của người Nhất lai, của người Bất hoàn, và của A-la-hán. Vì bát-nhã ba-la-mật đem đến quả của người Nhất lai, của người Bất hoàn và của A-la-hán. [125] Và Bồ-tát ấy sẽ gia tăng sức chịu đựng của mình bằng cách phản chiếu rằng bằng tự tu luyện trong bát-nhã ba-la-mật, ông ấy dần dần trở thành người có được các pháp tạo nên một vị Phật, và sẽ đến gần giác ngộ viên mãn. Vì ông ấy biết rằng bằng cách tự luyện mình trong sự tu luyện này, theo đuổi trong đó, chiến đấu trong đó, ông ấy sẽ đem lại tất cả các quả của đời sống phạm hạnh, từ quả Nhập lưu đến cảnh giới Phật. Công đức của người chia xẻ bát-nhã ba-la-mật cũng sẽ lớn hơn công đức của người thiết định trong cảnh giới Duyên giác bất cứ số chúng sinh nào trong bất cứ thiên thế giới nào. [128] Hơn nữa, Kiều-thi-ca, nếu có người đưa tâm của chúng sinh nhiều như có trong cõi Diêm-phù-đề lên đến giác ngộ viên mãn; và nếu có người khác không những chỉ đưa tâm của họ lên đến giác ngộ viên mãn, nhưng thêm vào, cũng cho họ một tập sao chép bát-nhã ba-la-mật này; hay nếu người ấy trình một tập sao chép bát-nhã ba-la-mật này với một Bồ-tát bất thối chuyển, với hy vọng ngài ấy sẽ cho mình tu luyện trong đó, [129] nỗ lực vì nó, phát triển nó, và kết quả là sự phát triển, gia tăng, và phong phú của bát-nhã ba-la-mật, thực hiện Phật pháp; rồi so với người trước, người ấy sẽ được công đức lớn hơn, vì chắc chắn một khi tỉnh thức với giác ngộ viên mãn, người ấy sẽ chấm dứt những đau khổ của chúng sinh. Và công đức của người ấy sẽ lớn hơn, dù cho người kia đưa tâm của bất cứ số chúng sinh nào trong bất cứ thiên thế giới nào lên đến giác ngộ viên mãn. [130] Hay chúng ta hãy so sánh lại hai người: Người thứ nhất trình một tập sao chép bát-nhã ba-la-mật này với bất cứ số chúng sinh nào trong bất cứ thiên thế giới nào trở thành bất thối chuyển đối với giác ngộ viên mãn, nhất định lên đường vì nó; thêm vào, người thứ nhì sẽ xiển dương nó với họ, theo nghĩa và theo chữ. Người ấy sẽ không nhờ sức mạnh đó mà được nhiều công đức ư? [131]

     Thích-đề: Công đức của người ấy quả thực nhiều. Không dễ dàng gì tính được khối công đức đó, hay đếm nó, hay tìm được bất

cứ vật gì tương tự, giống nó, hay có thể so sánh với nó.

      Thế Tôn: Còn nhiều hơn nữa là công đức của một người giáo huấn và khuyên nhủ trong bát-nhã ba-la-mật những Bồ-tát bất thối chuyển đó muốn đạt giác ngộ viên mãn nhanh hơn. [133] Và hơn nữa, còn một Bồ-tát khác sẽ xuất hiện, nói rằng mình sẽ đạt được giác ngộ viên mãn nhanh hơn họ. Nếu có người giáo huấn và khuyên nhủ Bồ-tát đó trong bát-nhã ba-la-mật hiểu nhanh hơn, người ấy có công đức còn nhiều hơn nữa.

     Thích-đề: Đến độ mà một Bồ-tát đến gần giác ngộ viên mãn hơn, đến độ ngài ấy nên được giáo huấn và khuyên nhủ trong bát-nhã ba-la-mật, vì điều đó đưa ngài ấy càng ngày càng đến gần Chân Như hơn. Khi đến gần Chân Như hơn, ngài ấy ban nhiều quả và lợi thế cho những người đã phục vụ mình, tức là, những người mà  nhờ họ ngài ấy thọ hưởng y áo, bình bát đựng của bố thí, chỗ ở, và những phương thuốc trị bệnh. Công đức của ngài ấy bây giờ còn nhiều hơn, vậy thì sự thật ngài ấy đến gần giác ngộ viên mãn hơn. [134]

     Tu-bồ-đề: Nói hay, ngài Kiều-thi-ca. Ngài làm cho những người thuộc Bồ-tát thừa vững mạnh hơn, trợ giúp họ, đứng bên họ. Dù vậy ngài cũng nên hành động. Một thánh đệ tử muốn cống hiến trợ giúp tất cả chúng sinh, người ấy làm cho các Bồ-tát vững mạnh hơn trong thái độ đối với giác ngộ viên mãn, trợ giúp họ, đứng bên họ. Ấy là điều nên làm. Vì giác ngộ viên mãn của các Bồ-tát phát sinh từ bát-nhã ba-la-mật. Bởi vì, nếu các Bồ-tát không phát tâm bồ-đề, họ sẽ không tu luyện mình trong giác ngộ viên mãn hay trong sáu ba-la-mật, và như vậy họ sẽ không thức tỉnh với giác ngộ viên mãn. Nhưng bởi vì các Bồ-tát tự tu luyện trong sự tu luyện của Bồ-tát, trong sáu ba-la-mật, do đó họ phát tâm bồ-đề, vì thế họ thức tỉnh với giác ngộ viên mãn.

 

 

 

 

 

 Chương VI

 

HỒI HƯỚNGHOAN HỈ

 

  1. CÔNG ĐỨC VÔ THƯỢNG

CỦA HỒI HƯỚNGHOAN HỈ

 

     Di-lặc: Một mặt chúng ta có, về phần của Bồ-tát, việc làm công đức thấy được khi Bồ-tát ấy hoan hỉcông đức của người khác, và khi ngài ấy hồi hướng công đức ấy đến giác ngộ tột cùng của tất cả chúng sinh; mặt khác, về phần chúng sinh, có việc làm công đức thấy được khi bố thí, trì giới, khi phát triển thiền định. Trong những việc này, việc làm công đức của một Bồ-tát thấy được khi hoan hỉhồi hướng được tuyên bố là việc tốt nhất, việc thù thắng và cao cả nhất, việc chí caovô thượng, không gì trên nó, không gì bằng, làm bình đẳng những cái không bình đẳng

 

  1. TẦM MỨC CỦA HOAN HỈ

 

     Tu-bồ-đề: Một Bồ-tát, một đại sĩ, xem thế giới với mười phương của nó, trong mọi phương, mở rộng khắp nơi. Ngài ấy xem các thiên thế giới, hoàn toàn không thể đo lường, hoàn toàn ở bên kia tính toán, hoàn toàn vô lượng, hoàn toàn không thể nghĩ bàn, vô cùngvô biên.

     Ngài ấy xem trong thời quá khứ, trong mỗi một phương, trong mỗi một thiên thế giới, các Như Lai, hoàn toàn không thể đo lường, hoàn toàn ở bên kia tính toán, hoàn toàn vô lượng, hoàn toàn không thể nghĩ bàn, vô cùngvô biên, đã đạt được Niết-bàn cứu cánh trong cõi Niết-bàn ấy không lưu lại gì phía sau, – [136] dấu vết bị cắt đứt, dòng chảy bị cắt đứt, chướng ngại bị hủy diệt, những dẫn đạo qua [thế giới] hữu, nước mắt đã khô, với tất cả chướng ngại bị nghiền nát, gánh nặng được đặt xuống, hạnh phúc riêng của họ đã đạt được, nơi họ các xiềng xích [kiết sử] của hữu bị diệt, tâm tư được chánh kiến khéo giải thoát, và họ đã đạt được ba-la-mật cao

nhất trong sự kiểm soát toàn thể tâm họ.

     Ngài ấy xem họ, từ chỗ họ bắt đầu phát tâm bồ-đề, đến lúc họ đạt được giác ngộ viên mãn, cho đến cuối cùng nhập Niết-bàn vô dư, không để lại gì phía sau, và toàn thể quãng thời gian ấy đến khi thiện Pháp biến mất [như mỗi vị trong các Như Lai này thuyết giảng].  

     Ngài ấy xem xét khối lượng giới luật, khối lượng thiền định, khối lượng bát-nhã, khối lượng giải thoát, khối lượng tri kiến giải thoát của các Phật và các Thế Tôn đó.

     Thêm vào, ngài ấy xem kho tàng công đức hợp tác với sáu ba-la-mật, với sự đạt được các phẩm tính của một vị Phật, và với các ba-la-mật vô úy và các lực; và những cái đó hợp tác với sự hoàn thiện của các thần thông, của thông hiểu, của thệ nguyện; và kho tàng công đức hợp tác với sự thành tựu tri kiến của nhất thiết trí, với sự lo lắngchúng sinh, đại từđại bi, vô lượngvô số những phẩm tính Phật.

     Và ngài ấy cũng xem giác ngộ viên mãnhạnh phúc của nó, sự hoàn thiện quyền tối thượng trên tất cả các pháp, và sự thành tựu diệu lực tối thượng vô lượng và không thể chinh phục được mà nó chinh phục tất cả, và lực tri kiến của Như Lai về cái gì là thực có, cái nào không có che đậy, vướng mắc hay chướng ngại, không bình đẳng, làm bình đẳng những cái không bình đẳng, không thể so sánh, vô lượng, và lực tri kiến của Phật nổi bật giữa các lực ấy, tri kiến của một vị Phật, sự hoàn thiện mười lực, sự chứng đắc thong dong vô thượng kết quả từ bốn vô úy, [137] và sự đắc Pháp qua chứng ngộ thực tướng tối hậu của tất cả các pháp.

     Ngài ấy cũng xem sự chuyển bánh xe Pháp, cầm đuốc Pháp, đánh trống Pháp, làm đầy vỏ sò Pháp, vung kiếm Pháp, tuôn mưa Pháp, và làm tươi mát tất cả chúng sinh, bằng quà pháp, bằng sự trình quà Pháp với họ. Ngài ấy còn xem kho tàng công đức của tất cả những người được giáo dục và huấn luyện bởi sự chứng minh Pháp đó, – dù họ quan tâm pháp của chư Phật, hay pháp của Duyên giác, hay của Thanh văn, – tin vào chúng, cố định với chúng, và sẽ kết thúc trong giác ngộ viên mãn.

     Ngài ấy cũng xem kho tàng công đức, kết hợp với sáu ba-la-mật, của tất cả các Bồ-tát đó những vị mà các Phật và các Thế Tôn đó đã thọ ký giác ngộ viên mãn. Ngài ấy xem kho tàng công đức của tất cả những người thuộc thừa Duyên giác, và họ được thọ ký sự giác ngộ của Duyên giác. Ngài ấy xem việc làm công đức thấy được khi bố thí, trì giới và phát triển thiền định, của bốn chúng của các Phật và các Thế Tôn đó, tức là, của các tỳ-kheo và tỳ-kheo ni, các nam cư sĩnữ cư sĩ. Ngài xem các căn lành được trồng trong suốt thời gian đó bởi các Thần[31], Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ga-ru-đa, Khẩn-na-la, và Ma-hầu-la-già, bởi người và ma, và cũng bởi súc sinh, vào thời ấy các Phật và Bồ-tát đó đã chứng minh Pháp, và khi các ngài nhập Niết-bàn, và khi các ngài đã vào Bát Niết-bàn [138] – cảm ơn Phật, Thế Tôn, cảm ơn Pháp, cảm ơn Tăng-già, và cảm ơn những người có sự tu dưỡng tâm chân chánh. [Trong thiền định Bồ-tát ấy] tích tập thiện căn của tất cả những vị đó, tất cả lượng công đức đó không ngoại lệ hay dư thừa, cuộn nó lại thành một cuộn, cân nó, và hoan hỉ vì nó với sự hoan hỉ tuyệt vời và cao cả nhất, sự hoan hỉ cao nhất và cùng tột, không gì trên nó, không gì bằng, bình đẳng những cái không bình đẳng. Khi hoan hỉ như thế, ngài ấy thốt ra nhận định: “Tôi chuyển việc làm công đức thấy được khi hoan hỉ thành giác ngộ viên mãn. Nguyện nó nuôi dưỡng sự giác ngộ viên mãn [của chính tôi và của tất cả chúng sinh]!

 

  1. VẤN ĐỀ SIÊU HÌNH    

 

     Bây giờ, vì quan tâm những nền tảng này qua đó người thuộc thừa Bồ-tát hoan hỉ, quan tâm những trợ duyên và những quan điểm, qua đó người ấy dấy lên ý nghĩ, – những nền tảng, những trợ duyên khách quan và những quan điểm đó được hiểu theo cách như thế, chúng có được xử lý như là những dấu hiệu không?

     Di-lặc: Không, không được. [139]

     Tu-bồ-đề: Nếu người ấy xử lý cái nền tảng không hiện hữu đó

như là một dấu hiệu, và trợ duyên khách quan đó không hiện hữu, thì người ấy sẽ không có nhận thức điên đảo, ý nghĩ điên đảo, những cái thấy điên đảo ư? Vì cũng ở nơi người tham lam, khi người ấy phân biệt một thực thể [nền tảng] không hiện hữutư duy về nó – nghĩ rằng có thường trong vô thường, dễ chịu trong đau khổ, ngã trong cái gì vô ngã, thương yêu trong cái gì tỵ hiềm – ở đó dấy lên nhận thức điên đảo, ý nghĩ điên đảo, cái thấy điên đảo. Và vì nền tảng [thực thể], trợ duyên khách quan, quan điểm [đều không hiện hữu], giác ngộ cũng vậy, tâm [bồ-đề] cũng vậy, và tất cả các pháp cũng vậy, tất cả các yếu tố cũng vậy. Nhưng rồi trên nền tảng nào, do trợ duyên khách quan nào, hay quan điểm nào mà người ấy chuyển tâm gì thành giác ngộ viên mãn, hay việc làm công đức gì thấy được khi hoan hỉ mà người ấy chuyển thành giác ngộ cùng tột, chánh đẳng và viên mãn gì? 

     Di-lặc: Không nên dạy hay xiển dương điều này trước một Bồ-tát mới lên đường trong thừa. Vì Bồ-tát ấy sẽ mất niềm tin nhỏ bé mà nó là của ông ấy, sự thương mến, tịch tĩnh, và kính trọng nhỏ bé đó mà chúng là của ông ấy. Nên dạy và xiển dương điều này trước một Bồ-tát bất thối chuyển. Thay vì, một Bồ-tát được thiện tri thức nâng đỡ do đó sẽ không sợ, không trở nên thản nhiên, không bị ném bỏ, không phiền muộn, sẽ không chuyển tâm mình đi hướng khác, cũng không lo lắng, không run rẩy, sợ sệt, kinh hãi. [140] Và như thế Bồ-tát ấy nên chuyển việc làm công đức thấy được khi hoan hỉ vào nhất thiết trí

     Tu-bồ-đề: Ý nghĩ mà do đó người ta hoan hỉ và chuyển, hay hồi hướng [thiện căn nối kết với hoan hỉ] đó, – ý nghĩ [hoan hỉ] đó [vào lúc chuyển] thì tịch diệt, ngừng lại, ra đi, đảo ngược. Vì thế, ý nghĩ mà do nó người ta chuyển hướng đến giác ngộ viên mãn là gì? Hay ý nghĩ mà nó chuyển việc làm công đức thấy được khi hoan hỉ thành giác ngộ viên mãn là gì? Hay nếu hai ý nghĩ ấy không bao giờ gặp nhau, làm sao người ta có thể chuyển hay hồi hướng ý nghĩ bằng ý nghĩ? Cũng không thể chuyển [hay lật nhào, chuyển hóa] ý nghĩ ấy theo chừng mức người ta quan tâm đến tự tánh của nó.

Thích-đề: Những Bồ-tát mới lên đường trên xe đại thừa nên ý

thức về sự lo sợ khi nghe giải thích này. Rồi làm sao một Bồ-tát nên chuyển việc làm công đức thấy được khi hoan hỉ ấy vào giác ngộ viên mãn? Và làm sao người ta bám vào việc làm công đức thấy được khi hoan hỉ thành công khi bám vào ý nghĩ nối kết với hoan hỉ ấy, và làm sao người ta chuyển ý nghĩ nối kết với hoan hỉ ấy thành công khi chuyển nó?

thế Tôn giả Tu-bồ-đề hướng tâm mình đến Bồ-tát Di-lặc, định tâm nơi ngài ấy, và nói như vầy [141]: Ở đây Bồ-tát ấy xem công đức kết nối với các Phật và các Thế Tôn quá khứ, theo cách chúng ta đã miêu tả trước [tức các câu 135-38]. Ngài ấy tích lũy thiện căn của tất cả những cái đó, tất cả phẩm tính của các thiện căn đó không có ngoại lệ và dư thừa, cuộn nó thành một cuộn, cân nó, và hoan hỉ vì nó. Rồi ngài ấy chuyển việc làm công đức thấy được khi hoan hỉ qua giác ngộ viên mãn. [142] Làm sao khi chuyển, Bồ-tát ấy có thể khôngnhận thức điên đảo, ý nghĩ điên đảo, cái thấy điên đảo?

 

  1. LÀM SAO TRÁNH ĐƯỢC THẤY ĐIÊN ĐẢO

 

     Di-lặc: Vị Bồ-tát ấy không phải trở thành người nhận thức ý nghĩ, vì kết quả của ý nghĩ do đó mà ngài ấy chuyển. Như thế việc làm công đức thấy được khi hoan hỉ trở thành cái gì đó được chuyển thành giác ngộ viên mãn. Nếu không nhận thức ý nghĩ đó, [nhận diện nó] như là ‘đây là ý nghĩ đó,’ thì một Bồ-tát không có nhận thức, ý nghĩ, hay thấy điên đảo. Nhưng nếu vị ấy nhận thức ý nghĩ mà do nó ngài chuyển, [nhận diện nó] như là ‘đây là ý nghĩ đó,’ thì vị ấy trở thành người nhận thức ý nghĩ. Kết quả, vị ấy có nhận thức, ý nghĩ, và thấy điên đảo. Nhưng một Bồ-tát chuyển đúng, không sai, khi vị ấy nhận thức và đem đến tâm ý nghĩ chuyển [143] theo cách như thế mà vị ấy xem nó là ‘chỉ tịch diệt, tịch diệt,’ là ‘ngừng lại, ra đi, đảo ngược’; và khi vị ấy phản chiếu thấy rằng cái gì tịch diệt cái ấy không thể chuyển được; và [tịch diệt, v.v…] này chính là bản tánh của các pháp, cũng là của ý nghĩ mà do đó người ta chuyển, cũng là của các pháp qua đó người ta chuyển, cũng như của các pháp mà người ta chuyển đến chúng. Như thế Bồ-tát ấy nên chuyển. Vị ấy nên [các câu 145-49] xem các Phật vị lai, các Phật hiện tại, các Phật quá khứ, vị laihiện tại theo cùng cách vị ấy xem các Phật quá khứ. Trong những hoàn cảnh nào vị ấy không có nhận thức, ý nghĩ, hay cái thấy điên đảo? Nếu trong khi chuyển, vị ấy nghĩ đến các pháp là diệt, dừng lại, ra đi, đảo ngược, và pháp được chuyển thành là không thể diệt, thì nó [thiện căn] trở thành cái được chuyển thành giác ngộ viên mãn. Vì vị ấy không an định trong quá trình hồi hướng. Hơn nữa nếu vị ấy xem không pháp nào có thể chuyển thành pháp, thì nó cũng trở thành cái được chuyển thành giác ngộ viên mãn. Như thế vị Bồ-tát chuyển ấy không có nhận thức, ý nghĩ hay cái thấy điên đảo. Vì vị ấy không ở lại trong quá trình hồi hướng đó. Hơn nữa, nếu vị ấy tri kiến rằng ý nghĩ không thể nhận thức ý nghĩ, pháp không thể tri kiến pháp, thì nó cũng trở thành cái được chuyển thành giác ngộ viên mãn. Đây là sự thuần thục vô thượng của Bồ-tát ấy. Nhưng mặt khác, nếu một Bồ-tát nhận thức sự tích lũy công đức đó, thì vị ấy không thể chuyển nó thành giác ngộ viên mãn. Bởi vì vị ấy ở lại trong quá trình hồi hướng đó. Thêm nữa nếu vị ấy phản chiếu rằng sự tích lũy công đức này cũng ly cách và tĩnh lặng, rằng việc làm công đức ấy cũng thấy được khi hoan hỉ [150], thì vị ấy chuyển thành giác ngộ viên mãn. Thêm vào, nếu vị ấy vẫn không nhận thức rằng tất cả những sự cố hữu vi thì tĩnh lặng và ly cách, thì đó là bát-nhã ba-la-mật của Bồ-tát ấy. Nhưng vị ấy không chuyển thành giác ngộ viên mãn nếu vị ấy nhận thức rằng cái này ở đây là thiện căn của các Phật, các Thế Tôn đã đi đến Bát Niết-bàn; rằng thiện căn đó chỉ như [huyễn] như quá trình hồi hướng; và rằng [ý nghĩ] mà do đó nó được chuyển cũng thuộc cùng loại, có cùng tướng, thuộc cùng hạng, có cùng tự tánh. Vì các Phật và các Thế Tôn không cho phép sự hồi hướng xảy ra qua tướng. Vị ấy không nhớ cũng không chuyển [thiện căn đó] đến giác ngộ viên mãn nếu vị ấy đem lại một tướng bằng cách phản chiếu những gì là quá khứ thì tịch diệt, ngừng lại, đảo ngược; những gì là vị lai thì chưa đến; và cái thuộc hiện tại không an định thì khả đắc, và cái gì bất khả đắc thì không có tướng hay tầm cỡ. Mặt khác, vị ấy cũng chuyển đến giác ngộ viên mãn nếu vị ấy không đem lại một tướng hay ghi nhớ kết quả của sự hoàn toàn không chú ý, nếu vị ấy không chú ý là kết quả của sự thiếu chú tâm, hay thiếu hiểu biết. Nhưng thiện căn đó trở thành cái được chuyển thành giác ngộ viên mãn do duyên mà vị ấy ghi nhớ tướng đó, nhưng vị ấy không xem nó là tướng. Như thế Bồ-tát ấy nên tu luyện mình trong đó. Nên biết điều này là sự thiện xảo trong các phương tiện của vị ấy. Qua sự thiện xảo trong các phương tiện đó, khi vị ấy chuyển thiện căn, thì vị ấy ở gần nhất thiết trí. Bồ-tát ấy muốn tu luyện mình trong phương tiện thiện xảo của mình, tuy nhiên, nên luôn luôn nghe bát-nhã ba-la-mật này, nghiên cứu nó, và học hỏi nó. [151] Vì không có sự trợ giúp của bát-nhã ba-la-mật người không được dạy không thể vào được công việc hồi hướng bằng phương tiện bát-nhã ba-la-mật. Nhưng không nên khẳng định với kết quả rằng nhờ bát-nhã ba-la-mật có thể chuyển hóa việc làm công đức ấy thành giác ngộ viên mãn. Vì đoạn diệt là những đời sống cá nhân đó, doạn diệt là những nghiệp hành, tĩnh lặng, ly cách, không có căn bản. Hơn nữa, người đó đã mang lại tướng, tạo ra phân biệt, người ấy nhận thức cái gì có thực trong cái gì không có thực tựa như nó có thực, và người ấy chuyển hóa cái căn bản thành cái không có căn bản. Các Phật và các Thế Tôn không cho phép thiện căn của người ấy trở thành cái được chuyển hóa thành giác ngộ viên mãn theo cách này. Vì chúng đối với người ấy trở thành cái đại căn bản. Ngay cả Bát Niết-bàn của các Phật, các Thế Tôn người ấy cũng xem như là tướng và phân biệt, người ấy đạt Niết-bàn theo một quan điểm, và nó không phải sự hồi hướng được người ta nhận thức là một căn bản mà các Như Lai gọi là nguồn đại hạnh phúc. Vì quá trình hồi hướng này không phải không có độc, không phải không có gai. Nó giống như thức ăn có vẻ tuyệt hảo, nhưng thực sự nó có độc. Màu, mùi, vị và xúc của nó dường như đáng ham muốn, tuy nhiên, nó có độc nên tránh và những người cẩn trọng không ăn. Những người khờ dại và những người ngu đần có thể nghĩ rằng nên ăn nó. Màu, mùi, vị, và xúc của thức ăn đó hứa hẹn hạnh phúc, nhưng sự chuyển hóa của nó trong người ăn nó sẽ dẫn đến kết cuộc đau đớn. Kết quả, người ấy chết, hay đau chết người. Cũng vậy một vài [người nhận thức cái căn bản] nắm bắt một cách tệ hại nghĩa của những gì được khéo dạy, phân biệt nó một cách tệ hại, làm chủ nó một cách tệ hại, và hiểu lầm nó, không hiểu nghĩa như thực, họ sẽ giáo huấn [152] và khuyên nhủ những người khác xem khối công đức của các Phật và các Thế Tôn quá khứ, vị laihiện tại theo cách đã miêu tả trước [các câu 135-38], để hoan hỉ nó, và chuyển việc làm công đức thấy được khi hoan hỉ thành giác ngộ viên mãn. Như thế sự chuyển đó, khi được phương tiện tướng thực hiện, chuyển thành độc tính. Nó giống như thức ăn có độc đã đề cập trước đây. Không thể có sự chuyển nào cho người nhận thức cái căn bản. Vì cái căn bản có độc [có tầm mức]. Vì thế người thuộc thừa Bồ-tát không nên tu luyện mình như thế. Vậy thì người ấy nên tu luyện mình như thế nào? Người ấy nên bám vào thiện căn của các Phật và Thế Tôn của quá khứ, vị laihiện tại như thế nào? Và làm sao bám được một cách thành công vào cái mà nó trở thành một cái gì đó? Người ấy nên chuyển như thế nào? Và làm sao nó trở thành cái được chuyển thành giác ngộ vô thượng thành công? Ở đây người con trai hay người con gái của một gia đình thiện lương thuộc thừa Bồ-tát, và không muốn phỉ báng Như Lai, như thế nên hoan hỉ vì tất cả thiện căn đó, như thế nên chuyển nó: “Con hoan hỉ trong thiện căn đó xem như là các Như Lai với Phật tri kiếnPhật nhãn của các ngài biết và thấy nó, – loại của nó là như thế, hạng của nó là như thế, phẩm tính của nó là như thế, tự tánh của nó là như thế, tướng của nó là như thế, và cách hiện hữu của nó là như thế. Và con chuyển nó theo cách như thế như các Như Lai có thể cho phép thiện căn đó được chuyển thành giác ngộ viên mãn.” Khi hoan hỉ như thế, chuyển như thế, một Bồ-tát trở thành không có lỗi. Sự chánh đáng của chư Phật, chư Thế Tôn, được hoan hỉ. Thiện căn ấy trở thành cái được chuyển thành giác ngộ viên mãn. Và ngài ấy không phỉ báng các Như Lai đó. Như vậy, sự chuyển của ngài ấy trở thành sự chuyển không có độc, một sự chuyển vĩ đại, một sự chuyển thành pháp giới; nó trở thành hoàn hảo, hoàn toàn hoàn hảo, qua nhiệt tâm và quyết tâm của người chuyển. Hơn nữa, người thuộc thừa Bồ-tát nên chuyển với sự thông hiểu rằng tất cả giới, định, huệ, giải thoát, tri kiến giải thoát, không gồm trong dục giới, sắc giới, vô sắc giới, và chúng không phải là quá khứ, vị lai hay hiện tại. Vì mọi sự vật ở trong ba thời hay [154] trong ba giới thì không bao gồm [trong thực tướng tối hậu]. Vậy thì sự chuyển cũng không bao gồm, và pháp [nghĩa là, cảnh giới Phật] mà quá trình chuyển hóa được chuyển thành cũng vậy, – nếu ngài ấy chỉ tin chắc điều đó. Khi một Bồ-tát chuyển theo cách như thế, ngài ấy không bao giờ có thể mất chuyển nữa, và nó trở thành không bao gồm, không có độc, một sự chuyển vĩ đại, một sự chuyển của pháp giới, hoàn hảo, hoàn toàn hoàn hảo. Nhưng mặt khác, khi ngài ấy ở lại nơi sự chuyển, và xem nó như là một tướng, thì vị ấy chuyển sai. Tuy nhiên, một Bồ-tát chuyển với ý tưởng rằng qua sự chuyển này nó thành pháp giới, vì các Phật, các Thế Tôn biết và cho phép, thiện căn đó trở thành cái được chuyển thành giác ngộ viên mãn, đã chuyển thành công. Đây là phương pháp chuyển đúng. Và theo cách này nó trở thành cái được chuyển thành giác ngộ vô thượng, đã chuyển thành công.  

     Thế Tôn: Khéo nói, Tu-bồ-đề[32], khéo nói. Ông thực hiện chức năng của Đạo sư khi ông chứng minh Pháp với các Bồ-tát. Vì sự chuyển này, sự chuyển của pháp giới, đó là sự chuyển của một Bồ-tát. Ông ấy nghĩ: Vì các Phật và Thế Tôn biết và thấy thiện căn trong pháp giới này, – loại của nó là như thế, hạng của nó là như thế, phẩm tính của nó là như thế, tự tánh của nó là như thế, tướng của nó là như thế, cách hiện hữu của nó là như thế, – vì thế tôi hoan hỉ nó. Và vì các ngài ấy cho phép, nên tôi chuyển nó.” [155]

 

  1. QUÁN XÉT CÔNG ĐỨC

 

     Khối công đức của một Bồ-tát, sinh ra từ sự chuyển pháp giới của ngài ấy, được tuyên bốthượng đẳng so với sự tích lũy công đức về phần một người tạo nên và an định trong mười đường nghiệp thiện tất cả chúng sinh trong đại thiên thế giới vô số như cát sông Hằng. Và nó cũng thượng đẳng nếu tất cả chúng sinh đó được bốn thiền, hay bốn Tâm Vô lượng, hay bốn chứng đắc vô tướng, hay [156] năm thần thông; hoặc cũng bằng như vậy nếu họ trở thành những bậc Nhập lưu, v.v…, đến: những bậc Duyên giác. Đây không phải là tất cả. [157] Nếu tất cả chúng sinh trong tất cả các thiên thế giới đã lên đườnggiác ngộ vô thượng; và này Tu-bồ-đề, nếu tất cả những chúng sinh đó cung cấp, trong vô số kiếp như cát sông Hằng, cho tất cả chúng sinh trong những đại thiên thế giới khác nhau, vô số như cát sông Hằng, tất cả [những gì] họ có thể cần; nhưng họ sẽ cúng dường trong khi nhận thức cái căn bản. Và khi tiến hành theo cách này, nếu chúng ta tưởng tượng tất cả những chúng sinh đó là một chúng sinh duy nhất, và nếu mỗi một Bồ-tát, trong vô số kiếp như cát sông Hằng, cung cấp cho tất cả các Bồ-tát đó tất cả [những gì] họ có thể cần, và đối xử họ với lòng kính trọng; nếu như thế mỗi một vị trong tất cả các Bồ-tát đó, nếu tất cả họ cùng nhau cúng dường vật đó, bây giờ các Bồ-tát đó nhờ sức mạnh ấy có được công đức nhiều không?

     Tu-bồ-đề: Quả thật rất nhiều, Ôi Thế Tôn. Khối công đức đó sẽ thách thức sự tính toán. Nếu nó là một vật thể vật chất, nó không thể tìm được một chỗ ngay cả trong các đại thiên thế giới vô số như cát sông Hằng.

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Và sự tích lũy công đức này, do bố thí về phần của những Bồ-tát nhận thức cái căn bản, là vô cùng nhỏ so với công đức do một người thuộc thừa Bồ-tát tạo ra, do bát-nhã ba-la-mậtphương tiện thiện xảo nắm giữ, và chuyển thiện căn đó thành giác ngộ viên mãn bằng phương tiện chuyển này của pháp giới. [158] Vì mặc dù các Bồ-tát nhận thức cái căn bản đã bố thí nhiều phẩm vật tốt, họ cũng tính chúng thành một cái ‘rất ít.’

     Vì thế hai vạn Thiên của Bốn Đại Thiên Vương, chắp tay lễ bái Thế Tôn, và nói: “Sự chuyển hóa thành nhất thiết trí của các thiện căn này do những người được bát-nhã ba-la-mậtphương tiện thiện xảo hộ trì, là một sự chuyển hóa vĩ đại của các Bồ-tát ấy. Bởi vì nó vượt qua sự tích lũy công đức, phát xuất từ bố thí, của những Bồ-tát đó đặt chân trên một cái gì dù nó có thể vĩ đại đến đâu.”

     Vì thế một trăm ngàn thiên của trời Ba mươi ba lại mưa xuống

trên Thế Tôn hoa trời, nhang thơm, nước hoa, vòng hoa, dầu thơm, phấn thơm, ngọc và y phục. Họ sùng bái Thế Tôn với lọng trời, phướn, chuông, cờ, và những hàng đèn vây quanh tất cả, với nhiều loại sùng bái. Họ chơi các nhạc cụ của trời [để tôn vinh Thế Tôn] và họ nói: [159] “Cuộc chuyển hóa pháp giới này là một cuộc chuyển hóa vĩ đại của các Bồ-tát. Bởi vì nó vượt qua khối công đức tích lũy kết quả từ phẩm vật của các Bồ-tát đặt cái căn bản nơi cái gì đó, bởi vì sự chuyển hóa vĩ đại đó được bát-nhã ba-la-mậtphương tiện thiện xảo hộ trì.”

     Tất cả các hạng Thiên khác xuất hiện nơi cảnh, sùng bái Thế Tôn, và cất giọng nói. Họ nói: “Kỳ diệu, Ôi Thế Tôn, đến độ sự chuyển hóa thiện căn do các Bồ-tát được bát-nhã ba-la-mậtphương tiện thiên xảo hộ trì vượt qua khối công đức của các Bồ-tát đặt cái căn bản nơi một cái gì đó, mặc dù nó tích lũy trong thời gian lâu như thế, và được nhiều sự tận lực như thế đem lại.”

