Tập 3 (Quyển 51-63)

07/05/201012:00 SA(Xem: 26767)
Tập 3 (Quyển 51-63)

KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
Hán dịch: Pháp Sư Huyền Trang
Việt dịch: Hòa Thượng Trí Nghiêm

 

TẬP 3 (Quyển 51 – 35)

Quyển thứ 51, Phẩm Áo Giáp Đại Thừa.


Bạch Thế Tôn! Bố thí Ba-la-mật-đa, không buộc, không mở; tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa, không buộc, không mở. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì tánh của bố thí Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên không buộc, không mở; vì tánh của tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bố thí Ba-la-mật-đa là viễn ly, nên không buộc, không mở; vì tánh của tịnh giới cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa là viễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bố thí Ba-la-mật-đa là tịch tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của tịnh giới cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa là tịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bố thí Ba-la-mật-đa là không, nên không buộc, không mở; vì tánh của tịnh giới cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bố thí Ba-la-mật-đa là vô tướng, nên không buộc, không mở; vì tánh của tịnh giới cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa là vô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bố thí Ba-la-mật-đa là vô nguyện, nên không buộc, không mở; vì tánh của tịnh giới cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa là vô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bố thí Ba-la-mật-đa là vô sanh, nên không buộc, không mở; vì tánh của tịnh giới cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa là vô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bố thí Ba-la-mật-đa là vô diệt, nên không buộc, không mở; vì tánh của tịnh giới cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bố thí Ba-la-mật-đa là vô nhiễm, nên không buộc, không mở; vì tánh của tịnh giới cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa là vô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bố thí Ba-la-mật-đa là vô tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của tịnh giới cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Bạch Thế Tôn! Năm loại mắt, không buộc, không mở; sáu phép thần thông, không buộc, không mở. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì tánh của năm loại mắt không có sở hữu, nên không buộc, không mở; vì tánh của sáu phép thần thông không có sở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của năm loại mắtviễn ly, nên không buộc, không mở; vì tánh của sáu phép thần thôngviễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của năm loại mắttịch tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của sáu phép thần thôngtịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của năm loại mắt là không, nên không buộc, không mở; vì tánh của sáu phép thần thông là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của năm loại mắtvô tướng, nên không buộc, không mở; vì tánh của sáu phép thần thôngvô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của năm loại mắtvô nguyện, nên không buộc, không mở; vì tánh của sáu phép thần thôngvô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của năm loại mắtvô sanh, nên không buộc, không mở; vì tánh của sáu phép thần thôngvô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của năm loại mắt là vô diệt, nên không buộc, không mở; vì tánh của sáu phép thần thông là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của năm loại mắtvô nhiễm, nên không buộc, không mở; vì tánh của sáu phép thần thôngvô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của năm loại mắt là vô tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của sáu phép thần thông là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Bạch Thế Tôn! Mười lực của Phật, không buộc, không mở; bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, không buộc, không mở. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì tánh của mười lực của Phật không có sở hữu, nên không buộc, không mở; vì tánh của bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng khôngsở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của mười lực Phật là viễn ly, nên không buộc, không mở; vì tánh của bốn điều không sợ cho đến trí nhất thiết tướng là viễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của mười lực Phật là tịch tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của bốn điều không sợ cho đến trí nhất thiết tướng là tịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của mười lực Phật là không, nên không buộc, không mở; vì tánh của bốn điều không sợ cho đến trí nhất thiết tướng là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của mười lực Phật là vô tướng, nên không buộc, không mở; vì tánh của bốn điều không sợ cho đến trí nhất thiết tướng là vô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của mười lực Phật là vô nguyện, nên không buộc, không mở; vì tánh của bốn điều không sợ cho đến trí nhất thiết tướng là vô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của mười lực Phật là vô sanh, nên không buộc, không mở; vì tánh của bốn điều không sợ cho đến trí nhất thiết tướng là vô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của mười lực Phật là vô diệt, nên không buộc, không mở; vì tánh của bốn điều không sợ cho đến trí nhất thiết tướng là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của mười lực Phật là vô nhiễm, nên không buộc, không mở; vì tánh của bốn điều không sợ cho đến trí nhất thiết tướng là vô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của mười lực Phật là vô tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của bốn điều không sợ cho đến trí nhất thiết tướng là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Bạch Thế Tôn! Chơn như, không buộc, không mở; pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, định pháp, trụ pháp, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, thật tế, tánh vô vi, không buộc, không mở. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì tánh của chơn như không có sở hữu, nên không buộc, không mở; vì tánh của pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, định pháp, trụ pháp, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, thật tế, tánh vô vi khôngsở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của chơn nhưviễn ly, nên không buộc, không mở; vì tánh của pháp giới cho đến tánh của vô viviễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của chơn nhưtịch tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của pháp giới cho đến tánh của vô vitịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của chơn như là không, nên không buộc, không mở; vì tánh của pháp giới cho đến tánh của vô vi là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của chơn nhưvô tướng, nên không buộc, không mở; vì tánh của pháp giới cho đến tánh của vô vivô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của chơn nhưvô nguyện, nên không buộc, không mở; vì tánh của pháp giới cho đến tánh của vô vivô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của chơn nhưvô sanh, nên không buộc, không mở; vì tánh của pháp giới cho đến tánh của vô vivô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của chơn như là vô diệt, nên không buộc, không mở; vì tánh của pháp giới cho đến tánh của vô vi là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của chơn nhưvô nhiễm, nên không buộc, không mở; vì tánh của pháp giới cho đến tánh của vô vivô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của chơn như là vô tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của pháp giới cho đến tánh của vô vi là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Bạch Thế Tôn! Bồ-đề, không buộc, không mở. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì tánh của Bồ-đề không có sở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Bồ-đề là viễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Bồ-đề là tịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Bồ-đề là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Bồ-đề là vô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Bồ-đề là vô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Bồ-đề là vô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Bồ-đề là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Bồ-đề là vô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Bồ-đề là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Bạch Thế Tôn! Tát-đỏa, không buộc, không mở. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì tánh của Tát-đỏa không có sở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Tát-đỏa là viễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Tát-đỏa là tịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Tát-đỏa là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Tát-đỏa là vô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Tát-đỏa là vô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Tát-đỏa là vô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Tát-đỏa là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Tát-đỏa là vô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của Tát-đỏa là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Bạch Thế Tôn! Đại Bồ-tát, không buộc, không mở. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì tánh của đại Bồ-tát không có sở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của đại Bồ-tát là viễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của đại Bồ-tát là tịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của đại Bồ-tát là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của đại Bồ-tát là vô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của đại Bồ-tát là vô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của đại Bồ-tát là vô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của đại Bồ-tát là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của đại Bồ-tát là vô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của đại Bồ-tát là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Bạch Thế Tôn! Quả vị giác ngộ cao tột, không buộc, không mở. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì tánh của quả vị giác ngộ cao tột không có sở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của quả vị giác ngộ cao tột là viễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của quả vị giác ngộ cao tột là tịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của quả vị giác ngộ cao tột là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của quả vị giác ngộ cao tột là vô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của quả vị giác ngộ cao tột là vô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của quả vị giác ngộ cao tột là vô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của quả vị giác ngộ cao tột là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của quả vị giác ngộ cao tột là vô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của quả vị giác ngộ cao tột là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Bạch Thế Tôn! Bậc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột, không buộc, không mở. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì tánh của bậc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột không có sở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bậc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột là viễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bậc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột là tịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bậc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bậc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột là vô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bậc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột là vô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bậc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột là vô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bậc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bậc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột là vô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của bậc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Bạch Thế Tôn! Nói tóm lại, tất cả pháp đều không buộc, không mở. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Vì tánh của tất cả pháp khôngsở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của tất cả pháp là viễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của tất cả pháp là tịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của tất cả pháp là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của tất cả pháp là vô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của tất cả pháp là vô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của tất cả pháp là vô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của tất cả pháp là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của tất cả pháp là vô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của tất cả pháp là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Khi ấy, Mãn Từ Tử hỏi Thiện Hiện: Tôn giả nói sắc không buộc, không mở; nói thọ, tưởng, hành, thức v.v... không buộc, không mở chăng?

