Kệ ngôn 38 & 39: Tâm Ma Tâm Phật.

20/12/20203:59 SA(Xem: 98)
Kệ ngôn 38 & 39: Tâm Ma Tâm Phật.
blank
Kệ ngôn 38 & 39: 
Tâm Ma Tâm Phật.
Giảng sư: TT. Thích Giác Đẳng & TT. Thích Trí Siêu

Người tâm không an lập
Không hiểu chân diệu pháp
Niềm tin bị giao động
Tuệ giác không thể nhập.

Ai tâm không cảm nhiễm
Ai tâm không quấy phiền
Bỏ cả ác và thiện
Bậc tỉnh thức vô úy

(Việt dịch Tỳ Khưu Giác Đẳng)

Chánh Hạnh chuyển biên
TT Trí Siêu: Hai bài kệ Pháp cú số 38 và số 39 đã được Đức Thế Tôn thuyết tại Jetavana đề cập đến Đại Đức Cittahattha. Đức Thế Tôn thuyết như sau,

Anavaṭṭhitacittassa,
saddhammaṃ avijānato;
pariplavapasādassa,
paññā na paripūrati

Ai tâm không an trú,
Không biết chân diệu pháp
Tịnh tín bị rúng động,
Trí tuệ không viên thành

Anavassutacittassa,
ananvāhatacetaso;
puññapāpapahīnassa,
natthi jāgarato bhayaṃ

Tâm không đầy tràn dục,
Tâm không hận không phá,
Đoạn tuyệt mọi thiện ác,
Kẻ tỉnh không sợ hãi

Trong bài kệ số 38 Đức Thế Tôn đã thuyết giảng nội dung đề cập đến trạng thái tâm của kẻ phàm phu. Bài kệ thứ hai tức kệ ngôn số 39,Đức Phật đề cập đến  trạng thái tâm của vị Thánh đã đoạn lậu tức là vị thánh A-la-hán, bậc đã giải thoát.

Bài kệ số 38 Đức Phật Ngài dạy, “Trí tuệ không viên thành” tức là trí tuệ của người mà tâm không an trú, người không hiểu được chánh phápđức tin bị dao động. Hình ảnh của một vị Tỳ kheo xuất gia đến sáu lần phải hườn tục trỏ về. Vì tâm của vị Tỳ kheo đó không được an trú vững vàng, không hiểu được chánh pháp, tịnh tín bị rúng động. Ở đây thế nào là tâm bị dao động không an trú. Lẽ thường tâm phàm phu không được thăng bằng, có khi như thế này có khi như thế khác nghĩa là có lúc tâm hiền thiện, có lúc tâm bất thiện, có lúc có khuynh hướng tu tập, có lúc chán nản đời sống phạm hạnh. Chữ an trú ở đây không có ý nghĩa tột bậc là sự an trú trong thiền địnhtâm không an trú trong bài kệ này có nghĩa là tâm của chúng sanh phàm phu, không có lập trường nhất định. Quả thật, trong sự tu tập nếu tâm của chúng ta không có lập trường vững chắc sẽ dễ bị thối đọa, dễ bị sa ngã đi theo hướng khác. Khi tâm không được an trú, không có lý tưởng một cách kiên cố vững vàng thì trí tuệ sẽ không bao giờ được viên mãn.

Điểm thứ hai nữa là “Không biết chân diệu pháp”. Danh từ gọi là saddhammaṃ ám chỉ cho chánh pháp, cho những giáo lý cao siêu thậm thâm vi diệu. Theo trong chú giải của bài kệ giải thích, chánh pháp ở đây được hiểu là 37 pháp bồ đề phần. Không hiểu chánh pháp tức là không có sự nhận thức, thấu đáo, liễu tri được 37 pháp bồ đề phần, như vậy trí tuệ không viên thành được. 37 pháp bồ đề phần tức chánh pháp có nghĩa là gì? Tức là Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ quyền, Ngũ lực, Thất giác chiBát chánh đạo. Bảy phần pháp này gồm 37 chi pháp. 37 chi pháp đó gọi là 37 bồ đề phần, gọi là Bodhipakkhika là những chi phần đưa đến sự giác ngộ và đây xem nhưtinh hoa của chánh pháp. Những lời dạy của Đức Phật được nằm trong ba tinh hoa tức là pháp học, pháp hành, và pháp thành.

- Pháp học là 84 ngàn pháp môn trong ba tạng, Tạng kinh, Tạng luật, và Tạng Vi-diệu-pháp.
-Pháp hành là chúng ta nói về sự thực hành trong 37 chi bồ đề phần đó hay là sự thực hành thiền định. Sự thực hành bằng cách thu thúc các căn hoặc sự thực hành theo giới thọ trì hoặc sự thực hành theo hạnh đầu đà v.v…Như vậy gọi là pháp hành.
-Pháp thành chỉ cho bốn đạo bốn quả hay chỉ cho thiền địnhthần thông.
Chúng tôi xin trình bày một cách tóm tắt như vậy.

