Tiểu Sử Vắn Tắt Sakya Jetsun Chimey Luding Rinpoche

18/11/202012:59 CH(Xem: 283)
Tiểu Sử Vắn Tắt Sakya Jetsun Chimey Luding Rinpoche

TIỂU SỬ VẮN TẮT
SAKYA JETSUN CHIMEY LUDING RINPOCHE

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ

 

Sakya Jetsun Chimey Luding Rinpoche
Sakya Jetsun Chimey Luding Rinpoche

Sakya Jetsun Chimey Luding Rinpoche, nữ đạo sư Phật giáo cao cấp nhất và được rèn luyện bài bản nhất ở phương Tây, sinh ra trong Drolma Podrang hay Cung điện Tara của gia đình Sakya Khon vào năm 1938, tức năm Thổ Dần.

Bà bắt đầu các nghiên cứu Giáo Pháp khi lên năm. Ngài Sakya Trizin đã chào đời khi Bà sáu tuổi. Theo truyền thống trong gia đình, Bà thọ giới xuất gia khi ‘đủ tuổi để đuổi quạ’ năm lên bảy. Mười tuổi, Bà tiến hành khóa nhập thất đầu tiên. Bà đã thiền định về hình tướng Kim Cương Thủ được biết đến là Bhutadamara và trong một tháng, đã hoàn thành trì tụng một triệu biến Chân ngôn ngắn, HUM VAJRA PHAT và một trăm nghìn biến Chân ngôn dài. Năm Bà mười một tuổi, cha Bà, Đức Kunga Rinchen, đã phái Bà đi trong nhiệm vụ giảng dạy đầu tiên. Bà đã sống từ tháng Tư đến tháng Mười Tây Tạng giữa những người du mục trên các đồng bằng phía Bắc của Tây Tạng, ban trao truyền và giáo lý về Phowa, tức chuyển di thần thức, cũng như tiến hành các lễ cúng dường Torma, cử hành Lhasang hay cúng khói hương và ban những giáo lýquán đỉnh khác.

Là người phụ nữ thứ ba trong lịch sử Tây Tạng trao truyền những giáo lý Lamdre (Đạo Và Quả[1]), một đạo sư hoàn toàn thành tựu và vị trì giữ truyền thừa, Bà nổi tiếng với giáo lý về Kim Cương Du Già Nữ và được xem là một hóa hiện của Bổn tôn về năng lượng nữ giác ngộ này.

Đó là năm 1951 và chính lúc ấy, Bà tiến hành một trong những tiên tri (MO) nổi tiếng đầu tiên của mình. Có một Tu viện lớn trong vùng mà Bà đang ban giáo lý và đấy là thời kỳ của những rắc rối chính trị liên quan đến vị nhiếp chính Radring. Viện trưởng của Tu viện trong vùng, Kardor Rinpoche, đứng về phía vị nhiếp chính Radring; và bởi điều này, ông ấy bị chính quyền Tây Tạng giam giữ. Một phái đoàn chân thànhlo âu từ Tu viện này đã thỉnh cầu được diện kiến Sakya Jetsunma và yêu cầu Bà tiến hành MO để xác định xem khi nào viện trưởng của họ được thả. Bà đã tiên tri bằng súc sắc và đề nghị rằng các thành viên của Tu viện cần tiến hành khóa lễ Puja bốn Mandala về Lục Độ Mẫu và trì tụng Tán Thán Hai Mươi Mốt Độ Mẫu Tara một trăm nghìn biến.

Năm 1952, trong một chuyến viếng thăm đến Lhasa khi Đức Dalai Lama công nhậnxác nhận em trai của Bà là vị Sakya Trizin, một nhóm tu sĩ đã thỉnh cầu được diện kiến Bà. Họ thành kính tri ân Bà rất nhiều và khi Bà hỏi lý do về điều này bởi đã quên về sự việc và MO, họ thưa với Bà rằng họ đã tuân theo những chỉ dẫn của Bà và rằng viện trưởng của họ đã được thả vào ngày sau khi họ hoàn thành một trăm nghìn biến Hai Mươi Mốt Tán Thán.

