Giải Thoát Nhờ Lắng Nghe

31/01/20182:29 SA(Xem: 2904)
Giải Thoát Nhờ Lắng Nghe

GIẢI THOÁT NHỜ LẮNG NGHE
Lịch Sử Đại Bảo Tháp Jarung Kashor
Đức Liên Hoa Sinh soạn
Lhatsun Ngonmo phát lộ và Ngakchang Sakya Zangpo tái phát lộ

 Bảo tháp Jarung Kashor - Boudha

Emaho!
Pháp thân Vô Lượng Quang Như Lai,
Báo thân Đại Bi Quán Tự Tại,
Hóa thân Đại Sư Liên Hoa Sinh,
Tam thân đạo sư truyền thừa, con cầu khẩn!

Đây là lịch sử của Đại Bảo Tháp Jarung Kashor, sự hỗ trợ về Pháp thân, bất khả phân với tâm trí tuệ của tất cả chư Phật và Bồ Tát khắp mười phương, quá khứ, hiện tạivị lai.

Vào mùng mười tháng Thân năm Hỏa Thân Đực, ở tầng giữa của Đại Tu viện Samye vinh quang, Bất Biến Tự Nhiên Thành Tựu, đại đàn quán đỉnh Pháp Tu Tâm Đạo Sư Cực Mật[1] đang được trao truyền cho vị vua Pháp và hai mươi lăm đệ tử.

Vào dịp này, các đệ tử thỉnh cầu Đạo Sư Tôn Quý xứ Uddiyana ngự trên Pháp tòa chín tấm nệm gấm. Cúng dường Ngài ly vàng chứa đầy rượu, họ thỉnh cầu Ngài thưởng thức đủ loại cao lương mỹ vị. Sau đấy, họ cúng dường Ngài hai mươi mốt miếng ngọc lam, lộng lẫy nhất từ cổ của đức vua, được gọi là ‘Ngọn Đèn Ngời Sáng’[2]. Họ cũng dâng năm phần bụi vàng, bảy thỏi vàng, một trăm súc lụa tốt và vô số cúng phẩm khác.

Đức vua Trisong Deutsen sau đấy lạy một trăm lạy và thưa:

“Hỡi Đại Sư! Mặc dù sinh ra ở vùng đất Tây Tạng man rợ này, xứ sở của quỷ mặt đỏ, con đã thành công trong việc thỉnh mời Phương Trượng Bồ Tát xứ Zahor và học giả Liên Hoa Sinh xứ Uddiyana; cả hai đều là những Ứng hóa thân chân chính. Theo lời hứa long trọng của con, chúng ta đã hoàn thành sự hỗ trợ này để chúng sinh tích lũy công đức – trụ xứ của Tam Bảo, Đại Tu Viện Samye vinh quang, Bất Biến Tự Nhiên Thành Tựu, vô song trong cõi Nam Thiệm Bộ Châu! Giờ đây, xứ Tây Tạng mọi rợ này, nơi giống như hòn đảo tăm tối, đang chứng kiến các giáo lý của Tam Bảo lan tỏa như mặt trời mọc trên những rặng núi tuyết.

Xin hãy khai thị cho chúng con thời kỳ hoàng kim này đã xảy đến như thế nào, một thời đại mà mọi chúng sinh lắng nghe và giảng giải Giáo Pháp linh thiêng, giống như vùng đất Ma Kiệt Đà trung tâm. Hãy cho chúng con biết, vào thời kỳ của những giáo lý của Phật Ca Diếp, tại quận Maguta ở Nepal, bậc thầy và các đệ tử đã sinh làm bốn người con trai của bà nuôi gà nghèo ra sao và họ đã xây dựng Bảo tháp Jarung Kashor thế nào. Họ đã hoàn thành việc xây dựng Bảo tháp thế nào và những đại nguyện nào mà họ đã phát khởi? Nếu Ngài nói cho chúng con biết thời hiện tại là kết quả của các đại nguyện trước kia ra sao, thì sự xác quyết, niềm tinước nguyện sẽ phát triển. Vì thế, xin hãy kể lại cho chúng con thật chi tiết!”.

Khi đức vua nói vậy, Đại Sư đáp rằng: “Này, đức vua, hãy lắng nghe thật kỹ và ghi nhớ mọi điều!”.

Chương 1: XÂY DỰNG VÀ THÁNH HÓA

“Sau đây là lịch sử của Đại Bảo Tháp Jarung Kashor. Vô số kiếp trước, không thể tính đếm, Bồ Tát, Đại Tát Đỏa, Đức Quán Thế Âm phát nguyện trước Phật Vô Lượng Quang rằng sẽ giải thoát mọi chúng sinh khỏi đầm lầy luân hồi. Sau khi giải cứu vô số chúng sinh khỏi đại dương luân hồi, Ngài quay trở về cung điện trên đỉnh núi Phổ Đà, nghĩ rằng, ‘Bây giờ không còn một hữu tình chúng sinh nào cả’. Nhưng khi nhìn lại, Ngài thấy chúng sinh sáu cõi chẳng suy giảm chút nào: vẫn nhiều vô số như những hạt còn lại ở đáy thùng làm bia. ‘Ta chắc không thể giải cứu chúng sinh khỏi đại dương luân hồi!’ – Ngài nghĩ và bắt đầu khóc. Lau giọt nước mắt bằng ngón đeo nhẫn, Ngài vẩy chúng đi với lời cầu nguyện, ‘Trong tương lai, cầu mong hai giọt nước mắt này có thể làm lợi lạc chúng sinh!’.

Lúc đó, trong cõi trời Tam Thập Tam, vua trời Đế Thích sinh ra hai cô con gái – các thiên nữ hoàng gia với tên gọi Purna và Tiểu Purna. Tiểu Purna lấy trộm bông hoa thiêng vì thế đã vi phạm luật lệ không thể vi phạm của cõi giới; bởi vậy, cô ấy bị đầy xuống cõi người. Ở đó, cô ấy sinh ra trong gia đình của những người nuôi gà ở quận Maguta thuộc thung lũng Kathmandu, Nepal. Cha của cô tên là Prabhasvara và mẹ của cô là Purna. Họ đặt tên cho cô ấy là Samvari và họ cùng nhau nuôi gà.

Sau đấy, Samvari sinh bốn người con trai với bốn người đàn ông bị ruồng bỏ. Cha của người con trai trưởng là người chăn ngựa, người con trai thứ hai là con người chăn lợn, người con trai thứ ba là con người giữ chó và người con trai út sinh ra khi bà ấy ăn nằm với một người chăn gà khác. Là mẹ, bà ấy tiết kiệm nhờ việc nuôi gà và xoay sở để những người con trai trở thành những chủ hộ đáng kính. Sau đó, tiền tiết kiệm còn lại của bà vẫn khá nhiều, vì thế, một ý nghĩ khởi lên trong tâm: ‘Ồ, bây giờ, tôi đã giúp bốn con trai trở thành những chủ hộ đáng kính bằng tiền mình tiết kiêkm nhờ nuôi gà, tôi vẫn còn tiền. Tôi phải dùng chúng vào mục đích tốt. Tôi sẽ xây dựng một sự hỗ trợ cho tâm trí tuệ của tất cả chư Phật, vị Bổn tôn của tôi, nơi mà chúng sinh tích lũy vô lượng công đức, một bảo tháp vĩ đại mà tinh túyxá lợi của chư Thiện Thệ. Trước hết, tôi phải đến thỉnh cầu đức vua vĩ đại của đất nước này cấp cho một mảnh đất’.

Đến trước đức vua, bà ấy đỉnh lễ, đi nhiễu, quỳ gối và chắp tay thỉnh cầu, ‘Hỡi đức vua! Con chỉ là bà lão chăn gà nghèo khó, đơn độc. Dẫu vậy, con đã nuôi dạy bốn người con trai, sinh ra với bốn người cha và bằng số tiền kiếm được nhờ nuôi gà, con đã giúp chúng trở thành những chủ hộ đáng kính. Số tiền còn lại vẫn khá nhiều, vì thế con thỉnh cầu rằng con có thể xây dựng một địa điểm mà chúng sinh có thể tích lũy vô lượng công đức, vị Bổn tôn của con, sự hỗ trợ cho tâm trí tuệ của chư Phật, một bảo tháp vĩ đại chứa đựng tinh túy xá lợi của chư Thiện Thệ. Xin hãy trao cho con [một mảnh đất để làm vậy]!’.

Những vị vua vĩ đại không đưa ra quyết định khi chưa có sự xem xét hợp lý; vì thế, trong một giây lát, đức vua đã suy ngẫm và nghĩ rằng, ‘Người phụ nữ chăn gà nghèo khó, đơn độc này đã nuôi dạy bốn người con trai với bốn người cha bằng tiền kiếm được từ việc nuôi gà và khiến họ trở thành những chủ hộ đáng kính. Bây giờ, bà ấy muốn xây dựng một bảo tháp vĩ đại bằng số tiền còn lại – điều này thật đáng ngạc nhiên!’ và khi ý nghĩ này khởi lên trong tâm, Ngài tuyên bố rằng, ‘Hãy làm thế (Jarung)!’. Người phụ nữ chăn gà nhảy lên vui mừnghoan hỷ; bà ấy lại đỉnh lễ và đi nhiễu nhiều lần rồi về nhà.