Ở đây danh từ saddhamma, nếu hiểu theo hai nghĩa. Một là chữ dhamma chỉ cho pháp học pháp hànhpháp hành như chúng tôi đã trình bày. Hiểu theo nghĩa thứ hai theo chú giải của câu kệ này thì saddhamma chỉ cho 37 pháp bồ đề phần, 37 chi phần giác ngộ. Quả thật vậy nếu người nào tu tập, đã xuất gia vào trong giáo pháp này, những kẻ phàm phu tâm không hiểu được chánh pháp, không hiểu được chân diệu pháp tức là không thấu đáo 37 pháp bồ đề phần và cũng không thực hành theo 37 pháp trợ đạo đó, chắc chắn người này sẽ không thành tựu trí tuệ viên mãn tức là không thành tựu trí giải thoát.

Điều nói rằng, “Tịnh tín bị rúng động” pariplavapasādassa. Đức tin của kẻ phàm phu luôn luôn có sự xao động hay bị chi phối, không có sự kiên trì. Có khi chúng ta tin có khi lại hoài nghi, không tin. Đức tin, lòng tịnh tín ở đây là chỉ chosự tin tưởng nơi Bậc Đạo Sư, tin tưởng nơi giáo phápTăng chúng. Tin tưởng nơi điều học, tin tưởnghoan hỷ với các bạn đồng phạm hạnh. Khi đức tin bị dao động, lúc đó tâm của chúng ta gọi là tâm hoang vu cetokhila và tâm hoang vu này có nghĩa là hoài nghi Bậc Đạo Sư, hoài nghi Giáo phápTăng chúng, hoài nghi điều học, phẩn nộ bất mãn với các bạn đồng phạm hạnh v.v… Khi tâm bị chi phối bởi sự hoài nghi như thế đó, đức tin lúc bấy giờ sẽ không được an trú, sẽ dao động. Khi đức tin bị dao động thì không thể nào làm cho trí tuệ được viên mãn.

Bài kệ số 38 có ba sự kiện. Kẻ phàm phu bị chi phối chính bởi ba sự kiện đó cho nên trí tuệ không được viên mãn.
-Một là tâm không an trú, không có lập trường vững chắc.
-Hai là không thông hiểu dược chánh pháp tức là không hiểu biết 37 phẩm trợ đạo.
-Ba là đức tin hay tịnh tín bị rúng động, hoài nghi.

Từ bài kệ số 38 chúng ta có thể học được những bài học kinh nghiệm trong việc tu tập. Đối với người Phật tử hay là đối với vị xuất gia trong giáo pháp này, nếu muốn thành tựu trí tuệ cao siêu tức là trí tuệ giải thoát trong tương lai hay ngay trong hiện tại cũng vậy, muốn đạt được trí tuệ đó trước hết chúng ta phải cố kềm tâm như thế nào để tâm được an trú vững chắc, gọi là tự lập trường chân chánh, khi đó trí tuệ mới được phát triển. Rồi lại nữa khi tu tập trong giáo pháp này, chúng ta cần phải phát triển, trau dồi kiến thức, học hỏithực hành theo 37 pháp bồ đế phần, bổ túc những gì còn khiếm khuyết và phải cố gắng biết và thực hành những gì chưa được biết, chưa thực hành được. Như vậy trí tuệ sẽ càng ngày càng phát triển và thành tựu viên mãn. Điều thứ ba nữa chúng ta cần phải hiểu rằng khi đức tin bị dao động, không tin sự giác ngộ của Đức Phật, không tin tưởng vào Giáo phápTăng chúng hay không tin tưởng vào pháp môn mình đã thọ trì, chúng ta sẽ không thành tựu được trí tuệ.

Cho nên chúng ta phải làm như thế nào để thành tựu niềm tin. Muốn thành tựu lòng tin có ba cách.

-Thứ nhất chúng ta phải có sự siêng năng học hỏi giáo pháp từ nơi các vị Thầy các bạn đồng phạm hạnh có trí. Nhờ sự học hỏi đó chúng ta hiểu biết Pháp. Do vậy đức tin sẽ được kiên cố.

-Rồi lại nữa khi tìm thấy sự an vui hiện tại trong việc thực hành giáo pháp, chúng ta sẽ nắm bắt chánh pháp một cách dễ dàng. Có những người tu tập, vì rằng không tìm thấy sự an lạc trong giáo pháp. Do đó họ không say mê miệt mài để tìm hiểu chánh pháp. Vì vậy họ không thấu rõ được chánh pháp. Cũng như món ăn khi được dọn sẵn, nếu không ăn sẽ không nếm được hương vị ngon, cũng vậy đối với chánh pháp, nếu không thực hành sẽ không tìm thấy vị ngon của chánh pháp, trong đời sống chúng ta không trọn vẹn thực hành theo giáo pháp. Nhờ thực hành theo chánh pháp như vậy đức tin sẽ càng ngày càng vững chắc.