Em trai của Bà đã qua đời khi Bà bốn tuổi. Mẹ của Bà qua đời năm 1948 khi Jetsunma chín tuổi và Đức [Sakya Trizin] hai tuổi. Em gái của họ qua đời năm 1951 khi mới tám tuổi và cha của họ qua đời sau đó trong chưa đến một tháng, trong một đại dịch ở Sakya. Điều này nghĩa là những giáo lý thường được ban bởi cha họ sẽ phải được trao bởi một đạo sư khác. Dì đã đưa họ đến Ngor, nơi họ thọ nhận Lamdre từ viện trưởng Kangsar vĩ đại – Ngawang Lodro Shenphen Nyingpo, tức Dampa Rinpoche.

Năm 1951, sau khi Đức Dalai Lama công nhận em trai Bà là Sakya Trizin, kế hoạch ban đầu của họ về việc thọ nhận giáo lý từ Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro[2] vĩ đại ở Kham phải thay đổi bởi Đức [Sakya Trizin] không thể đi quá xa khỏi Sakya và các nhiệm vụ. Thay vào đó, họ lại đến gặp viện trưởng Ngor vĩ đại, Dampa Rinpoche, vị sống gần đó, để [thọ nhận] Lamdre Lobshe (sự trao truyền gần gũi về Đạo Và Quả), những giáo lý trung tâm với truyền thừa Sakya. Không may thay, Ngài đã qua đời trước khi có thể hoàn tất trao truyền này và nhiệm vụ đó được tiếp quản bởi Kangsar Shabdrung – Ngawang Lodro Tenzin Nyingpo. Jetsun(ma) kể lại rằng từ khi Đức Dalai Lama công nhận em trai, “Đức [Sakya Trizin] và tôi liên tục đồng hành cùng nhau và bất kể Ngài đi đâu, tôi đi cùng và luôn ở bên Ngài”.

Từ thời điểm này cho đến khi chạy đến Ấn Độ, họ đã cùng thọ nhận những giáo lý và cùng tiến hành các khóa nhập thất. Cùng lúc khi Bà và Đức [Sakya Trizin] thọ nhận những trao truyền Lamdre Lobshe từ các viện trưởng Kangsar, họ cũng thọ nhận Lung hay khẩu truyền cho tiểu sử của Tổ Ngorchen Konchok Lhundrup từ viện trưởng Ngor của viện Phende, Phende Khenpo – Ngawang Khedrup Gyatso. Đó là vào năm 1953.

Năm 1954, họ thọ nhận trao truyền Druptap Kuntu từ Khangsar Shabdrung – Ngawang Lodro Tenzin Nyingpo. (Druptap Kuntu là một tuyển tập các quán đỉnhnghi quỹ lớn từ tất cả bốn bộ Mật điển, được kết tập vào thế kỷ 19 bởi Đức Jamyang Khyentse Wangpo[3]đệ tử chính yếu, Ngài Jamyang Loter Wangpo[4].)

Khi Jetsunma mười sáu tuổi, Bà và Đức [Sakya Trizin] tiến hành khóa nhập thất đầy đủ về Hevajra. Thầy của họ cũng tiến hành nhập thất cùng. Mặc dù tiến hành nhập thất trong các phòng riêng, họ đã trao đổi qua những bức thư ngắn được gửi qua lại và bắt đầu cùng ngàykết thúc cùng ngày. Họ đã tiến hành tất cả những trì tụng cần thiết về các Chân ngôn Hevajra khác nhau cũng như các Chân ngôn Nairatmya. Họ đã duy trì khóa nhập thất này trong bảy tháng rưỡi và sau đó là khóa nhập thất một tháng về Vajra Garuda; trong đó, Bà trì tụng Chân ngôn một triệu năm trăm nghìn biến. Khi họ hoàn thành khóa nhập thất này, dì của Jetsun Kushok yêu cầu Bà tiến hành khóa nhập thất bảy ngày về Ling Gesar[5] để phát triển các sức mạnh tiên tri nhờ thấy trước tương lai trong gương và Bà cũng đã hoàn thành điều này.