Thiện Hiện đáp: Đúng vậy! Đúng vậy!

Mãn Từ Tử hỏi: Những sắc nào là không buộc, không mở? những thọ, tưởng, hành, thức ... nào là không buộc, không mở?

Thiện Hiện đáp: Sắc như huyễn là không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức như huyễn là không buộc, không mở. Sắc như mộng là không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức như mộng là không buộc, không mở. Sắc như ảnh tượng là không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức như ảnh tượng là không buộc, không mở. Sắc như tiếng vang là không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức như tiếng vang là không buộc, không mở. Sắc như bóng sáng là không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức như bóng sáng là không buộc, không mở. Sắc như hoa đốm giữa hư không là không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức như hoa đốm giữa hư không là không buộc, không mở. Sắc như bóng nắng là không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức như bóng nước là không buộc, không mở. Sắc như ảo thành là không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức như ảo thành là không buộc, không mở. Sắc như việc biến hóa là không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức như việc biến hóa là không buộc, không mở. Vì sao? Mãn Từ Tử! Vì tánh của sắc như huyễncho đến tánh của sắc như việc biến hóa không có sở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức như huyễncho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức như việc biến hóa không có sở hữu, nên không buộc, không mở; vì tánh của sắc như huyễn ... cho đến tánh của sắc như việc biến hóaviễn ly, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức như huyễn ... cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức như việc biến hóaviễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc như huyễn ... cho đến tánh của sắc như việc biến hóatịch tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức như huyễn ... cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức như việc biến hóatịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc như huyễn ... cho đến tánh của sắc như việc biến hóa là không, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức như huyễn ... cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức như việc biến hóa là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc như huyễn ... cho đến tánh của sắc như việc biến hóavô tướng, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức như huyễn ... cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức như việc biến hóavô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc như huyễn ... cho đến tánh của sắc như việc biến hóavô nguyện, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức như huyễn ... cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức như việc biến hóavô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc như huyễn ... cho đến tánh của sắc như việc biến hóavô sanh, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức như huyễn ... cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức như việc biến hóavô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc như huyễn ... cho đến tánh của sắc như việc biến hóa là vô diệt, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức như huyễn ... cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức như việc biến hóa là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc như huyễn ... cho đến tánh của sắc như việc biến hóavô nhiễm, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức như huyễn... cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức như việc biến hóavô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc như huyễn ... cho đến tánh của sắc như việc biến hóa là vô tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức như huyễn ... cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức như việc biến hóa là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Mãn Từ Tử! Sắc quá khứ không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức quá khứ không buộc, không mở. Sắc vị lai không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức vị lai không buộc, không mở. Sắc hiện tại không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức hiện tại không buộc, không mở. Vì sao? Mãn Từ Tử! Vì tánh của sắc quá khứ, vị lai, hiện tại không có sở hữu, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tại không có sở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc quá khứ, vị lai, hiện tạiviễn ly, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tạiviễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc quá khứ, vị lai, hiện tạitịch tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tạitịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc quá khứ, vị lai, hiện tại là không, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tại là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc quá khứ, vị lai, hiện tạivô tướng, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tạivô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc quá khứ, vị lai, hiện tạivô nguyện, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tạivô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc quá khứ, vị lai, hiện tạivô sanh, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tạivô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc quá khứ, vị lai, hiện tại là vô diệt, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tại là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc quá khứ, vị lai, hiện tạivô nhiễm, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tạivô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc quá khứ, vị lai, hiện tại là vô tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức quá khứ, vị lai, hiện tại là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Mãn Từ Tử! Sắc thiện, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức thiện không buộc, không mở. Sắc bất thiện, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức bất thiện, không buộc, không mở. Sắc vô ký, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức vô ký, không buộc, không mở. Vì sao? Mãn Từ Tử! Vì tánh của sắc thiện, bất thiện, vô ký khôngsở hữu, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức thiện, bất thiện, vô ký, không có sở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc thiện, bất thiện, vô kýviễn ly, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức thiện, bất thiện, vô kýviễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc thiện, bất thiện, vô kýtịch tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức thiện, bất thiện, vô kýtịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc thiện, bất thiện, vô ký là không, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức thiện, bất thiện, vô ký là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc thiện, bất thiện, vô kývô tướng, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức thiện, bất thiện, vô kývô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc thiện, bất thiện, vô kývô nguyện, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức thiện, bất thiện, vô kývô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc thiện, bất thiện, vô kývô sanh, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức thiện, bất thiện, vô kývô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc thiện, bất thiện, vô ký là vô diệt, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức thiện, bất thiện, vô ký là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc thiện, bất thiện, vô kývô nhiễm, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức thiện, bất thiện, vô kývô nhiễm , nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc thiện, bất thiện, vô ký là vô tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức thiện, bất thiện, vô ký là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Mãn Từ Tử! Sắc hữu nhiễm, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức hữu nhiễm, không buộc, không mở. Sắc vô nhiễm, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức vô nhiễm, không buộc, không mở. Sắc hữu tội, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức hữu tội, không buộc, không mở. Sắc vô tội, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức vô tội, không buộc, không mở. Sắc hữu lậu, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức hữu lậu, không buộc, không mở. Sắc vô lậu, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức vô lậu, không buộc, không mở. Sắc tạp nhiễm, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức tạp nhiễm, không buộc, không mở. Sắc thanh tịnh, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức thanh tịnh, không buộc, không mở. Sắc thế gian, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức thế gian, không buộc, không mở. Sắc xuất thế gian, không buộc, không mở; thọ, tưởng, hành, thức xuất thế gian, không buộc, không mở. Vì sao? Mãn Từ Tử! Vì tánh của sắc hữu nhiễm cho đến tánh của sắc xuất thế gian không có sở hữu, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức hữu nhiễm cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức xuất thế gian không có sở hữu, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc hữu nhiễm cho đến tánh của sắc xuất thế gianviễn ly, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức hữu nhiễm cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức xuất thế gianviễn ly, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc hữu nhiễm cho đến tánh của sắc xuất thế giantịch tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức hữu nhiễm cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức xuất thế giantịch tịnh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc hữu nhiễm cho đến tánh của sắc xuất thế gian là không, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức hữu nhiễm cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức xuất thế gian là không, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc hữu nhiễm cho đến tánh của sắc xuất thế gianvô tướng, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức hữu nhiễm cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức xuất thế gianvô tướng, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc hữu nhiễm cho đến tánh của sắc xuất thế gianvô nguyện, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức hữu nhiễm cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức xuất thế gianvô nguyện, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc hữu nhiễm cho đến tánh của sắc xuất thế gianvô sanh, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức hữu nhiễm cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức xuất thế gianvô sanh, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc hữu nhiễm cho đến tánh của sắc xuất thế gian là vô diệt, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức hữu nhiễm cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức xuất thế gian là vô diệt, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc hữu nhiễm cho đến tánh của sắc xuất thế gianvô nhiễm, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức hữu nhiễm cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức xuất thế gianvô nhiễm, nên không buộc, không mở. Vì tánh của sắc hữu nhiễm cho đến tánh của sắc xuất thế gian là vô tịnh, nên không buộc, không mở; vì tánh của thọ, tưởng, hành, thức hữu nhiễm cho đến tánh của thọ, tưởng, hành, thức xuất thế gian là vô tịnh, nên không buộc, không mở.