-Rồi lại nữa, người Phật tử muốn trau dồi niềm tin và để niềm tin không bị rúng động, chúng ta phải có sự khéo tác ý. Mỗi mỗi việc làm, mỗi mỗi một điều chúng ta nghe thấy, đều phải dùng trí tuệ để suy xét và khi tác ý như vậy, mới thấy rõ hiệu năng của chánh pháp, thấy rõ lợi ích lời dạy của Đức Phật, lúc bấy giờ đức tin của chúng ta mới tăng trưởng. Do vậy khi tu tập, muốn trí tuệ của mình được viên mãn chúng ta phải làm như thế để không bị tình trạng giống như vị Tỳ kheo tên gọi là Cittahattha, vào tu rồi hườn tục, hườn tục rồi trở vào tu, cứ như vậy đến sáu lần và lần thứ bảy nhờ thấu đạt được chánh pháp, liễu ngộ được chân lý vị này mới có sự tu tập một cách vững chắc, đạt đến sự giải thoát.

Khi thiện nam tử Citttahattha hườn tục trở về làm người cư sĩ đến lần thứ sáu, tình cờ trông thấy người vợ của mình nằm ngủ biểu lộ ra những hình ảnh không tốt, vị ấy khởi lên tâm chán nản và do túc duyên đã sẵn có, nên vị này thấy sự vô thường, sự khổ não, Vừa đi vừa suy nghĩ và lúc đó vị này chứng đạt thánh quả Tu-đà-hườn khi còn là một người cư sĩ. Thế rồi thiện nam tử đó đi đến chùa và bạch với chư Tăng xin được xuất gia. Thoạt đầu chư Tăng còn e ngại nghĩ rằng người này cứ trở đi trở lại xin tu tập trong giáo pháp này, xuất gia vào đây rồi trở về hết sáu lần nay không biết có vững chắc được hay không. Lúc bấy giờ chư Tăng chưa biết được là thiện nam tử này đã chứng đạt quả Tu-đà-hườn.

Đối với vị Tu-đà-hườn, đức tin không bao giờ bị chao động. Mặc dầu trí tuệ không được cụ túc không viên mãn như một vị đoạn lậu giải thoát, vị A-la-hán, nhưng một vị nhập lưu Tu-đà-hườn thông hiểu  thấu suốt chánh pháp một cách rõ ràng chứ không phải do tin, do nghe người khác mà chính do tự mình chứng đạt. Lập trường của  một vị Tu-đà-hườn trong việc tu tập trở thành kiên cố vững chắc, không bao giờ thối chuyển. Bởi vậy sau khi được phép cho xuất gia, chẳng bao lâu tân Tỳ kheo Citttahattha đã chứng quả vị A-la-hán.

Bài kệ số 39 Đức Thế Tôn đã mô tả tâm trạng của một vị đã đạt đến sự giài thoát.
Tâm không tràn đầy dục”. Ở đây danh từ ananvāhatacet, nghĩa là người có tâm không bị uế nhiễm, theo chú giảitâm không bị chi phối bởi ái tham abhijjhāya pasutam
“Tâm không hận không phá” ananvāhatacetaso tức là tâm không bị sân chi phốipuññapāpapahīnassa “Đoạn tận mọi điều ác”.

 Tức là từ bỏ cả hai phương diệt thiện và ác, tốt và xấu. Đây là trạng thái tâm của một vị đã được giải thoát. Ba điều đó chúng tôi sẽ trình bày sau. Với ba tâm trạng này một vị A-la-hán được gọi là jāragato bậc tỉnh thức, tức là  bậc có đầy đủ chánh niệm, tỉnh giác không có sự thất niệm dầu trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi. Trí tuệ luôn luôn bừng sáng tỏ rõ. Đối với một vị A-la-hán không có sự sợ hãi.

Trở lại vấn đề khi nói đến tâm của một vị giải thoát tức là tâm của bậc A-la-hán là tâm không tràn đầy dục tức là không bị ái tham chi phối. Chúng ta biết rằng năm hạ phần kiết sử thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục ái và sân. Ngay khi chứng qua A-na-hàm đã diệt tận được ái dục không còn bị tham muốn trong cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc nữa chứ đừng nói chi đến quả vị A-la-hán. Đối với năm thượng phần kiết sử đề cập đến tham ái thuộc về sắc ái, vô sắc ái, vị A-la-hán với Thánh đạo thứ tư này (tứ đạo) mới diệt trừ được. Như vậy khi đã thành tựu quả vị A-la-hán không còn raga, tanha tức là không còn sự ái tham, sự quyến luyến chi phối nữa.

“Tâm không hận không phá” tức là chỉ cho tâm diệt trừ được sân hận. Một vị A-la-hán không bao giờ có tâm hiềm hận, hiềm khích hay sân hận với người khác cho dù các Ngài có bị xúc phạm, các Ngài cũng không bao giờ bị chi phối và không bao giờ để tâm đau khổ phiền toái với những người đã gây ra cho mình hay với những sự kiện nghịch ý. Còn vấn đề nói rằng đoạn trừ cả thiện ác. Đối với ác pháp  vị A-la-hán đoạn trừ là phải rồi. Ở đây khi nghe nói, vị A-la-hán đoạn trừ cả điều thiện, chúng ta lấy làm lạ Thiện là nhân lành đưa đến quả vui  và đó là yếu tố để dẫn đi tái sanh trong cõi luân hồi thuộc về nhàn cảnh. Còn ác pháp là nhân đưa đến quả khổ, là yếu tố dẫn đi tái sanh trong bốn đường ác đạo là địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh, A-tu-la. Như vậy cả hai điều thiện và ác đều là nguyên nhân dẫn đến sự tái sanh luân hồi gọi là priyāpanna dhamma tức là pháp lệ thuộc luân hồi hay là pháp liên quan luân hồi.