     Vì thế, Thế Tôn nói với chư thiên, từ các thiên thuộc cõi Tịnh cư trở xuống: “Chúng ta hãy để lại trường hợp tích lũy công đức của tất cả chúng sinh trong vô số thiên thế giới đã nhất định lên đườnggiác ngộ viên mãn, và đã bố thí phẩm vật vì muốn đạt giác ngộ viên mãn. [160] Cùng cách ấy chúng ta hãy xem trường hợp tất cả chúng sinh trong vô số thiên thế giới, lập nguyện đạt giác ngộ viên mãn, và phát tâm bồ-đề, sẽ bố thí phẩm vật trên mức độ rộng lớn như đã miêu tả trước [tức trg. 157]. Mặt khác, chúng ta xem một Bồ-tát, người được bát-nhã ba-la-mậtphương tiện thiện xảo bảo trì, bám giữ các thiện căn của các Phật, Bồ-tát, Duyên giác, và Thanh văn, và của tất cả những chúng sinh khác cũng như những thiện căn đã được gieo trồng, sẽ được gieo trồng, và đang được gieo trồng, và hoan hỉ vì tất cả theo cách đã miêu tả trên. Rồi sự tích lũy công đức về phần của các Bồ-tát trước kia bố thí phẩm vật trong khi nhận thức cái căn bản – chỉ vì họ nhận thức cái căn bản – sẽ là vô cùng ít. [161]

     Tu-bồ-đề: Thế Tôn miêu tả sự hoan hỉthiện căn của tất cả chúng sinh như là sự hoan hỉ thù thắng nhất. Sự hoan hỉ này là sự

hoan hỉ thù thắng nhất vì lý do gì?

     Thế Tôn: Nếu một người thuộc thừa Bồ-tát không nắm bắt các pháp quá khứ, vị laihiện tại, người ấy không quan tâm đến chúng, không nhắm vào chúng, không cấu tạo chúng, không phân biệt chúng, không thấy cũng không xem chúng [162] nếu người ấy quán xét chúng với sự tin quyết rằng tất cả các pháp được cấu dệt bởi cấu trúc tư tưởng, bất sinh, không tới, không đến, không đi, và không một pháp nào từng được sinh hay bị diệt trong quá khứ, vị lai hay hiện tại; nếu một người quán các pháp đó theo cách như thế, thì sự hoan hỉ của người ấy phù hợp với chân tánh của các pháp đó, và sự chuyển hóa [công đức] của một người thành giác ngộ viên mãn cũng như vậy. Đây là lý do thứ nhất tại sao sự hoan hỉ của Bồ-tát là sự hoan hỉ thù thắng nhất. Việc làm công đức thấy được khi bố thí về phần của vị Bồ-tát nhận thức cái căn bản, có cái căn bản trong thấy, thì vô cùng nhỏ so với sự chuyển hóa thiện căn do vị Bồ-tát đó làm. Hơn nữa, Tu-bồ-đề, người thuộc thừa Bồ-tát muốn hoan hỉ trong thiện căn của tất cả các Phật và Thế Tôn, nên hoan hỉ theo cách như vầy: Vì giải thoát [không phát sinh, vì những chướng ngại do cấu nhiễm và do những cái có khả năng nhận thức diệt], vật bố thí cũng vậy, giới luật cũng vậy, v.v…; sự hoan hỉ cũng vậy, việc làm công đức thấy được khi hoan hỉ cũng vậy; [163] vì giải thoát, chuyển hóa cũng vậy, các Phật và Thế Tôn, Duyên giác, và Thanh văn đã nhập Bát Niết-bàn cũng vậy; vì giải thoát, các pháp quá khứ, hay đã diệt; cũng như các pháp vị lai, hay chưa sinh; và các pháp hiện tại, hay đang tiến hành bây giờ; vì giải thoát tất cả chư Phật và Thế Tôn quá khứ, vị laihiện tại cũng vậy. Như thế, tôi hoan hỉ với sự hoan hỉ thù thắng nhất trong chân tánh của các pháp, không buộc, không mở, không vướng mắc. Từ đó tôi chuyển việc làm công đức thấy được khi hoan hỉ thành giác ngộ viên mãn; nhưng thực sự không có sự chuyển xảy ra, bởi vì không có gì chuyển, không có gì diệt. Đây là lý do thứ nhì tại sao sự hoan hỉ của Bồ-tát ấy là sự hoan hỉ thù thắng nhất. [164]

     Nhưng trở lại vấn đề công đức. Bây giờ chúng ta hãy xét trường hợp tất cả chúng sinh trong vô số các thiên thế giới đã nhất định lên đườnggiác ngộ viên mãn, và để tiến đến giác ngộ viên mãn, trong vô số kiếp họ sẽ đảm nhận bổn phận giữ giới, tức là sự hành xử tốt của thân, ngữ và ý, – trừ khi nhận thức cái căn bản. Tuy nhiên, sự tích lũy công đức của họ thì vô cùng nhỏ so với sự tích lũy công đức của một Bồ-tát phát xuất từ hoan hỉ, – chỉ vì họ nhận thức cái căn bản. [165] Và cũng giống như vậy nếu tất cả chúng sinh đó trong vô số kiếp thực hành nhẫn nhục, dù họ mãi bị bạo hành, đánh đập và chửi mắng rất nhiều; [166] hay nếu họ thực hành tinh tấn, và không ở trong hoàn cảnh giãi đãi hay hôn trầm, quăng ném hay chinh phục; [168] hay cuối cùng, nếu họ nhập định. Bao lâu họ còn thực hiện những thực hành đó trong khi nhận thức cái căn bản, công đức của họ sẽ vô cùng nhỏ bé so với công đức của một Bồ-tát hoan hỉ vì các thiện căn của tất cả chúng sinh với sự hoan hỉ thù thắng nhất, chuyển hóa thiện căn này thành giác ngộ vô thượng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương VII      

 

          ĐỊA NGỤC

 

  1. TÁN CA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Xá-lợi-phất: Bát-nhã Ba-la-mật, Ôi Thế Tôn, là sự thành tựu tri kiến nhất thiết trí.

     Thế Tôn: Xá-lợi-phất, Đúng như ông nói.

     Xá-lợi-phất: Bát-nhã ba-la-mật ban cho ánh sáng, Ôi Thế Tôn. Con lễ bái bát-nhã ba-la-mật! Bát-nhã ba-la-mật đáng tôn kính. Bát-nhã ba-la-mật không uế trược, toàn thế gian không thể làm ô uế bát-nhã ba-la-mật. Bát-nhã ba-la-mật là nguồn ánh sáng. Bát-nhã ba-la-mật lấy đi bóng tối của mọi người trong ba giới, và dẫn ra khỏi bóng tối mù lòa do ô nhiễmtà kiến gây nên. Chúng ta có thể tìm được chỗ trú trong bát-nhã ba-la-mật. Thù thắng nhất là những việc làm của bát-nhã ba-la-mật. Bát-nhã ba-la-mật khiến chúng ta tìm sự an toàn của các giác chi. Bát-nhã ba-la-mật rọi ánh sáng cho người mù, đem ánh sáng đến như thế tất cả sợ hãiphiền não có thể bị bỏ rơi. Bát-nhã ba-la-mật có năm mắt, và chỉ đường cho tất cả chúng sinh. Bát-nhã ba-la-mật tự có nhãn căn. Bát-nhã ba-la-mật giải tán sự ảm đạmtối tăm của mê hoặc. [171] Bát-nhã ba-la-mật không làm gì tất cả các pháp. Bát-nhã ba-la-mật hướng dẫn những người đi lạc vào đường tà trở lại đường chánh. Bát-nhã ba-la-mật đồng nhất với nhất thiết trí. Bát-nhã ba-la-mật không bao giờ sản sinh bất cứ pháp nào, bởi vì bát-nhã ba-la-mật bỏ những cặn bã liên hệ với cả hai loại che phủ, những cái do ô nhiễm sinh ra và những cái do những cái có khả năng nhận thức sinh ra. Bát-nhã ba-la-mật không đoạn bất cứ pháp nào. Tự chẳng đoạn và chẳng sinh là bát-nhã ba-la-mật. Bát-nhã ba-la-mật là mẹ của chư Bồ-tát, vì tánh không của sở tướng. Là thí chủ trân bảo của tất cả Phật pháp, bát-nhã ba-la-mật sinh ra mười lực (của Phật). Bát-nhã ba-la-mật không bị nghiền nát. Bát-nhã ba-la-mật bảo vệ những người không có sự bảo vệ, với sự trợ giúp của bốn vô úy. Bát-nhã ba-la-mậtthuốc giải độc sinh tử. Bát-nhã ba-la-mậttri kiến rõ ràng về tự tánh của tất cả các pháp, vì bát-nhã ba-la-mật không lạc đường. Bát-nhã ba-la-mật của chư Phật, chư Thế Tôn, đặt bánh xe Pháp vào chuyển động.

 

  1. ƯU THẾ CỦA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

TRÊN CÁC BA-LA-MẬT KHÁC

 

     Một Bồ-tát nên trụ trong bát-nhã ba-la-mật như thế nào, chăm sóc và tôn kính bát-nhã ba-la-mật như thế nào?

     Thế Tôn: Nên đối xử bát-nhã ba-la-mật như chính vị Đạo sư trong mọi cách.

     Lúc ấy Thích-đề hỏi Xá-lợi-phất: Do đâu và vì lý do gì ngài Xá-lợi-phất thánh thiện nêu lên câu hỏi này? [172]

     Xá-lợi-phất: Nó khởi lên bởi vì tôi nghe nói rằng “một Bồ-tát được bát-nhã ba-la-mậtphương tiện thiện xảo hộ trì, chuyển hóa việc làm công đức thấy được khi hoan hỉ, thành nhất thiết trí, vượt qua khỏi toàn bộ việc làm công đức khi bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, và thiền định của tất cả các Bồ-tát theo cái căn bản.” Ấy chỉ là bát-nhã ba-la-mật hướng dẫn năm ba-la-mật đi lên con đường đến nhất thiết trí. Cũng như, thưa ngài Kiều-thi-ca, những người sinh ra bị mù, một trăm, hay một ngàn, hay một trăm ngàn trong bọn họ, không có người dẫn đường, họ không thể đi theo con đường và đến một ngôi làng, thị trấn hay thành phố; cũng vậy, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh thấn và thiền định tự chúng không thể gọi là ‘ba-la-mật’ được vì không có bát-nhã ba-la-mật chúng như là sinh ra đã bị mù, không có người dẫn đường không thể đi lên con đường đến nhất thiết trí, càng ít có thể đến được nhất thiết trí. Tuy nhiên, khi bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấnthiền định được bát-nhã ba-la-mật duy trì, thì chúng dược gọi là ‘ba-la-mật,’ vì lúc ấy [173] năm ba-la-mật có được một nhãn căn cho phép chúng đi lên con đường đến nhất thiết trí và đến nhất thiết trí.

 

  1. BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT KHÔNG TÌM ĐƯỢC GÌ CẢ

     Xá-lợi-phất nói với đức Thế Tôn: Một Bồ-tát nên thành tựu bát-nhã ba-la-mật như thế nào?

     Thế Tôn: Ông ấy nên xem sự không thành tựu của sắc, v.v… Sự không thành tựu của năm uẩn, đó gọi là ‘sự thành tựu của bát-nhã ba-la-mật.’ Như thế, bởi vì không có gì bị tác động, sự thành tựu của năm uẩn được gọi là sự thành tựu của bát-nhã ba-la-mật.

     Xá-lợi-phất: Khi bát-nhã ba-la-mật được sự thành tựu như thế thành tựu, nó tìm được pháp gì?

     Thế Tôn: Khi được thành tựu theo cách như thế, bát-nhã ba-la-mật không tìm được một pháp nào, và kết quả thật sự bát-nhã ba-la-mật đến chỗ trở thành ‘bát-nhã ba-la-mật’ có kiểu mẫu.

     Thích-đề: Thế thì, Ôi Thế Tôn, bát-nhã ba-la-mật này không tìm được ngay cả nhất thiết trí?

     Thế Tôn: Không tìm được vì nếu nó là cái căn bản, hay một quá trình của tâm, hay một hành động ý nguyện. [174]

     Thích-đề: Rồi làm sao nó tìm được?

     Thế Tôn: Đến mức nó không tìm được, đến mức đó nó tìm được.

     Thích-đề: Kỳ diệu, Ôi Thế Tôn, là thấy mức độ mà bát-nhã ba-la-mật này không tìm được cũng không diệt bất cứ pháp nào. Vì mục đích không sinh và không diệt của tất cả các pháp dựng lập bát-nhã ba-la-mật, tuy nhiên không thực sự hiện diện.

     Tu-bồ-đề: Nếu một Bồ-tát cũng nhận thức điều này, thì ngài ấy sẽ tránh xa bát-nhã ba-la-mật này, xem nó như là không xứng đáng và không ý nghĩa, và không hành động với nó.

     Thế Tôn: Điều này hoàn toàn đúng. Vì nơi nào bát-nhã ba-la-mật được chiếu sáng, nơi đó sắc không trở nên được chiếu sáng, các uẩn kia cũng không, các quả của đời sống phạm hạnh cũng không, cho đến cảnh giới Phật.

     Tu-bồ-đề: Bát-nhã ba-la-mật này là một ba-la-mật vĩ đại, ôi Thế Tôn! [175]

 

  1. TẠI SAO BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT VĨ ĐẠI

 

     Thế Tôn: Ý ông thế nào, Tu-bồ-đề, bát-nhã ba-la-mật này là một

ba-la-mật vĩ đại theo cách gì?

     Tu-bồ-đề: Nó không làm cho sắc, v.v…, lớn hơn hay nhỏ hơn, nó không kết hợp hay phân tán sắc, v.v…Nó cũng không làm các lực của một Như Lai mạnh hơn hay yếu hơn, cũng không kết hợp hay phân tán các lực ấy. Nó không làm cho ngay cả nhất thiết trí đó lớn hơn hay nhỏ hơn, cũng không kết hợp hay phân tán nhát thiết trí. Vì nhất thiết trí không bị kết hợp và phân tán. Nếu vị Bồ-tát nhận thức ngay cả điều này, thì ngài ấy không theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật, còn nhiều hơn thế biết bao nếu ngài ấy hình thành ý niệm: Được phú bẩm tri kiến nhất thiết trí, như vậy tôi sẽ chứng minh pháp cho chúng sinh, như vậy tôi sẽ dẫn dắt những chúng sinh ấy đến Niết-bàn cứu cánh.’ Vì sự nhận biết này của chúng sinh như là sự thật căn bản, khi ngài ấy nói, “Tôi sẽ dẫn dắt những chúng sinh đó đến Niết-bàn cứu cánh,” không thể là kết quả của bát-nhã ba-la-mật. Đây quả thật sẽ là một căn bản lớn của sự nhận biết về phần ngài ấy. Vì sự vắng mặt của tự tánh nơi chúng sinh nên biết như là thuộc về chính yếu tánh của bát-nhã ba-la-mật. Nên biết rằng bát-nhã ba-la-mật không có tự tánh bởi vì chúng sinh không có tự tánh; rằng bát-nhã ba-la-mật ly cách bởi vì chúng sinh ly cách; rằng bát-nhã ba-la-mật là không thể nghĩ bàn bởi vì chúng sinh là [không thể nghĩ bàn]; [176] rằng bát-nhã ba-la-mậtbản tánh bất hoại bởi vì chúng sinh có [bản tánh bất hoại]; rằng bát-nhã ba-la-mật thực tế không trải qua quá trình dẫn đến giác ngộ bởi vì chúng sinh không [trải qua]; rằng bát-nhã ba-la-mật được xem là như thực, không trải qua quá trình đưa đến giác ngộ bởi vì chúng sinh là như thực, không trải qua quá trình đó; rằng cách mà theo đó Như Lai đi đến sở hữu đầy đủ các lực của ngài nên hiểu theo cách chúng sinh đi đến sở hữu đầy đủ lực của họ. Do đây mà bát-nhã ba-la-mật là một ba-la-mật vĩ đại.

 

  1. NGUYÊN NHÂN TIN BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Xá-lợi-phất: Các Bồ-tát tái sinh ở đây, và sẽ tin quyết bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này ở đây, không phân vân, nghi ngờ hay sững sốt, nơi các ngài ấy tịch và các ngài ấy thực hành trong bao lâu, các ngài ấy sẽ theo giáo pháp của bát-nhã ba-la-mật này, hiểu nghĩa của nó, và giáo huấn người khác trong nó cả hai, bằng phương pháp bày tỏ nghĩa và bằng phương pháp bày tỏ giáo pháp không?

     Thế Tôn: Nên biết rằng một Bồ-tát như thế tái sinh ở đây sau khi ông ấy chết ở các thiên thế giới khác nơi ông ấy tôn vinh và tham vấn các Phật, các Thế Tôn. Bất cứ Bồ-tát nào, sau khi tịch ở các thiên thế giới khác nơi ông ấy tôn vinh và tham vấn các Phật, các Thế Tôn, tái sinh ở đây, khi ông ấy nghe dạy bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, đồng nhất bát-nhã ba-la-mật này với Đạo sư, [177] và tin chắc rằng ông ấy mặt đối mặt với Đạo sư, rằng ông ấy thấy Đạo sư. Khi người ta dạy bát-nhã ba-la-mật, ông ấy chú ý lắng nghe, tỏ lòng kính trọng nó trước khi nghe nó, và không cắt ngắn câu chuyện. Nên biết một Bồ-tát như thế là một người thực hành đã lâu, đã tôn vinh nhiều vị Phật.

     Tu-bồ-đề: Có thể nào nghe bát-nhã ba-la-mật ấy, phân biệt và quán xét nó, nói những câu khẳng định và phản chiếu nó gì không? Người ta có thể giải thích, hay học, bởi vì những biểu tượng, biểu hiệu hay dấu hiệu nào đó, đây là bát-nhã ba-la-mật, hay ở đây, đây là bát-nhã ba-la-mật, hay ở đó, đó là bát-nhã ba-la-mật không?

     Thế Tôn: Quả thực không thể, Tu-bồ-đề. Bát-nhã ba-la-mật này không thể xiển dương, hay nghe, hay phân biệt, hay quán xét, hay tuyên bố, hay phản chiếu được bằng phương tiện các uẩn, hay bằng phương tiện các giới, hay bằng phương tiện các nhập. Đây là hậu quả của sự thật là tất cả các pháp đều ly cách, tuyệt đối ly cách. Cũng không thể hiểu bát-nhã ba-la-mật bằng các uẩn, các giới, hay các nhập. Vì chính các uẩn, các giới và các nhập đều rỗng không, ly cách và tĩnh lặng. Chính như thế mà bát-nhã ba-la-mật và các uẩn, các giới, và các nhập không phải hai, cũng không phân chia. Kết quả vì là không, sự ly cách và tĩnh lặng của chúng, chúng bất khả đắc. Thiếu cái căn bản nhận biết trong tất cả các pháp, đó gọi là ‘bát-nhã ba-la-mật.’ Ở đâu không có nhận thức, tên gọi, quan niệm hay sự phát biểutính cách qui ước, ở đó người ta nói ‘bát-nhã ba-la-mật.’ [178]

     Tu-bồ-đề: Có nên biết vị Bồ-tát đó nỗ lựcbát-nhã ba-la-mật thâm sâu này là người thực hành bao lâu rồi không?

     Thế Tôn: Ở đây người ta phải phân biệt, vì sự phú bẩm không đồng của các Bồ-tát khác nhau.

 

  1. NHÂN VÀ QUẢ CỦA KHÔNG TIN

 

     Hoàn toàn có thể có một vài Bồ-tát, mặc dù họ đã thấy nhiều trăm, nhiều ngàn, nhiều trăm ngàn Phật, và đã sống đời phạm hạnh trong sự hiện diện của các ngài ấy, tuy nhiên họ không thể có niềm tin nơi bát-nhã ba-la-mật. Lý do là trong quá khứ họ cũng không có sự kính trọng bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này khi nó được dạy trước sự hiện diện của các Phật và các Thế Tôn đó. Bởi vì họ không kính trọng nó, họ không ham muốn học nhiều hơn về nó, không tôn vinh nó, không thiện chí hỏi câu hỏi, và thiếu niềm tin. Thiếu niềm tin, do, đó họ bước ra khỏi hội chúng. Ấy là bởi vì trong quá khứ họ đã sản xuất, tích lũy, chồng chất, và kết tập nghiệp đưa đến sự suy đồi của pháp mà ở hiện tại họ cũng bước ra khi người ta dạy bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này. Vì thiếu kính trọng, không tín ngưỡngniềm tin vững chắc nơi bát-nhã ba-la-mật, họ không có sự hòa hợp nơi thân hay nơi tâm họ. Không có sự hòa hợp họ không biết, thấy, nhận ra hay nhận biết bát-nhã ba-la-mật này. Trước hết họ không tin, rồi họ không nghe, rồi họ không thừa nhận nó, và như thế họ sản xuất, tích lũy, chồng chất, và thu thập nghiệp dẫn đến sự suy đồi của pháp. [179] Đến phiên điều này sẽ sinh ra nghiệp dẫn đến sự suy yếu trong trí tuệ. Đến phiên điều đó khiến họ sẽ khước từ, chối bỏ và mắng chửi bát-nhã ba-la-mật này khi được dạy, và khi từ chối nó, họ sẽ bỏ đi. Nhưng do từ chối bát-nhã ba-la-mật này họ từ chối nhất thiết trí của chư Phật và chư Thế Tôn, quá khứ, vị laihiện tại. Không bằng lòng với việc làm hỏng sự tương tục của riêng họ, tựa như tất cả đang cháy, họ sẽ ngăn cản, can gián, cũng đuổi người khác đi, – những người có trí thông minh, trí tuệ, công đứcthiện căn nhỏ, chỉ được phú bẩm chút ít niềm tin, lòng yêu thương, sự tịch tĩnh, và sự muốn làm, những người mới bắt đầu, chủ yếu không xứng đáng, – cố gắng lấy đi ngay cả chút niềm tin, lòng thương yêu, sự tịch tĩnh và sự ham muốn làm nhỏ bé đó. Họ sẽ nói rằng không nên tu luyện trong đó, họ sẽ tuyên bố rằng ấy không phải là lời của Phật. Trước tiên họ làm hỏng và trở nên xa lạ với sự tương tục của riêng họ, rồi đến sự tương tục của những người khác. Do đó họ sẽ phỉ báng bát-nhã ba-la-mật. Phỉ báng bát-nhã ba-la-mật có nghĩa là phỉ báng nhất thiết trí, và thêm nữa là chư Phật quá khứ, vị laihiện tại. Họ sẽ bị đưa ra khỏi sự hiện diện của các Phật và Thế Tôn, bị bãi miễn khỏi Pháp, bị trục xuất khỏi Tăng-già. Ở tất cả mọi lối, họ sẽ bị đóng cửa vào Tam Bảo. Những hoạt động của họ cắt đi lợi íchhạnh phúc của chúng sinh, và họ sẽ thu thập chúng do nghiệp đưa đến các đại địa ngục. [180] Bởi vì họ tạo ra các nghiệp hành này, họ sẽ tái sinh nơi các đại địa ngục, trong nhiều trăm năm, v.v… đến nhiều trăm ngàn na-do-tha câu-lợi kiếp. Họ sẽ chuyển từ đại địa ngục này sang đại địa ngục khác. Sau một thời gian rất lâu thế giới của họ sẽ bị lửa thiêu sạch. Rồi họ sẽ bị ném vào các đại địa ngục ở các thiên thế giới khác, ở đó họ lại chuyển từ đại địa ngục này đến đại địa ngục khác. Khi thế giới đó cũng bị lửa thiêu, họ sẽ lại bị ném vào các đại địa ngục ở một thiên thế giới khác, ở đây họ sẽ lại chuyển từ đại địa ngục này sang đại địa ngục khác. Khi thế giới đó cũng bị lửa thiêu, nghiệp này của họ sẽ không cùng tận, sẽ vẫn còn một tàn dư hậu quả nào đó và chết ở đó, họ sẽ lại bị ném vào thiên thế giới này. Ở đây họ sẽ lại tái sinh trong các đại địa ngục, và chịu những đau khổ lớn trong đó, cho đến lúc thế giới này một lần nữa bị lửa thiêu. [181] Vì thế như chúng ta thấy, họ sẽ trải qua một nghiệp vướng mắc với nhiều cảm giác đau đớn. Vì sao? Bởi vì giáo lý của họ rất tệ.

     Xá-lợi-phất: Ngay cả hậu quả của năm tội nghịch cũng không có sự cân xứng nào với sự hành xử sai của ý và ngữ sao?

     Thế Tôn: Không có. Tất cả những người chống đối bát-nhã ba-la-mật và khuyên người khác bỏ nó là những người mà tôi không đồng ý ông thấy họ, còn ít hơn biết bao nếu ông trở nên thân mật với họ hay [bố thí cho họ] sự giàu sang, danh dự hay địa vị? Sự thực, nên xem họ là những người làm ô danh của pháp, như vật vô giá trị, như người hèn hạ, như rắn độc. [182] Họ là những người mang bất hạnh, họ sẽ làm bại hoại những người lắng nghe họ. Nên xem những người làm ô danh bát-nhã ba-la-mật là những người làm ô danh Pháp. 

     Xá-lợi-phất: Thế Tôn chưa nói với chúng con thời gian một người như thế phải ở trong các đại địa ngục là bao lâu.

     Thế Tôn: Hãy để yên điều đó đi, Xá-lợi-phất. Nếu nói điều ấy ra những người nghe sẽ phải ý thức e rằng máu nóng trào ra miệng họ, e rằng họ phải chết hoặc bị đau đớn rất nhiều, e rằng áp lực thô bạo đè họ xuống, e rằng mũi nhọn sầu não đi vào tim họ, e rằng họ sẽ sụp ngã nặng, e rằng họ sẽ teo lại và héo úa, e rằng người ấy có tội vì những sự phật lòng này nghe nói về thời gian chịu đựng bao lâu trong khi thân họ [phải ở lại trong các địa ngục]. – Vì vậy Thế Tôn từ chối trả lời câu hỏi của Tôn giả Xá-lợi-phất. Vì lần thứ nhì, vì lần thứ ba Tôn giả Xá-lợi-phất đã nói như vầy với Thế Tôn: Xin hãy nói cho con, Ôi Thế Tôn, sự câu lưu người ấy ở địa ngục là bao lâu, để làm chỉ dẫn cho các thế hệ vị lai.

     Thế Tôn: Bởi vì người ấy gây nên, tích lũy, chồng chất, và thu thập nghiệp này của ý và ngữ, người ấy phải ở lại các đại địa ngục một thời gian lâu. Các thế hệ vị lai sẽ được ban cho sự chỉ dẫn rất nhiều, do hậu quả của nghiệp hành bất thiện của sự hành xử sai này của ngữ và ý, nên người ấy sẽ chịu đau đớn trong thời gian rất dài. Chỉ nói lên sự đau đớn vô lượngtrọng đại của người ấy cũng sẽ là cái nguồn đủ làm xao xuyến những người con trai và con gái của gia đình thiện lương. [183] Nó sẽ chuyển họ ra khỏi những hoạt động xui khiến làm bại hoại pháp, họ sẽ tạo nên sự hình thành của công đức, và họ sẽ không bác bỏ thiện pháp, còn cứu ngay cả sinh mạng của họ nữa, vì họ không muốn gặp những đau đớn như thế.

     Tu-bồ-đề: Một người như thế sẽ trở nên khéo hạn chế trong những hành vi của thân, ngữ hay ý. Vì một khối rất lớn phi công đức do những lời dạy sai như thế sinh ra. Hành vi nào, Ôi Thế Tôn, là hành vi tạo ra khối phi công đức rất lớn ấy?

     Thế Tôn: Những lời dạy sai tạo ra. Chính ở đây sẽ có những người bị mê hoặc, những người bỏ thế gian vì Pháp-Luật khéo dạy, sẽ quyết định làm ô danh, bác bỏ, chống đối bát-nhã ba-la-mật này. Nhưng chống đối bát-nhã ba-la-mật là chống đối sự giác ngộ của chư Phật và chư Thế Tôn. Điều đó có nghĩa là người ta chống đối nhất thiết trí của chư Phật và chư Thế Tôn trong quá khứ, vị laihiện tại. Chống đối nhất thiết trí có nghĩa là chống đối thiện pháp. Chống đối thiện pháp có nghĩa là chống đối tăng-già các Đệ tử của Như Lai. Và khi người ta chống đối tăng già các Đệ tử của Như Lai, thì người ta bị đóng cửa mọi nẻo vào Tam Bảo. Rồi người ta quản lý để có được nghiệp hành bất thiện lớn hơn không thể đo lường và không thể tính toán được.

     Tu-bồ-đề: Vì lý do gì [184] những người đó tin rằng họ nên chống đối bát-nhã ba-la-mật này?

     Thế Tôn: Người như thế là bị Ma vương theo đuổi. Nghiệp của người ấy khiến cho trí tuệ suy yếu, và vì thế người ấy không có lòng tin hay niềm tin tịch tĩnh nơi các pháp thâm sâu. Được phú bẩm hai ác pháp đó, người ấy sẽ chống đối bát-nhã ba-la-mật này. Hơn nữa, Tu-bồ-đề, người ấy sẽ là người ở trong tay các ác tri thức; hay người ấy có thể là người không tu tập; hay là người đã định trú nơi các uẩn; hay là người tâng bốc mình và phản đối người khác, tìm kiếm lỗi lầm. Cũng được phú bẩm bốn thuộc tính này sẽ là người tin rằng nên chống đối bát-nhã ba-la-mật này khi người ta dạy nó. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương VIII

 

THANH TỊNH

 

  1. BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

THÂM SÂUTHANH TỊNH

 

     Tu-bồ-đề: Khó mà có được niềm tin nơi bát-nhã ba-la-mật nếu người ta không tu tập, thiếu thiện căn và ở trong tay của ác tri thức.

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Khó mà có được niềm tin nơi bát-nhã ba-la-mật nếu người ta không tu tập, chỉ có các thiện căn nhỏ bé, trì độn, không quan tâm, ít học, có loại trí tuệ thấp kém, ỷ lại vào ác tri thức, không còn nhiệt tâm để hỏi, không thiện chí hỏi câu hỏi và không tu tập trong các thiện pháp

     Tu-bồ-đề: Vậy thì bát-nhã ba-la-mật này thâm sâu như thế nào vì rất khó có được niềm tin nơi nó?

     Thế Tôn: Sắc không có buộc hay mở, bởi vì sắc khôngtự tánh. Khởi điểm quá khứ của quá trình vật chất [= sắc] không có buộc hay mở, bởi vì khởi điểm quá khứ của quá trình vật chất không có tự tánh. Kết thúc của quá trình vật chất, trong vị lai, không có buộc hay mở, bởi vì sự kết thúc vị lai của quá trình vật chất không có tự tánh. Quá trình vật chất hiện tại không có tự tánh, bởi vì sự kiện hiện hữu hiện tại không phải là phần tự tánh của sắc hiện tại. [186] Với các uẩn còn lại cũng vậy.

     Tu-bồ-đề: Khó, quá khó để có được niềm tin nơi bát-nhã ba-la-mật, nếu người ta không tu tập, không trồng thiện căn, ở trong tay của ác tri thức, chịu sự điều khiển của Ma vương, lười biếng, ít tinh tấn, bị cướp đi chánh niệmngu si.

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Bởi vì tính thanh tịnh của sắc đồng nhất với tính thanh tịnh của quả, và tính thanh tịnh của quả đồng nhất với tính thanh tịnh của sắc. Như vậy tính thanh tịnh của sắc và tính thanh tịnh của quả không phải hai, không bị phân chia, không bị làm vỡ ra từng phần, không bị cắt ra từng phần. Như thế tính thanh tịnh của sắc đến từ tính thanh tịnh của quả, và tính thanh tịnh của quả đến từ tính thanh tịnh của sắc. [187] Và sự đồng nhất tương tự hiện hữu giữa tính thanh tịnh của sắc và tính thanh tịnh của nhất thiết trí. Điều đó cũng áp dụng cho các uẩn khác.

     Xá-lợi-phất: Thâm sâu, Ôi Thế Tôn, là bát-nhã ba-la-mật!

     Thế Tôn: Vì tính thanh tịnh.

     Xá-lợi-phất: Một nguồn quang minhbát-nhã ba-la-mật.

     Thế Tôn: Vì tính thanh tịnh.

     Xá-lợi-phất: Một ánh sáng là bát-nhã ba-la-mật.

Thế Tôn: tính thanh tịnh.

Xá-lợi-phất: Không tùy thuộc tái sinhbát-nhã ba-la-mật.

Thế Tôn: tính thanh tịnh.

Xá-lợi-phất: Không ô nhiễmbát-nhã ba-la-mật.

Thế Tôn:tính thanh tịnh.

Xá-lợi-phất: Không có sự chứng đắc hay tái hợp trong bát-nhã ba-la-mật.

Thế Tôn: tính thanh tịnh.

Xá-lợi-phất: Bát-nhã ba-la-mật không tự sinh trở lại.

Thế Tôn:tính thanh tịnh. [188]

Xá-lợi-phất: Tuyệt đối không có sự tái sinh của bát-nhã ba-la-mật trong dục giới, hay trong sắc giới, hay trong vô sắc giới.

Thế Tôn:tính thanh tịnh.

Xá-lợi-phất: Bát-nhã ba-la-mật không biết cũng không nhận thức.

Thế Tôn: tính thanh tịnh.

Xá-lợi-phất: Thế thì bát-nhã ba-la-mật không biết cũng không nhận thức cái gì?

Thế Tôn: Sắc, và các uẩn khác. Vì sao? Vì tính thanh tịnh.

Xá-lợi-phất: Bát-nhã ba-la-mật không trợ giúp cũng không cản trở nhất thiết trí.

Thế Tôn:tính thanh tịnh.

Xá-lợi-phất: Bát-nhã ba-la-mật không được cũng không bỏ bất cứ pháp nào.

Thế Tôn: tính thanh tịnh.

Tu-bồ-đề: Sắc thanh tịnh, v.v…, là vì tự kỷ thanh tịnh.

Thế Tôn: Bởi vì nó rốt ráo thanh tịnh. [189]

Tu-bồ-đề: Quả thanh tịnh, nhất thiết trí thanh tịnh, là vì tự kỷ thanh tịnh.

Thế Tôn: Bởi vì tính rốt ráo thanh tịnh của nó.

Tu-bồ-đề: Không có sự chứng đắc hay tái hợp là vì tự kỷ thanh tịnh.

Thế Tôn: Bởi vì tính rốt ráo thanh tịnh của nó.