Như thế, bà mẹ, bốn người con trai và một người đầy tớ chất đầy gạch lên một con voi và lừa rồi di chuyển đến địa điểm nơi mà họ bắt đầu xây dựng nền móng cho bảo tháp vĩ đại. Khi nó đã cao ba tầng, dân chúng Newar bắt đầu bàn bạc với nhau rằng, ‘Nếu người phụ nữ chăn gà nghèo khó, đơn độc này có thể xây dựng một bảo tháp như vậy, đức vua, thượng thư, những người giàu cóquyền quý sẽ xây loại bảo tháp nào? Chúng đều sẽ bị cười nhạo và phê bình!’. Họ quyết định sẽ thỉnh cầu đức vua thu hồi quyết định và tạm dừng xây dựng. Như thế, dân chúng Newar tụ tập lại và thỉnh cầu: ‘Hỡi đức vua, Ngài đã mắc phải lỗi lớn! Nếu người phụ nữ chăn gà nghèo khó, đơn độc này xây dựng một bảo tháp như thế, vậy kiểu hỗ trợ để tích lũy gốc rễ công đức nào còn lại cho những người quyền quý – đức vua, các thượng thư của Ngài, những người giàu có v.v.? Nếu việc xây dựng này tiếp tục, mỗi một người đều sẽ bị chỉ trích nặng nề. Hãy di dời những tảng đá và đưa chúng trở về chỗ cũ! Hãy chấp thuận rằng việc xây dựng không được tiếp tục!’.

Đức vua đáp rằng: ‘Tất cả các ông, hãy nghe cho kỹ! Người phụ nữ chăn gà nghèo khó, đơn độc này, kiếm sống nhờ chăn gà, đã thiết lập bốn người con trai sinh với bốn người đàn ông là những chủ hộ đáng kính. Không những thế, với số tiền còn lại, bà ấy xây dựng một bảo tháp như vậy. Ta nghĩ điều này thật đáng kinh ngạc và vì thế, những từ ‘Hãy làm thế’ (jarung) tuôn ra từ lưỡi của Ta (kashor). Đức vua chỉ nói một lời!’.

Mặc dù những người này đã cố gắng, họ không thể ngăn cản việc xây dựng. Bởi vậy, bảo tháp được biết đến với tên gọi Jarung Kashor (“Hãy làm thế, Tuôn ra từ lưỡi”).

Sau đấy, việc xây dựng tiếp tục bất kể mùa hè hay đông và bốn năm sau, mọi thứ ngoại trừ mái vòm đã hoàn thành. Lúc này, Samvari, người phụ nữ chăn gà, nhận ra rằng cuộc đời bà sắp kết thúc; vì vậy, bà nói với bốn người con trai và đầy tớ của họ: ‘Các con, hãy tiếp tục xây dựng nơi này để vô lượng vô biên chúng sinh hữu tình tích lũy công đức, Bổn tôn của ta, bảo tháp vĩ đại này, thù thắng hơn tất thảy! Hãy yểm xá lợi của chư Thiện Thệ bên trong và cử hành lễ thánh hóa chi tiết. Điều này sẽ không chỉ hoàn thành nguyện ước của ta mà ý định giác ngộ của tất cả chư Phật ba đời sẽ viên mãn. Các con cũng sẽ làm được điều gì đó vô cùng ý nghĩa cho đời này và các đời tương lai’. Nói vậy, bà qua đời. Lúc đó xuất hiện những âm thanh cùng tiếng nhạc; một cơn mưa hoa thiêng rơi xuống từ trời cùng với những tia sáng cầu vồng. Bởi công đức xây dựng bảo tháp vĩ đại này, Samvari, người phụ nữ chăn gà, đạt Phật quả với danh hiệu Samayadevi Pramoha.

Những người con trai của bà sau đó cùng nhau thảo luận: ‘Mặc dù mẹ của chúng ta sinh ra là một người chăn gà, bà đã giúp chúng ta trở thành những chủ hộ đáng kính. Sau đấy, với số tiền còn lại, bà xây dựng bảo tháp vĩ đại này, điều hiếm có trong khắp cõi Nam Thiệm Bộ Châu, điều thật tuyệt vời và thù thắng! Nếu bà có thể làm vậy, chúng ta, những người con, bây giờ có thể đền đáp lòng từ của bà, các gốc rễ thiện hạnh của mẹ chúng ta, bằng cách thêm vào mái vòm của bảo tháp’. Họ đều đồng thuận và như trước, những người con trai chất gạch lên voi và lừa của họ, với sự giúp đỡ của một người đầy tớ. Cùng nhau, họ tiếp tục xây dựng trong ba năm nữa. Cuối cùng, sau bảy năm cả thảy, việc xây dựng đã hoàn thành.

Trong cây sinh lực của bảo tháp, họ đặt một phần[3] xá lợi của Phật Ca Diếp và bày biện các cúng phẩm không thể đo lường. Vào thời điểm tung hoa thánh hóa, không chỉ Phật Ca Diếp và đoàn tùy tùng của Ngài xuất hiện trên bầu trời phía trước mà tất cả chư Phật và Bồ Tát khắp mười phương, vây quanh bởi vô số A La Hán, cũng như chư Phật của năm gia đình, Pháp chủ của Ba gia đìnhvô số chư Bổn tôn an bìnhphẫn nộ. Điều đó chẳng thể nghĩ bàn, giống như vỏ mè bung nở, tuôn trào!

Khi họ tung hoa và cất lên những đoạn kệ cát tường, âm nhạc linh thiêng đủ loại dội vang, một cơn mưa hoa thiêng trút xuống và hương thơm ngọt ngào tràn khắp các phía. Toàn bộ trái đất rúng động ba lần và sau đấy, từ các hình tướng giác ngộ của chư Thiện Thệ vân tập về, vô số hào quang chiếu tỏa đến mức trong ba ngày, dường như chẳng có sự khác biệt giữa ngày và đêm!”.

Điều này hoàn thành chương đầu tiên của Lịch Sử Đại Bảo Tháp Jarung Kashor, miêu tả cách thức bảo tháp được xây dựng và thánh hóa. Samaya! Dấu ấn! Dấu ấn! Dấu ấn!

Chương 2: THỌ KÝĐẠI NGUYỆN

Một lần nữa, Vua Trisong Deutsen thỉnh cầu Đạo Sư Tôn Quý, thưa rằng, “Hỡi Đại Sư! Xin hãy kể cho chúng con câu chuyện về cách thức mà những đại nguyện được phát khởi trước Đại Bảo Tháp này, bảo tháp Jarung Kashor vô cùng tuyệt diệu, đều được viên thành”.

Đại Sư đáp, “Hãy nghe này, vị vua vĩ đại! Khi Đại Bảo Tháp được thánh hóa bằng việc tung hoa cùng với sự xuất hiện của các dấu hiệu cát tường thù thắng, tập hội vô số chư Phật và Bồ Tát đồng thanh nói rằng, ‘Này những thiện nam may mắn của gia đình cao quý! Hãy lắng nghe! Chính nhờ ý định hoàn toàn thanh tịnh mà các con đã xây dựng một bảo tháp như vậy, đại diện thù thắng của Pháp thân, không khác với tâm trí tuệ của tất cả Đấng Chiến Thắng khắp ba đời. Kết quả thiện lành của điều này là việc thành tựu mọi ước nguyện của cá nhân con, như con mong muốn. Vì thế, hãy phát khởi các nguyện ước!’.

Lúc này, những người con trai cùng nhau bàn bạc. ‘Mẹ yêu quý của chúng ta đã sắp xếp và xây dựng nền móng cho bảo tháp này với những ý định vị tha lớn lao như vậy. Tuy nhiên, bây giờ bà đã qua đời. Vì thế, nhờ công đức của việc hoàn thành bảo tháp, cùng với các gốc rễ thiện hạnh của mẹ, tất cả chư Phật và Bồ Tát khắp mười phương đã trực tiếp xuất hiện trước chúng ta, những người con trai của bà, nói rằng ‘Bất cứ ước nguyện nào mà con phát khởi đều sẽ viên thành. Vì thế, hãy phát nguyện!’. Đã có được ân huệ như vậy, mỗi người chúng ta cần phát khởi nguyện ước lớn lao!’.

Người con trai trưởng, con trai của người chăn ngựa, nghĩ sẽ phát khởi một nguyện ước bao la nhất có thể. ‘Hiện nay, có vùng biên giới băng giá trong vương quốc ở phương Bắc. Tất cả núi non đều chìm trong tuyết. Đáy của các thung lũng đều ngập nước. Vào mùa hè, mặt nước là nhà của nhiều loài chim, nhưng vào mùa đông, chúng trở thành cánh đồng đóng băng. Có một tiên tri rằng khi tất cả sông suối khô cạn, đó là nơi mà Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ chuyển hóa thành vùng đất được điều phục cho các giáo lý của Phật Thích Ca Mâu Ni. Vì thế, ta phải mong ước thiết lập giáo lý của Đức Phật ở chính vùng đất đó, nơi giáo lý sẽ phát triển’.

Với ý nghĩ này trong tâm, anh ta phát nguyện rằng: ‘Chính nhờ ý định hoàn toàn thanh tịnh, chúng con đã hoàn thành bảo tháp của mẹ. Nhờ công đức này, trong thời kỳ của năm sự suy đồi, nguyện cầu con sinh làm vị vua vĩ đại, hộ trì Giáo Pháp, giáo lý của Phật Thích Ca Mâu Ni, ở vùng biên giới băng giá đó. Nhờ đó, cầu mong con thiết lập giáo lý quý báu của Đức Phật!’.

Sau đấy, con trai của người chăn lợn phát nguyện, ‘Nhờ công đức hoàn thành bảo tháp của mẹ, anh sẽ sinh làm vị vua hộ trì Giáo Phápthiết lập các giáo lý quý báu của Đức Phật. Khi điều đó xảy ra, nền tảng của giáo lý, cộng đồng Tăng già, sẽ cần phải được thiết lập ở vùng biên giới băng giá. Vì vậy, cầu mong con sinh làm vị Tỳ kheo thanh tịnh, Giới Luật Sư vĩ đại, vị sẽ truyền giới cho toàn bộ Tăng đoàn!’.