Không lâu sau khi kết thúc khóa nhập thất này, năm 1955, đông đảo tu sĩ từ Kham đã đến Sakya và thỉnh cầu giáo lý Lamdre từ Đức [Sakya Trizin], vị mà theo lịch trình riêng đã không thể cung cấp chúng. Dì của họ sau đấy thúc giục Jetsun Kushok, vị khi ấy mười sáu tuổi, tự mình ban giáo lý này. Lamdre là một pho trọn vẹn, điều bao gồm đầy đủ những giáo lý Phật Đà, từ Tiểu thừa qua Đại thừa cho đếnbao gồm Kim Cương thừa. Nó tập trung vào đàn tràng chính yếu hay sự trao truyền của Tổ Virupa về Hevajra. Jetsun Kushok đã ban kiểu ngắn của Lamdre do Đức Ngawang Chodruk [soạn] cũng như khẩu truyền cho tất cả các thực hànhnghi lễ khác nhau liên quan đến truyền thừa Sakya. Toàn bộ giáo lý đã kéo dài khoảng ba tháng. Do đó, Bà trở thành người phụ nữ thứ ba trong lịch sử Sakya trao truyền Lamdre và vào năm 1956, khi Bà và Đức [Sakya Trizin] đến Lhasa để thọ nhận giáo lý với độ dài trung bình về Lamrim từ Đức Dalai Lama, Bà dẫn đầu đoàn người, đội mũ Sakya – thứ được đội bởi những vị trì giữ cao cấp của truyền thừa Sakya và đi đến dưới lọng vàng.

Cũng vào năm 1956, Bà và Đức [Sakya Trizin] thọ nhận toàn bộ các trao truyền Nyingma về Longchen Nyingtik[6] từ Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, vị đã ở Lhasa vào thời điểm đó. Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro đã đến Sakya sau đó trong năm để ban cho họ Chak Mey Nam Zhi hay Bốn Thực Hành Không Gián Đoạn, điều mà những vị đã thọ nhận toàn bộ giáo lý Lamdre cần thực hành như một sự hỗ trợ hằng ngày. Chúng gồm: (1) nghi quỹ Lam Dus Hevajra, (2) nghi quỹ Vajrayogini, (3) thiền định bảo vệ Virupa hay Bir Sung và (4) thiền định Đạo Sư Du Già Con Đường Sâu Xa hay Lam Zap.

Đầu năm 1957, Jetsun Kushok, em trai và đoàn tùy tùng đến Ấn Độ trong một chuyến hành hương cùng lúc khi Đức Dalai Lama và Panchen Lama đến Ấn Độ. Chính lúc này, Bà lần đầu tiên hình thành ý tưởng về việc học Anh ngữ trong một trường theo lối phương Tây, nhưng thầy của Bà phiền lòngkhông chấp thuận. Năm 1958, em trai Bà được tấn phong ở Sakya là vị Sakya Trizin [thứ 41]. Nhiều tháng sau đó, sau khi Tây Tạng rơi vào tay Trung Quốc, Jetsun Kushok, Đức [Sakya Trizin], dì của họ và một nhóm thị giả đã chạy đến Ấn Độ.

Ấn Độ, Jetsun Kushok miêu tả bản thân là khá nghịch ngợm. Bà đã nghiên cứu Nang Sum (ba tầm nhìn) và Dom Sum Rabye (các giới luật của Tiểu thừa, Đại thừaKim Cương thừa) của Tổ Sakya Pandita. Tuy nhiên, tình hình ngày càng khó khăn để Bà có thể sống với các giới luật bên ngoài của một vị Ni ở Ấn Độ mà không có sự hỗ trợ của cuộc sống tu sĩ. Bà thấy bản thân là đối tượng của sự chế nhạo và khinh thường bởi đầu cạo trọc và y áo. Sau khi tham vấn Đức Dalai Lama và em trai, Bà quyết định xả giới, mặc dù tiếp tục giữ cách cư xử của một vị Ni.