Tu-bồ-đề: Sắc vô biên, v.v…, là vì tự kỷ vô biên.

Thế Tôn: Bởi vì tính rốt ráo thanh tịnh của nó.

Tu-bồ-đề: Một Bồ-tát hiểu nó như thế, ngài ấy có bát-nhã ba-la-mật.

Thế Tôn: Bởi vì tính tính rốt ráo thanh tịnh của nó.

Tu-bồ-đề: Hơn nữa, bát-nhã ba-la-mật này không đứng ở bờ này cũng không đứng ỏ bờ kia, cũng không đứng ngang qua cả hai.

Thế Tôn: Bởi vì tính tính rốt ráo thanh tịnh của nó. [190]

Tu-bồ-đề: Một Bồ-tát xem ngay cả [nội kiến] đó như là một đối tượng của nhận thức, vì thế ông ấy sẽ từ bỏ bát-nhã ba-la-mật này ra đi, và xa lìa nó.

 

  1. CHẤP TRƯỚC

 

     Thế Tôn: Nói hay, Tu-bồ-đề. Vì danh và tướng cũng là nguồn gốc của chấp trước.

     Tu-bồ-đề: Kỳ diệu, Ôi Thế Tôn, là thấy mức độ bát-nhã ba-la-mật này được khéo dạy, khéo giải thích, khéo làm tròn. Thế Tôn còn công bố nguồn gốc của những chấp trước này.

     Xá-lợi-phất: Ngài Tu-bồ-đề, những chấp trước này là những chấp trước nào?

     Tu-bồ-đề: Là chấp trước nếu người ta nhận thức rằng các uẩn là rỗng không, pháp quá khứ là pháp quá khứ, pháp vị lai là pháp vị lai, và pháp hiện tại là pháp hiện tại. Là chấp trước nếu người ta lập thành quan niệm rằng có người thuộc thừa Bồ-tát tạo được khối công đức rất lớn qua sự phát sinh đầu tiên ý nghĩ về giác ngộ.

     Thích-đề: Bằng cách nào, ngài Tu-bồ-đề thánh thiện, ý nghĩ về

giác ngộ trở thành nguồn gốc của chấp trước?

     Tu-bồ-đề: Người ta trở nên chấp trước khi người ta nhận thức ý nghĩ về giác ngộ này là ‘đây là ý nghĩ đầu tiên về giác ngộ,’ và nếu người ta cải hóa nó thành giác ngộ viên mãn trong khi ý thức rằng người ta làm như vậy. Vì hoàn toàn không thể chuyển bản tánh chính yếu của ý nghĩ. Vì thế người ta nên giữ sự hòa hợp với chân tướng khi bảo người khác thấy cái tối thượng, và phấn khích họ đạt giác ngộ vô thượng. [191] Bằng cách ấy người ta không lãng phí tự kỷ, và cách người ta phấn khích người khác đạt cái tối thượng có sự thừa nhận của các Phật. Và người ta thành công trong sự buông bỏ tất cả những điểm chấp trước.

     Thế Tôn: Nói hay đấy, Tu-bồ-đề, ông làm cho các Bồ-tát ý thức những điểm chấp trước. Bây giờ tôi sẽ công bố những chấp trước khác, vi tế hơn. Hãy lắng nghe kỹ, chú ý kỹ. Tôi sẽ dạy các ông.

     “Nói hay, Ôi Thế Tôn,” và Tôn giả Tu-bồ-đề lắng nghe trong im lặng.

     Thế Tôn: Ở đây, Tu-bồ-đề, người con trai hay người con gái của một gia đình thiện lương, theo dõi Như Lai qua một tướng. Nhưng, rất nhiều tướng, rất nhiều chấp trước. Vì chấp trước từ tướng đến. Như thế người ấy ý thức rằng mình hoan hỉ trong tất cả các pháp không rỉ lậu của chư Phật và chư Thế Tôn quá khứ, vị laihiện tại, và sau khi hoan hỉ, người ấy chuyển thiện căn mà nó kết hợp với hành động hoan hỉ của người ấy thành giác ngộ viên mãn. Tuy nhiên, thực ra chân tánh của các pháp không phải quá khứ, không phải vị lai, cũng không phải hiện tại; nó hoàn toàn nằm bên ngoài ba thời; và vì lý do đó không thể cải hóa nó được, không thể xem nó là một tướng, hay một trợ duyên khách quan, và không thể thấy, hay nghe, hay cảm, hay biết nó. [192]

 

  1. KHÔNG CHẤP TRƯỚC

 

     Tu-bồ-đề: Thâm sâu là yếu tánh của các pháp.

     Thế Tôn: Bởi vì nó ly cách.

     Tu-bồ-đề: Thâm sâu là yếu tánh của bát-nhã ba-la-mật.

     Thế Tôn: Bởi vì yếu tánh của nó thanh tịnhly cách, vì thế bát-nhã ba-la-mật có yếu tánh thâm sâu.  

     Tu-bồ-đề: Ly cách là yếu tánh của bát-nhã ba-la-mật. Con kính bái bát-nhã ba-la-mật.

     Thế Tôn: Tất cả các pháp cũng ly cách trong yếu tánh của chúng. Và sự ly cách yếu tánh của tất cả các pháp đồng nhất với bát-nhã ba-la-mật. Vì Như Lai biết đầy đủ tất cả các pháp bất tạo.

     Tu-bồ-đề: Vì thế tất cả các pháp có đặc tính không được Như Lai biết đầy đủ ư?

     Thế Tôn: Ấy chỉ là qua yếu tánh của chúng mà các pháp ấy không phải là một cái gì đó. Bởi vì tất cả các pháp có một tướng duy nhất, đó là không tướng. Vì lý do này mà tất cả các pháp có đặc tính không được Như Lai biết một cách đầy đủ. Vì không có hai tánh của pháp, nhưng chỉ một tánh duy nhất là tánh của tất cả các pháp. Và tánh của tất cả các pháp là không tánh, và không tánh là tánh của tất cả các pháp. Như thế tất cả các điểm chấp trước được bỏ đi. [193]

     Tu-bồ-đề: Thâm sâu, Ôi Thế Tôn, là bát-nhã ba-la-mật này.

     Thế Tôn: Thâm sâu như hư không thâm sâu.

     Tu-bồ-đề: Khó hiểu, Ôi Thế Tôn, là bát-nhã ba-la-mật này.

     Thế Tôn: Bởi vì không một cái gì được người giác ngộ hiểu đầy đủ.

     Tu-bồ-đề: Không thể nghĩ bàn, Ôi Thế Tôn, là bát-nhã ba-la-mật này.

     Thế Tôn: Bởi vì bát-nhã ba-la-mật không phải là một cái gì mà ý nghĩ phải biết, hay ý nghĩ có lối vào.  

     Tu-bồ-đề: Bát-nhã ba-la-mật không phải là cái được tạo ra, Ôi Thế Tôn.

     Thế Tôn: Bởi vì không một tác nhân nào có thể nhận biết được.

     Tu-bồ-đề: Vậy thì trong những hoàn cảnh này, một Bồ-tát nên

theo đuổi như thế nào trong bát-nhã ba-la-mật?

     Thế Tôn: Một Bồ-tát theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật, nếu trong khi theo đuổi, ông ấy không theo đuổi trong các uẩn; hay nếu ông ấy không theo đuổi trong tin quyết rằng các uẩn là vô thường, hay chúng rỗng không, hay chúng không khiếm khuyết cũng không hoàn hảo [194]. Và nếu ông ấy không theo đuổi trong tin quyết rằng sắc không phải là sự khiếm khuyết hay sự hoàn hảo của sắc, với các uẩn khác cũng thế, thì ông ấy theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật.

     Tu-bồ-đề: Kỳ diệu, Ôi Thế Tôn, là những lý do chấp trướckhông chấp trước của các Bồ-tát được giải thích khéo làm sao.

     Thế Tôn: Người ta theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật nếu người ta không theo đuổi trong ý kiến rằng sắc có chấp trước, hay không có chấp trước. Và như sắc, các uẩn khác, nhãn căn, v.v…, cũng vậy, đến thọ sinh ra từ sự tiếp xúc của mắt; các pháp (the physical elements), sáu ba-la-mật, ba mươi bảy giác chi, các lực, các vô úy, các trí phân tích, mười tám pháp bất cộng, và các quả của đời sống phạm hạnh, từ quả Nhập lưu đến nhất thiết trí. [195] Khi theo đuổi như vậy, một Bồ-tát không sinh ra chấp trước vào bất cứ cái gì, từ sắc đến nhất thiết trí. Vì nhất thiết trí thì không chấp trước, nó không có buộc cũng có không mở, và không có gì hiện lên trên nó. Nó là như thế, này Tu-bồ-đề, Bồ-tát đó nên theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật qua vươn lên hoàn toàn trên tất cả mọi chấp trước. [196]

 

  1. NHƯ HƯ KHÔNG HAY TIẾNG VANG

 

     Tu-bồ-đề: Kỳ diệu, Ôi Thế Tôn, là pháp này thâm sâu biết bao, con muốn nói bát-nhã ba-la-mật. Chứng minh không làm nó giảm hay tăng. Không chứng minh cũng không làm nó giảm hay tăng.

Thế Tôn: Nói hay, Tu-bồ-đề. Là một Như Lai nên trong suốt đời nói lời ca ngợi hư không, do đó không làm tăng dung lượng của hư không; và hư không cũng không giảm trong khi ngài ấy không nói lời ca ngợi nó. Hay như với một người huyễn. Ca ngợi không thấm nhập y cũng không thắng phục y. Khi không có ca ngợi, y không bị tác động hay thất vọng. Cũng vậy, chân tánh của các pháp cũng chỉ đến chừng đó, dù nó được chứng minh hay không.

Tu-bồ-đề: Người làm việc khó là vị Bồ-tát, trong khi theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật, không chán nản cũng không phấn khởi; kiên trì nỗ lực vì nó và không quay lưng bỏ đi. Sự phát triển bát-nhã ba-la-mật giống như sự phát triển hư không. Nên kính lễ các vị Bồ-tát được trang bị chiếc áo giáp này. Vì họ muốn được trang bị bằng hư không, vì chúng sinh, họ mặc chiếc áo giáp ấy. Được trang bị chiếc áo giáp vĩ đại là một Bồ-tát, một vị anh hùng là một Bồ-tát, khi người ấy muốn được trang bị một chiếc áo giáp, và đạt được giác ngộ viên mãn, vì chúng sinh giống như hư không, giống như pháp giới. Ngài ấy là người muốn giải thoát hư không, là người muốn loại bỏ hư không, là người đã đạt được chiếc áo giáp đại tinh tấn ba-la-mật. [197] Bồ-tát ấy được trang bị chiếc áo giáp ấy vì chúng sinh giống như hư không, giống như Pháp giới.   

Vì thế một vị tỳ-kheo nào đó vái chào đức Thế Tôn: Con kính lễ, Ôi Thế Tôn, bát-nhã ba-la-mật! Vì nó không sinh cũng không diệt bất cứ pháp nào.   

Thích-đề: Nếu có người, thưa ngài Tu-bồ-đề thánh thiện, nỗ lựcbát-nhã ba-la-mật này, người ấy nỗ lực vì cái gì?

Tu-bồ-đề: Người ấy nỗ lựchư không. Người ấy nỗ lực chỉ vì cái trống không nếu người ấy quyết định tu luyện trong bát-nhã ba-la-mật hay thực hành nó. 

Thích-đề: Xin hãy, Ôi Thế Tôn, ra lệnh cho tôi che chở, bênh vực và bảo vệ người con trai hay người con gái đó của gia đình thiện lương mang trong tâm bát-nhã ba-la-mật này!

Tu-bồ-đề: Thưa ngài Thích-đề, ngài có thể thấy được cái pháp mà ngài có ý muốn che chở, bênh vực và bảo vệ không?

Thích-đề: Không thể như vậy, thưa ngài Tu-bồ-đề thánh thiện.

Tu-bồ-đề: Như vậy khi một Bồ-tát trụ trong bát-nhã ba-la-mật như nó được xiển dương, thì đó sẽ là sự che chở, bênh vực và bảo vệ của ngài ấy. Mặt khác, khi ngài ấy không có trong bát-nhã ba-la-mật, [198] thì những người và ma đó tìm lối vào sẽ có được lối vào ngài ấy. Tuy nhiên, người ta muốn sắp xếp sự che chở, bênh vực và bảo vệ cho hư không nếu người ta muốn sắp xếp sự che chở, bênh vực và bảo vệ cho một Bồ-tát theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật. Ý ngài thế nào, ngài Kiều-thi-ca, ngài có thể sắp xếp sự che chở, bênh vực và bảo vệ cho một tiếng vang?

Thích-đề: Không thể như vậy, thưa ngài Tu-bồ-đề thánh thiện.

Tu-bồ-đề: Cũng vậy một Bồ-tát, theo đuổi và trú trong bát-nhã ba-la-mật, hiểu tất cả các pháp giống như tiếng vang. Ngài ấy không nghĩ về chúng, không phê bình, nhận diện, hay nhận thức về chúng, và ngài ấy biết rằng những pháp đó không hiện hữu, thực tướng của chúng không xuất hiện, không thể tìm được, không thể có được. Nếu ngài ấy trú như thế, ngài ấy theo đuổi trong bát-nhã ba-ba-la-mật.

 

  1. KẾT LUẬN

 

     Vì thế, do thần lực của Phật, bốn Đại Thiên Vương trong Đại thiên thế giới, và tất cả các Thích-đề, các Thiên đế, và tất cả các thần Đại Phạm-thiên, và Sahapati, Đại Phạm-thiên – tất cả đến chỗ Thế Tôn. Họ lễ bái dưới chân Thế Tôn đầu chạm đất, bước đi ba vòng quanh Thế Tôn, và đứng sang một bên. Nhờ thần lực của Phật và thần thông của ngài, tâm họ có ấn tượng do thấy cảnh ngàn Phật. [199]

     Trong những lời này, các tỳ-kheo kêu gọi Tu-bồ-đề, v.v…, xin xiển dương chính bát-nhã ba-la-mật này, chính chương này của bát-nhã ba-la-mật. Với sự tham chiếu, các Thiên đế Thích-đề hỏi những câu hỏi và những câu phản vấn. Chỉ bát-nhã ba-la-mật này đã được dạy ở chính chỗ này. Bồ-tát Di-lặc, bậc đại sĩ, sau khi đạt giác ngộ viên mãn, cũng sẽ dạy chính bát-nhã ba-la-mật này, ngay tại chỗ này.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương IX

 

TÁN THÁN

 

  1. BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT HOÀN TOÀN THANH TỊNH

 

     Tu-bồ-đề: Gọi nó là ‘bát-nhã ba-la-mật,’ Ôi Thế Tôn, chỉ là cho nó một cái tên. Và cái gì tương ứng với cái tên đó thì bất khả đắc. Ngay cả bát-nhã ba-la-mật này cũng không thể tìm thấy hay đạt được. Cho đến đây nó cũng chỉ là một chữ. Không có sự nhị nguyên nào của các pháp giữa hai cái đó có thể tìm thấy hay đạt được. Vậy thìlý do gì Bồ-tát Di-lặc, bậc đại sĩ, sau khi đạt được giác ngộ viên mãn, cũng sẽ dạy chính bát-nhã ba-la-mật này ngay tại chỗ này, cũng bằng những lời này? 

     Thế Tôn: Lý do là Di-lặc sẽ giác ngộ viên mãnsự thật là các uẩn chẳng phải thường cũng chẳng phải vô thường, chúng chẳng buộc cũng chẳng mở, chúng tuyệt đối thanh tịnh.

     Tu-bồ-đề: Quả thực bát-nhã ba-la-mật hoàn toàn thanh tịnh. [201]

     Thế Tôn: Bát-nhã ba-la-mật hoàn toàn thanh tịnh bởi vì các uẩn thanh tịnh, và bởi vì sự bất sinh của chúng hoàn toàn thanh tịnh, sự bất đoạn của chúng, sự không ô nhiễm và không thanh tịnh của chúng [hoàn toàn thanh tịnh]. Nó thanh tịnh bởi vì hư không thanh tịnh và bởi vì các uẩn không cấu uế, và các lực ô nhiễm không thể nắm giữ chúng được. Bát-nhã ba-la-mật hoàn toàn thanh tịnh bởi vì, giống như hư khôngtiếng vang, không thể nói được, không thể giao thiệp được, và không cống hiến một căn bản nào để nhận biết. Nó hoàn toàn thanh tịnh bởi vì nó không bị bất cứ pháp nào, cấu uế hay không cấu uế, che phủ.

 

  1. NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Tu-bồ-đề: Ấy quả thực là sự được nhiều đối với những người con trai và con gái này của gia đình thiện lương đến nghe bát-nhã ba-la-mật này. Còn nhiều hơn thế nếu họ nhận lấy, mang nó trong tâm, lặp đi lặp lại, nghiên cứu, truyền bá, giảng dạy, giải thích, và làm chủ nó. Mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân họ, sẽ không có bệnh, và tâm họ sẽ không mê mờ. Họ sẽ không chết dữ. Nhiều ngàn thiên (thần) sẽ đi theo gần họ ở phía sau. [202] Vào các ngày mồng tám, mười bốn và rằm, bất cứ ở đâu, người con trai hay người con gái của gia đình thiện lương dạy bát-nhã ba-la-mật này, ở đó người ấy được công đức rất nhiều.

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Nhiều ngàn thiên (thần), Tu-bồ-đề, sẽ đi theo gần ở phía sau người con trai hay con gái đó của gia đình thiện lương, và nhiều ngàn thiên (thần) sẽ đến chỗ [người] dạy bát-nhã ba-la-mật. Ham muốn nghe pháp, tất cả họ sẽ bảo vệ người thuyết giảng pháp dạy bát-nhã ba-la-mật này. Vì bát-nhã ba-la-mật là vật quí nhất trong thế giới với chư thiên, người và a-tu-la. Đó cũng là lý do tại sao một người như thế tạo ra rất nhiều công đức. Mặt khác, sẽ có nhiều chướng ngại cho việc viết, nhận lấy, mang trong tâm, lặp đi lặp lại, nghiên cứu, truyền bá, giải thích và niệm bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này. Vì những vật quí nhất khởi lên nhiều thù nghịch. Chúng càng tuyệt vời, sự thù nghịch càng dữ dội. Nhưng đây là cái quí nhất trên toàn thế giới, bát-nhã ba-la-mật này, đã được dựng lên và gánh vác lợi íchhạnh phúc thế gian, bằng cách cho thấy rằng tất cả các pháp không sinh cũng không diệt, không uế cũng không tịnh. [203] Nhưng bát-nhã ba-la-mật không bám vào bất cứ pháp nào, không làm ô nhiễm bất cứ pháp nào, cũng không hộ trì bất cứ pháp nào. Vì tất cả các pháp này không hiện hữu cũng không khả đắc. Bởi vì được nhận biết, bát-nhã ba-la-mật không có cấu uế. ‘Không cấu uế,’ thì cũng đồng với bát-nhã ba-la-mật. Và bởi vì các uẩn không cấu uếbát-nhã ba-la-mật không cấu uế. Một Bồ-tát theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật nếu ngài ấy không nhận thức ngay cả điều đó. Hơn nữa, bát-nhã ba-la-mật này không vào hay tự đặt mình vào bất cứ pháp nào, nó không tiết lộ hay định rõ bất cứ pháp nào, nó không đem lại hay mang theo bất cứ pháp nào.

 

  1. CUỘC CHUYỂN BÁNH XE PHÁP THỨ NHÌ

 

     Vì thế, rất nhiều ngàn thiên (thần) trong cõi trung thiên đã gọi lớn với nhiều tiếng la hoan hỉ, vẫy y phục, và nói: Bây giờ chúng tôi quả thật thấy cuộc chuyển bánh xe pháp thứ nhì xảy ra ở Diêm-phu-đề!

     Thế Tôn: Tu-bồ-đề, đây không phải là cuộc chuyển bánh xe pháp thứ nhì. Không pháp nào có thể chuyển tới hay lui. Đây chỉ là bát-nhã ba-la-mật của một Bồ-tát. [204]

     Tu-bồ-đề: Vĩ đại là bát-nhã ba-la-mật này của một Bồ-tát, không chấp trước tất cả các pháp, muốn biết giác ngộ viên mãn, song chưa giác ngộ bất cứ pháp nào, hay sẽ chuyển bánh xe pháp nhưng sẽ không để lộ ra bất cứ pháp nào. Vì không pháp nào để đạt ở đây, không pháp nào để chỉ ra, không pháp nào tiếp tục đến pháp nào. Cũng không pháp nào quay lại bất cứ pháp nào khác. Bởi vì ngay từ đầu tất cả các pháp là bất sinh, vì yếu tánh của chúng là ly cách.

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Vì không chẳng tới cũng chẳng lui, và điều đó cũng tốt cho Vô tướngVô nguyện. Chứng minh điều đó là chứng minh tất cả các pháp. Nhưng không ai chứng minh nó, không ai nghe nó, không ai nhận nó, và không ai chứng ngộ nó trong quá khứ, hiện tại hay vị lai. Cũng không do sự chứng minh pháp này khiến cho bất cứ người nào đến Niết-bàn. Cũng không do sự chứng minh pháp này khiến cho bất cứ người nào xứng đáng với phẩm vật [tạo ra]. [205]

 

  1. CÁCH THỨC VÀ PHẨM TÍNH

CỦA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Tu-bồ-đề: Đây là ba-la-mật của cái gì không có [hiện hữu], bởi vì hư không không phải là một cái gì là [hiện hữu]. Đây là bát-nhã ba-la-mật bình đẳng với những cái không bình đẳng, bởi vì tất cả các pháp giống nhau trong đó [vì bất sinh] chúng bất khả tri. Đây là bát-nhã ba-la-mật ly cách, của cứu cánh không. Ba-la-mật này không thể bị nghiền nát, bởi vì tất cả các pháp đều không được nhận biết. Đây là ba-la-mật không dấu vết, bởi vì cả thân và tâm đều vắng mặt. Đây là ba-la-mật không có tự tánh, bởi vì nó không đến cũng không đi. Ba-la-mật này không thể diễn tả được, bởi vì tất cả các pháp không phân biệt. Ba-la-mật này không có tên, bởi vì các uẩn không nhận biết được. Ba-la-mật này không đi mất, bởi vì không một pháp nào từng đi mất. Người ta không thể dự phần ba-la-mật này, bởi vì không một pháp nào thể nắm giữ được. Bát-nhã ba-la-mật này vô tận, vì nối kết với pháp vô tận. Ba-la-mật này không có khởi nguyên, bởi vì không một pháp nào thực sự xảy ra. Đây là ba-la-mật không làm gì cả, bởi vì không tác nhân có thể nhận biết được. Ba-la-mật này không phát sinh [tri kiến] bất cứ vật gì, bởi vì tất cả các pháp đều không có ngã. Ba-la-mật này không truyền lại, bởi vì không có khởi nguyên của chết và tái sinh. Ba-la-mật này không rèn luyện, bởi vì các thời kỳ quá khứ, vị laihiện tại không nhận biết được. Đây là ba-la-mật của mộng, hưởng, ảnh phản chiếu, bóng nước trong sa mạc, hư huyễn, bởi vì nó cho biết tin về bất sinh. Ba-la-mật này không có ô nhiễm, bởi vì tham, ghét và mê hoặc không có tự tánh. Ba-la-mật này không biết thanh tịnh, bởi vì không một pháp khí khả hữu nào có thể nhận biết được. Ba-la-mật này không tì vết, bởi vì hư không không tì vết. [206] Ba-la-mật này không có ngăn ngại, bởi vì nó hoàn toàn vươn lên trên tất cả mọi thái độ của tâm đối với các pháp. Ba-la-mật này không có một thái độ nào của tâm, bởi vì nó bất động. Ba-la-mật này không thể lay chuyển, do sự kiên định của pháp giới. Ba-la-mật này từ bỏ tham, bởi vì trong pháp không có sự sai lầm trong các pháp. Ba-la-mật này không hiện lên, bởi vì trong pháp khôngphân biệt. Ba-la-mật này tịch tĩnh, bởi vì trong tất cả các pháp không một tướng nào được nhận biết. Ba-la-mật này không có lỗi, vì là ba-la-mật của tất cả các đức hạnh. Ba-la-mật này không ô nhiễm, bởi vì tưởng tượng là cái không hiện hữu. Không tìm được một chúng sinh nào trong ba-la-mật này, bởi vì giới hạn của thực tại. Ba-la-mật này không có giới hạn, bởi vì sự thị hiện của tất cả các pháp không khởi lên. Ba-la-mật này không theo sau tính nhị nguyên đối đãi, bởi vì nó không an định nơi tất cả các pháp. Ba-la-mật này không phân biệt, bởi vì tất cả các pháp không phân biệt. Ba-la-mật này không lu mờ, bởi vì nó không có bất cứ mong muốn nào đối với mức độ của Thanh vănDuyên giác. Ba-la-mật này không phân biệt, bởi vì tính đồng nhất căn bản của tất cả phân biệt. Ba-la-mật này vô cùng, bởi vì tánh của pháp không giới hạn. Ba-la-mật nay không chấp trước, bởi vì tính không chấp trước của nó đối với tất cả các pháp. Vô thường là ba-la-mật này, bởi vì tất cả các pháp không giới hạn. Xấu ác là bát-nhã ba-la-mật này, bởi vì tánh của pháp đồng với hư không. Rỗng không là ba-la-mật này, bởi vì tất cả các pháp đều không nhận biết được. Vô ngã là ba-la-mật này, bởi vì không có sự an định trong tất cả các pháp. Vô tướng là ba-la-mật này, bởi vì không có sự sinh lại trong pháp. [207] Đây là ba-la-mật của toàn bộ tánh không, bởi vì vô tậnvô biên. Đây là ba-la-mật của các giác chi, như thế là những trụ cột chánh niệm, v.v…, bởi vì chúng là không thể nhận biết được. Đây là ba-la-mật của Không, của Vô tướng, của Vô nguyện, bởi vì ba cửa giải thoát là bất khả tri. Đây là ba-la-mật của tám giải thoát, bởi vì chúng là bất khả tri. Đây là ba-la-mật của chín trạm dừng kế tiếp, bởi vì thiền thứ nhất, v.v…, là bất khả tri. Đây là ba-la-mật của bốn Thánh đế, bởi vì bệnh, v.v…, là bất khả tri. Đây là ba-la-mật của mười ba-la-mật, bởi vì bố thí, v.v…, là bất khả tri. Đây là ba-la-mật cả mười lực, bởi vì nó không thể bị nghiền nát. Đây là ba-la-mật của bốn vô úy, bởi vì tuyệt đối nó không thể bị làm cho sợ. Đây là ba-la-mật của các trí phân tích, bởi vì nó không bị chướng ngại khi không chấp trước nhất thiết trí. Đây là ba-la-mật của tất cả các pháp bất cộng, bởi vì chúng siêu việt tất cả sự đếm. Đây là ba-la-mật Chân như của Như Lai, bởi vì không có sự sai trong tất cả các pháp. Đây là ba-la-mật của Tự hữu, bởi vì tất cả các pháp khôngtự tánh. Bát-nhã ba-la-mật này là ba-la-mật tri kiến của nhất thiết trí, bởi vì nó biết tất cả mọi cách thức tự tánh của tất cả các pháp.

    

 

 

 

Chương X

 

CÔNG BỐ CÁC PHẨM TÍNH

MANG TRONG TÂM

 

  1. NHỮNG HÀNH VI QUÁ KHỨ, VÀ THÁI ĐỘ

HIỆN TẠI ĐỐI VỚI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Vì thế Đế-thích, Thiên-đế, nghĩ: Những người đến nghe bát-nhã ba-la-mật này phải là những người đã thực hiện bổn phận của họ dưới nhiều bậc Chiến Thắng, đã trồng thiện căn dưới nhiều vị Phật, đã được thiện tri thức hộ trì. Còn nhiều hơn thế là những người thọ nhận bát-nhã ba-la-mật này mang nó trong tâm, tham cứu, truyền bágiải thích nó, và hơn nữa là những người tu luyện trong Như, tiến đến Như, nỗ lực vì Như. Họ được phú bẩm nhiều hơn là những thiện căn ít giá trị. Họ sẽ là những người đã tôn vinh nhiều vị Phật, đã tham vấn hết lần này đến  lần khác. Ấy đúng là bát-nhã ba-la-mật này mà họ đã nghe trong quá khứ trước sự hiện diện của các Như Lai trước kia. Họ đã trồng thiện căn dưới nhiều vị Phật, [209] những người con trai và con gái ấy của gia đình thiện lương, ngay khi được dạy, giải thích và lặp đi lặp lại, họ sẽ không trở nên sợ hay vô cảm, sẽ không trở nên thất vọng hay buồn rầu, sẽ không hướng tâm đi chỗ khác hay chịu đau đớn, sẽ không run, sợ, hay kinh hãi.

     Xá-lợi-phất đọc được những ý nghĩ của Thích-đề, và nói: Giống như một Bồ-tát bất thối chuyển nên xem người ấy, khi được dạy và giải thích cho chính bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, có niềm tin nơi nó, và tin cậy, tin vững chắc, tâm người ấy đầy niềm tin tịch tĩnh, phát tâm trực tiếp hướng về giác ngộ, chấp nhận, v.v..., bát-nhã ba-la-mật này, tu luyện trong Như, tiến đến Như, nỗ lực vì Như. Vì bát-nhã ba-la-mật này thâm sâu, Ôi Thế Tôn, và do đó có người với thiện căn nhỏ bé, không chịu tham vấn, không học được gì khi mặt đối mặt với các Phật và các Thế Tôn trong quá khứ, và không tu luyện trong quá khứ, ở đây không thể tin bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này. Và về những người không tin nó cũng không hiểu nó, và những người quyết định từ chối nó, [210] trong quá khứ họ cũng đã từ chối bát-nhã ba-la-mật này khi được dạy cho, do đó không xứng đáng với thiện căn của họ. Đối với những người không có tu luyện trong quá khứ không thể tin bát-nhã ba-la-mật này. Bây giờ khi họ từ chối nó, họ cũng đã từ chối nó trong quá khứ. Và đó là lý do tại sao, khi được dạy cho bát-nhã ba-la-mật này, họ không có niềm tin, hay kiên nhẫn, hay thích thú, hay muốn làm, hay khí lực, hay thận trọng, hay quyết tâm. Và trong quá khứ họ cũng không tham hỏi các Phật, các Thế Tôn, hay đệ tử của các ngài.

     Đế-thích: Thâm sâu, Ôi ngài Xá-lợi-phất thánh thiện, là bát-nhã ba-la-mật. Ấy chẳng có gì phải kinh ngạc, khi ngườì ta dạy nó, một Bồ-tát không tin nó, nếu ngài ấy không tu tập trong quá khứ.

     Rồi Đế-thích nói với Thế Tôn: Tôi kính lễ, Ôi Thế Tôn, bát-nhã ba-la-mật! Người ta kính lễ tri kiến của nhất thiết trí khi người ta kính lễ bát-nhà ba-la-mật.

     Thế Tôn: Đúng vậy. Vì nhất thiết trí của chư Phật, chư Thế Tôn, đến từ đó, [211] và ngược lại, bát-nhã ba-la-mật là cái sinh ra từ tri kiến của nhất thiết trí. Đó là lý do tại sao chúng ta nên theo đuổi, trụ lại, tiến tới, và nỗ lực trong bát-nhã ba-la-mật này.

     Thích-đề: Làm sao một Bồ-tát, người theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật, trở thành người trụ trong bát-nhã ba-la-mật? Làm sao ngài ấy nỗ lực trong bát-nhã ba-la-mật?

     Thế Tôn: Nói hay, nói hay, này Kiều-thi-ca. Nói hay, lại nói hay, Kiều-thi-ca, vì ông đã quyết định hỏi Như Lai về vấn đề này. Trong chuyện đó ông đã được thần lực của Phật hứng khởi. Ở đây, này Kiều-thi-ca, một Bồ-tát theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật không trụ trong sắc, .v…, không trụ trong quan niệm ‘đây là sắc, v.v…’ và đó có nghĩa là ông ấy nỗ lực vì sắc, v.v… Ông ấy không áp dụng cho mình quan niệm ‘đây là sắc, v.v…’ Cho đến đây ông ấy không áp dụng cho mình quan niệm ‘đây là sắc, v.v…,’ ông ấy không trụ trong quan niệm ‘đây là sắc, v.v…’ [212] Như thế ông ấy trở thành người trụ trong bát-nhã ba-la-mật, như thế ông ấy nỗ lực.

     Xá-lợi-phất: Thâm sâu, Ôi Thế Tôn, là bát-nhã ba-la-mật. Khó nắm bắt là bất-nhã ba-la-mật. Vô hạn là bát-nhã ba-la-mật.       

     Thế Tôn: Đúng vậy, Xá-lợi-phất. Ông ấy không trụ trong quan niệm ‘sắc, v.v… thì thâm sâu.’ Cho đến đây ông ấy không nỗ lực, ông ấy không trụ trong quan niệm này ông ấy nỗ lực vì sắc, v. v… Ông ấy không nỗ lựcquan niệm ‘sắc, v.v… thâm sâu.’ Cho đến đây ông ấy không nỗ lựcquan niệm này ông ấy không trụ trong quan niệm ‘sắc, v.v…, thâm sâu.’

 

  1. NHỮNG PHẨM HẠNH XỨNG ĐÁNG CỦA

BỒ-TÁT CÓ ĐƯỢC BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Xá-lợi-phất: Trước một Bồ-tát bất thối chuyển, một Bồ-tát được thọ ký giác ngộ, nên dạy bát-nhã ba-la-mật thâm sâu. Vì ngài ấy sẽ không do dự, không nghi ngờ, không mê mờ, không tranh biện nó. [213] 

     Thích-đề: Dạy bát-nhã ba-la-mật này trước một Bồ-tát chưa được thọ ký thì có lỗi gì?