Mãn Từ Tử! Sắc, thọ, tưởng, hành, thức như vậy không buộc, không mở, nên biết như vậy thì nhãn xứ cho đến ý xứ, sắc xứ cho đến pháp xứ; nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, cho đến ý giới, pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra; địa giới cho đến thức giới; Thánh đế khổ, cho đến thánh đế đạo; vô minh cho đến lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não; cái không nội cho đến cái không không tánh tự tánh; bốn tịnh lự cho đến bốn định vô sắc; bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo; pháp môn giải thoát không cho đến pháp môn giải thoát vô nguyện; bố thí Ba-la-mật-đa cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa; năm loại mắt, sáu phép thần thông; mười lực của Phật cho đến trí nhất thiết tướng; chơn như cho đến vô vi; Bồ-đề, Tát-đỏa, đại Bồ-tát, quả vị giác ngộ cao tột, bậc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột, tất cả pháp tương ưng với các pháp đó, lại cũng không buộc, không mở như vậy.

Mãn Từ Tử! Các đại Bồ-tát đối với pháp môn, không buộc, không mở như vậy, lấy vô sở đắc làm phương tiện, nên biết như thật; đối với bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo, pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện, bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa, năm loại mắt, sáu phép thần thông, mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng không buộc, không mở như vậy, lấy vô sở đắc làm phương tiện, nên siêng năng tu học.

Mãn Từ Tử! Các đại Bồ-tát, lấy vô sở đắc làm phương tiện, nên an trú bốn tịnh lự, không buộc, không mở cho đến nên an trú trí nhất thiết tướng, không buộc, không mở; lấy vô sở đắc làm phương tiện, nên thành thục hữu tình, không buộc, không mở, nên nghiêm tịnh cõi Phật, không buộc, không mở, nên thân cận cúng dường chư Phật, không buộc, không mở, nên nghe, nhận lãnh pháp môn, không buộc, không mở.

Mãn Từ Tử! Đại Bồ-tát ấy, thường chẳng xa lìa chư Phật Thế Tôn, không buộc, không mở; thường chẳng xa lìa năm loại mắt thanh tịnh, không buộc, không mở; thường chẳng xa lìa sáu phép thần thông thù thắng, không buộc, không mở; thường chẳng xa lìa pháp môn Đà-la-ni, không buộc, không mở; thường chẳng xa lìa pháp môn Tam-ma-địa, không buộc, không mở.