Kế đó, con trai của người giữ chó phát nguyện: ‘Nhờ công đức của việc hoàn thành bảo tháp của mẹ, anh cả sẽ thiết lập các giáo lý của Đức Phật và anh hai sẽ giữ gìn chúng ở vùng biên giới băng giá. Khi điều đó xảy ra, cầu mong con không sinh ra từ tử cung mà diệu kỳ từ nhụy của bông sen. Con sẽ cắt đứt vòng sinh tử và tuổi thọ của con sẽ sánh ngang với nhật – nguyệt. Đã sinh ra làm vị dũng mãnh điều phục chư thiên, ma quỷcon người, cầu mong con đánh bại tất cả tinh linh và quỷ ma ác độc ở vùng biên giới đó và giúp hoàn thành các mong ước của cả hai vị! Cầu mong con sinh làm vị đạo sư Mật thừa oai hùng để bảo vệ toàn bộ giáo lý của Đức Phật’.

Tiếp đấy, con trai của người chăn gà phát nguyện: ‘Nhờ công đức của việc hoàn thành bảo tháp của mẹ, một anh sẽ thiết lập giáo lý của Đức Phật, một anh sẽ giữ gìn chúng và một anh sẽ bảo vệ chúng ở vùng biên giới băng giá đó. Khi điều ấy xảy ra, chẳng có gì đảm bảo rằng các anh sẽ cùng sinh ra ở một địa điểm. Vì thế, cầu mong con sinh làm vị thượng thư hoàng gia, người truyền thông điệp để tất cả đoàn tụ’.

Lúc ấy, tất cả chư Phật và Bồ Tát cùng nói rằng, ‘Này những người con trai may mắn của gia đình cao quý, các con đã phát đại nguyệnlành thay, lành thay! Tất cả chư Phật đều hoan hỷ! Thậm chí nếu tất cả chư Phật ba đờicố gắng đo lường mức độ bao la của công đức này, chư vị cũng không thể thành công’. Chư Phật và Bồ Tát mười phương cùng nhau tan thành ánh sáng và tan vào bảo tháp. Như thế, bảo tháp này cũng nổi danhBảo Tháp Tập Hội Chư Phật.

Tuy nhiên, cùng lúc đó, một con muỗi[4] đậu trên cổ của con trai người chăn ngựa và bắt đầu hút máu. Bị làm phiền, anh ta gạt nó bằng tay và lập tức phát hiện con muỗi đã chết. Cảm thấy vô cùng xót thương, anh ta phát nguyện: ‘Khi con sinh làm vị vua hộ trì Giáo Pháp ở vùng biên giới băng giá, cầu mong con côn trùng này sinh làm người thừa kế của con, một hoàng tử và mong vị ấy có thể thực hành Pháp’.

Con lừa nghĩ rằng một đại nguyện cũng sẽ được phát khởi vì nó, nhưng chẳng có lời cầu nguyện nào. Lúc ấy, nó nổi giậnphát nguyện như sau: ‘Khi người anh cả sinh làm vị vua hộ trì Giáo Pháp ở vùng biên giới băng giá và thiết lập giáo lý của Đức Phật ở đó, cầu mong tôi sinh làm vị tể tướng khinh thường Giáo Pháp, người có thể khiến cho mọi hoạt động của Ngài trở nên vô ích’.

Người đầy tớ trung thành nghe được những lời này và vì thế, phát nguyện như sau: ‘Khi con lừa sinh làm vị thượng thư ma quỷ đó và gây ra các chướng ngại cho Giáo Pháp, cầu mong con sinh làm vị thượng thư tâm linh, người có thể khéo léo đẩy lùi tất cả âm mưu xảo trá và chấm dứt mọi quyền lực của ông ấy’.

Con voi cũng nghĩ rằng một đại nguyện cần được phát khởi vì nó, nhưng chẳng có lời cầu nguyện nào. Lúc ấy, nó trở nên giận dữphát nguyện như sau: ‘Tôi đã mang tất cả đống đất đá này, nhưng họ chẳng có lời cầu nguyện nào cho tôi. Vậy đấy! Cầu mong tôi sinh làm con trai hoặc cháu trai của đức vua và nguyện cầu tôi phá hủy những giáo lý mà họ đã thiết lập’.

Một con quạ bay qua nghe được những lời này và với ý định làm lợi lạc chúng sinh, đã phát nguyện rằng: ‘Khi ông ấy sinh làm con trai hay cháu trai của đức vua và cố gắng phá hoại giáo lý của Đức Phật, cầu mong con sinh làm một Bồ Tát vĩ đại và giết chết vị hoàng tử ma quỷ đó’.

Lúc ấy, hai thanh niên Bà La Môn gầy gò, đeo sợi chỉ thiêng trên người, đã phát nguyện rằng: ‘Khi chư vị cùng nhau thiết lập giáo lý quý báu của Đức Phật ở vùng biên giới băng giá, cầu mong chúng tôi sinh làm những dịch giả chuyển dịch toàn bộ Thánh Pháp’.

Cùng lúc, hai người con gái hoàng gia với tâm mong mỏi đã phát nguyện như sau: ‘Khi chư vị thiết lập giáo lý quý báu của Đức Phật ở vùng biên giới băng giá, cầu mong hai chúng con sinh ra làm những người rất giỏi về mọi ngành văn chương, trở thành người ghi chép Thánh Pháp. Cầu mong chúng con ghi chép lại toàn bộ những lời dạy của Đức Phật cùng với mọi luận giải’.

Bên cạnh đó, những lời cầu nguyện khác cũng được tiến hành lúc ấy vì lợi ích của giáo lý, chẳng thể đo lường. Mọi đại nguyện được miêu tả ở trên, không ngoại lệ, đều thành hiện thực. Như thế, người anh cả, con trai của người chăn ngựa, vị mong ước trở thành vua – là Ngài, Trisong Deutsen, vị hộ trì hoàng gia của Giáo Pháp.

Con trai của người chăn lợn, vị mong ước trở thành Giới Luật Sư, bây giờ là Phương Trượng Tịch Hộ[5] vĩ đại.

Con trai của người giữ chó, vị mong ước trở thành đạo sư Mật thừa, bây giờ là Ta, học giả từ Uddiyana, Liên Hoa Sinh.

Con trai của người chăn gà, vị mong ước là thượng thư, là Bami Trizher từ Yarlung[6].

Con muỗi, với mong muốn trở thành người thừa kế của đức vua, là công chúa Pemasel[7], người đã qua đời từ khi còn trẻ.

Con lừa, với mong muốn xấu xa được sinh làm vị tể tướng ma quỷ, bây giờ là thượng thư Mashang Trompa Kye[8].

Người đầy tớ, vị mong muốn sinh làm thượng thư tâm linh đánh bại vị thượng thư ma quỷ này, là thượng thư Go Pema Gungtsen[9].

Con voi, với mong muốn xấu xa được sinh làm vị vua gian ácphá hủy giáo lý, sẽ là một vị vua xấu xa mang danh hiệu Lang, sinh ra ba thế hệ sau Ngài, hỡi đức vua, và hắn sẽ cố gắng hủy diệt các giáo lý của Đức Phật.

Con quạ, mong muốn giết chết vị vua xấu xa đó để làm lợi lạc chúng sinh khác, bây giờ là hoàng tử Murub Tsenpo. Trong tương lai, khi vị vua tồi tệ mang danh hiệu Lang xuất hiệncố gắng phá hoại giáo lý của Đức Phật, một vị Bồ Tát với danh hiệu Lhalung Palgyi Dorje[10] sẽ sinh ra và giết vị vua đó.

Hai thanh niên Bà La Môn, những vị phát nguyện sinh làm dịch giả, bây giờ là Kawa Paltseg và Jokro Lu’i Gyalsen[11].

Và hai cô gái hoàng gia, những vị phát nguyện ghi chép Thánh Pháp, bây giờ là Denma Tsemang và Legjin Nyima[12].

Vua Trisong Deutsen và chư vị vân tập lúc đó như bị thôi miên trước những lời dạy của Đại Sư. Tràn ngập niềm tin, họ lạy nhiều lần đến mức sọ như muốn bật ra khỏi đầu. Những giọt nước mắt tuôn trào và họ phát nhiều lời cầu nguyện chân thành vì lợi ích của giáo lýhữu tình chúng sinh.

Điều này hoàn thành chương thứ hai của Lịch Sử Đại Bảo Tháp Jarung Kashor, miêu tả các thọ ký của chư Phật và Bồ Tát, những đại nguyện được phát khởi và sự viên thành của chúng. Samaya. Dấu ấn! Dấu ấn! Dấu ấn!

Chương 3: NHỮNG LỢI LẠC CỦA VIỆC ĐI NHIỄU VÀ CÚNG DƯỜNG

Vua Pháp Trisong Deutsen hỏi rằng, “Hỡi Đại Sư! Những lợi lạc của việc đỉnh lễ, đi nhiễu và cúng dường lên Đại Bảo Tháp này, hiện thân đích thực của tất cả chư Phật ba đời, là gì?”.

Đại Sư đáp rằng, “Này đức vua hãy lắng nghe và khởi lên niềm tin chân thành! Bảo tháp này là sự hỗ trợ tâm trí tuệ của tất cả chư Phật và Bồ Tát ba đời; đã khởi lên chẳng thể tách rời, chính tại nơi này, chư vị an trụ. Mọi lời cầu khẩn và nguyện ước được thực hiện ở đây sẽ được thành tựu tự nhiên và không nỗ lực, giống như một viên ngọc như ý quý giá. Với những kẻ có ý định thanh tịnh, các lợi lạc của việc lễ lạy, đi nhiễu và cúng dường không thể được diễn tả thậm chí bởi tất cả chư Phật ba đời; chúng là không thể đo lường. Tuy vậy, để khơi dậy sự hứng khởi trong những hữu tình chúng sinh tương lai, Ta sẽ thuật lại các lợi lạc một cách ngắn gọn.