Khi còn là kẻ phàm phu trong lúc tu tập chúng ta phải nhờ đến thiện pháp, nhờ đó mới có thể đạt đến bờ bên kia. Giống như nhờ chiếc bè, nhưng khi đã sang bờ bên kia không cần chiếc bè nữa như thế nào, cũng vậy ở đây nhờ thiện pháp chúng ta thành tựu giải thoát nhưng khi việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, sau đời sống này không còn đời sống khác. Đối với vị A-la-hán Ngài không cần dùng đến thiện và phước báu. Tất cả những hành động của Ngài đều tịnh hảo Sobhana Citta nhưng không phải là nhân đưa đến quả trong tương lai. Chúng ta cũng nên lưu ý, đối với vị A-la-hán ngài không tạo nhân mới đưa đến quả trong tương lai nhưng các Ngài vẫn nhận lãnh quả do nhân quá khứĐức Phật hay Đức Phật độc giác hoặc chư vị Thinh Văn giác, mặc dầu đã giải thoát nhưng với thân hữu dư y niết-bàn cũng vẫn là thân ngũ uẩn. Thân ngũ uẩn vẫn là cảnh của nghiệp hữu chi phối. Tức là trong đời quá khứ nghiệp, nghiệp hữu tạo ra thân ngũ uẩn hiện tại, do vậy dầu vị đó có được giải thoát các Ngài vẫn bị chi phối bởi các sự khổ đau già bệnh chết v.v… Vị  A-la-hán  đoạn trừ được thiện hay ác cho quả trong tương lai

Theo chú giải nhờ bốn đạo mà vị ấy trừ được cả thiện lẫn ác. Tại sao nói như vậy? Bởi vì bốn đạo tức là Tu-đà-hườn đạo, Tư-đà-hàm đạo, A-na-hàm đạo, A-la-hán đạo, bốn đạo đó đoạn tuyệt gốc tham, sân, si, phiền não. Bốn căn bất thiện Akusalā mula này được đoạn trừ nên điều ác không có đối với một vị đã được giải thoát. Còn đối với điều thiện, vị A-la-hán vẫn có những hành động tốt mà thế thường chúng ta gọi là điều thiện, chẳng hạn như Ngài vẫn hoan hỷ thính pháp, hoan hỷ bố thí ( thí dụ như khi đi khất thực trở về sau khi ăn xong, với tàn thực còn lại Ngài cũng khởi lên tâm từ tâm bi đối với những người ăn xin nghèo khổ hoặc cho, hoặc bố thí cho những người trong khi đi đến gặp Ngài chưa dùng bữa). Nhưng hành động đó không gọi là thiện. Tại sao vậy? Đã gọi là một hành động thiện phải có những yếu tố như thế nào. Đức Phật dạy rằng dục giới, sắc giới, vô sắc giới cũng giống như thửa ruộng, hạt giống cũng giống như nghiệp và sự ẩm ướt của thửa ruộng được ví như ái tham và vô minh. Khi chúng ta hành động tốt nhưng vẫn còn bị chi phối bởi quyền lực vô minhtham ái, như vậy sẽ tạo quả mặc dầu là quả tốt trong tương lai, nhưng vẫn còn là pháp sanh tử luân hồi. Quả thật vậy, một kẻ phàm phu dầu làm hành tốt như thế nào đi chăng nữa tự trong tâm thâm của mình vẫn khởi lên sự ước muốn được quả báo trong tương lai như thế này như thế nọ v.v.... Sự ước muốn, chấp thủ đó là một thứ phiền não mà thường tình chúng ta dễ dàng chấp nhận. Y cứthực tính pháp chính do sự ái tham chi phối điều thiện như vậy abhijjhā paceya sankhara vô minh duyên cho hành trong đó có phúc hành. Hành duyên cho thức, thức (tái sanh) duyên cho danh sắc (sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn,). Như vậy vẫn còn là sự tái sanh, vẫn còn khổ đau.

Trong hành động của một vị A-la-hán về thân về khẩu không bao giờ có một mảy mai khởi lên sự chấp thủ, ước muốn hay luyến ái, vọng tưởng đến tương lai. Bởi vì các Ngài biết rõ sự vô thường, khổ, và vô ngã của vạn pháp, thấy rõ thực tính sanh diệt của các pháp, và Ngài biết rõ sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, sau đời sống này không còn đời sống khác, gánh nặng đã đặt xuống. Đó là tâm trạng của một vị A-la-hán, là người không còn bị dục tham, sân hận chi phối. Đối với vị ấy không còn đặt vấn đề là thiện hay ác nữa bởi vì những gì là nguyên nhân sanh tử luân hồi, mầm mống của sự khổ đau đã được tuệ đạo, tuệ quả siêu thế đoạn trừ. Các ngài không còn sự hốt hoảng, sự lo sợ sự thối đọa trong tương lai.