Mãn Từ Tử! Đại Bồ-tát ấy sẽ phát sanh trí đạo tướng, không buộc, không mở; sẽ chứng đắc trí nhất thiết, trí nhất thiết tướng, không buộc, không mở; sẽ chuyển pháp luân, không buộc, không mở; sẽ dùng pháp Ba-thừa, không buộc, không mở, an lập các hữu tình, không buộc, không mở.

Này Mãn Từ Tử! Nếu đại Bồ-tát tu hành sáu phép Ba-la-mật-đa, không buộc, không mở, thì sẽ chứng đắc, không buộc, không mở, vì tất cả pháp khôngsở hữu, viễn ly, tịch tịnh, không, vô tướng, vô nguyện, vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh đều không buộc, không mở.

Mãn Từ Tử! Nên biết, đại Bồ-tát ấy, gọi là người mặc áo giáp Đại-thừa không buộc, không mở.

XV. PHẨM BIỆN ĐẠI-THỪA

01

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Vì sao biết được tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát? Vì sao biết được sự phát tâm hướng đến Đại-thừa của đại Bồ-tát? Đại-thừa đó từ đâu mà ra, đến trụ ở nơi nào? Đại-thừa ấy làm thế nào mà trụ? Ai nương Đại-thừa ấy mà xuất hiện?

Phật bảo: Thiện Hiện! Ngươi hỏi vì sao mà biết được cái tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát? Sáu phép Ba-la-mật-đa là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát. Những gì là sáu? Đó là bố thí Ba-la-mật-đa, tịnh giới Ba-la-mật-đa, an nhẫn Ba-la-mật-đa, tinh tấn Ba-la-mật-đa, tịnh lự Ba-la-mật-đa, Bát-nhã-ba-la-mật-đa.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là bố thí Ba-la-mật-đa của đại Bồ-tát?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát phát tâm tương ưng với trí nhất thiết tríđại bi làm đầu, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tự bố thí tất cả sở hữu trong ngoài, cũng khuyên người khác bố thí sở hữu trong ngoài. Duy trì thiện căn này, cùng với tất cả hữu tình đồng hồi hướng quả vị giác ngộ cao tột, thì này Thiện Hiện, đó là bố thí Ba-la-mật-đa của đại Bồ-tát.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là tịnh giới Ba-la-mật-đa của đại Bồ-tát?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát phát tâm tương ưng với trí nhất thiết tríđại bi làm đầu, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tự an trú mười thiện nghiệp đạo, cũng khuyên người khác an trú muời thiện nghiệp đạo, duy trì thiện căn này, cùng với tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị giác ngộ cao tột, thì này Thiện Hiện, đó là tịnh giới Ba-la-mật-đa của đại Bồ-tát.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là an nhẫn Ba-la-mật-đa của đại Bồ-tát?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát phát tâm tương ưng với trí nhất thiết tríđại bi làm đầu, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tự làm đầy đủ và tăng thượng an nhẫn, cũng khuyên người khác làm đầy đủ và tăng thượng an nhẫn, duy trì thiện căn này, cùng với tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị giác ngộ cao tột, thì này Thiện Hiện, đó là an nhẫn Ba-la-mật-đa của đại Bồ-tát.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là tinh tấn Ba-la-mật-đa của đại Bồ-tát?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát phát tâm tương ưng với trí nhất thiết tríđại bi làm đầu, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với sáu phép Ba-la-mật-đa, tự siêng năng tu tập chẳng dừng nghỉ, cũng khuyên người khác đối với sáu phép Ba-la-mật-đa, siêng năng tu tập chẳng dừng nghỉ, duy trì thiện căn này, cùng với tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị giác ngộ cao tột, thì này Thiện Hiện, đó là tinh tấn Ba-la-mật-đa của đại Bồ-tát.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là tịnh lự Ba-la-mật-đa của đại Bồ-tát?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát phát tâm tương ưng với trí nhất thiết tríđại bi làm đầu, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tự mình có thể khéo léo nhập vào các tịnh lự vô lượng, vô sắc, hoàn toàn chẳng theo thế lực ấy mà thọ sanh, cũng có thể khuyên người khác nhập vào các tịnh lự, vô lượng, vô sắc giống như sự khéo léo của mình, duy trì thiện căn này, cùng với tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị giác ngộ cao tột, thì này Thiện Hiện, đó là tịnh lự Ba-la-mật-đa của đại Bồ-tát.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là Bát-nhã-ba-la-mật-đa của đại Bồ-tát?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát phát tâm tương ưng với trí nhất thiết tríđại bi làm đầu, lấy vô sở đắc làm phương tiện, có khả năng tự quán sát như thật tất cả pháp tánh, đối với các pháp tánh, không có sự chấp trước, cũng khuyên người khác quán sát như thật tất cả pháp tánh, đối với các pháp tánh, không có sự chấp trước, duy trì thiện căn này, cùng với tất cả hữu tình, đồng hồi hướng quả vị giác ngộ cao tột, thì này Thiện Hiện, đó là Bát-nhã-ba-la-mật-đa của đại Bồ-tát.