Đại Bảo Tháp này là sự hỗ trợ trí tuệ thù thắng của tất cả chư Phật ba đời, là ruộng phước điền cho thế giới với chúng sinhchư thiên. Mọi mong ước được cầu khẩn sẽ viên thành không nỗ lực. Bảo tháp ban tặng mọi thành tựu thông thường và siêu việt, giống như viên ngọc như ý quý giá. Đây là Đại Bảo Tháp với tên gọi Jarung Kashor, ‘Hãy làm thế, Tuôn ra từ lưỡi’ …

Bất cứ ai thấy bảo tháp bằng mắt, với họ, cánh cửa dẫn đến ba cõi thấp sẽ đóng lại.

Bất cứ ai nghe bảo tháp bằng tai, với họ, hạt giống giác ngộ siêu việt sẽ được gieo trồng.

Bất cứ ai nghĩ về bảo tháp bằng tâm, với họ, mọi rối loạn về tâm, ngất choáng và tai biến sẽ được xoa dịu, dẫn đến sự khởi lên của định xuất sắc.

Bất cứ ai chắp tay trước bảo tháp sẽ an trụ trên con đường hoàn hảo.

Bất cứ ai lễ lạy trước bảo tháp sẽ sinh làm Chuyển Luân Thánh Vương của một nghìn vũ trụ.

Bất cứ ai đi nhiễu quanh bảo tháp sẽ được phú bẩm bảy phẩm tính tốt lành của các cõi cao hơn[13].

Bất cứ ai cầu khẩn trước bảo tháp sẽ được tự nhiên thành tựu tự lợi và tha lợi.

Bất cứ ai cúng dường lên bảo tháp sẽ sinh ra mà không bị đói – khát.

Bất cứ ai cúng dường hoa sẽ đạt được đầy đủ các tự dothuận duyên.

Bất cứ ai cúng dường hương sẽ đạt được giới luật hoàn toàn thanh tịnh.

Bất cứ ai cúng dường đèn bơ sẽ tỉnh thức từ bóng tối vô minh.

Bất cứ ai cúng dường nước thơm sẽ thoát khỏi sự trì trệ và mọi khổ đau.

Bất cứ ai cúng dường thức ăn và đồ uống sẽ được duy trì bởi sự duy trì của định.

Bất cứ ai cúng dường âm nhạc sẽ tuyên thuyết diệu âm Giáo Pháp khắp mười phương.

Bất cứ ai cúng dường chũm chọe sẽ đạt được tài hùng biện trọn vẹn và bất tận.

Bất cứ ai cúng dường chuông lớn hay nhỏ sẽ đạt được ngữ rõ ràng và du dương cùng giọng nói của Phạm Thiên.

Bất cứ ai cúng dường Mandala sẽ hoàn thiện hai sự tích lũy của các kết quả tạm thời và vĩnh viễn.

Bất cứ ai cúng dường Mandala năm loại đá quý sẽ thoát khỏi đói nghèo và đạt được kho tàng hư không vô tận.

Bất cứ ai cúng dường Mandala bảy loại đá quý sẽ tự nhiên tận hưởng bảy của cải hoàng giarốt ráo sẽ đạt được thân tướng với bảy khía cạnh.

Bất cứ ai cúng dường Mandala năm loại thảo dược sẽ thoát khỏi bốn kiểu bệnh tật[14]thời kỳ bệnh tật với các căn bệnh kinh niên của luân hồi và v.v.

Bất cứ ai cúng dường Mandala năm tinh túy[15] sẽ hoàn toàn thoát khỏi khổ đau của năm kiểu chúng sinh và sẽ đạt được thân tướng của năm gia đình Phật.

Bất cứ ai cúng dường Mandala năm loại hạt, bất cứ hạt nào được gieo trồng, mọi thứ sẽ xuất sắc và họ sẽ tận hưởng mùa màng mà không cần chăm sóc.

Bất cứ ai cúng dường năm loại hương sẽ có mùi thơm dễ chịu và cuốn hút với mọi người.

Bất cứ ai cúng dường năm món quà – với họ, công đức, quyền uy, của cải và mọi sự thích thú sẽ tăng trưởng.

Bất cứ ai cúng dường lọng báu và cờ chiến thắng sẽ hoàn toàn an dịu mọi phiền não và họ sẽ xứng đáng được kính trọng.

Bất cứ ai cúng dường dải lụa và cờ sẽ sở hữu mọi thứ dễ chịuthoát khỏi tám nỗi sợ hãi lớn.

Bất cứ ai cúng dường vòng hoa và núm tua sẽ đạt được niềm hỷ lạc linh thiêng của chư thiêncon người, được điểm tô bằng bảy loại đá quý.

Bất cứ ai cúng dường đèn bơ sẽ thấy được Tôn nhan của chư Phật và Bồ Tát mười phương.

Bất cứ ai cúng dường đèn dầu sẽ được tịnh hóa khỏi mọi che chướng của vô minh.

Bất cứ ai cúng dường lửa cho đèn bơ sẽ chiếu tỏa những tia sáng của Giáo Pháp khắp muôn phương.

Bất cứ ai cúng dường Bánh Xe Báu sẽ chuyển Pháp luân.

Với bất cứ ai cúng dường Ngọc Báu, mọi điều mà họ mong muốn sẽ rơi xuống như mưa.

Với bất cứ ai cúng dường Hoàng Hậu Báu, sự thông tuệ thanh tịnh sẽ sinh khởi trong tâm.

Bất cứ ai cúng dường Tể Tướng Báu sẽ trở thành người dẫn dắt linh thiêng, với đầy đủ phương tiện thiện xảo, có thể chỉ dẫn mọi chúng sinh.

Bất cứ ai cúng dường Voi Báu sẽ chứng ngộ ý nghĩa của Đại thừa thù thắng.

Bất cứ ai cúng dường Tuấn Mã Báu sẽ được phú bẩm bốn sự diệu kỳ.

Bất cứ ai cúng dường Đại Tướng Báu sẽ đánh bại mọi đối thủ.

Bất cứ ai cúng dường bảy món hoàng gia sẽ trở thành đạo sư của một vương quốc Giáo Pháp vĩ đại.

Bất cứ ai cúng dường tám biểu tượng cát tường[16] sẽ có được thân thể với các tướng tốt và vẻ đẹp.

Bất cứ ai cúng dường tám chất liệu cát tường[17] sẽ tận hưởng sự oai nghiêm của cát tườngcủa cải trù phú của con ngườichư thiên.

Bất cứ ai cúng dường các loại quần áo và trang phục sẽ tận hưởng y áo linh thiêng từ vải ngũ sắc và mọi loại quần áo chất liệu tốt.

Bất cứ ai cúng dường vôi trắng sẽ trở nên chói lọi, uy nghiêmhoàn hảo – làm mê mẩn tất cả chư thiên, ma quỷcon người.

Bất cứ ai cúng dường ba thực phẩm trắng[18] sẽ tận hưởng bò và gia súc như ý.

Bất cứ ai cúng dường ba món ngọt[19] sẽ tận hưởng cao lương mỹ vị của chư thiên.

Bất cứ ai cúng dường thức ăn từ các loại ngũ cốc sẽ không bao giờ đói và cánh cửa tái sinh làm ngạ quỷ sẽ bị chặn.

Bất cứ ai cúng dường tinh chất cô đọng của ngũ cốc sẽ tận hưởng cam lồ như đại dương.

Bất cứ ai cúng dường hoa quả và sản vật tươi mới sẽ tận hưởng thức ăn trăm vị.

Bất cứ ai cúng dường Ganacakra sẽ đạt được các thành tựu thông thường và siêu việt cùng mọi điều họ muốn.

Bất cứ ai cúng dường năm loại nước rửa thơm sẽ tịnh hóa mọi bệnh tật khởi lên từ các lỗi lầm và mọi che chướng, sở hữu vẻ ngoài hoàn hảo và cuốn hút.

Bất cứ ai cúng dường Liên Hoa Tòa thù thắng sẽ đạt được tòa sư tử vô úy đẹp đẽ và sẽ tái sinh diệu kỳ từ bông sen nghìn cánh.

Bất cứ ai là người trông giữ bảo tháp sẽ thoát khỏi khổ đau của ba cõi thấp hơn và sở hữu mọi phẩm tính của sự hoàn hảo.

Bất cứ ai cúng dường sự phụng sự về nghi lễ sẽ cúng dường lên tất cả chư Phật và hoàn thành mọi hoạt động giác ngộ của chư Phật.

Bất cứ ai quét sạch bụi bẩn sẽ đạt được tướng hảo, trang phục đẹp đẽ và vẻ đẹp lớn lao.

Với bất cứ ai dọn sạch rác rưởi và chất bẩn, mọi ác nghiệp và che chướng sẽ bị cắt bỏ tận gốc.

Bất cứ ai xem bảo tháp là Bổn tôn của họ sẽ thành tựu quả vị Trì Minh Đại Ấn.

Bất cứ ai trì tụng các lời cầu nguyện của bảo tháp sẽ thành tựu quả vị Trì Minh trưởng thành.

Bất cứ ai xem bảo tháp là bậc thầy sẽ thành tựu quả vị Trì Minh tự nhiên thành tựu.

Bất cứ ai cúng dường lên bảo tháp sẽ thành tựu Trì Minh làm chủ cuộc đời.

Bất cứ ai trùng tu bảo tháp sẽ hoàn thành bốn hoạt động giác ngộ và mọi điều họ mong muốn trong đời này và sẽ đạt giác ngộ quý giá, vô song.

Bất cứ ai trát vữa và bê-tông lên bảo tháp – với mỗi phần mà họ trát lên, họ sẽ đạt trạng thái Chuyển Luân Thánh Vương.

Với bất cứ ai chở những đống đất và đá, các chướng ngại với cuộc đờisinh lực sẽ được xoa dịu và họ sẽ có được thân tướng hoàn hảo, trường thọ và thoát bệnh tật.

Thân, khẩu và ý của bất cứ ai chí thành nỗ lực phụng sự [bảo tháp] sẽ thấm nhuần ân phước gia trì của thân, khẩu và ý giác ngộ của chư Phật.