Khi chúng ta đọc bài kệ số 38-39  người Phât tử sẽ nghĩ rằng, bài kệ số 38 có thể rút ra những kinh nghiệm tu tập vì rằng hợp với trình độ kẻ phàm phu. Nhưng với bài kệ số 39 có gì cần phải tu tập. Mặc dầu chưa đạt được trạng thái giống như một vị A-la-hán nhưng khi biết được lời Đức Thế Tôn tuyên bố về trạng thái thoát khổ như thế nào khiến cho tâm chúng ta khởi lên niềm tịnh tín hoan hỷ, khắn khít gắn bó với mục tiêu, với lý tưởng giải thoát. Đây cũng là một vấn đề rất tốt. Nếu chúng ta hiểu được rằng trong cuộc sống sanh tử luân hồi này, tâm kẻ phàm phu luôn luôn bị chao đảo, bị chi phối, không bao giờ hiểu được chánh pháp một cách tường tận, đức tin được an trú một cách vững vàng. Do vậy trí tuệ không được viên mãn. Chúng ta hãy khởi lên quyết tâm rằng sẽ làm cho trí tuệ viên mãn dầu kiếp này chưa thể làm được, chúng ta miệt mài tu tập trong thiện pháp để những kiếp sau có thể làm được. Cái gì các bậc Thánh đã đắc được chúng ta cũng sẽ đắc được, cái gì người khác làm được, chúng ta làm được. Chỉ có điều chúng ta không chịu làm, không chịu tu tập nên điều đó mới khó thôi.

Chúng tôi xin dứt lời tại đây.

Nam Mô Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật

Người tâm không an lập
Không hiểu chân diệu pháp
Niềm tin bị giao động
Tuệ giác không thể nhập.

Ai tâm không cảm nhiễm
Ai tâm không quấy phiền
Bỏ cả ác và thiện
Bậc tỉnh thức vô úy

(Việt dịch Tỳ Khưu Giác Đẳng)

Chánh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng:Tâm một bậc hoàn toàn giải thoát không bị tràn ngập, bị thấm bởi những dục vọng. Tâm của vị này giống như lá sen không vương lại những giọt nước trên mình.

“Tâm không hận không phá” tức là không bị những bất mãn, những điều nghịch lòng làm cho đời sống nội tại bị nhiệt não. Bậc giải thoát được xem như là đã xa lìa hai trạng thái đó.

“Vượt ngoài mọi thiện ác”, quý vị đã nghe TT Trí Siêu giải về tâm của một Thánh nhân đã giải thoát, trong đó dùng tâm duy tác. Quan điểm tâm vượt ngoài thiện ác có đôi lúc được khai triển đến một hệ thống giáo lý to lớn về sau này của đại chúng bộ. Nhưng thời nguyên thủy của đạo Phật, một người đã giải thoát là người vượt lên trên mọi sự đối đãi của ngôn ngữ, của nhân quả, của thiện ác. Vị này không còn quan niệm trong sự đối đãi về ngôn ngữ như chúng ta bàn trong đời sống hằng ngày, bởi vì vị này đã đắc chứng niết-bàn.

Đồng thời bậc giải thoát vượt ngoài nhân quảý niệm về thiện ác là cho dù là phúc hành hay phi phúc hành, tức là cho dù điều thiện hay bất thiện cũng không còn chủng tử để tạo nghiệp. Đây là một trong những điểm tương đối có một chút khó hiểu đối với người ngoại đạo. Nhưng với người Phật tử, chúng ta quan niệm rằng những điều thiện ác có thể nói trong cảnh giới phàm tục, nhưng đối với một vị đã đoạn tận mầm mống của vô minhái dục không thể dùng quan niệm  thiện ác, các Ngài chỉ hành động với tâm gọi là Kriyā tức là tâm hạnh mà thôi.

Đức Phật ngài đề cập đến “Bậc tỉnh thức vô úy”. Chữ “tỉnh thức” ở đây không được hiểu là vị tu tập lúc nào cũng tinh cần, tỉnh thức. Không phải như vậy. Vị Tỉnh thức ở đây viết là jāgarato để chỉ cho vị đã vượt khỏi trầm mê sanh tử. Nghĩa là đối với tâm trạng của vị Thánh nhân giải thoát, bậc tỉnh thức vô úy là bậc với tuệ giác thắp sáng, vị này không còn sợ hãi. Bởi vì có quan niệm liên quan đến ngã, liên quan đến đặng mất, đến những gì mình có và những gì mình mất. Và dĩ nhiên đối với cái chết vị này không dao động hà huống chi đối với tất cả những thứ khác.