     Xá-lợi-phất: Ngài Kiều-thi-ca, nếu chưa được thọ ký, một Bồ-tát được bát-nhã ba-la-mật này, vì thị kiến, sùng bái và nghe, và nếu ngài ấy vẫn không sợ khi nghe nó, thì có thể chắc chắn rằng ngài ấy từ xa đến, lên đường đã lâu trên xe, và thiện căn của ngài ấy đã khéo được thuần thục. Từ giờ trở đi cho đến khi ngài ấy thọ nhận sự thọ ký giác ngộ viên mãn sẽ không còn lâu nữa. Có thể chắc chắn rằng sự thọ ký đó sẽ gần, và sẽ đến với ngài ấy trước khi ngài ấy đi qua một, hai hay ba Như Lai. Và dĩ nhiên, ngài ấy sẽ làm hài lòng các Như Lai mà ngài ấy đi qua, sẽ làm hài lòng họ vĩnh viễn, và ngài ấy sẽ thấy thị kiến của các Như Lai đó sẽ kết quả thọ ký, và sẽ đưa ngài ấy đến sự thọ ký giác ngộ viên mãn. Từ xa đến, Ôi Thế Tôn, lên đường đã lâu trên xe đại thừa, với thiện căn khéo được thuần thục là vị Bồ-tát được bát-nhã ba-la-mật này vì thị kiến, tán thán, sùng bái và nghe. Còn nhiều hơn thế nếu ngài ấy không chỉ nghe, mà còn chấp nhận nó, [214] mang nó trong tâm, thuyết giảng, nghiên cứu, truyền bá, giải thíchtụng niệm nó. 

     Thế Tôn: Đúng vậy, Xá-lợi-phất, như ông nói.

 

  1. NĂM TỈ DỤ MINH HỌA SỰ GẦN VỚI

GIÁC NGỘ VIÊN MÃN

 

     Xá-lợi-phất: Một tỉ dụ hay thí dụ lóe vào tâm con, Ôi Thế Tôn. Như vậy chúng ta có thể chắc chắn rằng một người thuộc thừa Bồ-tát, khi người ấy mộng thấy mình ngồi ở bồ-đề đạo tràng, thực tế là gần giác ngộ viên mãn; như vậy chúng ta có thể chắc chắn rằng người làm tròn các duyên vừa được nói qua đã từ xa đến, lên đường đã lâu trên xe Bồ-tát, và gần sự thọ ký giác ngộ. Chúng ta có thể chắc chắn rằng các Phật, các Thế Tôn, sẽ thọ ký [215] Bồ-tát này đạt giác ngộ viên mãn. Vì một Bồ-tát lên đường đã lâu trên xe, và thiện căn đã thuần thục, nếu ngài ấy được bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, dù cho ngài ấy không được gì khác hơn nghe nó. Còn nhiều hơn thế nữa nếu ngài ấy cũng mang nó trong tâm, v.v…, đến: niệm nó. Vì ý nghĩ của những chúng sinh không có nhiều nghiệp tích lũy dẫn dắt đến sự làm bại hoại pháp sẽ trở nên gớm ghét bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, sẽ lánh xa nó. Do có nhiều nghiệp đó những chúng sinh không tích tập thiện căn sẽ không thấy thỏa mãn hay tin biên tế của thực tại này. Nhưng những chúng sinh thấy thỏa mãn và tin nó là những người có tích tập các thiện căn, đã khéo tích tập chúng.

     Một người ra khỏi khu rừng hoang khổng lồ, lớn một trăm dặm, lên đến một ngàn dặm, có thể thấy những dấu hiệu nào đó chỉ một thị trấn, hay một nơi không có chỗ trú ngụ, – như là những đàn bò, hay trại chăn nuôi, hay những đường biên giới, hay những khu vườn, hay những lùm cây. [216] Từ những dấu hiệu đó người ấy sẽ suy luận độ gần của một nơi có người ở. Người ấy cảm thấy hạnh phúc hơn, và bọn cướp không làm người ấy lo lắng nữa. Cũng vậy, đối với một Bồ-tát mà bát-nhã ba-la-mật này hiện lên nên biết rằng ngài ấy hoàn toàn gần với giác ngộ vô thượng, không bao lâu nữa ngài ấy sẽ nhận sự thọ ký. Ngài ấy cũng sẽ không còn sợ hàng Thanh vănDuyên giác. Vì dấu hiệu này đã xuất hiện trước ngài ấy, nghĩa là, ngài ấy thọ nhận bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, vì thị kiến, tán thán, sùng bái, và nghe.

     Thế Tôn: Đúng vậy, Xá-lợi-phất. Mong ông cũng làm sáng tỏ đoạn này. Vì những gì ông nói, và những gì ông sẽ nói, là nhờ thần lực của Phật.

     Xá-lợi-phất: Một người muốn thấy biển lớn, có thể du hành đến đó. Bao lâu trên đường du hành người ấy còn thấy cây, hay dấu hiệu của cây, núi, hay dấu hiệu của núi, người ấy biết rằng biển lớn hãy còn xa. Nhưng khi không còn thấy cây hay núi nữa, thì người ấy biết rằng biển lớn vĩ đại rất gần ở đây. Vì biển lớn vĩ đại này dần dần lài dốc xuống, và bên trong nó không có cây hay núi. [217] Và mặc dù người ấy chưa thể thấy biển lớn vĩ đại ngay trước mắt mình, nhưng có thể hoàn toàn chắc chắn rằng biển lớn hoàn toàn gần, cách đây không xa lắm. Tương tựtrường hợp của vị Bồ-tát đã nghe bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này. Ngài ấy biết rằng, mặc dù chưa mặt đối mặt với chư Như Lai, chưa được thọ ký giác ngộ viên mãn, tuy nhiên ngài ấy hoàn toàn gần sự thọ ký đó. Vì ngài ấy đã thọ nhận bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, vì thị kiến, tán thán, sùng bái và nghe.

     Vào mùa xuân, Ôi Thế Tôn, khi lá của năm vừa qua héo tàn, người ta có thể thấy chồi non trên nhiều cây. Rồi người của Diêm-phù-đề sẽ vui mừng, bởi vì khi thấy những dấu hiệu này trong rừng cây, họ biết rằng hoa và trái cũng sẽ sớm hiện ra. Vì họ thấy những dấu hiệu này trên các cây. Cũng vậy, Ôi Thế Tôn, người ta có thể chắc chắn rằng một Bồ-tát khi thọ nhận bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, khi nó hiện lên vì ngài ấy, mà ngài ấy thuần thục các thiện căn của mình đã lâu. Ấy chỉ vì những thiện căn này hiện hữu, có được trong quá khứ, mà Bồ-tát ấy được ban cho bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này. Lúc ấy chư thiên thấy các Phật quá khứ đều hoan hỉ, hân hoanvô cùng hứng thú, bởi vì họ cảm thấy chắc chắn rằng không lâu Bồ-tát này sẽ nhận được thọ ký giác ngộ viên mãn, vì với các Bồ-tát quá khứ đây là những dấu hiệu sự thọ ký giác ngộ viên mãn của họ đang đến. [218]   

     Một người đàn bà, có thai với tử cung nặng nề, vặn vẹo, và hoàn toàn mệt mỏi, bà ấy không đi quanh nhiều, ăn ít, thấy ít yên ổn, nói ít, ít sức mạnh nhưng nhiều đau đớn, thường kêu la lớn và kỵ ở chung theo thói quen. Bà ấy nhận thấy rằng mình trải qua tất cả những cảm giác không thích thú này nơi thân là kết quả của sự phóng túng trong sự chú ý không khôn ngoan trong quá khứ, thực hiện nó, phát triển nó, tạo ra nhiều thứ vì nó. Khi thấy những triệu chứng này nơi thân bà ấy, người ta có thể chắc chắn rằng không lâu bà ấy sẽ sinh một đứa con. Cũng vậy, đối với một Bồ-tát khi bát-nhã ba-la-mật hiện lên vì thị kiến, tán thán, sùng bái, và nghe, và nếu khi nghe nó, ý nghĩ của ngài ấy hoan hỉ nơi nó, và ngài ấy không trở nên ham muốn nó, thì người ta có thể chắc chắn rằng không lâu ngài ấy sẽ nhận sự thọ ký giác ngộ viên mãn.

 

  1. VÌ SAO CÁC BỒ-TÁT ĐƯỢC CHƯ PHẬT ƯU ÁI

 

     Tu-bồ-đề: Thực kỳ diệu là được thấy mức độ mà chư Như Lai khéo hộ trì các Bồ-tát, khéo bảo bọc và ưu ái họ. [219]

     Thế Tôn: Ấy là vì các Bồ-tát đó đã làm vì sự vui sướnghạnh phúc của số nhiều, vì bi mẫn thế gian. Vì bi thương trời, người, vì lợi ích, sự vui sướnghạnh phúc của đại chúng nên họ muốn đạt giác ngộ viên mãn, và từ đó chứng minh pháp vô thượng.

 

  1. THÁI ĐỘ ĐÚNG ĐỐI VỚI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Tu-bồ-đề: Về phần của một Bồ-tát theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật, sự phát triển của bát-nhã ba-la-mật trở nên gia tăng hoàn thiện như thế nào?

     Thế Tôn: Một Bồ-tát theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật khi ông ấy không xét lại sự tăng hay giảm của sắc, v.v…, khi ông ấy không xét lại pháp hay vô pháp. Như vậy sự phát triển của bát-nhã ba-la-mật trở nên gia tăng hoàn thiện.

     Tu-bồ-đề: Lời giải thích này chắc chắn không thể nghĩ bàn.

     Thế Tôn: Bởi vì sắc không thể nghĩ bàn, các uẩn kia cũng vậy. Khi ông ấy không tưởng rằng sắc, v.v…, không thể nghĩ bàn, thì ông ấy theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật. [220]

     Xá-lợi-phất: Ai nhiệt tâm tin vào bát-nhã ba-la-mật thâm sâu

này?

     Thế Tôn: Vị Bồ-tát thực hành trong bát-nhã ba-la-mật.

     Xá-lợi-phất: Một Bồ-tát trở nên thực hành như thế nào, và nghĩa của ‘thực hành’ là gì?

     Thế Tôn: Ở đây vị Bồ-tát không kiến tạo các lực, cũng không kiến tạo các vô úy hay các pháp bất cộng, hay ngay cả cảnh giới nhất thiết trí. Bởi vì các lực là không thể nghĩ bàn, các vô úy cũng vậy, các pháp bất cộng cũng vậy, cảnh giới nhất thiết trí cũng vậy, và tất cả pháp cũng vậy. Khi thực hành như thế, một Bồ-tát không theo đuổi ở bất cứ nơi nào, thì ông ấy theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật. Vì lý do đó, ông ấy được gọi là ‘thực hành,’ và đó là nghĩa của chữ ‘thực hành.’

 

  1. NHỮNG CHƯỚNG NGẠI ĐỐI VỚI

BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Tu-bồ-đề: Thâm sâu, Ôi Thế Tôn, là bát-nhã ba-la-mật. Nó là một khối bảo vật. Nó là một khối thanh tịnh, thanh tịnh như hư không. Sẽ không ngạc nhiên nếu nhiều chướng ngại xuất hiện đối với người thọ nhận, v.v…, bát-nhã ba-la-mật này. [221]

     Thế Tôn: Sẽ có nhiều chướng ngại cho sự nghiên cứu bát-nhã ba-la-mật này. Vì Ác Ma, sẽ có những nỗ lực to lớn gây khó khăn. Vì thế, nên nhanh lên mà sao chép nó. Nếu một người có một tháng, hay hai tháng, hay ba tháng để sao chép nó thì chỉ nên thực hiện việc sao chép. Nếu có một năm hay hơn, thì chỉ nên thực hiện việc sao chép bát-nhã ba-la-mật này [vì sau đó, hay trong thời gian đó có thể bị tất cả mọi thứ xen vào làm trở ngại]. Bởi vì sự thật là khi kính trọng những vật rất quí báu sẽ không có nhiều khó khăn xuất hiện

     Tu-bồ-đề: Ở đây, Ôi Thế Tôn, khi đang nghiên cứu bát-nhã ba-la-mật thì Ác Ma, sẽ tỏ ra cuồng nhiệt nhiều cách, tận lực gây khó khăn.

     Thế Tôn: Dù thế [222] y không có sức tạo ra những chướng ngại

thực sự cho một Bồ-tát đặt sự chú ý không phân chia của mình vào

phận sự của ông ấy.

 

  1. VỊ BỒ-TÁT ĐƯỢC CHƯ PHẬT HỘ TRÌ

 

     Xá-lợi-phất: Nếu, Ôi Thế Tôn, Ác Ma, quyết tâm gây chướng ngại cho việc nghiên cứu bát-nhã ba-la-mật này, làm sao ngay bây giờ người ta có thể thực sự nghiên cứu nó, và nhờ thần lực của ai họ có thể làm như vậy?

     Thế Tôn: Ấy là nhờ thần lực của chư Phật và chư Thế Tôn, của chư Như Lai, mà họ nghiên cứu nó, và họ tạo tiến bộ tu luyện trong Như. Vì nó ở trong tánh của sự vật mà chư Phật, chư Thế Tôn tự trụ, giữ gìnhộ trì chính các ngài trong vô lượngvô số các thiên thế giới, sẽ ghi nhớ và hộ trì mọi người dạy [223] và nghiên cứu bát-nhã ba-la-mật này. Chư Phật sẽ ghi nhớ người ấy trong tâm và trợ giúp người ấy. Và hoàn toàn không thể gây chướng ngại cho người được chư Phật ghi nhớ và hộ trì.

     Xá-lợi-phất: Ấy là nhờ thần lực của Phật, lực hộ trìân huệ của ngài mà các Bồ-tát nghiên cứu bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, tu luyện tiến bộ trong Như. [224]

     Thế Tôn: Đúng vậy, Xá-lợi-phất. Họ được Như Lai biết đến, họ được Như Lai hộ trì và thấy, và Như Lai thấy họ bằng mắt Phật. Và những Bồ-tát đó nghiên cứu bat-nhã ba-la-mật này và tu luyện tiến bộ trong Như, Họ ở gần Như của giác ngộ vô thượng, và họ thăng bằng trong quyết định của họ đối với sự đạt giác ngộ viên mãn. Nếu họ chỉ nghiên cứu bát-nhã ba-la-mật này, không tu luyện tiến bộ trong Như, [225] họ sẽ không đứng thăng bằng trong Như trong giác ngộ vô thượng; tuy nhiên họ cũng được Như Lai biết đến, được Như Lai hộ trì và thấy, và Như Lai thấy họ bằng mắt Phật. Sự nghiên cứu liên tục bát-nhã ba-la-mật đó, và sự kích động tinh thần vì nó, sẽ có nhiều lợi ích cho họ, một lợi thế lớn, quả và báo. Vì nhắm vào thực tại tối hậu, bát-nhã ba-la-mật đã được dựng lập để tất cả chúng sinh thâm nhập pháp thực sự là gì.

   

 

     8.  TIÊN ĐOÁN SỰ TRUYỀN BÁ

          BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Hơn nữa, các Kinh này kết hợp với sáu ba-la-mật, sau khi Như Lai ra đi, sẽ xuất hiện ở phương Nam. Từ phương Nam các Kinh sẽ truyền bá đến phương Đông, và từ đó đến phương Bắc – từ thời gian khi Pháp Luật Tạng[33] giống như đề-hồ tươi mát mới được làm thành ngay vào thời kỳ thiện pháp biến mất. Lúc đó những người nghiên cứugiữ gìn bát-nhã ba-la-mật này sẽ được Như Lai ghi nhớ; Như Lai sẽ biết, hộ trì và thấy họ, thấy họ bằng mắt Phật.

     Xá-lợi-phất: Ngay cả trong lần cuối cùng, trong thời kỳ cuối cùng, bát-nhã ba-la-mật rất thâm sâu này cũng sẽ được truyền bá rộng rãi ở phương bắc, ở phần phương bắc của thế giới ư?

     Thế Tôn: Những người ở phương Bắc sẽ nỗ lực trong bát-nhã thâm sâu này sau khi họ nghe nó, [226] họ sẽ làm nó được truyền bá rộng rãi. Vì lên đường đã lâu trên xe đại thừa nên biết các Bồ-tát sẽ nghiên cứu bát-nhã ba-la-mật này.

 

     9.  MIÊU TẢ CÁC BỒ-TÁT SẼ THAM HỌC

          BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Xá-lợi-phất: Những Bồ-tát ở phương Bắc sẽ tham học bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, họ sẽ nhiều hay ít?

     Thế Tôn: Sẽ có nhiều, một số rất nhiều Bồ-tát ở phương Bắc. Nhưng sẽ chỉ có một vài người trong bọn họ sẽ tham học bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, và khi được dạy cho, họ sẽ không bị nó làm cho phá giới. Vì lên đường đã lâu trên xe đại thừa nên họ được biết đến. [227] Trong quá khứ họ đã theo đuổi, tham vấnlễ bái các Như Lai. Họ sẽ trở thành hoàn toàn giữ giới luật, và họ sẽ nâng cao phúc lợi của nhiều người, nghĩa là, bắt đầu từ ngay đây sự giác ngộ của tôi. Chỉ vì họ mà tôi đã nói những bài pháp kết hợp với cảnh giới nhất thiết trí. Nơi họ, ngay cả sau khi đã đi qua lần sinh hiện tại, chính những ý kiến này kết hợp với cảnh giới nhất thiết trí và với bát-nhã ba-la-mật, sẽ vẫn bám chặt vì thói quen. Họ sẽ dạy chính bài pháp này và hoan hỉ, nghĩa là, quan tâm đến giác ngộ vô thượng. Họ sẽ khéo thiết lập trong bát-nhã ba-la-mật này và tập trung vào nó. Ngay cả Ma vương cũng không thể làm họ sai hướng, những người khác thì còn ít hơn nữa, dù những người ấy dùng năng lực ý chí hay thần chú. Bởi vì thú hướng hướng về giác ngộ viên mãn của họ vững chắc không thể phản kháng được. Do nghe bát-nhã ba-la-mật này, những người con trai và con gái của gia đình thiện lương sẽ có được một độ nhiệt tâm, phấn khởi phi thườngniềm tin tịch tĩnh. Vì nhiều người, họ sẽ trồng thiện căn, nghĩa là, nơi giác ngộ vô thượng. Bởi vì sự hiện diện của tôi, mặt đối mặt với tôi, họ đã thốt ra lời nguyện: “Chúng con, theo đuổi trong tu tập của một Bồ-tát, sẽ đưa lên đường đến giác ngộ viên mãn nhiều trăm chúng sinh, vâng, nhiều [228] na-do-tha câu-lợi chúng sinh. Chúng con sẽ hộ trì sự giác ngộ hoàn hảo cho họ, thúc giục, khuyến khích và kích thích họ đạt được nó, giúp nó tới, giúp họ đứng vững trong nó, giúp họ trở nên không thối chuyển.” Và khi tôi quán sát tâm họ bằng tâm tôi, tôi hoan hỉ vì những người con trai và con gái của gia đình thiện lương thuộc thừa Bồ-tát và đã lập lời nguyện này. Vì thế họ sẽ trở nên tin rất chắc rằng họ sẽ tìm sự tái sinh ở các Phật địa khác, và cũng sẽ đến mặt đối mặt với các Như Lai ở đó, chứng minh pháp, và từ các ngài ấy họ sẽ nghe tường tận chính bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này. Ở các Phật địa đó họ cũng sẽ đưa vô số chúng sinh lên đường đến giác ngộ vô thượng, và sẽ giúp họ cầu tìm giác ngộ viên mãn. [229]

     Xá-lợi-phất: Kỳ diệu là nghĩ rằng nơi các pháp quá khứ, vị laihiện tại không có gì Như Lai không thấy, không nghe, không cảm thấy, và không biết. Không có một pháp nào mà ngài không tri kiến, không có sự hành xử của bất cứ chúng sinh nào mà ngài không biết. Ngài còn tri kiến ngay cả cách hành xử vị lai của các Bồ-tát nhiệt tâm vì giác ngộ, đầy ý muốn nhiệt tình, tận lực tinh tấn. Nhưng trong những người con trai và con gái của gia đình thiện lương trong vị lai sẽ tham học bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, đã tận lực nhân danh sáu ba-la-mật này và phúc lợi của tất cả chúng sinh, tìm kiếmgắng sức đạt bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, vài người sẽ không đạt được nó trong khi những người kia sẽ đạt được nó mà không gắng sức. Đó, Ôi Thế Tôn, là vì lý do gì?

     Thế Tôn: Đúng thế, Xá-lợi-phất. Không có gì trong các pháp quá khứ, vị lai hay hiện tạiNhư Lai không thấy, nghe và cảm thấy, hay không biết. Đúng hơn nữa là lúc ấy trong thời kỳ đó, vài vị Bồ-tát săn lùng và [230] tìm kiếm bát-nhã ba-la-mật này sẽ không được nó. Những Bồ-tát khác sẽ được nó mà không săn lùng hay tìm kiếm nó. Họ sẽ là những Bồ-tát trong quá khứ đã kiên trì săn lùng và tìm kiếm bát-nhã ba-la-mật này. Do sự thúc giục của thiện căn này trước kia mà họ sẽ được bát-nhã ba-la-mật này, bất chấp sự kiện bây giờ họ không săn lùng và tìm kiếm. Và các Kinh cũng khác với Kinh này, chỉ đón chào bát-nhã ba-la-mật này vì phù hợp, sẽ đến với họ. Vì đây là định luật, này Xá-lợi-phất, là nếu một Bồ-tát kiên trì săn lùng và tìm kiếm bát-nhã ba-la-mật này, ông ấy sẽ được nó sau một hay hai ba lần sinh, và những Kinh khác cũng kết hợp với bát-nhã ba-la-mật lúc ấy sẽ tự đến với ông ấy.

     Xá-lợi-phất: Chỉ những Kinh này kết hợp với sáu ba-la-mật đến với vị ấy, và không có những kinh khác?

     Thế Tôn: Cũng sẽ có những Kinh rất thâm sâu khác sẽ đến với với người con trai hay con gái này của gia đình thiện lương vì sự phù hợp riêng của chúng. Vì đây là một định luật, này Xá-lợi-phất, là nếu các Bồ-tát đưa những người khác lên đường đến giác ngộ viên mãn, giúp họ trong cuộc cầu tìm giác ngộ viên mãn, [231] giúp họ trở thành không thể phản kháng, và nếu chính họ cũng tu luyện trong đó, thì sau khi đi qua khỏi lần sinh hiện tại này, vì chuyện của họ, những Kinh rất thâm sâu này sẽ đến với họ, những Kinh kết hợp với sự không nhận biết cái căn bản, kết hợp với không, kết hợp với sáu ba-la-mật.

 

 

 

 

 

Chương XI

 

     NHỮNG VIỆC LÀM CỦA MA VƯƠNG

 

  1. NHỮNG VIỆC LÀM SAI KHÁC CỦA MA VƯƠNG

 

     Tu-bồ-đề: Thế Tôn đã công bố các đức hạnh của những người con trai và con gái của gia đình thiện lương. Còn có chướng ngại nào sẽ xuất hiện với họ không?

     Thế Tôn: Nhiều việc làm của Ma vương sẽ gây chướng ngại cho họ.

     Tu-bồ-đề: Chúng thuộc loại gì?

     Thế Tôn: Các Bồ-tát dạy bát-nhã ba-la-mật sẽ hiểu nó chỉ sau một thời gian lâu. Hay sau khi đã hiểu, lại liền bị quấy rầy. Hay họ sẽ viết ngáp, cười và chế giễu. Hay họ sẽ tham cứu nó với những ý nghĩ bị quấy rầy. Hay họ sẽ viết với tâm họ để ở chỗ khác. Hay họ sẽ không có được chánh niệm. Hay họ sẽ viết trong khi cười, ngạo nhau, hay trong khi chế giễu nhau, hay với đôi mắt phân tán. [233] Hoặc những gì họ viết sẽ bất hòa với nhau. “Chúng tôi không thể bám chân vững chắc trong nó, chúng tôi không có được hoan hỉ vì nó,” với những lời này họ sẽ từ chỗ ngồi đứng dậy, và bỏ đi. Tâm họ không có niềm tin tịch tĩnh, họ sẽ nghĩ ‘chúng tôi không có duyên tiền định với bát-nhã ba-la-mật này,’ họ sẽ từ chỗ ngồi đứng dậy, và bỏ đi. Hay bởi vì quyển sách này không nói tên chỗ họ sinh, không nhắc đến tên riêng hay bộ tộc của họ, của mẹ và cha họ, của gia đình họ, họ có thể quyết định không lắng nghe bát-nhã ba-la-mật, và bỏ đi. Và mỗi lần bỏ đi, hết lần này đến lần khác, họ sẽ phải nhận lấy sinh tử trong nhiều kiếp như họ đã sinh ra ý nghĩ, và trong những kiếp ấy họ sẽ tạo những nỗ lực mới. Vì lý do gì? Bởi vì những Bồ-tát từ chối lắng nghe bát-nhã ba-la-mật này không thể tiến đến các đạo pháp dù là thế gian hay siêu thế gian.

 

  1. BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

CÁC KINH THANH VĂN

     Thêm vào, những người thuộc thừa Bồ-tát có thể từ bỏ bát-nhã ba-la-mật này mà nó nuôi dưỡng tri kiến của nhất thiết trí, và quyết định tìm các Kinh không nuôi dưỡng nó. Hơn nữa, những người không tu luyện mình trong bát-nhã ba-la-mật này không muốn tu luyện trong các đạo pháp thế gian hay siêu thế gian, cũng không đi đến các pháp ấy. [234] Vì không tu luyện trong bát-nhã ba-la-mật, họ không thể đi đến các đạo pháp thế gian hay siêu thế gian. Những người có trí thông minh giới hạn loại bỏ bát-nhã ba-la-mật, là gốc rễ của sự nhận biết các đạo pháp thế giansiêu thế gian, như thực, và thay vì quyết định tìm sự ủng hộ nơi những gì chỉ là cành nhánh. Như một con chó từ chối miếng đồ ăn được chủ cho, và thích ngoạm lấy một miệng đầy nước từ người đầy tớ hơn; cũng vậy, trong vị lai, một vài người thuộc thừa Bồ-tát sẽ từ chối bát-nhã ba-la-mật này, mà nó là gốc rễ của tri kiến nhất thiết trí, và quyết định tìm cái cốt lõi, sự gia tăng, cảnh giới Phật, trong thừa Thanh vănDuyên giác, mà nó thực sự tương ứng với cành, lá, và tàng cây. Nên hiểu đây cũng là do Ma vương làm. Vì những người có trí thông minh nhỏ bé sẽ không tri kiến được rằng bát-nhã ba-la-mật một mình nuôi dưỡng tri kiến của nhất thiết trí. Họ sẽ loại bỏ và từ chối bát-nhã ba-la-mật, và quyết định tham cứu những Kinh khác vì cao hơn nó, những Kinh chào đón hàng Thanh văn hay Duyên giác. Nên so sánh chúng với cành, lá, và tàng cây. Vì một Bồ-tát không nên tu luyện theo cùng cách mà những người thuộc thừa Thanh văn hay Duyên giác tu luyện. Rồi các Thanh vănDuyên giác tu luyện cách nào? Họ lập tâm rằng “chúng ta sẽ thuần thục một tự kỷ duy nhất, chúng ta sẽ bình an một tự kỷ duy nhất, chúng ta sẽ dẫn đến Niết-bàn một tự kỷ duy nhất.” Như thế họ quyết tâm luyện tập những pháp tu nhằm sinh ra những thiện căn để làm họ thuần thục, làm họ bình an, đưa họ đến Niết-bàn. Một Bồ-tát chắc chắn không nên tu luyện mình theo cách ấy. Trái lại, ông ấy nên tu luyện mình như vầy: [235] “Tự kỷ của tôi, tôi sẽ đặt nó nơi Chân như, và như thế tất cả thế gian có thể được nhờ, tôi sẽ đặt tất cả chúng sinh vào Chân như, và tôi sẽ đưa đến Niết-bàn toàn thể thế giới vô lượng chúng sinh.” Với chủ tâm đó, một Bồ-tát nên quyết tâm thực hành tất cả những pháp tu sinh ra tất cả các thiện căn. Nhưng ông ấy không nên khoa trương về chúng. Hãy tưởng tượng một người, không thể nhìn thấy con voi, cố gắng quyết định màu sắc và hình dạng của nó. Trong tối, người ấy sờ xem bàn chân con voi, và quyết định màu sắc và hình dạng con voi bằng cách suy luận từ bàn chân nó. Làm một việc như thế có thông minh không?

     Tu-bồ-đề: Dạ không, Thế Tôn!

     Thế Tôn: Cũng đúng như vậy với những người thuộc thừa Bồ-tát không hiểu bát-nhã ba-la-mật này và không tham hỏi về nó, nhưng trong khi ấy lại ham muốn giác ngộ viên mãn, từ chối nó, và thích tìm các Kinh đón chào hàng Thanh văn hay Duyên giác hơn. Và đây cũng là điều do Ma vương làm. Giống như người ham muốn châu ngọc không tìm chúng nơi đại dương, mà tìm nơi lỗ nước bùn trong dấu chân bò, và như thế kết quả làm đại dương ngang bằng với nước trong dấu chân bò. Người ấy có thông minh lắm không?

     Tu-bồ-đề: Dạ không, Thế Tôn!

     Thế Tôn: Điều tương tự cũng áp dụng cho những người thuộc thừa Bồ-tát, mặc dù họ đã có bát-nhã ba-la-mật này, tuy nhiên nếu họ tự dứt mình ra khỏi nó, [236] không nhảy vào hay thăm dò nó. Và những người thích các Kinh chào đón hàng Thanh văn hay Duyên giác hơn, qua biện hộ cho sự trú bất động không quan tâm, mà nó không giới thiệu thừa Bồ-tát, nhưng chỉ làm thuần, làm vơi bớt, Niết-bàn của một tự kỷ đơn độc. Quyết định có được cuộc sống ẩn cư, đạt các quả của đời sống phạm hạnh, từ quả Dự Lưu đến cảnh giới Duyên giác, nhập Niết-bàn sau khi người ta đã, trong chính đời này, giải thoát tâm, không còn bám vào nữa, khỏi những rỉ lậu, – có nghĩa là “kết hợp với hàng Thanh văn hay Duyên giác.” Các Bồ-tát không nên khởi tâm như thế. Vì khi họ đã lên đường trên xe đại thừa các Bồ-tát mặc chiếc áo giáp vĩ đại. Tâm họ không nên dấy lên đối với bất cứ sự không quan tâm nào. Vì họ là chân nhân, những vị lãnh đạo thế giới, những người nâng cao hạnh phúc thế gian. Vì thế họ nên liên tục và luôn luôn được huấn luyện trong sáu ba-la-mật. Nhưng những người đó thuộc thừa Bồ-tát, và những người, không biết và hiểu các Kinh kết hợp với sáu ba-la-mật, từ chối bát-nhã ba-la-mật này, và thích các Kinh chào đón hàng Thanh văn hay Duyên giác hơn, – thiện căn của họ chưa thuần thục, trí thông minh của họ có giới hạnnghèo nàn, quyết tâm của họ yếu. Họ giống như người thợ hồ, hay người thợ hồ mới tập sự, họ muốn xây một cung điện có tầm cỡ của cung điện Vaijayanta, và họ sẽ đo kích thức của nó theo cách đo chiếc xe mặt trời hay mặt trăng. [237] Một thủ tục tương tự được theo bởi những người từ chối bát-nhã ba-la-mật và cố tìm nhất thiết trí qua các Kinh kết hợp với hàng Thanh vănDuyên giác, những Kinh giới thiệu sự làm thuần, làm vơi bớt, và Niết-bàn không có gì hơn là chỉ một tự kỷ. Nếu họ tìm những Kinh như thế và tu luyện với ý định này, các Bồ-tát này có phải rất thông minh không?

     Tu-bồ-đề: Dạ không, Thế Tôn.

     Thế Tôn: Điều này cũng do Ma vương làm. Giả sử một người trước thấy Thiên đế, và quyết định theo các tướng của những gì người ấy thấy màu da, hình dáng, vẻ đẹp và sự trang nghiêm của vua ấy. Rồi người ấy cũng làm điều tương tự với vị tư lệnh của một thành trì. Nếu người ấy không thể phân biệt, nếu người ấy phải nói về vị tư lệnh của thành trì, “cũng giống y như Thiên đế về màu da, hình dáng, vẻ đẹp và sự trang nghiêm,” [238] Mặt khác, nếu người ấy xem Thiên đế ngang bằng với vị tư lệnh thành trì, thì đấy có phải là một việc làm thông minh không?

     Tu-bồ-đề: Dạ không, Thế Tôn!

     Thế Tôn: Điều như vậy cũng áp dụng với những người thuộc thừa Bồ-tát và trong vị lai họ sẽ từ chối bát-nhã ba-la-mật này, và tìm kiếm nhất thiết trí qua các kinh kết hợp với hàng Thanh văn hay Duyên giác. Đây cũng là việc do Ma vương làm cho họ. Trái lại, chắc chắn tôi không nói rằng Bồ-tát nên tìm kiếm nhất thiết trí qua các Kinh kết hợp với hàng Thanh văn hay Duyên giác. Bồ-tát chắc chắn không thể đi đến giác ngộ vô thượng trừ phi họ được huấn luyện những gì Như Lai đã tuyên bố trong bát-nhã ba-la-mật như là phương tiện thiện xảo của Bồ-tát. Về tri kiến đầy đủ của một Bồ-tát thì người ta không biết gì trong các Kinh khác. Vì thế lúc ấy, này Tu-bồ-đề, Như Lai thấy lợi thế này trong bát-nhã ba-la-mật, bằng nhiều phương pháp chỉ nó cho các Bồ-tát, thúc giục và giới thiệu nó, làm họ đầy nhiệt tâm vì nó, khiến họ hoan hỉ vì nó, trao phó cho nó, trong hy vọng rằng như thế vị Bồ-tát ấy có thể trở thành bất thối chuyển đối với giác ngộ viên mãn. Này Tu-bồ-đề, những Bồ-tát ấy tỏ ra rất thông minh, khi đã đạt và gặp được chiếc xe lớn, không thối chuyển, sẽ lại bỏ nó, bỏ đi, và thích một chiếc xe kém hơn?

     Tu-bồ-đề: Dạ không, Thế Tôn! [239]

     Thế Tôn: Nếu một người đang đói lả từ chối thức ăn ngon thượng hạng, và thích ăn thức ăn ôi dở hạng kém, có phải y rất thông minh không?

     Tu-bồ-đề: Dạ không, Thế Tôn!

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề, trong vị lai một vài Bồ-tát sẽ từ chối bát-nhã ba-la-mật này, sẽ thích các Kinh kết hợp với hàng Thanh văn hay Duyên giác, và sẽ tìm kiếm nhất thiết trí qua các Kinh chào đón hàng Thanh văn hay Duyên giác. Có phải những Bồ-tát ấy rất thông minh không?