Bất cứ ai phục vụ như một thiện tri thức [của bảo tháp] sẽ chân chính dấn thân vào con đường thập thiện, không bao giờ rời xa những bậc dẫn dắt tâm linh trong đời này và mọi đời tương lai và sẽ đạt được mọi thành tựu linh thiêng mà họ mong muốn.

Bất cứ ai phục vụ như vị giám sát sẽ sinh làm trưởng tử căn bản của tất cả chư Phật mười phươnghoàn thành vô số hoạt động giác ngộ.

Bất cứ ai phục vụ như là thợ thủ công và kiến trúc sư sẽ hoàn toàn thông thạo năm ngành khoa học bên ngoài.

Bất cứ ai tiến bảy bước về phía bảo tháp này sẽ đạt được bảy đời tái sinh làm người thanh tịnh và có thể nhớ được những đời này.

Bất cứ ai nói về lợi lạc của bảo tháp sẽ được phú bẩm những phẩm tính của học giả.

Bất cứ ai viết về lợi lạc của bảo tháp sẽ được mọi chúng sinh lắng nghe trong suốt các đời [tương lai].

Bất cứ ai sửa chữa dù là vết nứt nhỏ nhất sẽ sinh làm con người và thiên và tận hưởng Thánh Pháp.

Bất cứ ai phát nguyện rằng bảo tháp sẽ trụ dài lâu sẽ đạt được sự làm chủ của Trì Minh bất tử.

Bất cứ ai thánh hóa bảo tháp sẽ xoa dịu chiến tranh, nạn đói và bệnh dịch khắp ba thời, lan tỏa hòa bình khắp các quốc gia.

Bất cứ ai bảo vệ bảo tháp khỏi nguy hại sẽ thoát khỏi bất cứ nỗi sợ hãi nào về cái chết phi thời.

Bất cứ ai nói với người khác về những phẩm tính tốt lành của bảo tháp sẽ nói về mọi phẩm tính của chư Phật và Bồ Tát ba đời không dư sót.

Bất cứ ai tìm hiểu và giảng dạy [về bảo tháp] sẽ tiến hành mọi hoạt động của chư Phật ba đời.

Bất cứ ai vẽ tranh và khắc hình của bảo tháp sẽ có sức mạnh đạt Phật quảan trú trong giác tính-hư không, vượt khỏi gặp gỡ và chia ly.

Bất cứ ai ghi chép lại lịch sửcâu chuyện về bảo tháp sẽ ghi lại những lời dạy cô đọng của tất cả chư Phật ba đờimười phương.

Bất cứ ai dâng lên sự ngưỡng mộ sẽ khởi lên trong tâm mọi phẩm tính của chư Phật.

Bất cứ ai thỉnh cầu ân phước gia trì của bảo tháp sẽ đạt được quán đỉnh của tất cả chư Phật.

Bất cứ ai nhớ nghĩ đến bảo tháp khi họ lâm chung sẽ tái sinh kỳ diệu trong bông sen ở cõi Tây Phương Cực Lạc.

Bất cứ ai gây hại cho bảo tháp sẽ gặp đủ mọi bất hạnh trong đời này và sau đấy sinh về Địa Ngục Vô Gián, nơi chẳng có cơ hội trốn thoát hay bày tỏ sự ân hậnsám hối.

Tóm lại, Đại Bảo Tháp này giống như viên ngọc như ý quý giá. Bất cứ ai phát nguyện sẽ đạt được các thành tựu thông thường và siêu việt, cùng với bất cứ điều gì mà họ mong muốn. Vì thế, nó được biết đến là Bảo Tháp Viên Thành Mọi Nguyện Ước”.

Đức vua và đoàn tùy tùng vô cùng kinh ngạc, chẳng thể nghĩ bàn. Niềm tin vô biên khởi lên trong họ và những giọt nước mắt tuôn rơi. Thân thể phủ phục dưới sàn khi họ dâng lên một nghìn lễ lạy [trước Đại Sư].

“Emaho! Những lợi lạc và phẩm tính của một bảo tháp như vậy thật diệu kỳ! Bởi thậm chí chư Phật cũng không thể diễn tả và bởi nó vượt khỏi ý nghĩ quan niệm của chúng sinh chúng con, làm sao chúng con có thể bắt đầu ghi lại bằng từ ngữ?! Từ nay trở về sau, đời này qua đời khác, cầu mong chúng con dâng những món cúng dường lớn lao, chẳng thể đo lường, lên bảo tháp vĩ đại này!”.

Điều này hoàn thành chương thứ ba của Lịch Sử Đại Bảo Tháp Jarung Kashor, miêu tả những lợi lạc của việc đi nhiễu và cúng dường. Samaya! Dấu ấn! Dấu ấn! Dấu ấn!

Chương 4: CÁC DẤU HIỆU VÀ THỜI KỲ TRÙNG TU

Một lần nữa, Vua Trisong Deutsen hỏi rằng, “Hỡi Đại Sư, xin hãy cho chúng con biết liệu sức mạnh của thời kỳ suy đồi có khiến Đại Bảo Tháp này, thứ giống như viên ngọc như ý, hư hỏng và suy tàn? Nếu bảo tháp thực sự hư hỏng, suy tàn hay suy giảm, những dấu hiệu bất tường nào sẽ xuất hiện trên thế giới này? Và nếu có những điềm xấu như vậy, thời điểm và phương tiện thích hợp để trùng tu là gì?”.

Đại Sư đáp rằng, “Hãy nghe này, đức vua. Một cách rốt ráo, Đại Bảo Tháp này bất khả phân với Pháp thân của tất cả chư Phật, vì thế, không một sự hư hỏng, suy giảmsuy tàn nào sẽ xảy ra. Nhưng theo các hình tướng tương đối, vài sự hư hỏng và suy giảm sẽ xuất hiện bởi tứ đại. Khi ấy, hóa hiện của Pháp chủ Ba gia đình[20] sẽ sửa chữa, hoặc là Đức Cau Mày[21], Thánh Cứu Độ Mẫu Tara.

Cụ thể hơn, khi xung đột xảy đến và tuổi thọ giảm xuống chỉ còn năm mươi năm, các giáo lý của Đấng Chiến Thắng, Phật Thích Ca Mâu Ni, sẽ suy giảm. Cộng đồng Tăng già sẽ tràn ngập những người bình phàm, chùa chiền sẽ trở thành nơi tranh đấu và các Phật học viện sẽ biến thànhsát sinh.

Các vị Yogi sống trên núi sẽ xuống thung lũng; các thiền gia vĩ đại sẽ trồng trọt; và các vị Yogi chứng ngộ sẽ trông nom gia súc. Các Tỳ kheo sẽ sống cuộc đời của một vị chủ hộ, với các vị tu sĩ khất sĩ phạm đủ loại tội trộm cướp. Trong các cộng đồng, rắc rối sẽ khởi lên như cơn lốc, bởi những xung độtquan điểm trái ngược phát ra từ trung tâm [của vùng đất].

Chư Ni sẽ giết những đứa con hoang của mình. Điền trang gia đình sẽ bị người khác cướp mất và nhà cửa sẽ không còn nằm trong tay người thừa kế. Các vị lãnh đạo địa phương sẽ hành xử như kẻ man rợ. Những cô gái trẻ lang thang khắp các phòng của chư tăng. Người dị giáo sẽ hô to ‘So!’ ở những địa điểm nhập thất cô tịch[22].

Của cải của các tu viện bị tịch biên, các bản văn của chư Thiện Thệ và cúng phẩm linh thiêng trên bàn thờ bị lấy đi. Các đại diện của thân, khẩu và ý giác ngộ sẽ bị lấy trộm và sau đó buôn bán ở chợ. Tầng hầm của chùa sẽ trở thành chuồng ngựa hay bò và phân của chúng sẽ chất cao.

Vào thời điểm ấy, các tinh linh Gyalpo sẽ chiếm hữu tim của chư Tăng, Mara [ma vương] sẽ chiếm hữu tim của các vị Mantrika, Tsen sẽ chiếm hữu tim của các vị dị giáo, Gongpo sẽ chiếm hữu tim của đàn ông, The’urang sẽ chiếm hữu tim của con cái và Senmo sẽ chiếm hữu tim của phụ nữ. Damsi sẽ chiếm hữu tim của chư Ni và Dremo chiếm hữu tim của các cô gái[23]. Nói ngắn gọn, tim của mỗi một người Tây Tạng sẽ bị một ma quỷ chiếm hữu.

Như là những dấu hiệu của sự chiếm hữu đó, người ta sẽ khoác lên thân thể đủ loại trang phục mâu thuẫn. Chư Tăng sẽ trang điểm và chư Ni sẽ nhìn chằm chằm vào gương. Mọi người sẽ mang vũ khí và người ta sẽ cho chất cực độc vào đồ ăn của nhau. Những vị Khenpo và Lopon[24] ác tâm sẽ giảng dạy. Mọi người không còn khả năng tin tưởng những vị lãnh đạo và thủ hiến quận. Đàn ông không thể giữ được sự chín chắndanh dự. Phụ nữ không thể giữ gìn thân thể. Chư Tăng không thể giữ gìn giới luật và các vị Mantrika không thể giữ gìn thệ nguyện Samaya.

Các thế lực tiêu cựcthổ địa và [tinh linh] hành tinh Rahula, Gyalpo, Gongpo và The’urang – sẽ trở nên phổ biến; lời nói, trang sức và trang phục của mọi người sẽ thay đổi, từ năm này sang năm khác.

Dân thường sẽ giảng dạy Giáo Pháp và các bà lão sẽ nói những từ ngữ cao vời về tri kiến. Những kẻ bịp bợm sẽ ban các quán đỉnh giả mạo và kẻ nói dối sẽ hành xử như thể thiền gia vĩ đại. Những người ranh mãnh mà ăn nói hùng hồn sẽ giả vờuyên bác và những người kiêu ngạo với thệ nguyện suy giảm sẽ được kính trọng. Dân chúng bình thường sẽ chiếm ngai vàng và đức vua sẽ trở thành thường dân. Lãnh đạo sẽ bị giết hại và những người đáng kính nhất sẽ là những vị tội lỗi nhất.

