Tiểu Sử Vắn Tắt Dartang Choktrul Chokyi Dawa Rinpoche (1894–1959)

20/05/20211:08 SA(Xem: 322)
Tiểu Sử Vắn Tắt Dartang Choktrul Chokyi Dawa Rinpoche (1894–1959)
TIỂU SỬ VẮN TẮT DARTANG CHOKTRUL CHOKYI DAWA RINPOCHE (1894–1959)
Nyoshul Khen Rinpoche[1] soạn | Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ


blank

Ngài Choktrul Chokyi Dawa sinh ra trong tộc Zimgak của những vị cai quản vùng Gyalrong ở vùng cực Đông của Tây Tạng. Đúng theo những tiên tri của nhiều đạo sư tôn quý, Ngài được công nhận từ khi còn nhỏ là vị tái sinh của cố đạo sư Dartang Choktrul và được đưa về trụ xứ Tu viện vĩ đại Dongak Shedrup Ling, một cộng đồng gồm hơn nghìn tu sĩ trên đồng bằng Dartang ở Golok. Ngài được cung nghênh bởi một đoàn rước chính thức từ toàn bộ cộng đồng Tu viện và dân chúng trong vùng, một đám đông với hàng nghìn người và được thiết lập trên ngai tòa vàng là một đạo sư của các giáo lý.

Ngài có những ký ức rõ ràng về các đời quá khứ và chỉ lướt qua thì đã cơ bản làm chủ mọi chủ đề mà Ngài nghiên cứu, chẳng hạn đọc và viết. Sau đấy, Ngài nghiên cứu với nhiều đạo sư, Tulku và giáo thọ, lắng nghe và quán chiếu về vô vàn chủ đề, bao gồm Luật Tạng, Bát Nhã, Tinh Túy Bí MậtTrung Đạo. Ngài từ bỏ cuộc đời của một vị chủ hộ và thọ giới Tỳ Kheo. Ngài là hiện thân chân chính của ba phẩm tính – ổn định, uyên bácđáng kính, chẳng bị vấy bẩn bởi lỗi lầm nhỏ nhất, đã sống theo các chuẩn mực của Tôn giả Upali[2] tôn quý. Bất kể Ngài ở đâu, hương thơm của sự trì giới từ Ngài bao trùm cả vùng đất. Mọi người đều thấy rõ rằng những vị hỗ trợ sức mạnh của điều thiện luôn đồng hành bên Ngài. Hành vi của Ngài Choktrul Chokyi Dawa hoàn toàn an bìnhthận trọng. Ngài luôn nghỉ ngơi trong thiền sâu, không chút dao động. Chẳng bị ô nhiễm bởi ngay cả lỗi lầm nhỏ nhất của sự bất cẩn hay vô ý, Ngài chính trực về đạo đức đến mức dân chúng trong vùng thường so sánh Ngài với hình ảnh của chính Đức Thế Tôn, luôn luôn trong trạng thái thiền định. Ngoại trừ sự thật rằng Ngài thường dùng trà, Ngài thật giống như bức tượng vàng đến mức dân chúng Golok thường nhắc đến Ngài là “đạo sư bức tượng vàng uống trà”.

Sau đấy, Ngài Choktrul Chokyi Dawa đến nghiên cứu với những đạo sư vĩ đại của Tu viện Palyul vinh quang, đặc biệt là với Penor Rinpoche Rigdzin Dupa; từ vị này, Ngài thọ nhận những giáo lý sâu xa của truyền thừa được truyền xuống từ Tổ Rigdzin Kunzang Sherab. Chúng bao gồm giáo lý Đại Viên Mãn Phật Quả Trong Bàn Tay, các pho Terma của Tổ Ratna Lingpa, pho Namcho và Hợp Nhất Ý Định Chư Đạo Sư.