Thiện Hiện! Nên biết, đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là cái không nội, cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh. Đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là nội không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nội nghĩa là nội pháp, tức là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Trong đó, nhãn gắn liền với cái không của nhãn. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy; nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý gắn liền với cái không của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là nội không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là ngoại không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Ngoại nghĩa là ngoại pháp, tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Trong đó, sắc gắn liền với cái không của sắc. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thanh, hương, vị, xúc, pháp gắn liền với cái không của thanh, hương, vị, xúc, pháp. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là ngoại không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là nội ngoại không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nội ngoại nghĩa là nội, ngoại pháp, tức là nội lục xứ, ngoại lục xứ. Trong đó, nội lục xứ gắn liền với cái không của ngoại lục xứ. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Ngoại lục xứ gắn liền với cái không của nội lục xứ. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là nội, ngoại không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là không không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Không nghĩa là tất cả pháp đều không. Cái không này gắn liền với cái không của không. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là không không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Đại nghĩamười phương, tức là đông, nam, tây, bắc, tứ vi, thượng, hạ. Trong đó, phương đông gắn liền với cái không của phương đông. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Phương nam, tây, bắc, tứ vi, thượng, hạ gắn liền với cái không của phương nam, tây, bắc, tứ vi, thượng, hạ. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là đại không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là thắng nghĩa không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Thắng nghĩa nghĩa là Niết bàn. Thắng nghĩa này gắn liền với cái không của thắng nghĩa. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là thắng nghĩa không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là hữu vi không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Hữu vi nghĩa là Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới. Trong đó, Dục giới gắn liền với cái không của Dục giới. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Sắc, Vô Sắc giới gắn liền với cái không của Sắc, Vô Sắc giới. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là hữu vi không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là vô vi không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Vô vi nghĩa là không sanh, không trụ, không dị, không diệt. Vô vi này gắn liền với cái không của vô vi. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là vô vi không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là tất cánh không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Tất cảnh nghĩa là cái rốt cùng của các pháp, chẳng thể nắm bắt được. Cái rốt cùng này gắn liền với cái không rốt cùng. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là tất cánh không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là vô tế không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Vô tế nghĩa là không có ranh giới giữa cái khởi đầu, ở giữa và sau cùng, có thể nắm bắt được, và không có cái ranh giới giữa đi và đến, có thể nắm bắt được. Vô tế này gắn liền với cái không của vô tế. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là vô tế không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là tán không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Tán nghĩa là có buông, có bỏ, có xả, có thể nắm bắt được. Tán này gắn liền với cái không của tán. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là tán không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là vô biến dị không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Vô biến dị nghĩa là không buông, không bỏ, không xả, có thể nắm bắt được. Cái vô biến dị này gắn liền với cái không của vô biến dị. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là vô biến dị không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là bản tánh không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Bản tánh nghĩa là bản tánh của tất cả pháp, hoặc tánh của pháp hữu vi, hoặc tánh của pháp vô vi, đều chẳng phải Thanh-văn làm ra, chẳng phải Độc-giác làm ra, chẳng phải Bồ-tát làm ra, chẳng phải Như Lai làm ra, cũng chẳng phải ai khác làm ra. Bản tánh này gắn liền với cái không của bản tánh. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là bản tánh không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là tự tướng không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Tự tướng nghĩa là tự tướng của tất cả pháp, như biến ngại là tự tuớng của sắc, lãnh nạptự tướng của thọ, thủ tượng là tự tướng của tưởng, tạo tác là tự tướng của hành, liễu biệttự tướng của thức; hoặc là tự tướng của pháp hữu vi, hoặc là tự tướng của pháp vô vi, cũng như vậy. Tự tướng này gắn liền với cái không của tự tướng. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là tự tướng không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là cộng tướng không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Cộng tướng nghĩa là tướng chung của tất cả pháp. Như khổ là cộng tướng của pháp hữu lậu, vô thườngcộng tướng của pháp hữu vi; không, vô ngãcộng tướng của tất cả pháp, có vô lượng cộng tướng như vậy. Cộng tướng này gắn liền với cái không của cộng tướng. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là cộng tướng không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là nhất thiết pháp không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nhất thiết pháp nghĩa là pháp năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, hoặc là pháp hữu sắc, vô sắc, hữu kiến, vô kiến, hữu đối, vô đối, hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi. Nhất thiết pháp này gắn liền với cái không của nhất thiết pháp. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là nhất thiết pháp không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là bất khả đắc không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Bất khả đắc nghĩa là trong tất cả pháp này, chẳng thể nắm bắt được, hoặc quá khứ chẳng thể nắm bắt được, vị lai chẳng thể nắm bắt được, hiện tại chẳng thể nắm bắt được; hoặc trong quá khứ không có vị lai hiện tại, có thể nắm bắt được; hoặc trong vị lai không có quá khứ, hiện tại, có thể nắm bắt được; hoặc trong hiện tại không có quá khứ, vị lai, có thể nắm bắt được. Bất khả đắc này gắn liền với cái không của bất khả đắc. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là bất khả đắc không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là vô tánh không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Vô tánh nghĩa là không có một mảy may tánh có thể nắm bắt được. Vô tánh này gắn liền với cái không của vô tánh. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là vô tánh không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là tự tánh không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Tự tánh nghĩa là tự tánh năng hòa hợp của các pháp. Tự tánh này gắn liền với cái không của tự tánh. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là tự tánh không.

Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là vô tánh tự tánh không?

Phật dạy: Thiện Hiện! Vô tánh tự tánh nghĩa là các pháp không có tánh năng hòa hợp nhưng có tự tánh sở hòa hợp. Vô tánh tự tánh này gắn liền với cái không của vô tánh tự tánh. Vì sao? Vì chẳng phải thường, chẳng phải hoại, bản tánh là như vậy. Thiện Hiện! Đó là vô tánh tự tánh không.

Lại nữa, Thiện Hiện! Hữu tánh gắn liền với cái không của hữu tánh; vô tánh gắn liền với cái không của vô tánh; tự tánh gắn liền với cái không của tự tánh; tha tánh gắn liền với cái không của tha tánh.

Thế nào là hữu tánh gắn liền với cái không của hữu tánh? Hữu tánh nghĩa là năm uẩn. Hữu tánh này gắn liền với cái không của hữu tánh. Vì tánh sanh của năm uẩn chẳng thể nắm bắt được. Đó là hữu tánh gắn liền với cái không của hữu tánh.

Thế nào là vô tánh gắn liền với cái không của vô tánh? Vô tánh nghĩa là vô vi. Vô tánh này gắn liền với cái không của vô tánh. Đó là vô tánh gắn liền với cái không của vô tánh.

Thế nào là tự tánh gắn liền với cái không của tự tánh? Nghĩa là tự tánh của tất cả pháp đều là không. Không này chẳng phải do trí làm ra, chẳng phải do kiến làm ra, cũng chẳng phải do cái gì khác làm ra. Đó là tự tánh gắn liền với cái không của tự tánh.

Thế nào là tha tánh gắn liền với cái không của tha tánh? Nghĩa là hoặc Phật xuất thế, hoặc chẳng xuất thế, tất cả pháp, pháp trụ, pháp định, pháp tánh, pháp giới, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, chơn như, tánh bất hư vọng, tánh bất biến dị, thật tế, đều gắn liền với tha tánh nên là không. Đó là tha tánh gắn liền với cái không của tha tánh.

Thiện Hiện! Nên biết, đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

 

Quyển Thứ 51

HẾT

 

 