Chư đạo sư giảng dạy Mật thừa sâu xa sẽ lang thang như chó và các đệ tử hư hỏng chẳng giữ gìn thệ nguyện sẽ lang thang như sư tử. Những hình tướng ma quỷ này sẽ nói lời đãi bôi về các tri kiến được thực hành sai lầm. Chư đạo sư thì ẩn mình trong khi những kẻ giả mạo này sẽ hiển bày sự vĩ đại nhiều nhất có thể, gièm pha chư thành tựu giả và bậc uyên bác đang hành xử đúng theo lời dạy của Đức Phật. Những kẻ lừa dối sẽ hành xử bí mật với đủ mọi kiểu nhạo báng.

Những người bình phàm sẽ mặc đồ cốt-tông và khoác lên mình y tu sĩ, trong khi chư Tăng lại mặc trang phục Mông Cổ. Thậm chí kẻ đồ tể giết hại cũng sẽ đắp Pháp y vàng nghệ! Mọi người sẽ học bùa mê và tà thuật; chư Tăng sẽ pha độc bằng cách tham gia vào sự lừa dối và trục lợi. Mọi kiểu Giáo Pháp sai lầm sẽ được ghi chép và xuất bản; những lời dạy chân thật của Đấng Điều Phục và sự trao truyền chân chính của Kim Cương Thượng Sư sẽ bắt đầu trở nên lộn xộn.

Mọi kiểu Giáo Pháp sai lầm, chưa từng thấy trước kia, sẽ được thực hành. Mọi kiểu thực hành sai lầm sẽ lan tỏa và hành động trước kia không thể nghĩ tưởng sẽ xuất hiện. Những tiền lệ mới mẻ, không thể nhận ra sẽ được thiết lập. Mọi truyền thống tốt đẹp sẽ bị bỏ qua và mọi kiểu nguy hại sẽ bị phạm phải. Tài sản của Tam Bảo sẽ bị cưỡng đoạt và lời thề của họ sẽ nhanh chóng bị từ bỏ, trở thành thức ăn cho những kẻ tham lam.

Lúc này, mọi chúng sinh sẽ bước vào các con đường sai lầm. Bởi sức mạnh của việc phạm phải mọi kiểu ác hạnh, họ sẽ lãng quên chư Hộ Pháp thiện lành, những vị sẽ không bảo vệ họ nữa. Thời gian, các vì sao và hành tinh sẽ lệch khỏi tiến trình thông thường; những chòm sao và sao chổi trước kia chưa từng thấy sẽ xuất hiện. Mưa trái mùa sẽ xảy đến trong khi nước mưa trong các thung lũng sẽ dâng cao.

Nhiều năm đói kém, sương giá và mưa đá sẽ xảy đến, năm này qua năm khác. Các tinh linh Mamo và Tenma sẽ giận dữ và nhiều bệnh tật không thể xác định sẽ lan rộng như chất cháy giữa loài ngườithú vật. Một cách bất ngờ, trái đất sẽ rung chuyển, mực nước dâng cao, lửa bùng cháy, gió dữ xuất hiện; các tu viện, bảo tháp, thị trấn v.v đều sẽ bị quét sạch. Lúc ấy, Đại Bảo Tháp này cũng sẽ sụp đổ và hư hỏng.

Bởi những lỗi lầm này, sẽ đến thời điểm mà Pháp Luân sẽ suy giảm tại Kim Cương Tòa ở Ấn Độ[25], và chiến tranh sẽ khởi lên như gió ở vùng đất Nepal, không thể chấm dứt v.v.

Trong một thế hệ, khi có nạn đói ở vùng đất Ấn Độ,

Trong một thế hệ, khi có đủ mọi kiểu bệnh tật truyền nhiễm ở trung tâm Nepal,

Trong một thế hệ, khi có những trận động đất ở thượng Ngari,

Trong một thế hệ, khi có những bệnh tật truyền nhiễm và nạn đói ở trung tâm U-Tsang,

Khi mặt đất sụp đổ ở vùng Kyisho,

Khi núi băng xói mòn ở vùng Mon,

Khi trên núi năm đỉnh ở Tây Tạng, ba pháo đài mạnh mẽ khởi lên,

Khi các trung tâm nhập thất được thành lập ở Hẻm Núi Hang Gấu thuộc Mon[26],

Khi mặt trời mọc lên hai lần ở vùng Kham,

Khi vua Trung Hoa bất ngờ băng hà,

Khi bốn đoàn quân biên giới đến U,

Khi quân Mông Cổ, Hor[27] đánh bại Ngari,

Khi quân Jang[28] thâm nhập Kham,

Khi quân Thổ Nhĩ Kỳ đánh bại Ấn Độ,

Khi quân Kashmir phá hủy giáo lý,

Khi Rasa Trulnang[29] bị đe dọa bởi nước,

Khi Samye vinh quang sụp đổ và hư hoại,

Khi Pháp luân của bảo tháp Tratruk[30] bị cong,

Và khi các thánh địa vĩ đại của Tây Tạng trống không,

Khi dị giáo cất tiếng “So!” tràn khắp các địa điểm nhập thất,

Khi tất cả tu sĩ vĩ đại chết vì độc,

Khi các giáo lý của sự giải thíchthực hành tan vỡ vì bởi những tranh chấp,

Khi những vị nắm giữ giáo lý bất ngờ viên tịch,

Khi những kẻ giả tạo lừa dối, với thệ nguyện suy giảm,

Khi những kẻ độc ác đắp y vàng[31] cất lên các bài ca dài,

Khi Tây Tạng và Kham tràn ngập những hóa hiện ma quỷ,

Khi nút thắt lụa của Pháp thiêng[32] bị tháo,

Khi sợi dây cỏ của các nguyên tắc nhân văn[33] bị cắt đứt,

Khi đòn gánh vàng của luật lệ hoàng gia bị gãy,

Khi hồ nước hoan hỷ của luật lệ địa phương khô cạn,

Khi áo choàng dung dị của quy luật cá nhân bị cởi ra,

Khi hành giả Phật Pháp trở nên thấp kém và bất lực,

Khi những vị bị tước đoạt Giáo Pháp và không xấu hổ lại trở thành lãnh đạo quyền uy,

Khi các vị trụ trì, bậc thầy và Geshe hành xử và phục vụ như là thủ hiến,

Khi những người bình phàm chủ trì lễ Ganacakra, giảng Pháp và ban quán đỉnh,

Khi có hy vọng cho sự tâng bốc và bồi thường khi tích lũy công đức,

Khi dân chúng được dẫn dắt bởi kẻ đồ tể điên cuồng,

Khi núi non, thung lũng và đường phố có đầy trộm cướp,

Khi những vị là hy vọng của Tây Tạng bị đánh đập bởi bất cứ ai có thể,

Khi tất cả tan vỡ, chẳng còn thệ nguyện, luật lệ hay người dẫn dắt,

Và khi, bởi hành động của chính họ, Tây Tạng và Kham bị xâm chiếm –

Khi tất cả những thời kỳ khủng khiếp này xuất hiện trên thế giới, điều đó bởi vì sự sụp đổ và hư hoại của Đại Bảo Tháp này. Thực sự, đây là các dấu hiệu cho thấy thời điểm trùng tu đã đến. Lúc ấy, vị có phước báu và kết nối nghiệp sẽ bỏ qua mọi ý nghĩ về đời này; phát khởi mong ước bao lathù thắng, họ sẽ tiến hành việc trùng tuPhật sự này sẽ hoàn thành”.

Sau đấy, Vua Trisong Deutsen và đại chúng vân tập ở đó cảm thấy bối rối và cực kỳ sợ hãi. Cảm thấy chấn động, trái tim lo âu; một người trong số họ thở dàiđứng dậy từ chỗ ngồi: đó là thượng thư các vấn đề tâm linh từ bộ tộc Go – Pema Gungtsen. Ông ấy đầu tiên cúng dường một trăm lạy và tuyên bố rằng: “Hỡi Đại Sư! Cầu mong con trở thành vị trùng tu Đại Bảo Tháp này vào thời kỳ suy đồi, tăm tối đó!”.

“Mong mọi sự viên thành!” – Đại Sư cầu nguyện, khi lời thỉnh cầu này được lặp lại bởi Phương Trượng và các dịch giả, trong khi vua Pháp hoan hỷphát nguyện hộ trì.

Điều này hoàn thành chương thứ tư của Lịch Sử Đại Bảo Tháp Jarung Kashor, miêu tả các dấu hiệu và thời kỳ khi sự trùng tu sẽ cần thiết bởi những suy giảm xảy ra vào thời suy đồi, khi tuổi thọ giảm xuống còn năm mươi năm. Samaya. Dấu ấn! Dấu ấn! Dấu ấn!

Chương 5: NHỮNG VỊ TRÙNG TU VÀ CÁC LỢI LẠC CỦA VIỆC TRÙNG TU

Một lần nữa, Vua Trisong Deutsen thỉnh cầu, “Hỡi Đại Sư! Trong thời suy đồi, khi tuổi thọ của chúng sinh giảm xuống còn năm mươi năm, lúc Đại Bảo Tháp cần được sửa chữa như Ngài tiên đoán, thượng thư của con, ông Pema Gungtsen từ bộ tộc Go sẽ sinh ra ở đâu? Ông ấy sẽ mang danh hiệu gì và các dấu hiệu nào mà ông ấy sẽ có? Bao nhiêu người giúp đỡ thiện lành sẽ xuất hiện? Và, những lợi lạc nào đến từ việc trùng tu của bảo tháp vĩ đại?”.