Ngài cũng thọ nhận các trao truyền về Kho Tàng Giáo Lý Ẩn Giấu Quý Báu [Rinchen Terdzod], Kho Tàng Chỉ Dẫn Tâm Linh [Damngak Dzod], những giáo lý của trao truyền Kama, Tuyển Tập Mật Điển Trường Phái Nyingma và Kangyur quý báu. Đặc biệt, Ngài đã nghiên cứu các chỉ dẫn cốt tủy như bảo châu như ý: những chỉ dẫn sâu xa của cách tiếp cận Dzogchen, chẳng hạn Trekchod và Togal. Ngài cũng đưa chúng vào thực hành theo cách thức phi phàm, đạt được thành tựu thù thắng nhờ tinh tấn thiền định bất kể ngày đêm. Chatsa Rinpoche từ Tu viện Kathok từng nói rằng, “Khi chúng ta nói về một thành tựu giả của trường phái Nyingma trong thời kỳ sau này – ai đó đã đưa bốn linh kiến của Đại Viên Mãn đến sự hoàn thiện – điều đấy là về ai đó giống như Dartang Choktrul”. Tất cả chư đạo sư tôn quý đều cùng tán thán Ngài, trao cho Ngài những lời tán dương như vậy.

Choktrul Rinpoche đã chuyển Pháp luân tại Tu viện Dartang của chính Ngài, cũng như tại Tổ đình Palyul và bất kỳ Học viện nhánh nào mà Ngài viếng thăm. Ngài trở thành vị lãnh đạo của hàng nghìn vị tu sĩTu viện và sức ảnh hưởng của Ngài trở nên vô cùng mở rộng. Với tất cả công đức và sức ảnh hưởng như vậy, Ngài Choktrul Chokyi Dawa thật oai nghiêm như ngọn núi hùng vĩ, giành được sự kính trọng từ tất cả. Ngài thực sự là một đạo sư của những giáo lý trong thời kỳ sau này.

Ngài đã khởi xướng những khóa an cư kiết hạ truyền thốngnghi lễ tịnh hóa mỗi tháng, khi mà thành viên của cộng đồng tu sĩ làm mới lại giới luật. Ngài đã du hành đến Lhasa ở miền Trung Tây Tạng, nơi Ngài dâng cúng dường nhiều vàng và nước sạch trước những tôn tượng, chẳng hạn tôn tượng Đức Phật trong hai ngôi chùa chính. Tại Tu viện Dartang, Ngài thiết lập các Pháp hội Drubchen cũng như những nghi thức vào ngày Mười của chu kỳ Âm lịch. Ngài xây dựng nhiều chùa chiền, tôn tượnghình ảnh; xuất bản nhiều cuốn kinh văn; và cho làm nhiều Thangka dát vàng, cũng như cờ, lọng và nhiều vật phẩm khác. Theo những cách như vậy, Ngài đã tạo ra vô số đại diện giác ngộ.

Vì nhiều nhóm học trò khác nhau tại các vùng, Ngài Choktrul Chokyi Dawa đã trao truyền vô vàn giáo lý. Chúng bao gồm các giáo lý phổ thông của cả truyền thừa Kama và Terma của trường phái Cựu Dịch, cũng như Kho Tàng Giáo Lý Ẩn Giấu Quý Báu, Phật Quả Trong Bàn Tay, các pho trước và sau của giáo lý Nyingtik và chỉ dẫn sâu xa từ Tổ Ratna Lingpa. Ngài cũng truyền giới Sa DiTỳ Kheo cho hàng nghìn vị. Như thế, trong thời kỳ gần đây, Ngài là đại diện vĩ đại của truyền thừa giáo lý liên hệ với trung tâm Palyul vinh quang và là sức trang hoàng độc đáo cho giáo lý bí mật thù thắng. Ngài thực sự là một đạo sư vĩ đại, vị xuất hiện giống như mặt trời, với sự sáng ngời đem đến lợi lạchạnh phúc.

Trong vô số học trò và tâm tử của Ngài, Dzongnang Rinpoche và Gonjo Khochim Rinpoche đã cùng nhau thành lập [Tu viện] Minling Ngedon Gatsat Ling ở miền Bắc Ấn Độ[3] và cùng với Bum-nyang Khenpo Rabgye xuất sắc, các trung tâm khác, chẳng hạn Palyul Chokhor Ling tại khu định cư lưu vong Derge ở Bir. Ngày nay, Minling Trichen Rinpoche[4], ngọc báu vương miện của giáo lý trường phái Cựu Dịch, vẫn tiếp tục giữ gìn trụ xứ chính yếu Minling Ngedon Gatsal Ling trong khi Gonjo Khochim Tulku Rinpoche, Minling Khentrul Rinpoche và những vị khác điều hành Phật học viện (Shedra) và trung tâm nhập thất. Tại Palyul Chokhor Ling, Ringu Tulku Rinpoche và những vị khác đã xây dựng một ngôi chùa mới và chăm sóc cộng đồng Tăng đoàn.