Đức Phật Ngài đưa ra hai hình ảnh đề cập đến một con người, đó là Tỳ kheo Cittahattha, đã hoàn tục sáu lần. Trong lần trở vế nhà thứ sáu khi nhìn thấy một hình ảnh của người vợ đang mang thai trong lúc ngủ say, không trang điểm, không trau chuốt nhan sắc của mình. Vị này đã nhận thức được bản chất thực của đời sống. bấy giờ chúng ta nghe một chi tiết rất thú vị là vị này đã bỏ nhà ra đi cầm theo chiếc y vàng, bà mẹ vợ thấy như vậy la lên, người vợ thức dậy và nói với bà mẹ rằng,"Anh ấy đi thế nào cũng quay trở về”.

Bởi vì vị này đã đi và trở về trong sáu lần. Nhưng lần này vị ấy ra đi với sự chiêm nghiệm về tính bẩn chật của các pháp hành, và đã chứng quả dự lưu trước khi đặt chân trở lại tịnh xá. Sau khi khẩn khoản xin xuất gia, vị này trở thành một thành viên của Tăng già. Sau đó vị ấy triển khai thiền quán và chứng đạt được vô sanh pháp nhãn.Chúng ta cũng nghe Đức Phật ngài kể một câu chuyện quá khứ về ông Thánh Cuốc. Một người xuất gia lên núi làm đạo sĩ, nhưng nghĩ đến những nông cụ của mình là hột giống và cây cuốc, cuối cùng hườn tục rồi lại xuất gia, rối lại hườn tục sáu bảy lân như vậy. Cuối cùng đã quăng cây cuốc ra dòng sông và hô lên rằng mình là kẻ chiến thắng.

Thật ra hai câu kệ số 38 và 39 không phải đề cập đến hai con người mà chỉ đề cập đến hai giai đoạn trong trình tự của một kiếp người. Một con người từ bờ mê sang bến giác. Qua hai câu kệ 38 và 39 chúng ta thấy một hình ảnh rất đẹp trong đời sống, đó là trong giai nào mà tâm tư chúng ta chưa có thể thành tựu trí giác, bởi vì chưa có khả năng để điềm đạm, an tỉnh trụ một chỗ, an trú vào một pháp. Chúng ta cũng không lãnh hội được lẽ đạo một cách chân thực, để niềm tin bị dao động. Lúc đó không thể nào chúng ta đặt chân đến ngưỡng cửa Diệu Pháp, cho đến khi người đó thay đổi thái độ của mình. Hình ảnh ngược lại là hình ảnh của một bậc thánh mà Đức Phật đưa ra, hình ảnh một vị đã đến bờ bên kia. Hình ảnh đó không có gì lạ lùng đối với chúng ta. Hình ảnh đó là hình ảnh của một người trưởng thành, đã thuần thục và đi ngược trở lại.

Khi nói đến hai hình ảnh của một đời người, đời người như duyên sự của tỳ kheo Cittahattha  hay Kuddàla (vị đạotừ bỏ cây cuốc của mình). Hai hình ảnh đó một ở hiện kiếp, một là kiếp quá khứ của chính Đức Phật, cho chúng ta thấy rõ rằng tại sao đạo Phật là một tôn giáo bao dung. Tại nhiều quốc gia Phật giáo, một người có thể xuất gia gieo duyên năm ba tháng rồi trở về đời sống thế tục. Có những người trong cuộc đời xuất gia vài lần như vậy.  Đối với người Việt Nam hơi xa lạ với cách tu này, khi nhìn những điều này chúng ta thấy rằng Đức Phật thường cho chúng ta cơ hội. Ngài dạy rằng khi lựa chọn đời sống nào nên sống trọn với đời sống đó, nhưng nếu không giữ được tâm tha thiết với con đường đạo thì có thể hoàn tục. Sau đó nếu không phạm những đại giới thì người đó có thể lại xuất gia.

Đạo Phật bao dung như vậy bởi vì đạo Phật cho thấy rằng trong cuộc hành trình tâm linh chúng ta có rất nhiều lần vấp ngã và sự trở về sự làm lại, sự bắt đầu trở lại cuộc tu là một chuyện vốn dĩ bình thường. Có câu” Bảy lần ngã xuống, tám lần đứng lên”. Có lẽ không một tôn giáo nào có cái nhìn khoáng đạt hơn về cuộc sống tinh thần như Phật giáo. Mặc dầu Đức Phật đưa ra hình ảnh rất rõ nét thế nào là một đời sống yếu đuối, tầm thường, không có ánh sáng của tuệ giác, nhưng rồi Ngài cũng cho chúng ta biết rằng, nếu cố gắng vận dụng những gì còn lại  để có thể làm một cuộc bắt đầu như Tỳ kheo Cittahatttha, một người vốn bị tâm  mình sai xử. Lúc là sư sĩ thì muốn đi xuất gia, khi xuất gia muốn trở lại làm người cư sĩ. Tâm trạng như các thiền sư jen thường nói, tại những thiền đường thiền sinh nhớ quán bar khi về quán bar nhớ thiền đường. Trịnh Công Sơn cũng đã từng viết trong một bài hát rằng, “khi ta về lại nhớ ta đi”. Tâm tư của chúng ta là như vậy, ở cảnh giới này thì nhớ cảnh giới khác. Cả hai hình ảnh rất rõ nét về cuộc hành trình của chúng ta. Chúng ta đến từ cảnh giới nào và điểm đến là hướng đến cảnh giới nào.