Bà đã bắt đầu học Anh ngữ từ một vị truyền giáo Thiên Chúa và ở đó, gặp gỡ Luding Sey Kusho, em trai của Ngor Luding Khen. Bởi sự tiếp nối Luding là truyền thừa máu mủgia đình Luding là một nhánh của gia đình Sakya Khon, dì của Bà và nhiều thị giả lớn tuổi của gia đình đã ấp ủ kế hoạch rằng Bà cần kết hôn với Sey Kushok. Dù ban đầu từ chối, Bà cuối cùng bị thuyết phục bởi một người con trai từ sự hợp nhất của họ là cần thiết để trở thành Luding Shabdrung. Bà đã kết hôn với Rinchen Luding vào năm 1964.

Người con thứ ba của họ, một người con trai sinh năm 1967, khác với những vị khác. Jetsun Kushok kể lại rằng cậu bé không khóc như những người con khác và rằng cậu bé thường thức dậygiải trí bằng cách bắt các ấn và lầm bầm như thể đang tụng các bản văn. Khi ba hay bốn tuổi, cậu bé bày tỏ niềm yêu thích thực sự về việc trở thành tu sĩthích thú khi ở bên những tu sĩ. Khi có những nghi lễ tôn giáo, cậu bé thích tham gia hơn là chơi đùa với những đứa bé khác. Đây là cậu bé trở thành Luding Shabdrung.

Trao Shabdrung Rinpoche mới bốn tuổi cho những người chú bác chăm sóc, Sakya Jetsun Rinpoche đã đi cùng với chồng và ba người con trai nhỏ của họ đến Canada và sống trên một trang trại như những công nhân ở Taber, Alberta vào năm 1971. Năm 1973, họ đến Vancouver, British Columbia. Họ hiện nay sống ở Richmond, ngoại ô Vancouver.

Ban đầu, Bà không giảng dạy chút nào, [bởi] cần phải chăm sóc gia đình nhỏ và kiếm sống. Tuy nhiên, khi Đức [Sakya Trizin] và Dezhung Rinpoche[7] bắt đầu giảng dạy ở New York, họ nhiều lần được hỏi về những vị nữ trì giữ truyền thừa chân chính, còn sống. Cả hai vị đã yêu cầu Bà bắt đầu giảng dạy trở lại. Kể từ đó, Bà thành lập một trung tâm Giáo Pháp ở Vancouver – Sakya Thubten Tsechen Ling và một [trung tâm] khác ở Oakland, California – Sakya Dechen Ling. Bà thường viếng thăm các trung tâm thành viên khác của Sakya vinh quang (hiệp hội các Trung Tâm Giáo Pháp Sakya tại Hoa Kỳ) ở New York, Boston, Los Angeles, Minneapolis và Washington DC. Jetsun Kushok cũng giảng dạy ở Singapore và Hawaii và hiện đang ban các quán đỉnhgiáo lý trên khắp Hoa Kỳ và châu Âu.

Hiện nay, Bà có nhiệm vụ đặc biệt trong việc giảng dạy và cung cấp hình mẫu lý tưởng cho mọi hành giả, đặc biệt là cho nữ giới trên con đường.

Được kết tập tại Sakya Dechen Ling, Oakland, CA 2005; hiệu đính năm 2016.

 

Nguồn Anh ngữ: http://sakyakachodcholing.org/jetsun-chimey-luding-rinpoche/.

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.