Đại Sư đáp rằng, “Này đức vua, hãy lắng nghe thật kỹ! Các câu hỏi của Ngài thật tuyệt vời! Trong tương lai, vào thời suy đồi, khi tuổi thọ của chúng sinh giảm xuống còn năm mươi năm, khi một trăm linh một điềm xấu xuất hiện, thượng thư các vấn đề tâm linh từ bộ tộc Go, Pema Gungtsen, sẽ tái sinh ở vùng thượng Nyima thuộc Tsang[34] bởi các đại nguyện trước kia. Ông ấy sẽ sinh ra trong gia đình của các Mantrika vào năm Dậu hoặc Hợi. Ông ấy sẽ có tên là Pal hoặc Zangpo[35] với vẻ ngoài sáng sủa, lòng dũng cảm và mạnh mẽ. Bởi các đại nguyện chân chính được phát khởi từ xa xưa, tiềm năng nghiệp của ông ấy sẽ thức tỉnh và ngay từ trẻ, ông ấy sẽ có niềm tin và lòng sùng mộ lớn lao với Tam Bảo trân quý, chùa chiền và các đại diện của thân, khẩu và ý giác ngộ. Ông ấy sẽ bước trên con đường Đại thừa với tâm tràn ngập lòng bi mẫn dành cho mọi hữu tình chúng sinhđặc biệt với những kẻ nghèo khó, khiếm khuyết. Là hành giả Đại thừa, ông ấy sẽ dũng mãnh và có niềm tin tưởng với ý nghĩa sâu sắc. Sau khi làm chủ hoạt động giác ngộ phẫn nộ, ông ấy sẽ cất lên tiếng hống của các giáo lý phẫn nộ. Ông ấy sẽ hoàn thiện sự tiếp cận và thành tựu của Bổn tôn và vì thế, chư Hộ Pháp và những vị bảo vệ sẽ tuân lệnh bởi ông ấy sẽ trói buộc chư vị bởi lời thề. Trên tất thảy, từ trẻ, ông ấy sẽ có lòng sùng mộ không dao động, mãnh liệt với Ta, Đức Uddiyana.

Nếu không bị vấy bẩn bởi các thệ nguyện đứt gẫy hay lỗi lầm gia đình[36] thì năm hai mươi lăm tuổi, ông ấy sẽ trùng tu bảo tháp vĩ đại này. Nếu Phật sự bị trì hoãn, nhưng bắt đầu vào năm ông ấy ba mươi ba tuổi, việc trùng tu sẽ vẫn được hoàn thành. Nếu Phật sự bị trì hoãn lâu hơn, chiến tranh sẽ nổ ra giữa Tây Tạng và Trung Hoa, khởi lên như gió. Ác nghiệp của tai ương này sẽ nhân ba lần sức nặng của bất thiện trước nó. Tai ương và nạn đói sẽ quét sạch vùng đất và cắt ngắn giấc ngủ hàng đêm[37]. Quân đội Mông Cổ man rợ nhiều như năm phần hạt mù tạc sẽ xâm chiếm Tây Tạng từ các cao nguyên. Trong nhiều năm, nỗi khiếp sợ sẽ tràn ngập như thể bầu trời sụp đổ. Từ vùng đất thấp ở phương Nam, quân đội sẽ xâm chiếm, bằng chín phần hạt mù tạc. Như thế, nỗi khiếp sợ không ngừng lan khắp, như con rồng hống. Các đoàn quân sẽ tranh đấu như những tia chớp, đánh bại mọi thứ cho đến tận vùng Choga ở Ngari[38]. Sau đấy, một đoàn quân từ cao nguyên sẽ đến và đánh bại tất cả cho đến Trung Hoa. Hai phần ba người Tây Tạng sẽ bị giết bởi những thanh gươm này; mọi chùa chiền, bảo tháp, tượng và kinh sẽ sụp đổ. Tất cả Tây Tạng sẽ đều đổ nát và tan hoang. Những người sống sót sẽ chạy đến Lhoka[39], Bhutan và các thung lũng ẩn giấu. Những vị ở lại, bám chấp với đất đai và của cải, sẽ bị giết bởi những kẻ man rợ từ Mông Cổ – và vì thế, dân chúng và thú vật của Tây Tạng sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt.

Mong muốn giải thoát khỏi khổ đau như vậy, ông ấy sở hữu ân phước gia trì của Ta, sẽ khởi Bồ đề tâmlợi lạc của chúng sinh. Bất chấp thân thểtính mạng, ông ấy sẽ nỗ lực hết sức, một cách rộng lớn, để sách tấn mọi chúng sinh của Ấn Độ, Nepal, Mon và Tây Tạng hướng về thiện hạnh. Tất cả những bậc thiện đứcTây Tạng, đoàn kết và tập trung vào một mục tiêu, sẽ phải nỗ lực hỗ trợ ông ấy [trong nhiệm vụ trùng tu bảo tháp]. Tuy nhiên, bởi hầu hết người Tây Tạng bị chiếm hữu bởi ma quỷ của tà kiến, chỉ có một số – hiếm có như sao ban ngày – có lòng sùng mộ và niềm tin với ông ấy. Thế nhưng, ông ấy sẽ được vây quanh bởi đại chúng gồm 130000 vị có kết nối nghiệp thiện lành, 1006 vị kết nối nhờ những nguyện ước sâu xa, 108 vị thành thục nhờ lời khuyên về các điểm then chốt của thệ nguyện Samaya, cùng các thí chủ may mắn – 16 nam và 7 nữ. Ở bên ông ấy cũng sẽ có 8 hóa thân Bồ Tát, 8 thiện tri thức tâm linh, 25 đệ tử nam chí thành, 5 hóa thân Không Hành Nữ, 7 chúng sinh mang theo ân phước gia trì của chư Không Hành Nữ và 25 thiếu nữ với dòng dõi cao quý. Cùng nhau, họ sẽ xua tan các chướng ngại. Đặc biệt, họ sẽ hạnh ngộ một vị tâm tử tái sinh của Ta, Đức Uddiyana (tức Padma Lingpa), một Phương Trượng (Drigung Kunga Rinchen) và vua Pháp (Karpo Kundrak)[40]. Nhờ ân phước gia trì của chư vị, việc trùng tu bảo tháp vĩ đại sẽ được viên thành ở mức độ rộng lớn.

Nếu sự trùng tu được hoàn thành, chúng sinh Nam Thiệm Bộ Châu sẽ tận hưởng mùa màng bội thu và hạnh phúc trong 25 năm; chúng sinhẤn Độ, Nepal và Bhutan sẽ tận hưởng mùa màng bội thu và hạnh phúc trong 33 năm. Đặc biệt, ở xứ tuyết Tây Tạng, những cuộc xâm lăng bởi quân đội Mông Cổ man rợ sẽ bị đẩy lùi trong 60 năm và người Tây Tạng sẽ tận hưởng mùa màng bội thu và hạnh phúc trong 40 năm. Tất cả hành giả Phật Pháp của Tây Tạng – mọi điều mà họ mong muốn đều sẽ thành tựu. Mọi địa điểm của Giáo Pháp, chùa chiền và tu việnẤn ĐộTây Tạng, chẳng hạn Bồ Đề Đạo TràngẤn Độ và Samye vinh quangTây Tạng – sẽ không bị nguy hại bởi tứ đại. Mọi chướng ngại với việc nghiên cứuthực hành Giáo Pháp sẽ được xoa dịuGiáo Pháp sẽ lan rộng và xa. Cuộc đời của những bậc nắm giữ Giáo Pháp cao quý sẽ vững bềnhoạt động sẽ bao la. Bất cứ Bổn tôn hay Mật chú nào được thực hành bởi các vị Mantrika ở Tây Tạng đều sẽ được thành tựu dễ dàng và nhanh chóng. Sức mạnh, của cải, những lạc thúcông đức sẽ phát triển cho hậu duệ của Vua Trisong Deutsen và mọi vị lãnh đạo, những người tuân theo Giáo Phápluật lệ. Mọi tinh linh Gongpo, những vị tàn phá Tây Tạngchúng sinh tà ác bị xúi giục bởi ma quỷ – tất cả đều sẽ bị tiêu diệt.

Về tinh túy, mọi hữu tình chúng sinh có kết nối với việc trùng tu này sẽ sở hữu thân tướng hoàn hảo của một vị thiên hay con người trong vòng ba lần tái sinh. Và cuối cùng, họ sẽ đạt Phật quả ở cõi Tây Phương Cực Lạc. Những vị có niềm tin, lòng sùng mộ và sự kính trọng cùng những vị hoan hỷ với việc trùng tu lớn lao này, trong bảy lần tái sinh, sẽ gia nhập hàng ngũ của chư Trì Minh Vương ở Cung Điện Liên Hoa Quang trên Núi Huy Hoàng. Bất cứ chúng sinh nào nghe, thấy, nhớ hay xúc chạm đại bảo tháp được trùng tu này – những che chướng của họ gây ra bởi ác hạnh tích lũy trong 60000 đại kiếp sẽ được hoàn toàn tịnh hóa. Tất cả những chúng sinh có kết nối với ông ấy, người chủ trì việc trùng tu vĩ đại, sẽ đạt thành tựu siêu việt hay thông thường, tùy thuộc vào lòng sùng mộ và niềm tin lớn hay nhỏ của họ. Cuối cùng, họ sẽ an trụ trong các cấp độ của Trì Minh Vương trước sự hiện diện của Ta, Đức Uddiyana. Về căn bản, những lợi lạc của việc cúng dườngcầu nguyện đến Đại Bảo Tháp này cần được hiểu nhờ đọc chương về những lợi lạc, như đã miêu tả rất chi tiết ở trên. Tất cả công đức như vậy không thể nào thốt lên, dù bởi tất cả chư Phật mười phươngba đời, thậm chí nếu chư vị có tụng đọc chúng liên tục trong 100000 kiếp. Vì vậy, các phẩm tính của [bảo tháp] Pháp thân này vượt khỏi phạm vi diễn tả”.