Hai bài kệ tuy ngắn nhưng đó là sự mô tả rất đầy đủ về thế giới của phàm phu và Thánh vức. Tức là một thế giới của trầm mê, khổ ải và một thế giới của giải thoát giác ngộ. Hai bài kệ rất dễ thương, Một hình ảnh khác, hình ảnh của Đạo sĩ Kuddàla đi xuất gia nhưng vì nhớ những nông cụ quay trở về, rồi đến một ngày có đủ can đảm đem quăng cuốc ra giữa dòng sông và la lên rằng, “Ta đã thắng”. Lúc đo vị vua Baranasi đứng cạnh bên nghĩ rằng, “mình đi thân chinh trở về và kẻ chiến thắng là mình chứ tại sao có kẻ lại tự nhận mình là kẻ chiến thắng”. Nhà vua sau khi nghe vị đạo sĩ giảng về chiến thắng nội tâm của mình,  nhà vua xin xuất gia”. Vị đạo sĩ có dạy một câu rất đặc biệt, “ Có những sự chiến thắng không bền vững, nó cũng hứa hẹn một sự thất bại khác. Nhưng có sự chiến thắng khác miên viễn, đó là sự chiến thắng nội tâm của mình.” Hình ảnh của nhà vua là một hình ảnh rất đẹp, một vị vua đang ca khúc khải hoàn trở về với tất cả niềm cao hứng trong lòng, chỉ ghé bờ sông để rửa mặt tìm thấy sự sảng khoái của kẻ thắng trận. Nhưng rồi lãnh hội được lẽ đạo và đi tìm sự chiến thắng nội tại. Đó cũng là một trong những hình ảnh khác khó quên khi chúng ta đọc những câu chuyện vầ kinh bổn sanh.

Ở đây tâm tư của một vị giác ngộ Đức Phật Ngài đề cập đến ngắn nhưng chúng tôi có thể nói rằng đó là một trong những hình ảnh mà một người Phật tử hiểu đạo có thể thấy rằng nó vượt ngoài tất cả. Hình ảnh của một vị tâm không thấm dục vọng, không bị sân hận phá. “ Vượt ngoài mọi thiện ác / Bậc tỉnh thức vô úy” đó là một khải hoàn ca  của một bậc Thánh. Chúng tôi đã đọc rất nhiều  sách đề cập đến đời sống giải thoát, trong đó có những tập như Bồ-tát hạnh Bodhisattvacharyavatara của Mật Tông hay những bản kinh Bát nhã trong bộ  Bát luận cũng đề cập đến không tánh. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng bài kệ này mặc dầu rất ngắn, chỉ bốn câu Pali nhưng đã cho chúng ta cái nhìn rất thoát, rất siêu việt, vượt ngoài mọi quan niệm đối đãi bình thường của chúng ta. Dĩ nhiên tâm phàm chúng ta  không thể đo đạc tâm tư của bậc Thánh, tuy nhiên trong sự chiêm nghiệm thầm lặng nào đó chúng ta có thể cảm nhậm rằng, tại sao sống giữa cuộc đời này chúng ta vẫn còn âu lo vẫn còn sợ hãi, cảm thấy bấp bênh.

Có thể có nhiều sự trùng lập ý nghĩa trong phẩm Tâm. Tuy nhiên khi trở lại từng chữ từng dòng của từng câu kệ trong phẩm Tâm, chúng ta sẽ thấy những bài kệ được đề cập tại đây có thể làm kinh nhật tụng được, có thể làm những bài học thuộc lòngtâm niệm trong đời sống hằng ngày. Trong câu thứ ba của bài kệ số 39 puññapāpapahīnassa, có nghĩa là vị đã bỏ sau lưng apahīno, apahīna.  Nên chú ý chữ puññapāpa. Chữ puñña là phước, chữ pāpa là ác hạnh. Đây là chữ rất thú vị khi chúng ta đề cập đến hành hoạt của một vị Thánh nhân. Trong đời sống hằng ngày khi chúng ta làm việc thiện hay bất thiện đều có chủng tử của nhân quả, của luân hồi, đều tạo nghiệp. Riêng về việc thiện  đều mang tính cách tạo phúc, tạo đức nhưng với một vị đã giải thoát làm chỉ là làm, làm chỉ vì lòng bi mẫn thôi. Và tâm đại bi đó không phải dễ nhận định . Một người có thể thể hiện lòng đại bi, một người có thể sống hiện hữu trên cuộc đời này mà bỏ lại phía sau cái gọi là puññapāpa, cái thiện và cái ác, cái phúc và cái phi phúc, phi đức. Chữ puññapāpa chữ rất thú vị bởi vì chữ thiện như trong kinh Phật có nghĩa là khéo. Cái khéo, cái tốt có thể là một phần của vị Thánh nhân dĩ nhiên các Ngài không còn chủng tử tạo nghiệp, nhưng mang nhiều đặc tínhcủa cái mà chúng ta gọi là kusala. Khi nói đến puñña có ý nghĩa cái gì có sự đối đãi nhân quả trong đó. Vị bỏ lại phía sau tất cả nghiệp thiện hay bất thiện. Một vị Thánh nhân có thể quở trách một vị đệ tử hay một kẻ sát nhân và làm cho người đó cảm thấy xấu hổ hay một vị Thánh nhân có thể làm một chuyện rất đẹp như phục dịch Đức Phật, thuyết một bài pháp dài nhưng tất cả những điều đó không gọi là puñña hay pāpa vì vị đó đã bỏ quan niệm thiện ác phía sau lưng. Chúng ta rất khó tư nghì về hành hoạt và đời sống của một con người.