Chính từ Choktrul Chokyi Dawa Rinpoche và Đức Lungtrul Shedrub Tenpai Nyima mà vị Drubwang Penor Rinpoche thứ ba – Jigme Thubten Shedrub Chokyi Drayang Pal Zangpo[5] đã thọ nhận các giáo lý về Mật điển của bí mật thù thắng.

 

Nguồn Anh ngữ: Nyoshul Khenpo Jamyang Dorje, A Marvelous Garland of Rare Gems – Biographies of Masters of Awareness in the Dzogchen Lineage [tạm dịch: Tràng Ngọc Báu Hiếm Có Tuyệt Diệu – Tiểu Sử Chư Đạo Sư Giác Tính Trong Truyền Thừa Dzogchen], Padma Publishing.

Richard Barron (Lama Chokyi Nyima) chuyển dịch Tạng-Anh.

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.



[2] Upali, một đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, vị đã hệ thống lại những giáo lý Luật Tạng Vinaya và được xem là trì giới đệ nhất.

[3] Gần Dehra Dun, bang Uttar Pradesh, Ấn Độ.

[4] Danh hiệu Minling Trichen nghĩa là “vị trì giữ ngai tòa tối cao của Mindrolling”.

Tạo bài viết
Biên cương thế giới ngày nay bị thu hẹp với nền viễn thông liên mạng tân tiến, trong khi nhận thức của các thế hệ trẻ lại được mở rộng và sớm sủa hơn, khiến niềm tin và lẽ sống chân thiện dễ bị lung lay, lạc hướng. Thông tin đa chiều với sự cố ý lạc dẫn từ những thế lực hoặc cá nhân vị kỷ, hám lợi, thúc đẩy giới trẻ vào lối sống hời hợt, hiểu nhanh sống vội, ham vui nhất thời, tạo nên hỗn loạn, bất an trên toàn cầu. Trước viễn ảnh đen tối như thế, con đường hoằng pháp của đạo Phật rất cần phải bắt nhịp với đà tiến của nền văn minh hiện đại, nhằm tiếp cận với từng cá nhân, quân bình đời sống xã hội, giới thiệu và hướng dẫn con đường mang lại an vui hạnh phúc cho mình, cho người.
Ni Sư Thích Nữ Diệu Hiếu, là vị Tiến Sĩ đầu tiên tốt nghiệp Thiền Vipassana tại Myanmar vào đầu năm 2016. Suốt 14 năm tu học tại Miến Điện. Tháng 07/2016 Ni Sư về lại Việt Nam, Ni Sư là giảng viên Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. HCM đến nay. Hội đủ duyên lành, được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất tại TP. HCM. Với tâm nguyện hoằng Pháp lợi sanh, Ni Sư xây dựng NI XÁ tại Tu Viện để có chỗ Ni Chúng Đệ Tử có nơi ở an tâm tu học.
Thế mới hay trên cõi đời này, bể khổ không do thần linh tạo ra mà do chính con người tạo ra. Xây dựng những công trình vĩ đại trên trái đất này là do con người và kiến tạo Địa Ngục cho chính mình cũng do con người. Do đó, ngay trong thế giới Ta Bà này đã có sẵn Địa Ngục và Thiên Đình, chẳng cần tìm kiếm Địa Ngục và Thiên Đình ở đâu xa. Có thể các giáo sĩ và thầy tu của một Cung Trời nào đó, khi nhìn xuống Trái Đất với đầy chiến tranh, hận thù, kỳ thị, ghét bỏ, chửi rủa, lên án, vu cáo nhau nhau từng giờ từng phút… sẽ nói với các tín đồ rằng “Ở đây có một địa ngục thật kinh khiếp. Những ai làm ác sẽ bị đày xuống Địa Ngục này!”