     Tu-bồ-đề: Dạ không, Thế Tôn!

     Thế Tôn: Đây cũng là điều do Ma vương làm cho họ. Một người có được một viên ngọc vô giá và xem nó ngang bằng với một viên ngọc có giá trị và phẩm chất thấp hơn, có phải người ấy là một người thông minh không?

     Tu-bồ-đề: Dạ không, Thế Tôn! [240]

     Thế Tôn: Cũng vậy, trong vị lai sẽ có vài người thuộc thừa Bồ-tát, mặc dù họ đã được viên ngọc bát-nhã ba-la-mật thâm sâusáng ngời này, tuy nhiên họ sẽ nghĩ rằng nên xem nó ngang bằng với thừa Thanh vănDuyên giác, và sẽ quyết định tìm kiếm nhất thiết tríphương tiện thiện xảo ở hàng Thanh văn hay Duyên giác. Có phải họ rất thông minh không?

     Tu-bồ-đề: Dạ không, Thế Tôn!

     Thế Tôn: Đây cũng là điều do Ma vương làm cho họ.

 

  1. NHỮNG VIỆC LÀM SAI KHÁC CỦA MA VƯƠNG

 

     Hơn nữa, Tu-bồ-đề, khi bát-nhã ba-la-mật này được dạy, chứng minh, học, tụng, niệm, hay chỉ viết xuống, nhiều tia chớp nội kiến sẽ đến làm ngơ ngác nhiều người, và chúng sẽ làm tâm bối rối. Đây cũng là điều do Ma vương làm cho các Bồ-tát này.

     Tu-bồ-đề: Có thể nào viết bát-nhã ba-la-mật xuống không?

     Thế Tôn: Không, Tu-bồ-đề. Cũng là hành vi của Ma vương nếu sau khi đã viết bát-nhã ba-la-mật xuống, người ta nghĩ rằng đã viết bát-nhã ba-la-mật xuống hay chưa viết bát-nhã ba-la-mật, hay nếu người ta chấp vào bát-nhã ba-la-mật hoặc ở văn tự, hoặc một cái gì đó không ở văn tự. – Hơn nữa, Tu-bồ-đề, trong khi họ viết bát-nhã ba-la-mật xuống, tâm họ để ý tất cả mọi thứ: nơi chốn, làng mạc, thị trấn, thành phố, các vùng thôn quê, quốc gia, đế đô, vườn lạc thú, thầy giáo, [241] chuyện kể, bọn cướp, chỗ tắm, đường phố, kiệu cáng, những dịp hạnh phúc, những dịp sợ hãi, đàn bà, đàn ông, những người trung tính, những tình thế không thích hợp, mẹ cha, anh em chị em, bạn bè, thân nhân, bà con bên mẹ, vợ chính, con trai và con gái, nhà cửa, đồ ăn thức uống, quần áo, giường nằm, chỗ ngồi, cách sống, phận sự, cơ hội tham lam, ghét và mê hoặc, đúng lúc, lúc may mắn, về ca hát, âm nhạc, khiêu vũ, thơ, kịch, luận văn, kinh doanh, chuyện khôi hài, những màn trình diễn âm nhạc, những phiền muộn, phiền não, và bản thân họ. Những hành vi này và những hành động chú ý khác Ác Ma, sẽ sắp xếp khi bát-nhã ba-la-mật được dạy, nghiên cứu, hay chỉ viết xuống và như thế y sẽ gây chướng ngại và làm bối rối suy nghĩ cho các Bồ-tát. Một bồ-tát nên nhận ra đây là việc làm của Ma vương và tránh nó. [242] Thêm vào, những ý nghĩ của ông ấy cũng có thể là về vua chúa, hoàng tử, voi, ngựa, xe và các đội quân. Đó cũng là điều do Ma vương làm cho ông ấy. Thêm vào, những ý nghĩ của ông ấy có thể là về lửa, cám dỗ, tiền, bắp và chỗ có nhiều người tụ họp. Đây cũng là điều do Ma vương làm cho ông ấy. Hơn nữa, những khó khăn sẽ lại phát sinh về được, vinh dự, y áo, bát chứa đồ bố thí, chỗ ở, thuốc men dùng chữa bệnh, hay thay vào là những ý nghĩ hứng thú về được, vinh dựdanh tiếng có thể dày vò vị Bồ-tát dạy, giải thích, hay chỉ viết bát-nhã ba-la-mật này. Đây cũng là điều do Ma vương làm cho họ. Họ nên nhận ra và tránh những hành vi này của Ma vương. Hơn nữa, Ác Ma, sẽ đến chỗ các Bồ-tát dạy, v.v…, bát-nhã ba-la-mật này, và sẽ mang theo các Kinh rất thâm sâu kết hợp với hàng Thanh vănDuyên giác. Y sẽ khuyên họ nên “tu luyện theo đây, viết, xiển dương, và niệm cái này, vì nhất thiết trí sẽ được tạo ra từ nó.” [243] Nhưng một Bồ-tát thiện xảo trong phương tiện không nên mong mỏi những Kinh đó. Vì mặc dù chúng dạy Không, Vô Tướng, và Vô Nguyện, tuy nhiên chúng không thông báo sự thiện xảo trong phương tiện của các Bồ-tát. Một Bồ-tát chưa có trí phân biệt cao hơn của tri kiến về phương tiện thiện xảo từ chối bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, và thay bằng tìm kiếm phương tiện thiện xảo trong các Kinh kết hợp với hàng Thanh vănDuyên giác. Nên biết đây cũng là việc làm của Ma vương cho một Bồ-tát. 

 

  1. NGUỒN GỐC BẤT HÒA GIỮA THẦY VÀ TRÒ

 

     Rồi lại có những hành vi của Ma vương phá hỏng cơ hội hợp tác giữa thầy và trò. Trước hết, có thể là trò nhiệt tình, và ham học bát-nhã ba-la-mật, nhưng thầy biếng nhác và không muốn chứng minh pháp. Hay, thầy có thể không mệt mỏi và muốn cống hiến bát-nhã ba-la-mật, trong khi trò mệt mỏi hay quá bận rộn. Thứ nhì, có thể là trò nhiệt tình, và ham học bát-nhã ba-la-mật, ghi nhớ nó trong tâm, thuyết giảng, nghiên cứu, truyền bá, hay chỉ viết nó, có thể trò lanh lợi, thông minh, và có trí nhớ tốt; nhưng thầy có thể đi vào một lãnh vực khác, hay ông ta có thể không quen với những điểm chính, không quen với các chi tiết, không có tri kiến cao hơn. [244] Hay, thầy có thể không mệt mỏi, sở hữu tri kiến cao hơn, muốn cho và thuyết giảng bát-nhã ba-la-mật này; nhưng trò bắt đầu đi đến một lãnh vực khác, hoặc không quen với những điểm chính, không quen với các chi tiết, không có tri kiến cao hơn. Hơn nữa, thầy có thể là người bám vào sức nặng của những vật thể gợi ham muốn, để có được, vinh dự, và y áo, trong khi trò là người có ít ước muốn, dễ bằng lòng, và hoàn toàn không bám lấy. Hay có thể ông ta là người không muốn cho đi bất cứ vật gì có giá trị. Đây cũng là nguyên nhân gây ra sự không hòa hợp, khi nó là vấn đề tu luyện trong bát-nhã ba-la-mật hay sao chép nó. Mặt khác, trò có thể đầy tín ngưỡng, ham nghe bát-nhã ba-la-mật này và hiểu nghĩa của nó, phóng khoángrộng lượng; nhưng thầy không tín ngưỡng, quá dễ thỏa mãn, và không muốn dạy. Hay, trò có thể đầy tín ngưỡng, ham nghe và hiểu nghĩa; nhưng có thể thầy, bởi vì một vài chướng ngại cản trở lối vào pháp của ông ta, không có những Kinh này thuộc quyền sử dụng của ông ta, và không thể thăm dò chúng; trò hiển nhiên không tiếp xúc với vị thầy không có được chúng. [245] Hay nữa, thầy có thể muốn dạy, khi trò không nhiệt tình nghe. Hơn nữa, có thể là trò không muốn nghe bởi vì anh ta trĩu nặng lười nhác, trĩu nặng mệt nhọc thân thể, nhưng thầy muốn dạy; trái lại, dù trò muốn nghe, thầy có thể không muốn dạy bởi vì ông ta trĩu nặng lười nhác hay mệt mỏi thân thể. Sự không hòa hợp này cũng sẽ khiến cho việc viết, thuyết giảng, và nghiên cứu khó khăn.  

 

  1. SỰ LẠC HƯỚNG CỦA MỤC TIÊU

 

     Hơn nữa, khi viết, hay dạy bát-nhã ba-la-mật, hay tu luyện trong nó, có người sẽ đến và khinh chê sự sống ở địa ngục, ở thế giới súc sinh, ở Ngạ quỉ và A-tu-la, nói “rất xấu là tất cả những hình thức sống này, rất xấu là tất cả các vật hữu vi; hãy chấm dứt cái xấu này, và để chúng tái sinh cho số phận của chúng.” Đây cũng là việc làm của Ma vương. [246] Lại nữa, có người có thể đến và ca ngợi đời sống chư thiên: “Rất hạnh phúcchư thiên, rất hạnh phúcđời sống ở các cõi trời. Vì thế người ta nên chăm sóc nhục cảm trong dục giới, nhập vào các định đã được biết rõ trong sắc giới, và nhập vào những chứng đắc đã được biết rõ trong vô sắc giới.” Tuy nhiên, toàn bộ điều này được bát-nhã xem chỉ là tái sinh trong đau khổ. Bởi vì đức Thế Tôn đã nói: “Tôi không tán thán bất cứ loại tái sinh nơi hữu nào, bởi vì nó không kéo dài lâu hơn một cái búng ngón tay. Vì mọi sự vật hữu vi đều vô thường. Bất cứ sự vật nào có thể gây khổ đều là xấu. Tất cả [những gì] ở trong ba giới đều là rỗng rỗng. Tất cả các pháp đều không có ngã. Khi người trí tuệ hiểu rằng toàn bộ đây như vậy là không vĩnh viễn, vô thường, xấu, phải chịu hủy hoại, rồi chỉ ở đây họ nên đạt các quả của đời sống phạm hạnh, từ quả Nhập lưu đến A-la-hán. Hãy để họ ý thức hơn nữa về sự gặp gỡ với những chứng đắc đó, mà thực ra là những thất bại, và nhiều đau khổ.” Tuy nhiên, đối với một vài Bồ-tát đây sẽ là cái nguồn lo âu [bởi vì họ sẽ cảm thấy chán nản vì sự cầu tìm giác ngộ viên mãn bởi sự ham muốn tái sinhcõi trời]. Đây cũng là Ma vương làm cho họ.

 

  1. THÊM BẤT HÒA GIỮA THẦY VÀ TRÒ

 

     Hơn nữa, thầy có thể là một tỳ-kheo thích cô tịch trong khi trò thích đời sống cộng đồng hơn. Ông ta sẽ bảo họ rằng ông ta sẽ cho những người nào đến chỗ ông ta bát-nhã ba-la-mật này, mà không cho người nào không đến. Với ham muốn và nhiệt tình vì pháp mà họ đánh giá, họ đến chỗ thầy, và ông ta vẫn không cho họ cơ hội nào để học bất cứ điều gì. Ông ta là người hăng hái vì những mảnh mún không có giá trị của những vật gợi ham muốn, mà họ không muốn cho ông ta bất cứ vật gì ông ta đánh giá. [247] Đi đến chỗ nào ông ta cũng thiếu thức ăn, phiền phức vây quanh, và sinh mạng của ông ta ở trong nguy hiểm. Và học trò của ông ta sẽ nghe những người khác nói rằng chỗ đó thiếu thực phẩm, đầy phiền não và nguy hiểm đến tánh mạng. Và ông thầy đó sẽ nói với những người con trai và con gái ấy của gia đình thiện lương: “Đây là chỗ thiếu thức ăn. Dĩ nhiên, này các nam tử của gia đình thiện lương, các người có thể đến đây nếu các người muốn. Nhưng tôi sợ rằng các người sẽ hối tiếc vì đã đến.” Đây là một mưu kế tinh vi mà ông ta dùng để từ chối họ. Trong chán ghét, họ sẽ giải thích những lời ấy như là dấu hiệu từ chối, không phải là dấu hiệu muốn cho. Tin chắc rằng ông ta không muốn cho, họ sẽ không đến chỗ ông ta. Hơn nữa, thầy có thể đã lên đường đến một nơi nguy hiểm vì có độc, dã thú săn mồi, ma quỉ. Và ông ta sẽ đi từ chỗ đó đến nơi hoang vắng có thú săn mồi, rắn và cướp, có dấu hiệu hạn hán và nạn đói. Với những học trò tương lai, ông ấy nói: “Các anh ý thức, tôi giả sử, rằng ở địa điểm này chúng ta đã ra đi vì có nhiều nguy hiểm, độc, dã thú săn mồi, ma ăn thịt sống, rắn và cướp tụ thành đám đông, không có thực phẩm cũng không có nước. Như vậy các anh sẽ trải qua rất nhiều đau khổ.” Như thế ông ta từ chối họ bằng một mưu kế tinh vi. Chán ghét, họ sẽ không đến với ông ta, và quay lại bỏ đi. [248] Cuối cùng, thầy có thể là một trong những tỳ-kheo bám vào sức nặng trong mối liên hệ của họ với các gia đình thân hữu nuôi dưỡng họ. Toàn bộ thời gian đi thăm họ, ông ta luôn rất bận rộn theo cách đó, và từ chối những học trò tương lai đó vì lý do “trước hết, có người tôi phải đi thăm.” Đây cũng sẽ là nguồn gốc bất hòa khi viết và nghiên cứu bát-nhã ba-la-mật này. Đây cũng là việc làm của Ma vương. Bằng những cách như thế, Ma vương sẽ tự cựa quậy để ngăn người ta học, tham cứu, dạy, và viết bát-nhã ba-la-mật này. Vì thế, Tu-bồ-đề, tất cả những yếu tố ngăn sự hợp tác giữa thầy và trò nên nhận biếthành vi của Ma vương, và nên cố gắng tránh chúng.

 

  1. MA VƯƠNG KHUYÊN TỪ BỎ

BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Tu-bồ-đề: Thế thì, Ôi Thế Tôn, lý do Ma vương tạo nhiều nỗ lực lớn và tự xoay trở, bằng mưu kế này hay mưu kế khác, để ngăn trở người ta học và tham cứu bát-nhã ba-la-mật này là gì? [249]

     Thế Tôn: Bát-nhã ba-la-mật là cái nguồn của nhất thiết trí của chư Phật, chư Thế Tôn. Và đến phiên nó là cái nguồn đạo của chư Như Lai, dẫn độ vô lượngvô số chúng sinh đến chỗ bỏ đi các ô nhiễm. Nhưng với những người đã bỏ ô nhiễm, Ma vương không thể có được lối vào, khiến y buồn rầu và xuống tinh thần, và mũi nhọn sầu muộn làm y tức giận. Vì thế, khi có người viết và tham cứu bát-nhã ba-la-mật này, y biến nỗi khổ tâm to lớn của mình thành đại nỗ lực và tự cựa quậy, bằng mưu kế này hay mưu kế khác, ngăn cản sự học bát-nhã ba-la-mậy này. Hơn nữa, Ác Ma, sẽ đến trong lớp ngụy trang Sa-môn, và gây phân tranh. Để khuyên những người con trai của gia đình thiện lương gần đây đã lên đường trên chiếc xe đại thừa từ bỏ, y sẽ nói: “Các Ngài lắng nghe đó chẳng phải là bát-nhã ba-la-mật. Như nó đã được truyền xuống trong các Kinh của tôi, như nó bao gồm trong các Kinh của tôi, đó là bát-nhã ba-la-mật.” Như thế y sẽ gieo nghi ngờ trong tâm của các Bồ-tát gần đây mới lên đường trên chiếc xe ấy, những người mà trí thông minh nhỏ bé, biếng nhácgiới hạn, những người mù và những người mà sự giác ngộ vị lai chưa được thọ ký. Bị nghi ngờ nắm giữ, họ sẽ không học, tham cứu hay viết bát-nhã ba-la-mật này. [250] Đây cũng là Ma vương làm cho họ. Hơn nữa, Ma vương có thể đến trong lớp cải trang một vị Phật, với những tỳ-kheo do huyễn thuật biến ra quanh y, và chủ trương rằng một Bồ-tát theo đuổi trong các pháp thâm sâu là người nhận ra biên tế của thực tại, người trở thành một Thanh văn, không phải một Bồ-tát, như Bồ-tát này. Đây cũng là một trong những việc làm của Ma vương. Này Tu-bồ-đề, khi có người viết và tham cứu bát-nhã ba-la-mật này, Ác Ma tạo ra những hành vi này mà tôi đã nói đến và cũng như nhiều hành vi khác nữa. Tất cả những cái đó Bồ-tát nên nhận ra, và tránh đi, không đào luyện chúng. Bồ-tát ấy nên đáp lại chúng bằng tinh tấn, chánh niệm và tự hữu.

 

  1. SỰ ĐỐI LẬP GIỮA MA VƯƠNG VÀ PHẬT

 

     Tu-bồ-đề: Đúng vậy, Ôi Thế Tôn. Bất cứ cái gì rất quí báu đều kêu gọi chiến sự. Bởi vì nó rất thượng đẳng, khó đạt được, và có giá trị lớn. Vì thế người ta nên mong rằng, như một định luật, nhiều chướng ngại sẽ xuất hiệnbát-nhã ba-la-mật này. Khi quá sợ những chướng ngại này, có người trở nên lười biếng, nên biết rằng những người quyết định không học, tham cứu và viết bát-nhã ba-la-mật này là những người bị Ma vương vây hãm, nhưng gần đây đã lên đường trên chiếc xe ấy, trí thông minh của họ nhỏ bé, trì độn, có giới hạnđiên đảo, [251] và tâm họ từ chối vận hành trong các pháp rất cao diệu này.

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Và trong khi đúng là những hành vi này của Ma vương sắp xuất hiện, rất nhiều tác nhân đến lượt sẽ xuất hiện chống lại những sai lầm của Ma vương. Những người quyết định học, tham cứu và viết bát-nhã ba-la-mật này được thần lực của Phật, lực hộ trìân huệ của ngài ảnh hưởng. [252] Vì trong khi Ác Ma, sẽ tạo những nỗ lực to lớn để gây chướng ngại, thì Như Lai đến lượt sẽ gửi đến sự trợ giúp.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương XII

 

     CHỈ RA THẾ GIỚI

 

  1. BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT, MẸ CỦA CHƯ PHẬT

 

     Thế Tôn: Như người mẹ có nhiều đứa con, – năm, hay mười, hay hai mươi, hay ba mươi, hay năm mươi, hay một trăm, hay một ngàn. Nếu bà ấy cảm thấy bệnh, tất cả các con tự tận sức ngăn mẹ khỏi chết, giữ bà sống lâu như có thể, giữ cho thân bà không đau và không khó chịu. Bởi vì họ ý thức rằng đối với bà họ nợ bà sự hiện hữu của họ, rằng bà đã mang họ đến thế giới này trong sự đau đớn to lớn của bà, rằng bà đã dạy họ theo cách của thế gian. Vì thế họ chăm sóc tốt bà, cho bà mọi thứ có thể làm bà hạnh phúc, bảo vệ tốt cho bà, làm nhiều cho bà, và họ hy vọng rằng bà sẽ không bị đau – đến từ sự tiếp xúc với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hay ý, hay đến từ hơi thở, mật đắng, đờm, hay sự mất trật tự của những chuyện khôi hài, hay từ côn trùng, muỗi chích, hay những con vật bò, từ người hay ma, từ bất cứ vật gì rơi lên người bà, hay xé tách bà ra, hay từ sự va chạm tai hại. [254] Bằng cách này những người con đó tôn vinh mẹ họ bằng cách cho bà tất cả những gì có thể làm bà hạnh phúc, làm nhiều cho bà, ấp ủ và bảo vệ bà, bởi vì họ ý thức rằng bà là người mẹ, người sinh ra họ, rằng bà đã mang họ vào thế giới này trong sự đau đớn to lớn, rằng bà giáo huấn họ theo cách của thế gian. Cũng bằng cách này, các Như Lai đem bát-nhã ba-la-mật này đến tâm, và qua thần lực, lực hộ trìân huệ của các ngài mà những người viết, học, nghiên cứu, truyền bá và niệm nó. Và các Như Lai ngay bây giờ cũng trú ở các thiên thế giới,  – vì sự vui sướnghạnh phúc của nhiều người, vì thương xót họ, vì sự vui sướnghạnh phúc của một số người rất đông, vì thương xót chư thiên, người, và tất cả chúng sinh – các ngài cũng đem bát-nhã ba-la-mật này đến tâm, và các ngài cũng tỏ ra nhiệt tâm, như thế bát-nhã ba-la-mật này có thể dài lâu, như thế nó không thể bị hủy diệt, như thế Ma vương và nhóm của y không thể ngăn được người ta dạy, viết và thực hành bát-nhã ba-la-mật này. Các Như Lai rất thích bát-nhã ba-ba-la-mật này, các ngài ấp ủ và bảo vệ nó rất nhiều. Vì bát-nhã ba-la-mạt là người mẹ, người sinh ra các ngài, bát-nhã ba-la-mật dạy các ngài nhiều cách về thế gian. Các Như Lai đến từ bát-nhã ba-la-mật. Vì bát-nhã ba-la-mật đã sinh và đã chỉ ra tri kiến  nhất thiết trí, bát-nhã ba-la-mật đã chỉ ra cho các ngài thế giới thực sự là gì. [255] Nhất thiết trí của chư Như Lai đến từ bát-nhã ba-la-mật. Tất cả các Như Lai, quá khứ, vị lai, và hiện tại đạt được giác ngộ viên mãn nhờ chính bát-nhã ba-la-mạt này. Theo nghĩa này, bát-nhã ba-la-mật sinh các Như Lai và dạy các ngài trong thế giới này.

 

  1. NHƯ LAI BIẾT THẾ GIỚI BẰNG CÁCH NÀO

 

     Tu-bồ-đề: Bát-nhã ba-la-mật dạy các Như Lai như thế nào trong thế giới này, và cái mà chư Như Lai gọi là ‘thế giới’ là gì? [256]  

     Thế Tôn: Năm uẩn được Như Lai tuyên bố là ‘thế giới’[34]. Năm gì? Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức.

     Tu-bồ-đề: Năm uẩn được bát-nhã ba-la-mật chỉ ra như thế nào, hay cái được nó chỉ ra là gì?

     Thế Tôn: Bát-nhã ba-la-mật của chư Như Lai chỉ ra năm uẩn như là thế giới, bởi vì chúng không vỡ vụn hay tan đi[35]. Vì năm uẩntánh không làm tự tánh, và vì không tự tánh, tánh không không thể vỡ vụn hay tan đi. Theo nghĩa này bát-nhã ba-la-mật dạy chư Như Lai trong thế giới này. Và vì không không vỡ vụn cũng không tan đi, như thế Vô tướng, Vô nguyện, Vô quả, Vô sinh, Vô hữu, và Pháp giới cũng vậy.

 

  1. NHƯ LAI BIẾT TÂM CỦA

CHÚNG SINH BẰNG CÁCH NÀO [36]

     Hơn nữa, Tu-bồ-đề, nhờ bát-nhã ba-la-mật này Như Lai tuệ tri

vô lượng vô số chúng sinh như thực. Và qua sự vắng mặt của tự tánh nơi chúng sinh. [257] Như Lai cũng tuệ tri ý nghĩ và hành động của vô lượng vô số chúng sinh, vì chúng sinh không có sự hiện hữu thực sự [như những cá thể tách rời]. Hơn nữa Như Lai, nhờ bát-nhã ba-la-mật, tuệ tri chúng thực sự là những ý nghĩ tập hợp của vô số chúng sinh là ‘những ý nghĩ tập hợp.’ Và làm sao Như Lai biết được?  Như Lai tuệ kiến sự tập hợp đó tương đương với sự tịch diệt [của những ý nghĩ cá thể, nói theo cách thực nghiệm, đã ngừng hiện hữu, đang nhập vào tuyệt đối]. Và sự tịch diệt đó [nếu chúng ta xét chân thực tại của nó], chỉ là phi tịch diệt. Hơn nữa, Như Lai tuệ tri những ý nghĩ phân tán của chúng sinh như thực. Vì Như Lai tuệ tri rằng ý nghĩ bị phân tán [bởi sự vật của thế giới bên ngoài bởi vì không chú ý] Pháp giới. Mặt khác, ngài biết rằng những ý nghĩ đó, như chúng thực sự có trong thực tướng tối hậu, thì không có tướng, không tịch diệt [từ giây phút này đến giây phút khác], rằng sự tương tục của chúng không bị làm gián đoạn, và thực sự chúng không bị phân tán [bởi vì thực tế, chúng không thể bị hướng dẫn đến những vật bên ngoài]. [258] Như Lai biết tâm vô cùngvô tận của chúng sinh. Vì Như Lai đại bi muốn một cái tâm mà với nó ngài tuệ tri như thực rằng “nên hiểu tâm phi tịch diệt vô lượng của chúng sinh giống như hư không phi tịch diệt vô lượng.” Và cái tâm ấy của Phật thì không bao giờ diệt, nó không bao giờ sinh, nó không có thời gian giữa sinh và diêt, nó không ủng hộ, nó vô cùng, vì không thể đo lường nó được, và nó vô tận, như chính Pháp giới. Như Lai biết tâm ô nhiễm của chúng sinh chúng vì cái gì. Vì ngài biết rằng tâm người thường thực sự không bị ô nhiễm bởi các lực ô nhiễm của những cái thấy điên đảo, mà chúng chỉ là những ý kiến sai lầm, thực sự không tìm được chỗ nào nơi họ. [259] Như Lai biết những ý nghĩ không bị ô nhiễm chúng thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng tâm ấy trong yếu tánh thì quang minh trong sáng. Như Lai biết những ý nghĩ giải đãi chúng thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó thực sự không thể đi vớ vẩn ở bất cứ nơi an nghỉ nào. Như Lai biết những ý nghĩ hoạt động khẩn trương chúng thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ được tận dụng để được bình tĩnh, và chúng có thể không còn được tận dụng khi không gì còn lại có thể nắm bắt được. Như Lai biết [260] những ý nghĩ rỉ lậu chúng thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó không có tự tánh, chúng chỉ là biểu hiện giả của gì không phải chúng. Như Lai biết những ý nghĩ không rỉ lậu thực sự vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó dẫn đến sự không hiện hữu [của rỉ lậu] và [khi sự tương tục hoàn toàn thanh tịnh], không có gì có thể khiến chúng hướng đến. Như Lai biết những ý nghĩ tham lam thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng tâm tham lam không phải là tâm như thực, và tâm như thực không phải là tâm tham lam. [261] Như Lai biết tâm không tham lam thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng cái tâm mà từ nó tham lam ra đi thì không phải là cái tâm tham lam, và chân tướng của cái tâm từ bỏ tham lam thì không phải là tâm tham lam, bởi vì nó xa lìa tham lam. Và vì Như Lai tuệ tri các tâm tham không tham, vì thế ngài biết, theo cùng cách, các tâm ghétkhông ghét, và mê hoặckhông mê hoặc. [263] Như Lai cũng biết những ý nghĩ hiếm ít của chúng sinh thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó không kết hợp với thế giới hiện tướng, chúng không bao gồm trong thế giới hiện tướng. Như Lai biết những ý nghĩ rộngphong phú thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó không thực sự tăng hay giảm, những ý nghĩ đó không ra đi, bởi vì chúng không thể làm thế [vì chúng cốt yếu đồng nhất với Pháp giới, và không có chỗ nào bên ngoài để đi]. Như Lai biết những ý nghĩ chưa qua chúng thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó chưa đến, chúng không đi, và thực tướng của chúng cũng không bao gồm trong hiện tại. [264] Như Lai biết những ý nghĩ đã qua chúng thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó tất cả đều giống nhau trong Chân như tối hậu, thêm vào, trong tự tánh chúng hoàn toàn giống nhau [nghĩa là, chỉ là hư huyễn]. Như Lai biết những ý nghĩ trở nên không bị giới hạn chúng thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó trở nên không bị giới hạn bởi vì chúng đã ngừng nương tựa vào bất cứ cái gì. Như Lai biết những ý nghĩ có những thuộc tính có thể nhận thức được chúng thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng tất cả những ý nghĩ đó trông giống nhau vì trong tự tánh toàn bộ chúng là những ý nghĩ. [265] Như Lai biết những ý nghĩ không có những thuộc tính có thể nhận thức được chúng thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng ý nghĩ, vì tự nó không có tướng, và ly cách với đối tượng của chúng, thì không thể nhận thức được, và không đến trong tầm của ba, hay tất cả năm loại thị kiến. Như Lai biết những ý nghĩ phản ứng chúng thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó biểu hiện cái gì không thực sự có ở đó, rằng chúng rỗng không, không có trợ duyên khách quan. Như Lai biết những ý nghĩ không phản ứng chúng thực ra là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó là không phải hai, [266] và rốt ráo không có thực, chúng chỉ có vẻ như đến một thực tướng nào đó. Như Lai biết những ý nghĩ hạ đẳng chúng thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng trong chân như thực tướng của những ý nghĩ hạ đẳng không có tưởng tượng tự phụ. Như Lai biết những ý nghĩ tối thượng chúng thực sự là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó không bị cản trở, bởi vì ngay cả cái ý nghĩ nhỏ nhất cũng không được nhận biết. Như Lai biết những ý nghĩ không tập trung chúng thực ra là vì cái gì. [267] Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó giống nhau trong việc chúng chấp giữ những dị biệt [được qui hướng về sự biểu thị sai về một thế giới của những sự vật tách rời mà chúng bị phân tán, và] chúng không thành một tổng hợp; theo nghĩa đó chúng không tập trung. Như Lai Lai biết những ý nghĩ tập trung chúng thực ra là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó giống nhau trong pháp giới tự đồng nhất, và bằng cách không làm tất cả những phân tán, chúng thành tổng hợp, và theo nghĩa này chúng là những ý nghĩ tập trung, giống như hư không. Như Lai biết những ý nghĩ không giải thoát chúng thực ra là vì cái gì. Vì ngài biết rằng những ý nghĩ đó, trong tự tánh, bây giờ đã giải thoát, vì chúng không có tự tánh hiện hữu. [268] Như Lai biết những ý nghĩ giải thoát chúng thực ra là vì cái gì. Vì Như Lai không nhận biết bất cứ một ý nghĩ nào là quá khứ, là vị lai, hay là hiện tại, bởi vì ý nghĩ không thực sự ở đó. Như Lai biết những ý nghĩ không thể nhận thức được chúng thực ra là vì cái gì. Vì ngài biết rằng ý nghĩ đó, bởi vì nó không thực sự ở đó, người ta không thể nhận thức được nó; bởi vì nó không có thực tướng, nên không thể phân biệt được; bởi vì nó thiếu thực tướng hoàn toàn, nên không thể nắm bắt được, – bằng mắt tuệ, bằng mắt trời, còn ít hơn biết bao là bằng mắt thịt, vì nó không đến trong phạm vi của mắt nào trong những mắt đó. Hơn nữa, Như Lai tuệ tri, chúng thực ra là vì cái gì, những khuynh hướng của vô số chúng sinh nói những câu khẳng định hay phủ định sự vật. Vì ngài biết [269] rằng tất cả những ý kiến này phát sinh tùy thuộc vào sắc, và các uẩn khác. Làm sao ngài phân biệt được sự tùy thuộc vào các uẩn của những câu nói khẳng định và phủ định đó? Nếu chúng ta lấy những câu như – ‘Như Lai tiếp tục hiện hữu sau khi chết,’ ‘Như Lai không tiếp tục hiện hữu sau khi chết,’ ‘Như Lai tiếp tục và không tiếp tục hiện hữu sau khi chết,’ ‘Như Lai không tiếp tục cũng chẳng không tiếp tục hiện hữu sau khi chết’ – thì những câu nói đó chỉ ám chỉ các uẩn [và chúng không có căn bản nào trong thực tướng của Như Lai]. Điều đó cũng đúng với những câu nói tương tự, nghĩa là, khi người ta nói: ‘Thường hằng là ngã và thế giới, – chỉ cái đó là chân lý, mọi thứ khác đều là mê hoặc.’ Và như vậy nếu có người chủ trương rằng ngã và thế giới đều không thường hằng, vừa thường hằng vừa không thường hằng, không thường hằng cũng chẳng không thường hằng. [270] Hay tương tự, nếu có người chủ trương rằng ngã và thế giới hữu cùng, hay không phải hữu cùng, hay vừa hữu cùng vừa vô cùng, hay chẳng phải hữu cùng cũng chẳng phải không hữu cùng. Hay cuối cùng, nếu có người nói ‘cái mà nó là linh hồn, cái đó là thể xác,’ hay ‘một cái là linh hồn, một cái là thể xác,’ tất cả những câu nói này chỉ ám chỉ các uẩn. Nhờ bát-nhã ba-la-mậtNhư Lai biết những câu nói khẳng định và phủ định đó thực ra chúng vì cái gì. [271] Như Lai tri kiến rằng các uẩn đồng nhất với Chân như. Đó là tại sao Ngài biết, nhờ bát-nhã ba-la-mật, những câu nói khẳng định và phủ định thực sự là vì cái gì. Như vậy Như Lai khiến cho Chân như được biết qua Chân như của Như Lai, qua Chân như của các uẩn, qua Chân như của nhũng câu nói khẳng định và phủ định. Và chính Chân như đó của các uẩn, đó cũng là Chân như của thế giới. Vì Như Lai đã nói rằng “năm uẩn được kể như là ‘thế giới.’” Vì thế lúc ấy, Tu-bồ-đề, cái mà nó là Chân như của các uẩn, đó là Chân như của thế giới, đó là Chân như của tất cả các pháp; cái mà nó là Chân như của thế giới, đó là Chân như của tất cả các pháp; cái mà nó là Chân như của tất cả các pháp, đó là Chân như của Chân như của quả Nhập lưu, và như thế, cho đến: đó là Chân như của cảnh giới Duyên giác, đó là Chân như của Như Lai. Vì thế tất cả Chân như này, – Chân như của Như Lai, của năm uẩn, của tất cả các pháp, của tất cả các thánh Thanh vănDuyên giác – chỉ là một Chân như duy nhất, không có dấu vết sai khác nào của khẳng định và phủ định, là một, không khác, vô tận, không bị ảnh hưởng, không hai, không nguyên nhânbất nhị. [272] Đó là Chân nhưNhư Lai biết đầy đủ, nhờ bát-nhã ba-la-mật. Bát-nhã ba-la-mật dạy Như Lai trong thế giới này như vậy. Như Lai chỉ bày thế giới cho thế gian mê đắm này thực ra nó là vì cái gì là như vậy. Và như thế thị kiến về thế giới này xảy ra. Bát-nhã ba-la-mật là mẹ của chư Như Lai, người đã sinh ra các Ngài là như vậy. Như Lai, sau khi giác ngộ Chân như, tri kiến Chân như của thế giới, Tính Bất hư của nó, Chân như bất biến của nó là như vậy. Và vì thế, chỉ vì Ngài đã giác ngộ Chân như[37] nên Như Lai được gọi là Như Lai[38].