Ngay khi Đại Sư nói những lời này, đại chúng ở đó vô cùng kinh ngạc. Vì sự ban tặng ân phước gia trì này và lời tiên tri về sự thành tựu bao la các gốc rễ thiện hạnh như vậy trong thời kỳ đen tối của thời cuối cùng, đại chúng cảm tạtán thán lời dạy của Đức Uddiyana.

Điều này hoàn thành chương thứ năm của Lịch Sử Đại Bảo Tháp Jarung Kashor, nhận biết về những vị trùng tumiêu tả lợi lạc của việc trùng tu. Samaya! Dấu ấn! Dấu ấn! Dấu ấn!

Khandroma Yeshe Tsogyal ghi chép lại điều mà Đức Uddiyana đã tuyên thuyết. Cùng với pho giáo lý về Pháp Tu Tâm Đạo Sư Cực Mật, giáo lý này sau đấy được chôn giấu như một kho tàng Terma đằng sau bức tượng Đại Nhật Như Lai ở tầng thượng của chùa Samye vinh quang, Bất Biến Tự Nhiên Thành Tựu. Các lời nguyện được phát khởi rằng nó sẽ được tìm thấy bởi người có kết nối nghiệp đúng đắn.

Điều này hoàn thành Giải Thoát Nhờ Lắng Nghe: Lịch Sử Đại Bảo Tháp Jarung Kashor.

Samaya! Dấu ấn! Dấu ấn! Dấu ấn! Dấu ấn Kho tàng! Dấu ấn Chôn giấu! Dấu ấn Giao phó! Dấu ấn Mệnh lệnh! Như thế có bốn dấu ấn!

Ta, vị phát lộ kho tàng Lhatsun (Lhawang Gyatso Drolo) Ngonmo, đã phát hiện kho tàng Terma này đằng sau bức tượng Đại Nhật Như Lai, ghi chép lại câu chuyện mà Đức Uddiyana tôn quý đã tuyên thuyết. Theo tiên tri chỉ dẫn Ta chôn giấu lại Terma tại địa điểm kho tàng, Ta đã để lại cuộn kinh vàng và giấu bản sao ở phía Tây Nam của tòa sư tử của Bảo Tháp Đỏ ở Samye, phát lời nguyện rằng: “Cầu mong trong tương lai nó sẽ được phát lộ bởi người có kết nối nghiệp đúng đắn!”.

Samaya! Dấu ấn! Dấu ấn! Dấu ấn!

Ta, Ngakchang Sakya Zangpo, nhờ ân phước gia trì bi mẫn của Đức Uddiyana, đã nhận được lời tiên tri trong những giấc mơ. Vì thế, Ta đã khám phá ra kho tàng Terma này vào ngày mười tám tháng Mùi năm Thủy Thân Đực. Cầu mong nó làm lợi lạc mọi hữu tình chúng sinh!

Peter Woods, Lowell Cook, Kaleb Yaniger và Stefan Mang chuyển dịch từ Tạng ngữ, Boudhanath 2017. Samten Dorje xem lại; Libby Hogg chỉnh sửa.

 

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ từ http://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/ngakchang-shakya-zangpo/great-history-of-jarung-kashor-stupa.

Mọi sai sót trong bản dịch Việt ngữ là lỗi của người dịch. Xin thành tâm sám hối trước Tam Bảo, Tam Gốc.

Mọi công đức có được xin hồi hướng tất cả hữu tình chúng sinh.

 



[1] Lama Yangsang Tukdrup (bla ma yang gsang thugs sgrub).

[2] Salwa Odron (sal ba ‘od sgron).

[3] Nguyên văn là một đơn vị đo lường của Ma Kiệt Đà – chú thích của người dịch Việt ngữ.

[4] sbrang bu tre ma.

[5] Ngài Shantarakshita.

[6] Bami Trizher (sba mi khri gzher) thường được biết đến với danh hiệu Nanam Dorje Dudjom (sna nam rdo rje bdud ‘joms).

[7] Theo Rigpawiki, công chúa Pema Sel là con gái của Vua Trisong Deutsen và hoàng hậu Droza Changchub. Sau khi công chúa qua đời năm lên tám tuổi vì bị ong đốt, Đức Liên Hoa Sinh đã vẽ chủng tự NRI lên tim cô, triệu thỉnh thần thức và khiến cô hồi sinh. Ngay tại đó, Ngài trao cho cô trao truyền về các giáo lý Nyingtik. Không lâu sau cô chết. Đức Bà Yeshe Tsogyal đã chôn giấu các giáo lý như một Terma và nhiều thế kỷ sau, hóa thân của Pemasel, đạo sư Pema Ledreltsal, đã phát lộ pho Khandro Nyingtik. Hóa thân tiếp theo của Ngài chính là Đức Toàn Tri Longchen Rabjam.

[8] Mashang Trompa Kye (ma zhang khrom pa skyes).

[9] Go Pema Gungtsen (‘gos pad ma gung btsan).

[10] Lhalung Palgyi Dorje (lha lung dpal gyi rdo rje).

[11] Kawa Paltseg (ka ba dpal brtsegs) và Jokro Lu’i Gyaltsen (lcog ro klu’i rgyal mtshan).

[12] Denma Tsemang (ldan ma rtse mangs) và Legjin Nyima (legs byin nyi ma).

[13] Theo Rigpawiki, chúng gồm: (1) trường thọ, (2) thoát khỏi bệnh tật, (3) thân tướng đẹp đẽ, (4) vận may tốt, (5) dòng dõi cao quý, (6) của cải lớn lao và (7) trí tuệ vĩ đại.

[14] Khởi lên từ khí, mật, đờm và sự kết hợp của chúng.

[15] Tinh túy của hư không là ngọc lam; tinh túy của đất là vàng; tinh túy của gió là vàng; tinh túy của lửa là mã não; tinh túy của nước là pha lê.

[16] Theo Rigpawiki, chúng gồm: (1) lọng báu thù thắng, (2) cá vàng cát tường, (3) bảo bình như ý, (4) hoa sen xanh, (5) ốc pháp viên mãn âm thanh, (6) nút cát tường, (7) bảo tràng tôn thắng và (8) bánh xe uy quyền.

[17] Theo Rigpawiki, chúng gồm: (1) vỏ ốc xoay về bên phải, (2) sữa chua, (3) cỏ durva, (4) sindura, (5) trái bilva, (6) gương, (7) mật voi và (8) hạt mù tạc trắng.

[18] Theo Rigpawiki, chúng gồm: (1) sữa đông hay sữa chua, (2) sữa và (3) bơ.

[19] Theo Rigpawiki, chúng gồm: (1) mật ong, (2) đường và (3) mật đường.

[20] Pháp chủ của Ba gia đình (rigs gsum mgon po) là Văn Thù Sư Lợi, Quán Thế ÂmKim Cương Thủ.

[21] Đức Cau Mày (khro gnyer can, Bhrkuti) liên quan đến đến một hoá hiện phẫn nộ của Độ Mẫu Tara.

[22] “So” (bswo), tiếng than khóc trong cuộc chiến của những dị giáo (bon po) với chư thiên chiến thắng.

[23] Gyalpo (rgyal po), Mara (bdud), Tsen (btsan), Gongpo (‘gong po), The’urang (the’u rang), Senmo (bsen mo) và Dremo (‘dre mo) là những kiểu tinh linh xấu ác khác nhau.

[24] Khenpo (mkhan po) và Lopon (slob dpon) là những danh hiệu được sử dụng để nhắc đến các vị thầy tại Phật học viện.

[25] Bodh Gaya, trụ xứ giác ngộ của Đức Phậttrung tâm của thế giới Phật giáo.

[26] Mon Domtsang Gyirong (mon dom tshang gi rong), gần ngọn núi thiêng Tsari.

[27] Mông Cổ, Hor (mu dur hor). Geoff Childs gợi ý rằng mu dur có thể kết nối với mu ngur, một thuật ngữ được sử dụng để chỉ Mông Cổ.

[28] Jang (ljang hay ‘jang) liên quan đến một vùng dưới Kham, ngày nay thuộc tỉnh Vân Nam.

[29] Rasa Trulnang (ra sa ‘phrul snang) là một tên gọi cổ xưa của chùa Jokhang ở Lhasa.

[30] Ở vùng Yarlung, miền Trung Tây Tạng.

[31] Liên quan đến những người với ý định xấu mà đắp y tu sĩ.

[32] Pháp thiêng (lha chos) liên quan đến các luật lệ tâm linh được thiết lập bởi Vua Trisong Deutsen cho dân chúng của Ngài.

[33] Những nguyên tắc nhân văn (mi chos) liên quan đến mười sáu luật lệ về các hành động phổ thông mà Vua Trisong Deutsen đặt ra. Ví dụ, người trẻ cần kính trọng người lớn hơn, trong khi người lớn cần quan tâm đến người trẻ.

[34] Tsang (gtsang) là một trong hai tỉnh chính của Tây Tạng.

[35] Ngài sẽ mang danh hiệu Pal hoặc Zangpo (dpal lam bzang po’i ming can). Pal được dịch thành Vinh Quang và Zangpo là Hiền.

[36] Lỗi lầm gia đình (dme grib) liên quan đến một kiểu lỗi lầm đặc biệt đến từ những bất hòa giữa các mối quan hệ gia đình thân thiết, bởi sự loạn luân.

[37] Nghĩa đen, “cắt ngắn sợi dây của sự ngủ” (nyal thag gcad pa), nghĩa là không còn ngủ vào buổi tối nữa, vì thế, tức là chết.

[38] Một vị trí thuộc miền Tây Tây Tạng được biết đến là Ngari (mnga’ ris lco ga).

[39] Một vùng ở phía Đông Nam của miền Trung Tây Tạng, giáp với Bhutan về phía Nam.

[40] Padma Lingpa (pad+ma gling pa), Drigung Kunga Rinchen (‘bri gung kun dga’ rin chen) và Karpo Kundrak (dkar po kun grags).

Tạo bài viết
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!