[1] Theo Rigpawiki, Lamdre – những chỉ dẫn ‘Đạo Và Quả’ liên quan đến Bổn tôn Hevajra là các giáo lý cao cấp nhất trong trường phái Sakya. Nó bao gồm hai phần: phần đầu tiên gọi là Linh Kiến Ba Phần – thứ giải thích con đường Kinh thừa và phần thứ hai gọi là Mật Điển Ba Phần – thứ giải thích phần Mật thừa, tập trung vào các giáo lý Hevajra bí truyền.

Lamdre sau đó phát triển thành hai dòng trao truyền chính yếu:

  • sự trình bày phổ thông được biết đến là Lamdre Tsokshe (Giải Thích Dành Cho Đại Chúng) và
  • sự trình bày bí mật được biết đến là Lamdre Lopshe (Giải Thích Dành Cho Các Đệ Tử).

[2] Về Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, tham khảo https://thuvienhoasen.org/p38a34025/2/huyen-hoa-du-hi.

[4] Theo Rigpawiki, Đức Jamyang Loter Wangpo, tức Thartse Ponlop Loter Wangpo (1847-1914) – một đạo sư Rime Sakya quan trọng của Tu viện Ngor Thartse, người đóng vai trò then chốt trong phong trào Rime. Ngài là đệ tử của Tổ Jamyang Khyentse Wangpo và một vị thầy của Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro. Ngài nổi tiếng về việc kết tập Trích Yếu Mật Điển theo nguồn cảm hứng của đạo sư – Tổ Jamyang Khyentse Wangpo cũng như xuất bản ấn bản đầu tiên được in của Giải Thích Cho Đệ Tử Cá Nhân trong hệ thống Lamdre của trường phái Sakya, điều trước kia chỉ được truyền miệng và rất ít khi được giữ gìn dưới dạng bản văn viết tay. Ngài Jamyang Loter Wangpo cũng thọ nhận những chỉ dẫn Dzogchen từ Đức Nyoshul Lungtok.

Tuyển tập 139 bức thangka Mandala được vẽ cho Trích Yếu Mật Điển được Sonam Gyatso Thartse Khen Rinpoche bảo vệ vào năm 1958 và sau này được phát hành với hơn một ấn bản.

[7] Theo Rigpawiki, Dezhung Rinpoche tức Dezhung Lungrik Tulku Jampa Kunga Tenpe Nyima Rinpoche (1906-1987) là một bậc thầy quan trọng của dòng Sakya, nổi tiếng về sự thông tuệchứng ngộ, vị đã dành phần sau của cuộc đời để sống ở Seattle, Mỹ [từ năm 1960 trở đi] và giảng dạy cho nhiều học giả lỗi lạc của thế giới về Tây Tạng. Ngài là học trò của Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro và nhiều vị đạo sư khác.

Tạo bài viết
15/07/2020(Xem: 917)
Hơn 150 năm sau khi chế độ nô lệ chấm dứt, nghiệp phân biệt chủng tộc bi thảm của nước Mỹ vẫn tiếp diễn đến ngày nay. Giáo viên Phật giáo Larry Ward nói rằng nếu chúng ta hiểu rõ nghiệp thực sự hoạt động như thế nào, chúng ta có thể ngăn chặn được nó.
Những người ăn ớt có thể ít bị tử vong hơn do bệnh tim hoặc ung thư và có thể sống lâu hơn những người không ăn, theo một nghiên cứu mới sẽ được trình bày tại Phiên họp Khoa học của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2020 vào thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Với lượng thông tin khổng lồ trong thời đại Internet hiện nay, nguồn gốc và mức độ tin cậy của chúng đang là một vấn đề đáng lo ngại. Lợi dụng khả năng lan truyền nhanh chóng của các trang mạng xã hội như Facebook và Twitter, những người đứng sau các tin tức sai lệch, giả mạo đang đưa chúng tiếp cận đông đảo người dùng hơn chỉ trong tích tắc nhằm trục lợi. Nếu không được trang bị kiến thức đầy đủ, người dùng Internet sẽ rất dễ sa vào những cái bẫy thông tin đó.