     Tu-bồ-đề: Thâm sâu, Ôi Thế Tôn, là Chân như. Giác ngộ của chư Phật, chư Thế Tôn, sinh ra và hiển lộ qua nó. Ai khác có thể tin chắc nơi nó, trừ một Bồ-tát bất thối chuyển, hay một A-la-hán tâm ý đã hoàn thành, hay một người đã đạt được chánh kiến. Do đó những trạm dừng [stations] cực kỳ thâm sâu này được Như Lai miêu tả sau khi ngài đã chứng ngộ chúng.

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Vì Chân như này mà Như Lai biết đầy đủ, là vô tận, và Như Lai miêu tả nó là vô tận sau khi đã biết nó đầy đủ.

 

  1. CÁC TƯỚNG THÂM SÂU, VÀ

CHÚNG BỊ RÀNG BUỘC NHƯ THẾ NÀO

     Vì thế, do Thiên đế Thích-đề, dẫn đầu, các thiên cõi dục và cõi

 sắc, và hai vạn thiên của cõi Phạm-thiên đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ dưới chân ngài, đứng sang một bên, và nói: Các pháp thâm sâu đã được hiển bày, Ôi Thế Tôn, là những tướng cố định nơi chúng chăng? [273]

     Thế Tôn: Các tướng cố định nơi sự thật là chúng rỗng không, vô tướng, vô nguyện, không kết hợp với nhau, không sinh, không đoạn, không nhiễm, không tịnh, chúng không hiện hữu, Niết-bàn, pháp giới, và Chân như. Vì những tướng ấy không có gì ủng hộ. Chúng giống như hư không. Những tướng ấy không do Như Lai cố định, không thể tính chúng vào các uẩn, chúng không tùy thuộc vào các uẩn, chúng không do thần, rồng hay người cố định, và chúng không thể bị thế giới với các thần, người và a-tu-la làm cho rơi rớt. Vì thế giới này với các thần, người và a-tu-la cũng chỉ có tướng này. Không một bàn tay nào cố định những tướng đó. Nói rằng hư không này được một cái gì đó cố định nó có đúng không?

     Chư thiên: Dạ không, Ôi Thế Tôn, bởi vì nó vô vi.

     Thế Tôn: Đúng vậy, ôi chư thiên. Không tùy thuộc vào chư Như Lai có sinh hay không, [274] các tướng ấy đứng ra như vậy. Hợp với những gì đứng ra như thế Như Lai miêu tả thực tướng của chúng, sau khi Như Lai biết nó đầy đủ. Vì thế, Như Lai được gọi là ‘Như Lai.’

     Tu-bồ-đề: Thâm sâu, Ôi Thế Tôn, là những tướng này mà Như Lai đã biết đầy đủ. Nhưng bát-nhã ba-la-mật này là tri kiến không chấp trước của chư Như Lai. Vì cánh đồng tri kiến không chấp trước là bát-nhã ba-la-mật tầm mức của chư Như Lai

 

  1. THẾ GIỚI HIỂN BÀY NHƯ LÀ RỖNG KHÔNG

 

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Như vậy đó là bát-nhã ba-la-mật dạy chư Như Lai trong thế giới này. Mức độ mà chư Như Lai trú trong sự tùy thuộc thâm mật ở pháp này, bát-nhã ba-la-mật, đến mức độ đó là những pháp này, đứng kiên trì mãi, được Như Lai biết đầy đủ, qua sự không trụ một chỗ nào. Vì thế các ngài trú trong sự tùy thuộc gần gũi và thâm mật nơi Pháp ấy. Các ngài đối xử Pháp với sự kính trọng, tôn nghiêm, sùng bái và trang trọng, vì các ngài biết rằng yếu tánh này của các pháp chínhbát-nhã ba-la-mật. Vì nhất thiết trí của chư Như Lai sinh ra từ bát-nhã ba-la-mật này, và vì thế chư Như Lai biết ơncảm ơn bát-nhã ba-la-mật. Công bình có thể gọi các Như Lai là ‘biết ơn và cảm ơn’[39]. Trong biết ơncảm ơn, Như Lai [275] ưu ái và ấp ủ chiếc xe trên đó ngài đã đến và con đường mà ngài đã đạt được giác ngộ viên mãn. Người ta nên biết đó là sự biết ơncảm ơn của Như Lai. Thêm vào, Như Lai đã biết tất cả các pháp một cách đầy đủ là bất tạo[40], là không phải bất tạo, là không phải do kết hợp với nhau. Người ta cũng nên biết đây là sự biết ơncảm ơn của Như Lai. Vì cảm ơn bát-nhã ba-la-mậttuệ tri của Như Lai như thế đã tiến hành nơi tất cả các pháp. Đó là một nét khác của sự thậtbát-nhã ba-la-mật chỉ dạy chư Như Lai trong thế giới này. 

     Tu-bồ-đề: Nhưng làm sao bát-nhã ba-la-mật có thể chỉ dạy các Như Lai trong thế giới này nếu tất cả các pháp là không thể biết được và không thể nhận thức được?

     Thế Tôn: Tốt, này Tu-bồ-đề, là ông quyết định hỏi Như Lai về vấn đề này. Tất cả các pháp quả thật là không thể biết được và không thể cảm nhận được. Bởi vì chúng rỗng không, và không tựa vào bất cứ vật gì. Như thế là tất cả các pháp, nhờ bát-nhã ba-la-mật, mà các Như Lai biết được một cách đầy đủ. Vì một lý do khác, bát-nhã ba-la-mật cũng có thể được xem là người dạy các Như Lai trong thế giới này, nghĩa là, bởi vì không thấy có một uẩn nào. [276]

     Tu-bồ-đề: Làm sao có thể có được sự không thấy sắc, v.v…?

     Thế Tôn: Ở đâu ý thức phát sinh một hành động mà không có một uẩn nào trợ duyên khách quan, ở đó xảy ra sự không thấy sắc, v.v…. Nhưng chỉ không thấy các uẩn này là thấy thế giới. Đó là cách Như Lai thấy thế giới. Như thế đó là bát-nhã ba-la-mật hành động như là người chỉ dạy các Như Lai trong thế gian này. Và làm sao bát-nhã ba-la-mật hiển bày thế giới nó vì cái gì? Bát-nhã ba-la-mật hiển bày thế giới là rỗng không, không thể nghĩ bàn, tĩnh lặng. Vì tự tịnh, bát-nhã ba-la-mật hiển bày thế giới, làm cho thế giới được biết đến, nó chỉ ra thế giới.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương XIII

 

          KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN

 

  1. NĂM ĐỨC TÍNH CỦA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Tu-bồ-đề: Thâm sâu, Ôi Thế Tôn, là bát-nhã ba-la-mật. Chắc là một tác nhân vĩ đại đã dựng lập bát-nhã ba-la-mật như một tác nhân không thể nghĩ bàn, không thể so sánh, không thể đo lường, không thể tính toán, như một tác nhân bình đẳng những cái không bình đẳng.

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Và vì sao nó là tác nhân không thể nghĩ bàn? Bởi vì không thể nghĩ bàn là cảnh giới Như Lai, cảnh giới Phật, Tự-hữu, và cảnh giới nhất thiết trí. Và về những điều này người ta không thể phản chiếu bằng một ý nghĩ, bởi vì chúng không thể nào là đối tượng của ý nghĩ, hay của ý chí, hay của bất cứ một pháp nào kiến tạo ý nghĩ. Và vì sao nó là tác nhân không thể so sánh? Bởi vì người ta không thể phản chiếu cảnh giới Như Lai, v.v…, cũng không thể so sánh nó. Và vì sao nó không thể đo lường? [278] Bởi vì cảnh giới Như Lai, v.v…, thì không thể đo lường. Và vì sao nó không thể tính toán? Bởi vì cảnh giới Như Lai, v.v…, thì không thể tính toán. Và vì sao nó là tác nhân bình đẳng những cái không bình đẳng? Bởi vì không cái gì có thể bằng với Như Lai, với Bậc Giác Ngộ viên mãn, với Tự-hữu, với Nhất-thiết-trí, cái gì có thể cao hơn Như Lai thì còn ít hơn biết bao?

     Tu-bồ-đề: Năm đức tính này chỉ áp dụng với cảnh giới Như Lai, v.v…, hay cũng áp dụng cho các uẩn và cho tất cả các pháp?

     Thế Tôn: Chúng cũng áp dụng cho mấy cái kia. Các uẩn, và tất cả các pháp cũng không thể nghĩ bàn. Vì với yếu tánh thực của sắc, v.v…, không có ý nghĩ, cũng không ý chí, cũng không có bất cứ pháp nào kiến tạo ý nghĩ, cũng không có bất cứ sự so sánh nào. Vì lý do đó các uẩn và tất cả các pháp [279] cũng không thể nghĩ bàn và không thể so sánh. Chúng cũng không thể đo lường, bởi vì người ta không thể tư duy về sự đo lường sắc, v.v…, vì cách đo lường đó không hiện hữu, vì thế tất cả các pháp vô cùng. Chúng cũng không thể tính toán được, bởi vì chúng vượt lên trên tất cả các khả năng tính toán. Chúng cũng bình đẳng với những cái không bình đẳng, bởi vì tất cả các pháp giống như hư không. Này Tu-bồ-đề, ý ông thế nào, ở đó có sự giống nhau nào hiện hữu liên quan với hư không, hay đo đếm, hay so sánh, hay ý nghĩ, hay một pháp kiến tạo ý nghĩ không?  

     Tu-bồ-đề: Dạ không, Thế Tôn. [280]

     Thế Tôn: Cũng vậy, tất cả các pháp đều không thể nghĩ bàn, không thể so sánh, không thể đo lường, bình đẳng với những cái không bình đẳng. Vì chúng là pháp Như Lai. Nhưng các pháp Như Lai đó thì không thể nghĩ bàn bởi vì tất cả ý nghĩ đã đoạn, và không thể so sánh bởi vì chúng đã hoàn toàn vượt lên trên toàn bộ sự so sánh. Bằng các chữ ‘không thể nghĩ bàn’ và ‘không thể so sánh’ là để chỉ tất cả các đối tượng thuộc ý thức. Và với ‘không thể đo lường’, ‘không thể tính toán’ và ‘bình đắng với những cái không bình đẳng’, cũng vậy. Bởi vì tất cả sự đo lường, tính toán, giống nhau đã đoạn là các pháp Như Lai không thể đo lường, không thể tính toán, bình đẳng với những cái không bình đẳng. Chúng không thể đo lường, không thể tính toán, bình đẳng với những cái không bình đẳng bởi vì tính không thể đo lường và tính không thể tính toán của chúng thì giống như hư không. Các pháp này không thể so sánh cùng nghĩa với hư không không thể so sánh. Các pháp này chắc chắn không thể đặt cạnh nhau, đó là lý do chúng không thể so sánh. Các pháp này không thể nghĩ bàn, không thể so sánh, không thể đo lường, không thể tính toán, bình đẳng với những cái không bình đẳng đồng nghĩa với hư không có những thuộc tính này.

 

  1. SỰ TÁI SINH TINH THẦN

KẾT QUẢ TỪ TRI KIẾN NÀY

 

     Khi nghe dạy giáo pháp về tính không thể nghĩ bàn này, v.v…, tâm của năm trăm tỳ-kheo được giải thoát, không còn bám vào các lậu nữa, và tâm của hai ngàn tỳ-kheo ni cũng vậy. Sáu ngàn nam cư sĩ và ba ngàn nữ cư sĩ được con mắt pháp thanh tịnh, điềm tĩnh, không cấu uế. Hai vạn Bồ-tát đạt hạnh nhẫn nhục chấp nhận các pháp vô sinh. Và Thế Tôn đã thọ ký rằng họ sẽ đạt giác ngộ trong chính Hiền kiếp[41] này. Và về các nam cư sĩnữ cư sĩ, với con mắt pháp thanh tịnh, họ cũng đã được Thế Tôn thọ ký, và họ cũng sẽ được giải thoát, không còn chấp các rỉ lậu nữa. [281]

 

  1. KHÔNG GÌ ĐỂ CHẤP GIỮ

 

     Tu-bồ-đề: Thâm sâu, Ôi Thế Tôn, là bát-nhã ba-la-mật. Chắc chắn vì một đại tác nhân mà nó được dựng lập.

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Vì nhất thiết trí đã được trao phó cho nó, và vì thế nó có được hàng Thanh văn và hàng Duyên giác. Một vị vua có xức dầu thánh, một Sát-đế-lỵ[42], cảm thấy dũng mạnh và an ninh trong vương quốc của mình, trao phó toàn bộ công việc triều chánh, thành phố và vương quốc của mình cho quan thượng thư, và chính nhà vua chỉ có một ít quan tâm, và gánh nặng của mình nhẹ đi. Cũng vậy, bất cứ pháp nào của các Phật, các Duyên giác, hay các Thanh văn có thể có, tất cả đều được trao phó cho bát-nhã ba-la-mật. Ấy là bát-nhã ba-la-mật nơi chúng làm việc ấy. Theo cách này thì bát-nhã ba-la-mật đã được dựng lập vì một đại tác nhân, nghĩa là, như thế người ta không nên bám vào sắc, v.v…, cũng không trụ nơi nó. Và về các uẩn, cũng như các quả của đời sống phạm hạnh, từ quả Dự lưu đến cảnh giới nhất thiết trí, cũng vậy.

Tu-bồ-đề: Bát-nhã ba-la-mật đã được dựng lập bằng cách nào mà người ta không bám vào cảnh giới nhất thiết trí, cũng không trụ nơi

nó? [282]

Thế Tôn: Ông có xem quả vị A-la-hán như là một pháp có thực mà ông có thể chấp giữ hay trụ không?

Tu-bồ-đề: Dạ không, Thế Tôn!

Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Tôi cũng không xem cảnh giới Như Lai là có thực, và vì thế tôi không chấp giữ nó, không trụ nơi nó. Vì lý do đó nhất thiết trí cũng là cảnh giới trong đó người ta không chấp giữ vật gì cũng không trụ nơi vật gì.

Tu-bồ-đề: Các Bồ-tát chỉ mới lên đường trên xe, và thiện căn của họ còn nhỏ, phải ý thức rằng họ không run rẩy khi nghe giải thích này. Mặt khác, các Bồ-tát khi nghe bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, sẽ tin chắc nó nếu họ thích hợp với cảnh giới Phật, đã thực hiện các phận sự của họ dưới các bậc Chiến Thắng của quá khứ, và đã trồng thiện căn trong một thời gian dài.

Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề.

 

  1. PHẢN ỨNG CỦA CHƯ THIÊN

 

     Nhân đó, chư thiên ở cõi dục và cõi sắc nói với Thế Tôn: Thâm sâu, Ôi Thế Tôn, là bát-nhã ba-la-mật này, khó thấy, khó hiểu. [283] Những chúng sinh tin quyết vào bát-nhã ba-la-mật rất thâm sâu này phải thực hiện các bổn phận của họ dưới các bậc Chiến Thắng của quá khứ, phải trồng thiện căn trong một thời gian lâu. Ôi Thế Tôn, nếu tất cả chúng sinh trong đại thiên thế giới này phải theo đuổi địa vị của người theo Đạo trong một kiếp hay phần còn lại của một kiếp; và mặt khác, nếu có người chỉ trong một ngày thôi, nên tìm lạc thú trong hạnh nhẫn nhục chấp nhận bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, và nên tìm nó, tư duy nó, cân nhắc nó, thẩm tra nó và thiền định nó, thì người ấy sẽ tốt hơn tất cả những chúng sinh kia.

     Thế Tôn: Này chư thiên, nếu có người nghe bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, v.v…, thì người ta mong rằng Niết-bàn của mình xảy ra nhanh hơn Niết-bàn của những người theo đuổi địa của người theo đạo một kiếp, hay phần còn lại của một kiếp.

     Chư thiên: Ba-la-mật vĩ đại là bát-nhã ba-la-mật! – Sau khi nghe những lời đó, họ đảnh lễ dưới chân Thế Tôn với đầu chạm đất, đi vòng quanh Thế Tôn ba lần, quyết định từ giã trước sự hiện diện của Thế Tôn, họ thân thiện từ giã ngài và ra đi. Trước khi đi xa, họ liền biến mất, và chư thiên của cõi dục đi về cõi dục, và chư thiên cõi sắc đi về thế giới Phạm-thiên. 

 

Chương XIV

 

          TỈ DỤ

 

  1. TÁI SINH VỊ LAIQUÁ KHỨ

 

     Tu-bồ-đề: Nếu một Bồ-tát, chỉ nghe thôi, liền tin vào bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, không trở nên sợ hãi, vô cảm, tê liệt hay mê mờ, không nghi ngờ hay do dự, nhưng hoan hỉ trong bát-nhã ba-la-mật, – Bồ-tát ấy chết ở đâu, tái sinh chỗ nào?

     Thế Tôn: Nếu một Bồ-tát ứng đáp bát-nhã ba-la-mật theo cách như thế, nếu ông ấy hoan hỉ khi thấy và nghe nó, nhớ nó trong tâm và phát triển nó, giữ tâm cố định nơi nó mà không đổi hướng chỗ khác, cảm thấy có sự thúc giục nhận lấy nó, mang nó trong tâm, thuyết giảng, nghiên cứutruyền bá nó, một khi ông ấy đã nghe bát-nhã ba-la-mật, nếu ông ấy theo đuổi người tụng pháp và không để người ấy đi, cho đến khi ông ấy biết thuộc lòng bát-nhã ba-la-mật hay có được tập sách có nó, giống như con bò cái không bỏ rơi con bê con, – thì Bồ-tát này chết nơi loài người và sẽ tái sinh nơi loài người. [285]

     Tu-bồ-đề: Có thể một Bồ-tát, được phú bẩm những phẩm tính này, đã chết ở các Phật địa khác, trước khi ngài ấy tái sinh nơi đây không?

     Thế Tôn: Hoàn toàn có thể là một Bồ-tát được phú bẩm những phẩm tính này, trước khi tái sinh nơi đây, đã chết ở các Phật địa khác, nơi ông ấy đã tôn vinh và tham hỏi các Phật và các Thế Tôn. Hay ông ấy cũng có thể đã chết ở cõi trời Đâu-suất[43]. Có thể ông ấy đã tôn vinh Bồ-tát Di-lặc, và luôn luôn tham vấn về bát-nhã ba-la-mật này.

 

  1. NHỮNG HÀNH VI QUÁ KHỨ CỦA MỘT BỒ-TÁT

THẤT BẠI TRONG BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

     Mặt khác, nếu một Bồ-tát trong quá khứ đã nghe bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này nhưng ông ấy không hỏi một câu nào về nó, và nếu về sau khi ông ấy tái sinh trong loài người và nghe dạy bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, ông ấy do dự, mê mờ và sợ hãi, thì có thể chắc chắn rằng trong quá khứ ông ấy cũng đã là một trong những người không tự nguyện hỏi câu hỏi. Lại nữa, một Bồ-tát khác có thể trong quá khứ đã có thái độ đúng đối với bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, trong một, hai, ba, bốn hay năm ngày, và bây giờ chỉ trong một thời gian nào đó ông ấy có niềm tin nơi nó, nhưng về sau lại rút lại, và ông ấy không còn cảm thấy thích hỏi về nó nữa.Vì sự thật là nếu [286] một Bồ-tát trong quá khứ không có tất cả thời gian hỏi câu hỏi về bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, và không theo đuổi nó trong toàn bộ thời gian, rồi sau đó vào một lúc nào đó ông ấy cảm thấy có sự thúc giục theo đuổi nghe bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, nhưng không như thế vào những lúc khác; ông ấy sẽ lại mất niềm tin của mình, trở nên nản chí, sự thông minh trở nên không kiên định, giống như một cuộn bông. Có thể chắc chắn rằng một Bồ-tát như thế chỉ vì đã lên xe muộn. Đến xe muộn, ông ấy sẽ mất niềm tin nơi nó, sự tin tưởng tịch tĩnh nơi nó, sự thúc giục vì nó, nói cách khác, ông ấy sẽ không chấp nhận bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này và không theo đuổi nó nữa. Người ta phải mong rằng ông ấy sẽ tiếp tục với một trong hai hạng, là Thanh văn hay hạng Duyên giác.

 

  1. BỐN TỈ DỤ

 

     Khi một con tàu bị đắm giữa đại dương, người ta sẽ chết trong nước không đến được bờ, nếu họ không tìm được sự ủng hộ của một khúc cây, hay một miếng gỗ, hay một vật thể cứng chắc khác. Nhưng những người xoay xở có được sự ủng hộ như thế sẽ không chết trong nước; an toàn và không trở ngại, họ sẽ vượt qua đến bờ kia, và đứng, không đau và không bị thương, trên nền đất vững chắc. Cũng vậy, một Bồ-tát được phú bẩm chỉ một niềm tin nhỏ bé, chỉ một tin tưởng tịch tĩnh nhỏ bé, chỉ một tình thương nhỏ bé, chỉ một ham muốn làm nhỏ bé, và những người không được sự ủng hộ của bát-nhã ba-la-mật, sẽ rơi giữa đường ác và không đạt đến cảnh giới nhất thiết trí, ông ấy sẽ đứng trong hàng Thanh văn hay Duyên giác. Có khác là trường hợp của một Bồ-tát [287] có niềm tin nơi nó, nhẫn nhục chấp nhận nó, hứng thú với nó, có tâm muốn làm, có khí lực, thận trọng, quả quyết, nhiệt tâm, từ bỏ, ít được kính trọng, hân hoan, phấn khởi, niềm tin tịch tĩnh, thương mến nó, và luôn luôn cố gắng đạt giác ngộ viên mãn, và cũng có được sự ủng hộ của bát-nhã ba-la-mật. Khi đạt được bát-nhã ba-la-mật, ông ấy sẽ trụ trong nhất thiết trí. Nếu có người dùng một cái bình không được nung kỹ để chứa nước, cái bình ấy sẽ không dùng được lâu, và thực tế nó sẽ vỡ ra từng mảnh tan tành. Vì trong tình trạng không được nung kỹ thực tế nó sẽ sớm đi đến kết thúc trên nền đất.  Cũng vậy, mặc dù một Bồ-tát có thể có tất cả những đức tính đã kể ở trên, từ niềm tin đến sự khăng khăng ham muốn đạt giác ngộ, bao lâu ông ấy không được bát-nhã ba-la-mậtphương tiện thiện xảo hộ trì, ông ấy sẽ đến lúc sa ngã giữa con đường xấu, nói cách khác, ông ấy sẽ rơi vào hạng Thanh văn hay Duyên giác. Nhưng nếu một người mang nước, từ sông, hay hồ, hay ao, hay giếng, hay bất cứ một nơi mang nước nào khác, trong một bình được nung tốt, thì cái bình ấy cùng với nước [288] sẽ đến nhà an toàn và không bị thương tổn, chỉ vì điều kiện được nung kỹ của cái bình đó. Cũng vậy, một Bồ-tát không những chỉ có những đức tính đã kể trên mà thêm vào còn được bát-nhã ba-la-mậtphương tiện thiện xảo hộ trì, sẽ không xảy ra việc sa ngã giữa con đường xấu, và không bị đau, không bị thương tổn, ông ấy sẽ trụ trong nhất thiết trí. Một người ngu sẽ hạ thủy một con tàu ra viễn khơi mà nó không được trét keo hay sửa chữa, và đã buộc neo trong một thời gian lâu, chất hàng hóa quá sức nó, rồi leo lên và khởi hành nó. Con tàu của người ấy sẽ bị sụp đổ trước khi nó chuyển được hàng hóa qua biển. Hàng hóa của người ấy sẽ ở một nơi và con tàu sẽ biến mất một nơi khác. Theo cách này, người thương nhân ngu đó, không thiện xảo về phương tiện, sẽ mất một vận may lớn, một nguồn vui sướng lớn. Cũng vậy, một Bồ-tát có tất cả những đức tính kể trên, nhưng thiếu bát-nhã ba-la-mậtphương tiện thiện xảo, [289] không có được niềm vui sướng của nhất thiết trí, ông ấy sẽ suy sụp giữa đường, bị sa ngã; ông ấy mất rất nhiều sự vui sướng của riêng mình, và ông ấy cũng mất rất nhiều sự vui sướng của những người khác, bởi vì ông ấy mất nhất thiết trí, giống như một vận may lớn và một nguồn vui sướng lớn; không kể sự suy sụp của ông ấy giữa con đường xấu, sự rơi vào hàng Thanh văn hay Duyên giác. Mặt khác, một thương nhân thông minh sẽ kiến tạo một con tàu kiên cố, sẽ hạ thủy nó với sự thận trọng đúng mức, xếp hàng hóa lên tàu với sự phân bố đồng đều, và với gió thuận chiều tàu của người ấy dần dần dương buồm đến quốc gia mục tiêu của cuộc du hành trên biển. Tàu của người ấy sẽ không sụp đổ trong nước, nó sẽ đi đến nơi mà nó muốn đến, và thương nhân sẽ đạt được nhiều của cải thế gian bằng châu ngọc. Cũng thế, một Bồ-tát có niềm tin, và những đức tính khác như đã kể trên, và thêm vào đã được bát-nhã ba-la-mật và không thiếu sự thiện xảo trong các phương tiện hộ trì, chắc chắn ông ấy sẽ không suy sụp giữa con đường xấu, ông ấy sẽ không bị sa ngã, ông ấy sẽ trụ trong giác ngộ vô thượng. Vì sự thật là [290] nếu một Bồ-tát có niềm tin, và những đức tính khác như đã kể trên, và thêm vào, nếu những pháp này của ông ấy đã được bát-nhã ba-la-mật hộ trì và không thiếu sự thiện xảo trong các phương tiện, thì ông ấy sẽ không vội vàng hướng về mức độ của Thanh văn hay Duyên giác, mà trái lại các pháp này sẽ hướng mặt theo hướng nhất thiết trí, chúng sẽ lên đường vì nó, và chúng sẽ đưa đến đạt giác ngộ viên mãn. Nếu một người rất già, tuổi đã cao, suy yếu, hãy nói là một trăm hai mươi tuổi, và nếu người ấy thân ngã bệnh, thì người ấy có thể từ giường đứng dậy mà không cần sự trợ giúp của người khác không?

     Tu-bồ-đề: Dạ không, Thế Tôn!

     Thế Tôn: Và ngay cả khi người ấy có thể đứng dậy trên giường mình, chắc chắn người ấy sẽ không có đủ sức bước đi được khoảng nửa dặm. Bị cả tuổi già và bệnh phí phạm, người ấy không thể bước đi đây đó trong bất thời gian nào, ngay cả khi người ấy có thể đứng lên từ giường. Cũng thế, dù cho một Bồ-tát có tất cả những đức tính kể trên, nếu ông ấy không được bát-nhã ba-la-mật hộ trì và thiếu sự thiện xảo trong các phương tiện, thì mặc dù ông ấy có thể lên đườnggiác ngộ viên mãn, song ông ấy sẽ suy sụp giữa con đường xấu, ông ấy sẽ bị sa ngã, nói cách khác, ông ấy sẽ đứng ở mức Thanh văn hay Duyên giác. [291] Đây là kết quả cần thiết của sự thật là ông ấy đã không được bát-nhã ba-la-mật hộ trì và thiếu sự thiện xảo trong các phương tiện. Nhưng có thể là hai người có sức mạnh trợ giúp người già và bệnh ấy, và cẩn thận nâng người ấy lên và hứa với người ấy rằng người ấy có thể đi bất cứ chỗ nào mình muốn, và xa đến đâu tùy ý, bởi vì họ sẽ trợ giúp người ấy, và người ấy không cần sợ bị ngã trên con đường đưa đến chỗ người ấy phải đi. Cũng vậy, một Bồ-tát có niềm tin, v.v…, được bát-nhã ba-la-mật trợ giúp, và được phú bẩm sự thiện xảo trong các phương tiện, ông ấy chắc chắn không suy sụp giữa đường xấu, ông ấy sẽ không sa ngã, ông ấy có thể đến được trạm dừng này, nghĩa là, trạm dừng của giác ngộ viên mãn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương XV

 

          CHƯ THIÊN

 

  1. PHẬN SỰ CỦA NGƯỜI MỚI BẮT ĐẦU

 

     Tu-bồ-đề: Một Bồ-tát chỉ mới bắt đầu nên trụ trong bát-nhã ba-la-mật như thế nào, tu luyện mình như thế nào?

     Thế Tôn: Một Bồ-tát như thế nên chăm sóc, thương yêu và tôn vinh các thiện tri thức. Các thiện tri thức của ông ấy là những người sẽ giáo huấn và khuyên bảo ông ấy trong bát-nhã ba-la-mật, và sẽ giảng giải nghĩa của nó cho ông ấy. Họ sẽ giảng giải như sau: “Hãy đến đây, người con trai của gia đình thiện lương, hãy gắng sức trong sáu ba-la-mật. Bất cứ điều gì anh có thể đạt được bằng cách bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, [293] hay trí tuệ, – tất cả chuyển thành giác ngộ viên mãn. Nhưng đừng hiểu sai giác ngộ viên mãn là sắc, hay bất cứ uẩn nào khác. Vì nhất thiết trí không thể nắm bắt được. Và đừng mong cấp bậc Thanh văn hay Duyên giác. Như vậy là một Bồ-tát mới bắt đầu, nhờ thiện tri thức, dần dần nhập vào bát-nhã ba-la-mật.” 

 

  1. BỒ-TÁT TRỢ GIÚP CHÚNG SINH CÁCH NÀO

 

     Tu-bồ-đề: Những người làm điều khó là những Bồ-tát đã lên đường để đạt giác ngộ viên mãn.  Nhờ thực hành sáu ba-la-mật, như đã miêu tả ở trên, họ không ước mong đạt giải thoát nơi Niết-bàn riêng tư của họ. Họ quán sát thế giới chúng sinh đau khổ cao độ. Họ muốn đạt được giác ngộ viên mãn, và họ không run rẩy vì sinh và tử.

     Thế Tôn: Đúng vậy. Những người làm việc khó là những Bồ-tát đã lên đường vì lợi íchhạnh phúc của thế gian, vì thương xót thế gian. “Chúng tôi sẽ trở thành nơi trú ẩn cho thế gian, nơi nương náu, nơi nghỉ ngơi, nơi làm vơi nhẹ cuối cùng, những hòn đảo, những ánh sáng, và những người dẫn đạo thế gian. Chúng tôi sẽ đạt được giác ngộ viên mãn, và trở thành nơi trông cậy của thế gian,” – với những lời này họ tạo nên nỗ lực mạnh mẽ để đạt sự giác ngộ viên mãn như thế. [294]

  1. Rồi làm sao các Bồ-tát đã thức tỉnh trước giác ngộ viên

mãn trở thành chỗ trú của thế gian? Họ bảo vệ khỏi bị tất cả những đau khổ thuộc sinh tử, họ tranh đấunỗ lực loại bỏ đau khổ của thế gian.

  1. Làm sao họ trở thành chỗ nương náu của thế gian? Họ giải

thoát khỏi sinh, già, bệnh, chết, sầu muộn, thương tiếc, đau đớn, buồn và thất vọng cho những chúng sinh phải trải qua những tình trạng này.

  1. Làm sao họ trở thành chỗ nghỉ ngơi của thế gian? Các Như

Lai chứng minh Pháp cho chúng sinh như thế họ có thể học không ôm ấp bất cứ cái gì.   

     Tu-bồ-đề: Sự không ôm ấp đó đến như thế nào?

     Thế Tôn: Sự không ôm ấp sắc, v.v…, thì giống như sự không kết nối, như sự bất sinhbất diệt của nó. [295] Như thế người ta học không ôm ấp bất cứ cái gì là kết quả của tri kiến mà tất cả các pháp là không ôm ấp, không kết nối.

  1. Làm sao họ trở thành nơi làm vơi bớt cuối cùng của thế

gian? Cảnh giới ở bên kia sắc không phải là sắc; mà là cái Ở Bên Kia, sắc, v.v…, và tất cả các pháp cũng vậy.

Tu-bồ-đề: Nếu sắc, v.v…, và tất cả các pháp là cái Ở Bên Kia,

thì chắc chắn các Bồ-tát phải biết đầy đủ tất cả các pháp. Bởi vì giữa chúng không có sự phân biệt.

     Thế Tôn: Đúng thế. Nơi cái Ở Bên Kia không có sự phân biệt. Do sự không phân biệt của chúng tất cả các pháp trở nên được biết đầy đủ đối với các Bồ-tát. Đây cũng là điều khó nhất cho các Bồ-tát thiền định về tất cả các pháp, nhưng không nhận ra [296] cũng không sợ, và họ thiền định như vầy: “Bằng cách này tất cả những pháp này được biết đầy đủ, và như thế, đã tỉnh thức trước giác ngộ viên mãn, chúng tôi sẽ chứng minh tất cả các pháp này, và hiển bày chúng.”

  1. Làm sao họ trở thành những hòn đảo? ‘Những hòn đảo’ là

những mảnh đất bị nước giới hạn, trong các dòng sông hay những

hồ lớn. Cũng như sắc, v.v…, bị sự bắt đầu và kết thúc giới hạn, và tất cả các pháp cũng vậy. Nhưng sự giới hạn của tất cả các pháp giống như sự Tĩnh lặng, sự Cao cả, như Niết-bàn, như cái Thực sự Hiện hữu, cái Không Điên đảo.