Không có đạo giáo nào trong thời kỳ nguyên thủy ít đề cập đến cái hành hoạt cứu cánh như đạo Phật. Khi đề ập đến diệt đế, đạo Phật dạy rằng đó là sự diệt khổ, nhưng những thế kỷ về sau này đặc biệt là từ thế kỷ thứ V trở đi người ta rất muốn nói đến cứu cánh giải thoát, rất muốn nói đến niết-bàn là gì, rất muốn nói đến các quả vị. Người ta nói đến Phật, đến Bồ-tát, đến La-Hán, nói đến những trạng thái giải thoát. Trong những trạng thái giải thoát đó người ta đề cập đến giáo lý Bất nhị, đến Không tánh, đến Bát nhã. Chúng ta cũng tìm thấy rất nhiều mô tả về một vị đã vượt ngoài tất cả. Tuy nhiên rất khó để chúng ta hình dung trọn vẹn hình ảnh của vị này. Dầu sao đi nữa trong kinh điển nguyên thủy cũng đã nhắc đến hình ảnh của một vị Thánh, vị đó sống trên, sống ngoài, không có những hệ lụy về nhân quả như chúng ta tìm thấy trong thế giới này.

Hai bài kệ số 38 và số 39 chỉ vỏn vẹn có tám câu nhưng đó là cuộc hành trình tu tập của người Phật tử từ đời sống phàm phu chuyển sang Thánh vức, từ bờ này sang bờ bên kia. Trong cuộc hành trình đó chúng ta có thể là một người đi qua trọn vẹn cuộc hành trình, chứ không phải là hai hạng người khác nhau mà chúng ta quan niệm là một người  người đáng khen và một người đáng chê. Vì khen hay chê cũng là ở chính chúng ta qua chính một con người. Ở đây vị Tỳ kheo Cittahattha sáu lần xuất gia và sáu lần hoàn tục. Trong thời gian đó tương ưng với bài kệ đầu và lần sau cùng lần thứ bảy lại có thể đi trọn con đường cao đẹp mà vị ấy chọn. Đức Phật dạy câu số 8 của bài kệ số 39 nói lên hình ảnh về một cái đẹp bất thối chuyển của một vị tỳ kheo mà cái nhìn thường tình không cảm nhận được. Một lần nữa chúng tôi xin nhắc lại,  cái nhìn của Đạo Phật rất bao dung bởi vì đạo Phật quan niệm rằng con người có thể rất xấu nhưng rồi ở một nhân duyên đặc biệt nào đó họ trở thành một bậc Thánh. Con người có thể có nhiều lần thất bại nhưng nếu chúng ta kiên nhẫn và nếu có đủ sự bao dung sẽ có thể trở thành cong người cao đẹp trong cuộc đời này.

Chỉ có đức Phật là bậc Vô Thượng Điều Ngự, Ngài thấy và hiểu được điều đó và Ngài có đức bao dung như vậy. Với cái nhìn thường thức chúng ta không thể nào đánh giá được cái nhìn này. Có thể nói đây là một trong những bài kệ kinh Pháp cú cá nhân chúng tôi rất thích đọc. Chúng tôi mong quý Phật tử sẽ dành nhiều thì giờ để đọc lại những câu kệ của phẩm Tâm này, bởi vì những câu kệ có thể dùng như những bài kinh nhật tụng.

Chúng tôi xin dứt lời tại đây

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật




.
Tạo bài viết
14/06/2010(Xem: 48376)
Khó có thể tưởng tượng một quốc gia có nền kinh tế, khoa học, văn hóa, quân sự ảnh hưởng đến toàn cầu lại không thể khống chế dịch bệnh Covid-19, dẫn đến tình trạng hơn 24 triệu ca nhiễm, gần 400 ngàn người chết (thống kê ngày 8-1-2021), cứ 14 người Mỹ thì có một nhiễm Covid-19, tỷ lệ thật khủng khiếp!
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Tổng thống Biden để gửi lời chúc mừng sâu sắc về việc ông trở thành Tổng thống của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Đại lễ Kính Mừng Đức Thích Ca Mâu Ni Thành Đạo đã được long trọng diễn ra vào lúc 11 giờ sáng Chủ Nhật ngày 29 tháng 12 năm 2019, tại Chùa Thiên Ân, cũng gọi là Trung Tâm Thiền Sa Mạc “Desert Zen Center”, tọa lạc tại thành phố Lucerne Valley, California, cách vùng Little Saigon miền Nam California khoảng hai giờ lái xe, hướng Đông Bắc.