  1. Làm sao họ trở thành những ánh sáng của thế gian? Ở đây

các Bồ-tát đạt giác ngộ viên mãn, rồi lấy đi tất cả bóng tối và sự âm u không tri kiến của những chúng sinh trong thời gian dài đã bị bao bọc trong tấm màn vỏ trứng vô minh, bị bóng tối khuất phục, và các Bồ-tát chiếu sáng họ bằng bát-nhã. [297]

  1. Làm sao họ trở thành những người dẫn đạo của thế gian?

Khi họ trở nên giác ngộ, các Bồ-tát chứng minh pháp để tiết lộ sự vắng mặt của sinh và diệt trong yếu tánh của sắc, v.v…, và trong các pháp kiến tạo và phân biệt người thường, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, và Phật, và trong tất cả các pháp một cách tổng quát.

  1. Làm sao họ trở thành nơi trông cậy của thế gian? Khi họ đã

giác ngộ, các Bồ-tát chứng minh pháp bằng cách dạy rằng sắc, v.v…, thì ở trong hư không của thế giới, chúng không đến, chúng không đi, chúng giống như hư không. Hư không không đến, cũng không đi, không do tạo tác cũng không phải không do tạo tác, cũng không bị ảnh hưởng; nó không trụ, không trường tồn, cũng không chịu đựng; nó không sinh cũng không diệt. Tất cả các pháp cũng vậy, theo cách thích nghi của hư không, chúng không phân biệt. [298] Bởi vì không của sắc, v.v…, không đến cũng không đi. Không của tất cả các pháp cũng vậy. Vì tất cả các pháp ở trong không, và từ trạng thái này chúng không ra đi. Chúng ở trong vô tướng, vô nguyện, vô quả, bất sinh, vô sinh, trong sự vắng mặt của khẳng định, trong mộng và ngã, trong vô biên, trong tĩnh lặng, trong Niết-bàn, trong Bất Hồi phục; chúng không đến cũng không đi, ở trong bất động; chúng ở trong sắc, v.v…, [299] và trong giác ngộ viên mãn của A-la-hán và Duyên giác.

 

  1. MIÊU TẢ BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

 

     Tu-bồ-đề: Ai có thể hiểu được bát-nhã ba-la-mật này?

     Thế Tôn: Các Bồ-tát theo đuổi dưới các Như Lai trong quá khứ, và các thiện căn của họ đã thuần thục.

     Tu-bồ-đề: Tự tánh của họ thế nào?

     Thế Tôn: Tự tánh của họ ly cách không cần rèn luyện.

     Tu-bồ-đề: Các vị Bồ-tát này trú như thế, sau khi họ biết đầy đủ nơi trông cậy này, họ chứng minh nó cho chúng sinh? Theo nghĩa này có phải họ sẽ trở thành nơi trông cậy của tất cả chúng sinh? [300]

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Theo nghĩa này một Bồ-tát sau khi biết đầy đủ nơi trông cậy này, họ sẽ trở thành nơi trông cậy của vô số chúng sinh.

     Tu-bồ-đề: Một người làm việc khó là vị Bồ-tát tự trang bị cho mình chiếc áo giáp này: “Tôi sẽ độ vô lượng vô số chúng sinh đến Niết-bàn.”

     Thế Tôn: Tuy nhiên, chiếc áo giáp của một Bồ-tát như thế không nối kết với sắc, v.v…, cũng không mặc vào vì sắc, v.v… Nó không nối kết với mức độ của Thanh văn hay Duyên giác, hay một vị Phật, cũng không phải mặc vào vì họ. Vì chắc chắn không nối kết với tất cả các pháp là chiếc áo giáp đó của một Bồ-tát được trang bị bằng chiếc áo giáp vĩ đại.

     Tu-bồ-đề: Ba quan điểm không nên ham muốn đối với một Bồ-tát được trang bị bằng chiếc áo giáp vĩ đại ấy và theo đuổi như thế trong bát-nhã thâm sâu. Gì là ba? Mức độ của một Thanh Văn, hay của một Duyên giác, hay của một vị Phật. [301]

     Thế Tôn: Vì lý do gì ông nói thế? Dĩ nhiên, không thể, không thể nào là một Bồ-tát như thế nên thuộc về thừa Thanh văn hay Duyên giác. Nhưng vì ông ấy mặc chiếc áo giáp vì tất cả chúng sinh, chắc chắn ông ấy ham muốn mức độ của một vị Phật.

     Tu-bồ-đề: Thâm sâu, Ôi Thế Tôn, là bát-nhã ba-la-mật. Không một cái gì hay một người nào có thể phát triển nó, cũng không có một cái gì hay một người nào để phát triển. Vì trong bát-nhã ba-la-mật không một cái gì được đưa đến ba-la-mật. Sự phát triển của bát-nhã ba-la-mật giống như sự phát triển của hư không, hay của tất cả các pháp, hay của không chấp trước, của vô cùng, của cái gì không có [hiện hữu], của không bám lấy.

     Thế Tôn: Đúng vậy. [302] Bởi vì những gì ông nói một Bồ-tát tự điều mình với bát-nhã thâm sâuhoàn thiện, được xem là bất thối chuyển đối với giác ngộ viên mãn. Vì lúc ấy một Bồ-tát không trụ trong bát-nhã hoàn thiệnthâm sâu, cũng không ở trong những tuyên bố hay khuyên nhủ người khác; ông ấy không đi do người nào khác mà ông ấy đặt sự tin tưởng của mình. Khi được dạy cho bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này, ông ấy không trở nên sợ, hay vô cảm, cũng không quay lưng lại nó; ông ấy không run rẩy, lo sợ hay kinh hãi; ông ấy không do dự, hay nghi ngờ, hay mê mờ, nhưng ông ấy nhảy ngay vào trong đó, trở nên quyết ý với nó, và hoan hỉ trong cái thấy và nghe của nó. Nên biết rằng trong một đời trước ông ấy đã thăm dò bát-nhã ba-la-mật. Bởi vì bây giờ, khi được dạy bát-nhã thâm sâuhoàn thiện này, ông ấy không run rẩy, không sợ, cũng không kinh hãi.

     Tu-bồ-đề: Bằng phương cách gì một Bồ-tát khi được dạy cho bát-nhã ba-la-mật thâm sâu này không run rẩy mà trực giác bát-nhã ba-la-mật?

     Thế Tôn: Bồ-tát này trực giác bát-nhã ba-la-mật qua một loạt [các ý nghĩ] thú hướng đến nhất thiết trí.

     Tu-bồ-đề: Làm sao người ta trực giác một loạt các niệm như thế?

     Thế Tôn: Qua một loạt các niệm thú hướng về hư không, khuynh hướng về hư không, nghiêng dốc về hư không. Sự trực nhận này có được qua một loạt các niệm thú hướng đến nhất thiết trí. Vì sao? Bởi vì nhất thiết trí thì vô lượng và vô hạn, tức là không phải sắc hay bất cứ uẩn nào khác. Đó không phải là đắc hay tái hợp nhất hay đến đó; không phải là đạo hay là quả của nó; không phải tri kiến hay ý thức; không phải khởi đầu hay hoại diệt, hay không sinh hay diệt, hay dừng lại, hay phát triển hay đoạn. Nó chẳng phải do cái gì làm ra, nó không từ nơi nào đến, nó không đi đến bất cứ nơi nào, nó không trụ ở bất cứ chỗ nào hay điểm nào. Trái lại, nó đến để được gọi là ‘vô lượng, vô hạn.’ Từ hư không vô lượngnhất thiết trí vô lượng. Nhưng cái gì là vô lượng thì tự nó không để cho bất cứ cái gì, dù là sắc hay bất cứ uẩn nào, hay bất cứ ba-la-mật nào trong sáu ba-la-mật biết nó đầy đủ.

     Vì thế Thích-đề đến gần [304] nói: Thâm sâu, Ôi Thế Tôn, là bát-nhã ba-la-mật. Khó thăm dò, khó thấy, khó hiểu. Tâm của một Như Lai xem sự thâm sâu của pháp, và ngồi trên đạo tràng giác ngộ, vừa đạt được giác ngộ viên mãn, có thú hướng vô vi không cần sự quan tâm, và không chứng minh pháp.

     Thế Tôn: Đúng vậy. Thâm sâu chắc chắn là pháp này mà tôi biết đầy đủ. Không gì đã được, hay sẽ được, hay đang được biết một cách đầy đủ, và đó là sự thâm sâu của pháp này. Pháp này mà tôi biết đầy đủ thì thâm sâu nhờ hư không thâm sâu, tự kỷ thâm sâu, tất cả các pháp không đến và không đi thâm sâu. [305]

     Thích-đề: Thực kỳ diệu, Ôi Thế Tôn, thực lạ lùng, Ôi Thiện Thệ! Vì trái với những con đường của toàn thể thế gian là sẽ không nắm bắt bất cứ cái gì.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương XVI

 

          NHƯ

 

  1. NHƯ CỦA LAI NHƯ

 

     Tu-bồ-đề: Khi không quan sát tất cả các pháp, chắc chắn, là dạy pháp này. Không bị chướng ngại ở bất cứ chỗ nào là pháp này. Nhờ nó đồng với hư không, pháp này chắc chắn có tướng vô ngại, vì không có dấu vết gì của nó được nhận biết. Nó không có đối tác, vì nó không có cái thứ nhì. Nó không có đối thủ, vì nó đã đi qua bên kia tất cả đối đãi. Nó không có dấu vết, vì nó không được tạo ra để thành hữu. Nó bất sinh, vì nó không có cơ hội tái sinh. Nó không đường, vì không đường để biết.

     Thích-đề chư thiên: Sinh ra theo hình tượng của Thế Tôn là người Đệ tử này, Trưởng lão Tu-bồ-đề thánh thiện. Vì chứng minh bất cứ pháp nào, ngài ấy luôn luôn bắt đầu từ không. [307]

     Tu-bồ-đề: Bởi vì không sinhTrưởng lão Tu-bồ-đề, sinh ra theo hình tượng Như Lai. Ông ấy sinh ra theo hình tượng Như của Như Lai. Vì [Như] đó không đến cũng không đi, cũng vậy Như của Tu-bồ-đề không đến cũng không đi. Xưa nay Trưởng lão Tu-Bồ-đề sinh ra theo hình tượng Như của Như Lai. Bởi vì Như của Như Lai và Như của tất cả các pháp là đồng, và cả hai là Như của Trưởng lão Tu-bồ-đề. Sinh ra theo hình tượng Như là Trưởng lão Tu-bồ-đề; từ đó sinh ra theo hình tượng Như Lai. Nhưng Như đó cũng là không Như, và ông ấy sinh ra theo hình tượng Như Lai. Theo nghĩa đó thì Trưởng lão Tu-bồ-đề sinh ra theo hình tượng của Như Lai, và đó là kết quả của trật tự đã được thiết lập Như của Như Lai. Như của Tu-bồ-đề thì bất biến và bất dịch, không phân biệt và không khác nhau, y như Như của Như Lai. Như thế Trưởng lão Tu-bồ-đề, không biến dịch, không thay đổi, không phân biệt, không khác nhau qua Như đó, sinh ra theo hình tượng của Như Lai. Và y như Như của Như Lai, không biến dịch và không khác nhau, thì không bị chướng ngại ở bất cứ chỗ nào, Như của tất cả các pháp cũng vậy, cũng không biến dịch và không khác nhau. Vì Như của Như Lai và Như của tất cả các pháp, cả hai là một Như duy nhất, không hai, không phân chia. Tuy nhiên, Như không hai thì không ở đâu, không từ đâu, không thuộc về đâu. Bởi vì nó là Như không thuộc về đâu không hai. Vì thế, qua cái Như không do tạo tác mà Trưởng lão Tu-bồ-đề sinh ra theo hình tượng của Như Lai. Tuy nhiên, cái Như không do tạo tác thì không lúc nào không là Như [308] và vì thế nó không hai. Theo nghĩa này thì Trưởng lão Tu-bồ-đề sinh ra theo hình tượng của Như Lai. Y như Như của Như Lai không phân biệt và không khác nhau, trong tất cả thời gian và nơi tất cả các pháp, và Như của Tu-bồ-đề cũng vậy. Và vì lý do này, mặc dù dường như chúng tanhị nguyên khi Tu-bồ-đề được triệu gọi từ Như của Như Lai, tuy nhiên, không gì thực hữu bị cắt tỉa từ Như đó, vẫn không bị gãy vỡ, bởi vì người ta không thể nhận biết một tác nhân thực hữu nào có thể làm nó vỡ ra. Theo nghĩa đó, Trưởng lão Tu-bồ-đề sinh ra theo hình tượng của Như Lai. Vì Như của Như Lai không ở bên ngoài Như của tất cả các pháp, Như của Tu-bồ-đề cũng vậy. Nhưng cái gì không ở bên ngoài Như của tất cả các pháp, cái đó không phải là của bất cứ cái gì không phải Như. Vì thế, Như của Tu-bồ-đề đồng với Như của tất cả các pháp. Trưởng lão Tu-bồ-đề đã trải nghiệm Như đó bằng cách bắt chước nơi chính mình cái Như không biến đổi, nhưng trong thực tế không một ai trải qua quá trình bắt chước ở bất cứ nơi nào. Theo nghĩa này thì Trưởng lão Tu-bồ-đề sinh ra theo hình tượng của Như Lai. Vì Như của Như Lai không phải quá khứ, không phải vị lai, cũng không phải hiện tại, Như của tất cả các pháp cũng vậy. Vì sinh ra trong hình tượng của Như, Tu-bồ-đề được gọi là “sinh ra theo hình tượng của Như Lai.” Bởi vì cũng qua Như của Như Lai [và không chỉ riêng Tu-bồ-đề] mà ông ta y theo Như. Chính vì qua Như của Như Lai ông ta y theo Như quá khứ, chính vì qua Như quá khứ ông ta y theo Như của Như Lai. Vị laihiện tại cũng vậy. Qua Như của Như Lai ông ta y theo Như quá khứ, vị laihiện tại, và qua Như quá khứ, vị laihiện tại ông ta y theo Như của Như Lai. Theo nghĩa này, Như của Tu-bồ-đề, và Như quá khứ, vị laihiện tại, và Như của Như Lai không phải hai, không phân chia. Vì thế Như của tất cả các pháp và Như của Tu-bồ-đề không phải hai, không phân chia. [309] Cũng vậy, Như của Thế Tôn khi ngài còn là một Bồ-tát là Như của Thế Tôn khi ngài đạt giác ngộ viên mãn. Và đó là Như mà qua đó một Bồ-tát đến, khi ông ấy nhất định đạt giác ngộ viên mãn, được gọi là ‘Như Lai.’

 

  1. TRÁI ĐẤT CHẤN ĐỘNG,

VÀ SỐ NHIỀU ĐƯỢC CỨU

 

     Khi sự luận cứu về Như của Như Lai này xảy ra, trái đất rộng lớn chấn động sáu cách, và phô bày mười tám tướng chấn động lớn, nó khuấy động, rung lắc, lay chuyển, vang dội và ngã đổ, như nó đã xảy ra khi Như Lai đạt giác ngộ viên mãn.

     Tu-bồ-đề: Như thế, Ôi chư thiên, Trưởng lão Tu-bồ-đề sinh ra theo hình tượng của Như Lai. Nhưng ông ấy sinh ra không theo hình tượng của sắc, hay của bất cứ quả nào của đời sống phạm hạnh, từ quả Dự Lưu đến cảnh giới Phật. Vì những pháp đó, có thể sinh ra theo hình tượng của một cái gì đó, hay trong hình tượng mà ông ấy sinh ra, chúng không hiện hữu, chúng không đạt đến. Như thế là Trưởng lão Tu-bồ-đề sinh ra trong hình tượng của Như Lai.

     Xá-lợi-phất: Ôi Thế Tôn, Như này lưu chuyển trong thâm sâu!

     Thế Tôn: Đúng vậy, Xá-lợi-phất.

     Nhưng khi luận cứu về Như này được xiển dương, tâm của ba trăm tỳ-kheo được giải thoát khỏi các lậu, không còn chấp trước nào nữa. Năm trăm tỳ-kheo-ni được mắt pháp thanh tịnh, điềm tĩnh, không cấu uế. [310] Năm ngàn thiên, trong quá khứ đã có những chuẩn bị cần thiết, được hạnh vô sinh pháp nhẫn. Và tâm của sáu ngàn Bồ-tát được vô lậu, không còn chấp trước nào nữa.

 

  1. BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO

 

     Xá-lợi-phất biết rằng tâm của các Bồ-tát đã thoát khỏi các

lậu, không còn chấp trước, và hỏi Thế Tôn lý do hay nguyên nhân của việc đó.

     Thế Tôn: Những Bồ-tát đó đã tôn vinh năm trăm Phật, và trong thời gian đó họ đã cúng dường, giữ giớihoàn thiện nhẫn nhục, tận lực tinh tấn, và phát sinh thiền định. Nhưng họ không được bát-nhã ba-la-mật hộ trì và thiếu sự thiện xảo trong các phương tiện. Và như vậy, mặc dù họ đã được đạo của không, đã theo đuổi trong Vô tướng, đã đặt tâm họ làm việc Vô nguyện, vì muốn thiện xảo trong phương tiện họ đã nhận ra biên tế của thực tại, và đã đến mức độ của Thanh văn hay Duyên giác, và chưa đến mức độ của một vị Phật. Giả sử có một con chim khổng lồ, lớn một trăm hay đến năm trăm dặm, nhưng không có cánh, hay cánh bị tật hoặc bị hư. Con chim đó muốn bay xuống Diêm-phù-đề từ cõi Trời Ba mươi ba. Nếu trong hư không trung gian, ở giữa chuyến du hành của nó [311] đến Diêm-phù-đề, nó muốn trở về với chư thiên của Trời Ba mươi ba, nó có thể làm được như thế không?

     Xá-lợi-phất: Dạ không, Thế Tôn.

     Thế Tôn: Và nó có thể hy vọng xuống đến Diêm-phù-đề mà không hư hại hay bị thương tích không?

     Xá-lợi-phất: Dạ không, Thế Tôn. Nó sẽ hư hại và bị thương tích, và khi nó rơi xuống Diêm-phù-đề sẽ chết hay bị đau khủng khiếp. Bởi vì sự thật là, trong khi thân nó khổng lồ, đôi cánh không đủ sức mạnh, và nó rơi xuống từ trên cao. 

     Thế Tôn: Đúng vậy, Xá-lợi-phất. Ngay cả một Bồ-tát, sau khi đã đưa tâm lên đến giác ngộ viên mãn, trong vô số kiếp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, và nhập định, dù cho sự phát tâm đạt giác ngộ viên mãn của ông ấy vĩ đại bao nhiêu, – nếu không được bát-nhã ba-la-mật hộ trì và thiếu sự thiện xảo trong các phương tiện, ông ấy sẽ rơi vào hàng Thanh văn hay Duyên giác. Hơn nữa, Xá-lợi-phất, có thể là một Bồ-tát ghi nhớ, và giữ trong tâm mình, [312] về các Phật và các Thế Tôn, quá khứ, vị laihiện tại, giới luật, thiền định, trí tuệ, giải thoát, tri kiến giải thoát, – nhưng tất cả cái đó đều theo cách của tướng. Rồi ông ấy không biết cũng không thấy giới luật của các Như Lai, không biết cũng không thấy thiền định hay trí tuệ, hay giải thoát, hay tri kiến giải thoát của các ngài. Vô minh về chúng, mù lòa về chúng, ông ấy nghe chữ ‘không,’ xem nó là tướng, và nguyện che giấu [khối công đức đó] trong giác ngộ viên mãn [mà ông ấy xem là không]. Vì thế, ông ấy vẫn còn trong hạng Thanh văn hay Duyên giác, – bởi vì sự thật là ông ấy không được bát-nhà ba-la-mật hộ trì và sự thiếu thiện xảo trong các phương tiện.

     Xá-lợi-phất: Như con hiểu nghĩa lời dạy của Thế Tôn, mặc dù một Bồ-tát có thể được kết hợp với sự trang bị công đức rất nhiều, chừng nào ngài ấy chưa được bát-nhã ba-la-mật hộ trì và không có sự thiện xảo trong các phương tiện, ngài ấy thiếu thiện tri thức, và sự đạt giác ngộ viên mãn của ngài ấy không chắc chắn. Vì thế, một Bồ-tát muốn đạt giác ngộ viên mãn nên phát triển bát nhã ba-la-mật, và trở nên thiện xảo trong các phương tiện.

     Thế Tôn: Đúng vậy, Xá-lợi-phất. [313]

     Thích-đề và chư thiên: Thâm sâu, Ôi Thế Tôn, là bát-nhã ba-la-mật! Khó đạt, quá khó đạt là giác ngộ viên mãn!

     Thế Tôn: Đúng vậy, chư thiên. Thâm sâubát-nhã ba-la-mật. Khó đạt, quá khó đạt là giác ngộ viên mãn, nếu là người trí tuệ yếu, tinh tấnquyết tâm ở mức dưới, không thiện xảo trong các phương tiện, và nếu là người phục vụ ác tri thức.  

 

  1. GIÁC NGỘ VÀ KHÔNG

 

     Tu-bồ-đề: Làm sao Thế Tôn có thể bảo là giác ngộ viên mãn thì khó đạt, quá khó đạt, khi không một ai có thể đạt giác ngộ viên mãn? Vì, do tánh không của tất cả các pháp, không một pháp nào hiện hữuthể đạt giác ngộ. Tất cả các pháp đều rỗng không. Pháp ấy cũng vì pháp nào được chứng minh, pháp ấy không hiện hữu. Và pháp ấy [314] cũng sẽ giác ngộ trong giác ngộ viên mãn, và pháp ấy sẽ giác ngộ, và pháp ấy sẽ tri kiến [giác ngộ], và pháp ấy sẽ tri kiến nó, – tất cả những pháp này đều rỗng không. Theo cách này con có thú hướng nghĩ rằng giác ngộ viên mãn dễ đạt, không khó đạt.

     Thế Tôn: Bởi vì giác ngộ viên mãn khó đạt khả dĩ không thể xảy ra, bởi vì thực tế nó không ở đó, bởi vì không thể phân biệt nó, bởi vì nó không phải do cấu dệt [như một hiện tướng giả].

     Xá-lợi-phất: Cũng bởi vì rỗng không nên nó khó đạt, Ôi ngài Tu-bồ-đề. Vì nó không xảy ra với hư không nên nó sẽ đạt giác ngộ viên mãn. Như thế, nghĩa là, vì nó không có tự tánh, nên những pháp này sẽ được biết trong giác ngộ. Và, thưa ngài Tu-bồ-đề, nếu giác ngộ viên mãn dễ đạt, thì vô số Bồ-tát không quay đi. Nhưng vì vô số Bồ-tát thực sự quay đi, do đó người ta có thể phân minh [315] giác ngộ viên mãn là khó đạt, quá khó đạt.

     Tu-bồ-đề:  Nhưng, thưa ngài Xá-lợi-phất, sắc, v.v…, có quay đi đối với giác ngộ viên mãn không?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề.

     Tu-bồ-đề: Thế thì pháp mà nó quay đi đối với giác ngộ viên mãn có khác hơn sắc, v.v…, không?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề.

     Tu-bồ-đề: Như của sắc, v.v…, có quay đi không?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề. [316]

     Tu-bồ-đề: Pháp mà nó quay đi đối với giác ngộ viên mãn có khác hơn Như của sắc, v.v…, không?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề.

     Tu-bồ-đề: Sắc, v.v…, có biết giác ngộ viên mãn không?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề.

     Tu-bồ-đề: Pháp mà nó biết giác ngộ viên mãn có khác hơn sắc, v.v…, không?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề.

     Tu-bồ-đề: Như của sắc, v.v…, có biết giác ngộ viên mãn không?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề. [317]

     Tu-bồ-đề: Pháp mà nó biết giác ngộ viên mãn có khác hơn Như của sắc, v.v…, không?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề.

     Tu-bồ-đề: Có nên biết sắc, v.v…, trong giác ngộ viên mãn, hay một pháp khác hơn sắc, v.v…, [318] hay Như của sắc, v.v…, hay một pháp khác hơn Như của sắc, v.v…, không?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề.

     Tu-bồ-đề: Như có quay đi đối với giác ngộ viên mãn không?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề.

     Tu-bồ-đề: Pháp mà nó quay đi đối với giác ngộ viên mãn có ở trong Như không?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề. [319]

     Tu-bồ-đề: Vậy thì, thưa ngài Xá-lợi-phất, pháp mà nó quay đi đối với giác ngộ viên mãn, khi chúng ta xem nó trụ trong tánh này của các pháp, mà nó chính là không, theo cách không trụ ở bất cứ pháp nào, là gì? Hay pháp gì, là Như đó chăng? Có lẽ nó là Như bị quay đi chăng?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề.

     Tu-bồ-đề: Vì như thế, trong chân lý tối hậu, và khi các pháp trụ, không một pháp nào có thể nhận biết được là có thực, pháp mà nó quay đi đối với giác ngộ viên mãn là pháp gì?

    Xá-lợi-phất: Khi một người theo phương pháp quán sát các pháp nơi thực tại tối hậu của chúng, mà ngài Tu-bồ-đề Trưởng lão dùng trong giải thích này, thì quả thực không có một pháp nào quay đi đối với giác ngộ viên mãn. Nhưng, thưa Tôn giả Tu-bồ-đề, vậy thì không còn lý do gì để phân biệt ai đã phát tâm bồ-đề trong ba loại người, như đã được Như Lai miêu tả, khác nhau theo thừa họ đã chọn. Theo sự giải thích của Tôn giả Tu-bồ-đề sẽ chỉ có một thừa duy nhất [cho những người mà tâm họ đặt vào giác ngộ], nghĩa là, Phật thừa, Bồ-tát thừa, đại thừa.

     Phú-lâu-na: Trước hết, Tôn giả Xá-lợi-phất phải hỏi Tôn giả Tu-bồ-đề Trưởng lão, ngài ấy có chấp nhận ngay cả một loại người duy nhất phát tâm bồ-đề, và dùng thừa Thanh văn hay thừa Duyên giác, hay đại thừa.

     Xá-lợi-phất: Thưa ngài Tu-bồ-đề, ngài có chấp nhận một loại người duy nhất phát tâm bồ-đề, và dùng thừa Thanh văn hay thừa Duyên giác hay đại thừa không? [320]

     Tu-bồ-đề: Thưa ngài Xá-lợi-phất, ngài có thấy trong Như của Chân như ngay cả một người duy nhất phát tâm bồ-đề, dù cho người ấy dùng thừa Thanh văn hay thừa Duyên giác hay đại thừa không?

     Xá-lợi-phất: Không, thưa ngài Tu-bồ-đề. Trước hết, Như không được nhận biết như là ba loại, người phát tâm bồ-đề thì còn ít được nhận biết hơn biết bao nhiêu.

     Tu-bồ-đề: Vậy thì Như có được nhận biết như là một loại không?  

     Xá-lợi-phất: Không phải thế, ngài Tu-bồ-đề.

     Tu-bồ-đề: Vậy thì có lẽ ngài thấy trong Như có một pháp duy nhất kiến tạo một người phát tâm bồ-đề chăng?

     Xá-lợi-phất: Không phải thế, ngài Tu-bồ-đề.

     Tu-bồ-đề: Vì như thế, trong chân lý tối hậu và khi các pháp trụ, một pháp như thế có thể đã kiến tạo một người phát tâm bồ-đề mà người ta không thể nhận biết được, ngài lấy ở đâu ra ý niệm, “người này thuộc thừa Thanh văn, người kia thuộc thừa Duyên giác, và người đó thuộc đại thừa”? Nếu một Bồ-tát nghe không có sự khác nhau, phân biệt hay sai khác này giữa ba loại người phát tâm bồ-đề, cho đến độ họ được cùng cái Như đó bao bọc, không trở nên sợ hay vô cảm trong tâm, không quay lại, thì nên biết rằng ngài ấy sẽ đi đến giác ngộ. [321]

     Thế Tôn: Nói hay, Tu-bồ-đề. Nhờ thần lực và sự hộ trì của Như Lai ông đã được hứng khởi khi nói điều này.

     Xá-lợi-phất: Bồ-tát ấy sẽ đi, Ôi Thế Tôn, đến giác ngộ nào?

     Thế Tôn: Đến giác ngộ viên mãn vô thượng.

 

  1. NHỮNG ĐIỀU CẦN THIẾT

CHO SỰ ĐI ĐẾN GIÁC NGỘ

 

     Tu-bồ-đề: Một Bồ-tát nên hành xử như thế nào, nên tu luyện

như thế nào, nếu ngài ấy muốn đi đến giác ngộ viên mãn vô thượng?

     Thế Tôn: Bồ-tát ấy nên theo cùng một thái độ đối với tất cả chúng sinh, tâm ông ấy nên bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, ông ấy sẽ không vận dụng người khác với tâm không bình đẳng, mà với tâm từ mẫn, khéo sắp xếp, giúp đỡ, không có sự không ưa thích, tránh làm hại làm đau, ông ấy nên vận dụng người khác tựa như họ là mẹ, cha, con trai hay con gái của mình. [322] Một Bồ-tát nên hành xử như một cứu tinh đối với tất cả chúng sinh, ông ấy nên tu luyện mình nếu muốn biết giác ngộ viên mãn vô thượng. Ông ấy nên tự mình trụ trong sự kiêng kỵ tất cả điều ác, ông ấy nên bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, làm chủ trí tuệ, quán sát sự tùy thuộc phát sinh [mười hai nhân duyên], cả hai chiều xuôi và ngược, và ông ấy nên cũng thúc giục những người khác làm như vậy, đốc thúc và khích lệ họ. Cùng cách ấy, ông ấy nên trụ nơi mọi vật từ thiền định về các chân lý đến giai đoạn khi ông ấy đạt được sự chắc chắn rằng là một Bồ-tát ông ấy sẽ được độ, và khi ông ấy thuần thục chúng sinh. Ông ấy cũng nên thúc giục những người khác làm như vậy, đốc thúc và khích lệ họ. Khi ông ấy nhiệt tình mong muốn tất cả điều đó và tu luyện mình, thì mọi sự vật sẽ hiển bày với ông ấy, từ sắc đến trật tự lập thành của pháp.

   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương XVII

         

          NHỮNG ĐỨC TÍNH, BIỂU HIỆU VÀ

         DẤU HIỆU CỦA BẤT THỐI CHUYỂN

 

  1. NHỮNG BIỂU HIỆU SAI BIỆT

CỦA BẤT THỐI CHUYỂN

 

     Tu-bồ-đề: Ôi Thế Tôn, gì là những thuộc tính, biểu hiệu và dấu hiệu của một Bồ-tát bất thối chuyển, và làm sao chúng ta có thể biết được một Bồ-tát bất thối chuyển?

     Thế Tôn: Mức độ của người thường, mức độ của Thanh văn, mức độ của Duyên giác, tất cả được gọi là “mức độ của Chân như.” Với ý niệm tất cả những mức độ này, thông qua Chân như, thì không phải hai, không bị phân chia, không bị phân biệt, không phân biệt, ông ấy nhập vào Chân như này, tánh này của Pháp. Sau khi ông ấy đứng vững trong Chân như, ông ấy không tưởng tượng cũng không phân biệt nó. Theo nghĩa đó, ông ấy thực sự nhập vào Chân như. Khi ông ấy đã nhập vào nó như thế, ngay cả khi ông ấy bỏ hội chúng, nơi ông ấy đã nghe về Chân như, ra đi, ông ấy không do dự, không trở nên bối rối, không nghi ngờ, và ông ấy không bị mê mờ bởi ý niệm [về sắc, v.v…] rằng ‘nó không phải như thế.’ Trái lại, ông ấy tin chắc rằng ‘nó đúng là như thế, đúng là Chân như,’ và như thế ông ấy phóng vào nó. Nhưng ông ấy không bập bẹ như trẻ con về mọi điều đến trong đầu ông ấy. Ông ấy chỉ nói khi nó lợi ích [cho người khác] và không nói khi nó không lợi ích. Ông ấy không coi thường những gì người khác làm hay không làm. Được phú bẩm những thuộc tính, biểu hiệu và dấu hiệu này, một Bồ-tát nên nhớ trong tâm như là bất thối chuyển đối với giác ngộ viên mãn. Hơn nữa, một Bồ-tát bất thối chuyển không làm mai mối cho các Sa-môn hay Bà-la-môn của các trường phái khác, bảo họ rằng họ biết cái gì đáng biết, họ thấy cái gì đáng thấy. [324] Ông ấy không đảnh lễ những Thần xa lạ, không cúng dường hoa hương, v.v…, không đặt sự tin tưởng nơi các Thần ấy. Ông ấy không còn tái sinh ở những nơi thống khổ, cũng không bao giờ trở lại thành nữ nhân. Hơn nữa, này Tu-bồ-đề, một Bồ-tát bất thối chuyển đảm đương giữ mười thiện đạo. Ông ấy tự mình giữ, và thúc giục người khác giữ, không sát sinh, không lấy vật gì không được cho, không tà dâm, không say sưa làm mờ ám tâm, không nói dối, không nói lời ác, không nói lời thô bạo, không nói lầm bầm không rõ ràng, không tham lam, không ác ý, không tà kiến. [325] Hoàn toàn chắc chắn một Bồ-tát không thối chuyển giữ mười thiện đạo, và thúc giục người khác giữ chúng, thúc đẩy và khuyến khích họ làm như thế, thiết định và xác thực người khác nơi chúng. Ngay cả trong mộng, ông ấy không bao giờ vi phạm mười giới đó, và ông ấy không ấp ủ những vi phạm như thế trong tâm. Ngay cả trong mộng, một Bồ-tát bất thối chuyển cũng giữ mười thiện đạo hiện diện trong tâm mình. Hơn nữa, khi một Bồ-tát bất thối chuyển làm chủ một bản kinh văn, và cúng dường nó cho người khác, trong tâm ông ấy có sự vui sướnghạnh phúc của tất cả chúng sinh, và ông ấy cúng dường pháp phẩm ấy chung cho tất cả chúng sinh, không phân biệt. [326] Hơn nữa, khi được dạy cho các pháp thâm sâu, một Bồ-tát không do dự, không trở nên bối rối, không nghi ngờ, không bị mê mờ. Ông ấy chỉ nói những gì lợi ích, ông ấy nói một cách dịu dàngchừng mực. Ông ấy ít lười biếng hay trầm trệ, và ông ấy mất hết tất cả những thiên kiến tiềm tàng cho cái ác. Dù ông ấy đi ra ngoài hay trở về, tâm ông ấy không lang thang, nhưng niệm của ông ấy cố định ở trước ông ấy. Khi bước đi trên đất ông ấy biết mình làm gì, và khi nhấc bàn chân lên hay đặt nó xuống ông ấy không lơ là cũng không vội vàng mà vẫn thong dong. Y áo của ông ấy không có chí rận, các thói quen của ông ấy sạch sẽ, ông ấy hiếm khi đau bệnh, và ít phiền não. Nơi thân ông ấy tám vạn gia đình của loài sâu hiện diện nơi thân của các chúng sinh khác không thể phát triển được gì cả, bởi vì các thiện căn của ông ấy đã nâng ông ấy lên cao bên trên toàn thể thế gian. Và vì các thiện căn đó của ông ấy tiếp tục gia tăng, theo trình tự ông ấy sẽ được sự thanh tịnh toàn hảo của thân, ngữ và ý. [327]

     Tu-bồ-đề: Sự thanh tịnh hoàn toàn của ý, về phần của Bồ-tát này,

nên hiểu như thế nào?

     Thế Tôn: Khi các thiện căn đó của ông ấy tiếp tục gia tăng, theo trình tự ông ấy sẽ được cảnh giới của tâm mà ông ấy ít quan tâm, và không có sự gian xảo, lừa gạt, tà vạy và mưu kế. Thêm vào, sự thanh tịnh hoàn toàn của ý của ông ấy cũng bao gồm trong đó mà ông ấy đã siêu việt mức độ của Thanh vănDuyên giác. Hơn nữa, một Bồ-tát bất thối chuyển không phải là người chấp vào tầm quan trọng của được, vinh dự, hay danh tiếng, hay y áo, bình bát chứa của bố thí, chỗ trú hay vật dụng thuốc men dùng cho đau bệnh. Ông ấy không phải là người đầy ganh tị và hèn mọn. Và khi được dạy cho các pháp thâm sâu, ông ấy không mất can đảm; mà trí thông minh của ông ấy trở nên vững chắc, nhập sâu. Ông ấy nghe pháp từ những người khác với sự kính trọng. Tất cả những pháp mà ông ấy nghe được từ người khác ông ấy kết hợp chúng với bát-nhã ba-la-mật, và ông ấy cũng kết hợp tất cả các nghệ thuật và các nghề chuyên môn của thế gian với pháp tánh, nhờ bát-nhã ba-la-mật. Ông ấy không thấy bất cứ pháp nào mà ông ấy không buộc nó vào pháp tánh và ông ấy thấy mọi sự vật như là đang được kết hợp với nó. [328]

 

  1. NHỮNG VIỆC LÀM CỦA MA VƯƠNG

 

     Hơn nữa, Ác Ma, triệu gọi lên cảnh tám địa ngục lớn, với nhiều trăm, nhiều ngàn, nhiều trăm ngàn Bồ-tát trong đó, và y nói với vị Bồ-tát bất thối chuyển: “Những Bồ-tát đó, được Như Lai miêu tả như là bất thối chuyển, đã tái sinh nơi tám địa ngục lớn. Ông cũng vậy, vì ông đã được miêu tả như là bất thối chuyển, sẽ rơi vào các địa ngục lớn. Hãy thú nhận rằng ý niệm giác ngộ đó là một sai lầm! Hãy bỏ nó đi! Cảnh giới Phật là gì đối với ông? Theo cách đó, ông sẽ tránh khỏi tái sinh nơi các địa ngục. Nếu ông hành động như thế, ông sẽ là người đi đến thiên đường.” Dù cho lúc ấy tâm của Bồ-tát ấy không nao núng, không bối rối, nếu ông ấy chắc chắn trong tri kiến của mình rằng một Bồ-tát bất thối chuyển khả dĩ không thể bị tái sinh nơi các địa ngục ngược lại ý muốn của mình, thì đây là một biểu hiện bất thối chuyển của ông ấy. Hơn nữa, Ác Ma, có thể đến trong lớp ngụy trang một Sa-môn, và nói: “Hãy từ bỏ những gì ông đã nghe được cho đến bây giờ, hãy bỏ đi những gì đã có được cho đến hiện tại! Và nếu ông theo lời khuyên này, chúng tôi sẽ đến với ông hoài, và y nói với ông ấy: ‘Những gì ông nghe bây giờ, đó không phải là lời của Phật. Nó là thi ca, tác phẩm của những thi sĩ. Nhưng những gì tôi dạy ông ở đây, đó là giáo lý của Phật, đó là lời của Phật.’” Nếu khi nghe như vậy, một Bồ-tát nao núng và bối rối, thì nên biết rằng ông ấy là người chưa được Như Lai thọ ký, ông ấy không cố định nơi giác ngộ viên mãn, [329] ông ấy không đứng vững trong cảnh giới bất thối chuyển.  Nhưng nếu ngay cả khi nghe những lời này của Ma vương, ông ấy không nao núng mà quay về với pháp tánh, với Không sinh, với Không diệt, với Không tác dụng, thì ông ấy không phải là một trong những người đặt tin tưởng vào người khác. Một A-la-hán, một tỳ-kheo đã khô cạn rỉ lậu, không đi với người nào khác mà ông ấy tin tưởng, nhưng ông ấy đặt bản tánh của pháp ngay trước mắt mình, và Ma vương không có lối vào nơi ông ấy. Cũng vậy, một Bồ-tát bất thối chuyển không thể bị nghiền nát bởi một những người thuộc thừa Thanh vănDuyên giác, do bản tánh của mình ông ấy không thể rơi lại vào hàng Thanh văn hay Duyên giác, ông ấy cố định vào nhất thiết trí, và kết thúc nơi giác ngộ viên mãn. Hoàn toàn chắc chắn là một Bồ-tát đứng vững trong cảnh giới bất thối chuyển khả dĩ không thể bị người khác dẫn dắt sai đường. Hơn nữa, có người sẽ đến nói với vị Bồ-tát bất thối chuyển: “Cuộc hành trình trong sinh tử là sự theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật, và không phải là cuộc hành trình của người trong cầu tìm giác ngộ. Hãy chấm dứt tất cả sự khổ trong chính đời này! Rồi ông sẽ không còn trải qua tất cả sự khổ và thất vọng bị ràng buộc với cảnh giới sinh tử. Chắc chắn mãi mãi, trong chính đời này nhân cách này của ông sẽ hoàn tất, tại sao ông nghĩ đến chuyện mang một cái khác nữa lên mình [vì những chúng sinh khác]?” Rồi dù cho Bồ-tát ấy không nao núng cũng không bối rối, thì chính Ma vương sẽ nói với ông ấy: “Cứ nhìn xem các Bồ-tát đó trong vô số kiếp đã trình những cần thiết của đời sống [330] với các Phật, các Thế Tôn, những người đã sống đời sống phạm hạnh trong sự hiện diện của vô số Phật, những người đã tôn vinh vô số Phật và Thế Tôn, đã hỏi các ngài về chính thừa này của các Bồ-tát, đã hỏi các ngài một Bồ-tát nên trụ như thế nào, đã nghe câu trả lời của các Như Lai, và đã hành động với nó! Bất chấp sự thật là họ đã trụ, theo đuổi và tận sức mình như họ nên làm, – đến ngày này họ chưa biết giác ngộ viên mãn! Họ trụ vững chắc trong những chỉ giáo của các ngài, họ tu luyện mình như họ nên như vậy, – nhưng họ chưa đạt đến nhất thiết trí! Rồi ông sẽ làm sao đạt đến giác ngộ viên mãn mãi mãi?” Dù cho lúc ấy ông ấy không nao núng và không bối rối, thì Ác Ma, sẽ triệu gọi một vài tỳ-kheo ở chỗ đó, và nói: “Những tỳ-kheo đó đã trở thành A-la-hán, với rỉ lậu đã khô cạn. Họ đã lên đườnggiác ngộ, trong khi họ đã đạt đến quả A-la-hán, và trở nên an định trong đó. Ông sẽ làm sao đạt đến giác ngộ viên mãn?” Hoàn toàn chắc chắn rằng một Bồ-tát phải là bất thối chuyển đối với giác ngộ viên mãn, khi người ta nói và xiển dương điều này, nếu tâm ông ấy không nao núng và không bối rối. Nếu tâm của một Bồ-tát đã nghe từ một người xa lạ những nhận xét gây thất vọng này không bị loại trừ khỏi bản tánh của pháp, nếu ông ấy không trở lại với nó, nếu ông ấy không đổi ý, nếu ông ấy thừa nhận những việc làm này của Ma vương vì cái gì, thì hoàn toàn không thể có chuyện ông ấy theo đuổi đúng trong các ba-la-mật nên không đạt đến nhất thiết trí. Ác Ma, khả dĩ không thể có được lối vào một Bồ-tát không những chỉ theo đuổi mà còn tu luyện mình đúng cách nữa, không thiếu sự hành trì được các Như Lai, những bậc đã điều đầy đủ tâm hành kết hợp với các ba-la-mật, miêu tả. [331] Nếu một Bồ-tát nhận ra các việc làm của Ma vương, nếu khi ông ấy nghe những nhận xét gây thất vọng từ những người xa lạ, mà ông ấy không từ bỏ, không tụt lại phía sau, không đổi ý, nếu ông ấy nhận ra những việc làm của Ma vương là vì cái gì, thì đây là một biểu hiệu nữa của bất thối chuyển.

     Hơn nữa, một Bồ-tát bất thối chuyển không xỏ xâu một nhận thức về sắc, v.v…, cũng không sản sinh một nhận thức. Vì Bồ-tát bất thối chuyển xuyên qua các pháp mà chúng rỗng không không có các tướng riêng nhất định nhập vào sự khẳng định rằng ông ấy sẽ đạt được sự cứu độ như là một Bồ-tát không nhận biết ngay cả pháp ấy, và vì thế ông ấy không thể xỏ xâu hay sản sinh nó được. Vì thế người ta nói rằng “một Bồ-tát là bất thối chuyển nếu ông ấy nhẫn nhục chấp nhận tri kiến về sự bất sinh.” Đây là một biểu hiệu nữa của bất thối chuyển. Hơn nữa, Ác Ma, đến trong lớp ngụy trang một tỳ-kheo cố làm nản chí Bồ-tát ấy bằng những lời: “Đồng với hư khôngnhất thiết trí này. Nó là một pháp không có, nó không hiện hữu. Ai có thể nhận biết, ai biết nó đầy đủ? Không ai có thể đến nó được, không ai có thể biết nó đầy đủ, không cái gì phải biết đầy đủ, không có người nào hiểu, không có gì phải hiểu. Ở tất cả thời gian những pháp đó đồng như hư không, ông tận lực mình vô ích, phát hiện như là việc làm của Ma vươnggiáo pháp này ‘người ta nên biết giác ngộ viên mãn,’ nó không phải là lời dạy của Phật. Người con trai hay người con gái của gia đình thiện lương lúc ấy tri kiến, hiểu rõ và biết rằng [332] cố gắng này để khuyên ông ấy từ bỏ chỉ là việc làm của Ma vương. Sau khi đã phản chiếu như thế, ông ấy nên định tâm mình vững chắc, không lay chuyển, không thể kháng cự được. Đây là một biểu hiệu nữa của bất thối chuyển.

 

  1. NHỮNG BIỂU HIỆU NỮA

CỦA BẤT THỐI CHUYỂN

 

     Hơn nữa, một Bồ-tát bất thối chuyển là người đã từ bỏ mức độ của Thanh vănDuyên giác, và tiến hành theo chiều hướng nhất thiết trí. Theo dự tính, ông ấy nhập vào thiền thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư, và ông ấy trú trong bốn thiền đó. Ông ấy trở thành người làm chủ hoàn toàn bốn thiền, nghĩa là, ông ấy nhập các định, nhưng sự tái sinh vị lai của ông ấy không phải do ảnh hưởng của chúng quyết định. Ông ấy đặt căn bản sự tái sinh của mình trên các pháp của dục giới.  Nên biết đây cũng là một dấu hiệu của bất thối chuyển nơi một Bồ-tát bất thối chuyển. Hơn nũa, một Bồ-tát bất thối chuyển không chấp vào tầm quan trọng của danh tiếng, danh hiệu hay sự nổi tiếng. Ông ấy không chấp vào một cái tên [đặc biệt mà trong bất cứ trường hợp nào nó cũng có mặt trong tánh không]. Tâm ông ấy vẫn không nao núng, và chỉ thích sự vui sướng của tất cả chúng sinh. Dù ông ấy ra đi hay trở lại, tâm ông ấy không lang lang, và ông ấy vẫn luôn luôn tâm niệm. Khi sống cuộc đời của một gia chủ, ông ấy không có sự yêu thương nhiều đối với những sự vật thích thú, và ông ấy không muốn chúng quá nhiều. Ông ấy sở hữu tất cả những vật thích thú với sự lo sợ và chán nản. Ở nơi hoang vắng bị trộm cướp khuấy phá, người ta ăn trong sợ hãi và luôn luôn nghĩ đến [333] bỏ đi, ra khỏi chỗ hoang vắng này, và không nghỉ ngơi. Cũng vậy, một Bồ-tát bất thối chuyển, sở hữu bất cứ vật thích thú nào ông ấy có thể mang theo một cách đơn giản, không hăng hái, không chấp trước. Ông ấy không phải là một trong những người quan tâm những hình tướng yêu thích. Những người sống cuộc sống của những gia chủ và những người chấp trước trong năm loại khoái lạc không kiếm sống theo cách bất thường mà theo cách chính đáng. Họ cũng không chết trong tình trạng tội lỗi, họ cũng không làm tổn thương những người khác. Vì họ thúc giục tất cả chúng sinh đạt hạnh phúc tối thượng, – những người xứng đáng đó, những bậc vĩ đại đó, những siêu nhân, những người tuyệt vời, những người huy hoàng, những người cao cả, những người hùng mạnh, những anh hùng của loài người, những người lãnh đạo của loài người, những hoa súng của loài người, những hoa sen của loài người, những người thuần chủng, Rồng của loài người, sư tử của loài người, những người huấn luyện của loài người! Trong tinh thần này các Bồ-tát sống cuộc đời của gia chủ, bởi vì họ đã được sức mạnh của bát-nhã ba-la-mật thấm nhập, – và đó là một biểu hiệu nữa của bất thối chuyển. Hơn nữa, Kim Cương Thủ[44], đại Dạ-xoa, luôn luôn theo dõi phía sau vị Bồ-tát bất thối chuyển. Không thể tấn công được, Bồ-tát ấy không thể bị người hay ma đánh bại. Tất cả chúng sinh thấy khó chinh phục ông ấy, và tâm ông ấy không bị [những cuộc tấn công của họ] quấy rầy. Các căn của ông ấy đầy đủ tất cả, và ông ấy không thiếu bất cứ cái nào. Ông ấy sở hữu các cơ quan của một người đàn ông., [334] không phải những cơ quan của một người bất lực. Trong bất cứ cách nào, ông ấy cũng không dự vào những chú thuật, lảm nhảm thì thầm, thảo mộc thảo dược, ma thuật, phù phép chữa bệnh, v.v…, mà chúng là việc làm của đàn bà. Ông ấy kiếm sống theo cách trong sạch, không theo cách sai trái. Tính cách của ông ấy là không cãi cọ cũng không tranh luận. Cái thấy của ông ấy chánh trực, ông ấy không tự nâng cao mình cũng không hạ thấp người khác. Ông ấy được phú bẩm những đức tính này và những đức tính tương tự khác. Ông ấy không tiên đoán cho những người đàn bà hay đàn ông rằng họ sẽ có con trai hay con gái. Những cách sai lầm như thế khiến ông ấy có thể chấp nhận sẽ không phải của ông ấy. Tất cả điều này là một biểu hiệu nữa của bất thối chuyển. Hơn nữa, này Tu-bồ-đề, tôi sẽ chứng minh những thuộc tính, biểu hiệu, và dấu hiệu của một Bồ-tát bất thối chuyển. Được phú bẩm chúng, ông ấy được biết là bất thối chuyển đối với giác ngộ viên mãn. Lại nữa, đó là những điều nào? Đó là những điều sau đây: Ông ấy không trao mình cho sự chiếm hữu hay dự tưởng với các uẩn, các nhập, các giới, và duyên sinh. Ông ấy không dự tưởng loại chuyện mà người ta thích nói trong xã hội, chuyện nói về vua chúa và kẻ cướp, về quân đội và những cuộc đánh nhau; về làng mạc, [335] thành phố, thị trấn, các nước, vương quốc, và kinh đô; về chính ông ấy, về các quan thượng thư, tể tướng; về đàn bà, đàn ông và những người trung tính; về những cuộc hành trình, công viên, tu viện, cung điện, ao hồ, ao sen, đám cây, vườn và núi; về quỉ Dạ-xoa[45], quỉ La-sát[46], Quỉ đói[47], quỉ Tỳ-xá-xà[48], quỉ Kataputana, quỉ Câu-bàn-trà[49]; về thức ăn, đồ uống, quần áo, đồ trang sức, nước hoa, vòng hoa và dầu xức; về đường đi, ngả tư đường, đường phố, kiệu và người; về ca khúc, vũ điệu, chuyện kể, diễn viên, vũ công, và ca sĩ hát rong; về đại dương, về sông, về đảo. Họ không hiến mình cho chuyện nói làm chướng ngại pháp, loại chuyện nói làm vui người thường, nhưng hiến mình cho chuyện nói về bát-nhã ba-la-mật, và họ trở thành những người không thiếu tâm hành kết hợp với nhất thiết trí. Nhưng họ tránh chuyện nói về đánh nhauxung đột, về cãi cọ và tranh biện. Họ có thiện chí đối với những gì đúng, và không thiện chí đối với những gì sai. Họ ca ngợi sự vắng mặt của bất hòa, và không để gây nên bất hòa. Họ muốn từ ái, và không muốn cái đối nghịch lại nó. Họ thuyết giảng pháp, và không thuyết giảng cái đối nghịch lại nó. Họ lập kế hoạch để có được cái thấy của các Như Lai trú ở các thiên thế giới khác, và như thế họ phát ý sinh niệm đưa họ đến tái sinh trong sự hiện diện của các ngài. Theo kế hoạch họ tái sinh gần các ngài, và họ không thiếu trong thị kiến của các Như Lai, [336] cũng không ở trong cơ duyên tôn vinh và phục vụ các ngài. Hơn nữa, khi một Bồ-tát bất thối chuyển nhất định chấm dứt sự hiện hữu của mình giữa chư thiên, – dù họ thuộc về cõi dục, hay cõi sắc, hay cõi vô sắc, – ông ấy được tái sinh ngay trong vùng trung tâm, ở châu Diêm-phù-đề. Vì ở biên giới các nước, chỉ có một ít người có kiến thức tốt về nghệ thuật, thi ca, chân ngôn,[50] mật tri, các luận tiêu chuẩn, những điềm lạ thường và ý nghĩa của tôn giáo, nhưng họ tái sinh rất nhiều ở vùng trung tâm. Nhưng những người tái sinh ở các vùng biên giới ít nhất cũng tái sinh ở các thị trấn lớn. Đây là một dấu hiệu nữa của bất thối chuyển. Hơn nữa, đối với một Bồ-tát bất thối chuyển không có chuyện tự hỏi là mình có phải là bất thối chuyển hay không. Chắc chắc là nó phát sinh nơi ông ấy, ông ấy không có sự bất định về giai đoạn mà ông ấy đã làm cho chính mình, và ồng ấy không chìm bên dưới nó. Y như một người Dự lưu không có những do dự hay nghi ngờ về quả Dự lưu, nếu đó là giai đoạn đúng lý của ông ấy. Cũng vậy một Bồ-tát bất thối chuyển không có những do dự hay nghi ngờ về đang ở trên giai đoạn của Bồ-tát, khi đó là giai đoạn đúng lý của ông ấy, ông ấy cũng không chìm bên dưới nó. Và khi ông ấy nhanh chóng thấy thấu suốt bất cứ hành vi nào của Ma vương có thể đã phát sinh, và không đến vì sự lưỡng lự của ông ấy. [337] Một người phạm một tội ngũ nghịch, cho đến khi chết, sẽ không bao giờ mất ý niệm về hành động đó, người ấy không thể xóa bỏ hay loại bỏ nó, nhưng nó theo người ấy cho đến khi người ấy chết. Cũng vậy, tâm bất thối chuyển của một Bồ-tát bất thối chuyển đã biết trụ vững trên địa bất thối chuyển mà đúng lý nó là của ông ấy, ngay cả toàn thể thế giới với chư thiên, nhân, a-tu-la cũng không thể làm cong hay chia rẽ ông ấy với nó. Ông ấy nhận ra bất cứ hành vi nào của Ma vương có thể đã phát sinh vì cái gì, và không đến vì dao động. Ông ấy không có do dựnghi ngờ về giai đoạn đúng lý là của ông ấy, ngay cả sau khi ông ấy đi qua đời hiện tại này, những ý niệm mà chúng là đặc tính của Thanh vănDuyên giác sẽ không phát sinh nơi ông ấy. Nhưng khi đi qua đời hiện tại này ông ấy nghĩ: “Ấy không phải là trường hợp mà ta sẽ không đạt được giác ngộ viên mãn. Ta chắc chắn đạt được giác ngộ viên mãn, ta trụ vững trên địa mà đúng lý là của ta.” Ông ấy không còn có thể bị người khác dẫn dắt lạc đường nữa, và ở địa mà nó đúng lý là của ông ấy, thì ông ấy không thể bị nghiền nát. Vì khi ông ấy đứng vững ở địa đó, tâm ông ấy trở nên không gì có thể vượt qua được, tri kiến của ông ấy trở nên không ai có thể vượt qua được. Giả sử Ác Ma, trong lốt ngụy trang làm Phật đến nói với ông ấy: “Hãy chứng ngộ quả A-la-hán trong đời này! Tiền định của ông không phải là giác ngộ viên mãn. Ông không có những đức tính, biểu hiệu và dấu hiệu mà một Bồ-tát phải được phú bẩm để đạt được giác ngộ viên mãn. Vậy thì vì sao ông phải theo đuổi trong đây?” Nếu lúc ấy Bồ-tát đó trải nghiệm tâm có sự thay đổi, thì nên biết ông ấy chưa được các Như Lai của quá khứ thọ ký giác ngộ viên mãn. [338] Mặt khác, nếu ông ấy quán sát rằng, “đây chắc chắnÁc Ma, đến sau khi y đã ngụy trang trong lốt Phật bằng ma thuật, ta bị Ma vương bám theo mãi, đây là một trong những cái do huyễn thuật tạo ra, không phải là Như Lai. Như Lai đã nói đến kết quả không nên chứng ngộ quả A-la-hán, và không khác hơn,” nếu ông ấy thấy và hiểu rằng “đây chắc chắnÁc Ma, đã tạo ra hai huyễn tướng của Phật, và muốn làm ta mất thiện cảm với giác ngộ vô thượng,” và nếu Ma vương, sau đó, quay đi, thì Bồ-tát này chắc chắn trong quá khứ đã được các Như Lai được thọ ký giác ngộ viên mãn, và ông ấy đã trụ vững ở địa bất thối chuyển của Bồ-tát. Ở đâu thấy được những đức tính, biểu hiệu và dấu hiệu này, ở đó có thể chắc chắn, không nghi ngờ gì, vì ông ấy có những phẩm tính này, ông ấy đã được các Như Lai trong quá khứ thọ ký, và đã đứng vững trên địa bất thối chuyển của Bồ-tát. Vì ông ấy có những đức tính, biểu hiệu và dấu hiệu của một Bồ-tát bất thối chuyển. Đây là một biểu hiệu nữa của bất thối chuyển. Hơn nữa, một Bồ-tát bất thối chuyển cố gắng có được thiện pháp dù cho ông ấy trả giá bằng sinh mạng của mình và tất cả những thứ tùy thuộc. Vì thế, ông ấy nỗ lực vô thượng để có được thiện pháp qua sự yêu mến và kính trọng pháp, qua sự yêu mến và kính trọng các Phật và Thế Tôn quá khứ, vị laihiện tại. Trong niềm tin quyết rằng “các Pháp thân là các Phật, các Thế Tôn.” [339] Ông ấy đạt được thiện pháp qua lòng yêu mến và kính trọng của ông ấy đối với Pháp. Ông ấy đạt được thiện pháp không những chỉ là của các Phật và Thế Tôn quá khứ mà còn là của các Phật và Thế Tôn hiện tạivị lai. Ông ấy trở nên tin quyết rằng ông ấy cũng gia nhập vào hàng những người được dự tính sẽ là các Phật và Thế Tôn vị lai, rằng ông ấy cũng đã được thọ ký giác ngộ vô thượng đó, rằng ông ấy cũng sẽ có được chính thiện pháp này. Ông ấy cũng mang trong tâm những quán xét này, trong các nỗ lực để có được thiện pháp ấy, khi ông ấy khước từ ngay cả mạng sống và những vật tùy thuộc của mình, khi ông ấy không chán nản, hay trở nên lười biếng. Đây là một biểu hiệu nữa của bất thối chuyển. Hơn nữa, khi Như Lai chứng minh pháp, một Bồ-tát bất thối chuyển không do dự hay nghi ngờ.

     Tu-bồ-đề: Ngài ấy cũng không do dự hay nghi ngờ khi một Thanh văn chứng minh pháp?

     Thế Tôn: Không, ông ấy không. Vì một Bồ-tát đã có được hạnh vô sinh pháp nhẫn không do dự hay nghi ngờ khi ông ấy nghe nói về thực tướng vô ngại của tất cả các pháp. Được phú bẩm những đức hạnh này, một Bồ-tát trở thành bất thối chuyển. [340] Cũng nên biết đây là những đức tính, biểu hiệu và dấu hiệu của một Bồ-tát bất thối chuyểngiác ngộ viên mãn.

 

 

 

Chương XVIII

 

KHÔNG    

 

  1. NHỮNG TRẠM DỪNG THÂM SÂU

 

     Tu-bồ-đề: Thật là kỳ diệu, Ôi Thế Tôn, những đức tính vĩ đại làm sao, vô hạn và vô lượng làm sao mà một Bồ-tát được phú bẩm!

     Thế Tôn: Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Vì một Bồ-tát bất thối chuyển đã có được tri kiến vô tậnvô biên mà các Thanh vănDuyên giác không có trình báo.

     Tu-bồ-đề: Trong nhiều kiếp liên tục Thế Tôn đã có thể tiếp tục xiển dương những đức hạnh, biểu hiệu và dấu hiệu này của một Bồ-tát bất thối chuyển. Do đó bây giờ ngài có thể chỉ những vị thế rất thâm sâu của một Bồ-tát mà chúng kết hợp với bát-nhã ba-la-mật.

     Thế Tôn: Khéo nói, Tu-bồ-đề. Hiển nhiên ông đã nêu lên những vị thế rất thâm sâu bởi vì ông muốn được chỉ dạy. “Thâm sâu,” Tu-bồ-đề, của Không đồng nghĩa với thâm sâu của Vô tướng, Vô nguyện, Vô quả, Vô sinh, Bất sinh, Vô hữu, Vô ưu, Đoạn dứt, Niết-bàn, và Ra đi. [342]

     Tu-bồ-đề: Nó chỉ đồng nghĩa với các pháp này hay với tất cả các pháp?

     Thế Tôn: Nó đồng nghĩa với tất cả các pháp. Vì sắc, v.v…, thâm sâu. Sắc, v.v…, thâm sâu như thế nào? Thâm sâu như Như, thâm sâu như sắc, v.v… Thâm sâu như Như của sắc, v.v…Ở chỗ không có sắc, đó là thâm sâu của sắc, v.v…

     Tu-bồ-đề: Thực là kỳ diệu, Ôi Thế Tôn, làm sao một thiết bị vi tế mở sắc, v.v…, ra [hay: không chướng ngại], và đồng thời chỉ Niết-bàn.

 

  1. PHỤNG SỰ BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

NHƯ THẾ NÀO

    

     Thế Tôn: Khi một Bồ-tát phản chiếu, tư duythiền định về

những địa vị rất thâm sâu này mà chúng kết hợp với bát-nhã ba-la-mật, và cố gắng trụ, tu luyệntiến bộ như đã được qui định, miêu tảgiải thích trong bát-nhã ba-la-mật, [343] rồi nếu ông ấy làm như thế trong chỉ một ngày, việc mà ông ấy làm trong một ngày đó vĩ đại làm sao! Nếu một người, xúc động bởi những quan tâm về tham, đã hẹn hò ngày gặp với một nữ nhân xinh đẹp, hấp dẫn, và nếu bây giờ nữ nhân đó bị một người khác giữ lại và không thể ra khỏi nhà được, thì Tu-bồ-đề, ý ông thế nào, những dự tưởng của người đàn ông đó được kết nối với cái gì?

     Tu-bồ-đề: Dĩ nhiên, với người đàn bà. Anh ta nghĩ đến sự đến của nàng, về những điều họ sẽ cùng làm với nhau, và về sự mừng rỡ, vui vẻhân hoan anh ta sẽ có với cô ta.

     Thế Tôn: Anh ta sẽ có nhiều ý tưởng như thế trong vòng một ngày không?

     Tu-bồ-đề: Quả thật có nhiều, Ôi Thế Tôn.

     Thế Tôn: Cũng nhiều như những ý tưởng như anh ta có trong vòng một ngày, một Bồ-tát cự tuyệt sự sinh tử, quay lưng lại với nó, tìm cách chấm dứt nó, trong rất nhiều kiếp.

 

  1. CÔNG ĐỨC

 

     Khi ông ấy trụ, tu luyện, tiến bộ, thiền định, và tinh tấn như được qui định, miêu tảgiải thích trong bát-nhã ba-la-mật này, ông ấy cũng dứt bỏ những lỗi lầm khiến ông ấy quay đi đối với giác ngộ viên mãn. [344] Nếu bây giờ một Bồ-tát hiến mình cho sự sùng mộ bát-nhã ba-la-mật, và làm những việc chỉ trong một ngày thôi trong khi trú hoàn toàn trong các tâm hành nối kết với bát-nhã ba-la-mật; và nếu một Bồ-tát khác thiếu bát-nhã ba-la-mật, nhưng cúng dường phẩm vật trong vô số kiếp; ở cấp cao hơn ông ấy là Bồ-tát, chỉ trong một ngày, tinh cần về bát-nhã ba-la-mật. Một Bồ-tát chỉ trong một ngày tinh cần về bát-nhã ba-la-mật tạo nhiều công đức hơn một Bồ-tát khác trong vô số kiếp cúng dường phẩm vật cho tất cả các hạng thánh nhân, – từ Dự lưu đến Như Lai – nhưng thiếu bát-nhã ba-la-mật. Nếu Bồ-tát khác đó không chỉ cúng dường phẩm vật như đã nói, mà thêm vào giữ giới, nhưng thiếu bát-nhã ba-la-mật, thì Bồ-tát này, người trú trong bát-nhã ba-la-mật, sẽ tạo công đức nhiều hơn nếu sau khi ông ấy xuất hiện từ hành tác của tâm trên bát-nhã ba-la-mật, ông ấy sẽ chứng minh pháp. Và điều đó vẫn đúng [345] dù cho cộng thêm Bồ-tát kia được phú bẩm nhẫn nhục. Dù cho cộng thêm ông ấy tận lực tinh tấn, gắng sức về thiền định và các giác chi, nhưng vẫn còn thiếu bát-nhã ba-la-mật; một Bồ-tát, sau khi bố thí pháp, như đã nói trước kia, sẽ chuyển nó đến giác ngộ viên mãn, sẽ tạo nhiều công đức hơn của ông ấy. Còn nhiều hơn nữa là công đức của một Bồ-tát không những chỉ bố thí pháp, không chỉ chuyển nó đến giác ngộ viên mãn, mà còn dùng loại chuyển đã được dạy trong bát-nhã ba-la-mật. Nhưng nếu một Bồ-tát, sau khi đã làm xong tất cả điều đó, không còn nỗ lực vì nó nữa trong ẩn tu thiền định, [346] thì công đức của ông ấy sẽ ít hơn công đức của người cũng nỗ lực vì nó trong ẩn tu thiền định và người được bát-nhã ba-la-mật hộ trợ, khiến cho sự ẩn tu thiền định không thiếu bát-nhã ba-la-mật. Người sau tạo được công đức nhiều hơn.

 

  1. VÔ LƯỢNG, RỖNG KHÔNG

VÀ THUYẾT THOẠI

 

     Tu-bồ-đề: Làm sao có thể nói rằng mình tạo nhiều công đứcThế Tôn miêu tả tất cả những tích lũy là kết quả của sự phân biệt sai?

     Thế Tôn: Trong trường hợp đó sự tích lũy công đức về phần của một Bồ-tát theo đuổi trong bát-nhã ba-la-mật cũng phải được miêu tả như là rỗng không, vô giá trị, vô nghĩa và không có thực chất. Đến mức độ một Bồ-tát tiếp tục quán tất cả các pháp theo cách này, đến mức độ ông ấy trở thành người không thiếu bát-nhã ba-la-mật. Và đến độ ông ấy không thiếu bát-nhã ba-la-mật, đến độ ông ấy tạo ra khối công đức không thể đo lường và không thể tính toán.

     Tu-bồ-đề: Có sự phân biệt hay khác biệt nào giữa không thể đo lường và không thể tính toán không?

     Thế Tôn: Nó “không thể đo lường” bởi vì tất cả những cách đo

phải ngừng lại nơi nó. Nó “không thể tính toán” bởi vì nó làm cạn kiệt tất cả mọi nỗ lực đếm nó.

     Tu-bồ-đề: Có lý do nào để cho rằng các uẩn là không thể đo lường được không?

     Thế Tôn: Có. [347]

     Tu-bồ-đề: Từ đồng nghĩa của “không thể đo lường được” là gì?

     Thế Tôn: Không, Vô tướng, Vô nguyện.

     Tu-bồ-đề: Có phải nó là từ đồng nghĩa của chỉ những pháp ấy và không phải của những pháp khác?

     Thế Tôn: Tôi chưa miêu tả tất cả các pháp như là ‘rỗng không’ ư?

     Tu-bồ-đề: Như Lai đã miêu tả tất cả các pháp chỉ là rỗng không.

     Thế Tôn: Là rỗng không, chúng cũng là vô tận. Và cái gì là không, cái ấy cũng là không thể đo lường được.