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là Tam-ma-địa Kiện hành, Tam-ma-địa Bảo ấn, Tam-ma-địa Sư tử du hý, Tam-ma-địa Diệu nguyệt, Tam-ma-địa Nguyệt tràng tướng, Tam-ma-địa Nhất thiết pháp dũng, Tam-ma-địa Quán đỉnh, Tam-ma-địa Pháp giới quyết định, Tam-ma-địa Quyết định tràng tướng, Tam-ma-địa Kim-cang-dụ, Tam-ma-địa Nhập pháp ấn, Tam-ma-địa Vương, Tam-ma-địa Thiện an trú, Tam-ma-địa Thiện lập định vương, Tam-ma-địa Phóng quang, Tam-ma-địa Vô vong thất, Tam-ma-địa Phóng quang vô vong thất, Tam-ma-địa Tinh tấn lực, Tam-ma-địa Trang nghiêm lực, Tam-ma-địa Đẳng dũng, Tam-ma-địa Nhập nhất thiết ngôn từ quyết định, Tam-ma-địa Nhập nhất thiết danh tự quyết định, Tam-ma-địa Quán phương, Tam-ma-địa Tổng trì ấn, Tam-ma-địa Chư pháp đẳng thú hải ấn, Tam-ma-địa Vương ấn, Tam-ma-địa Biến phú hư không, Tam-ma-địa Kim-cang luân, Tam-ma-địa Tam luân thanh tịnh, Tam-ma-địa Vô lượng quan, Tam-ma-địa Vô trước vô chướng, Tam-ma-địa Đoạn chư pháp luân, Tam-ma-địa Khứ xả trân bửu, Tam-ma-địa Biến chiếu, Tam-ma-địa Bất thuấn, Tam-ma-địa Vô tướng trụ, Tam-ma-địa Bất tư duy, Tam-ma-địa Hàng phục tứ ma, Tam-ma-địa Vô cấu đăng, Tam-ma-địa Vô biên quang, Tam-ma-địa Phát quang, Tam-ma-địa Phổ chiếu, Tam-ma-địa Tịnh kiên định, Tam-ma-địa Sư tử phấn tấn, Tam-ma-địa Sư tử tần thân, Tam-ma-địa Sư tử khiếm khư, Tam-ma-địa Vô cấu quang, Tam-ma-địa Diệu lạc, Tam-ma-địa Điển đăng, Tam-ma-địa Vô tận, Tam-ma-địa Tối thắng tràng tướng, Tam-ma-địa Đế tướng, Tam-ma-địa Thuận minh chánh lưu, Tam-ma-địa Cụ oai quang, Tam-ma-địa Ly tận, Tam-ma-địa Bất khả động chuyển, Tam-ma-địa Tịch tịnh, Tam-ma-địa Vô hà khích, Tam-ma-địa Nhật đăng, Tam-ma-địa Tịnh nguyệt, Tam-ma-địa Tịnh nhãn, Tam-ma-địa Tịnh quang, Tam-ma-địa Nguyệt đăng, Tam-ma-địa Phát minh, Tam-ma-địa Ưng tác bất ưng tác, Tam-ma-địa Trí tướng, Tam-ma-địa Kim-cang man, Tam-ma-địa Trụ tâm, Tam-ma-địa Phổ minh, Tam-ma-địa Diệu an lập, Tam-ma-địa Bửu tích, Tam-ma-địa Diệu pháp ấn, Tam-ma-địa Nhất thiết pháp bình đẳng tánh, Tam-ma-địa Khí xả trần ái, Tam-ma-địa Pháp dũng viên mãn, Tam-ma-địa Nhập pháp đỉnh, Tam-ma-địa Bửu tánh, Tam-ma-địa Xả huyên tránh, Tam-ma-địa Phiêu tán, Tam-ma-địa Phân biệt pháp cú, Tam-ma-địa Quyết định, Tam-ma-địa Vô cấu hạnh, Tam-ma-địa Tự bình đẳng tướng, Tam-ma-địa Ly văn tự tướng, Tam-ma-địa Đoạn sở duyên, Tam-ma-địa Vô biến dị, Tam-ma-địa Vô phẩm loại, Tam-ma-địa Nhập danh tướng, Tam-ma-địa Vô sở tác, Tam-ma-địa Nhập quyết định danh, Tam-ma-địa Vô tướng hạnh, Tam-ma-địa Ly ế ám, Tam-ma-địa Cụ hành, Tam-ma-địa Bất biến động, Tam-ma-địa Độ cảnh giới, Tam-ma-địa Tập nhất thiết công đức, Tam-ma-địa Vô tâm trụ, Tam-ma-địa Quyết định trụ, Tam-ma-địa Tịnh diệu hoa, Tam-ma-địa Cụ giác chi, Tam-ma-địa Vô biên biện, Tam-ma-địa Vô biên đăng, Tam-ma-địa Vô đẳng đẳng, Tam-ma-địa Siêu nhất thiết pháp, Tam-ma-địa Quyết phán chư pháp, Tam-ma-địa Tản nghi, Tam-ma-địa Vô sở trụ, Tam-ma-địa Nhất tướng trang nghiêm, Tam-ma-địa Dẫn phát hành tướng, Tam-ma-địa Nhất hành tướng, Tam-ma-địa Ly chư hành tướng, Tam-ma-địa Diệu hạnh, Tam-ma-địa Đạt chư hữu để viễn ly, Tam-ma-địa Nhập nhất thiết thi thiết ngữ ngôn, Tam-ma-địa Kiên cố bảo, Tam-ma-địa Ư nhất thiết pháp vô sở thủ trước, Tam-ma-địa Điển diệm trang nghiêm, Tam-ma-địa Trừ khiển, Tam-ma-địa Vô thắng, Tam-ma-địa Pháp cự, Tam-ma-địa Tuệ đăng, Tam-ma-địa Thú hướng bất thối chuyển thần thông, Tam-ma-địa Giải thoát âm thanh văn tự, Tam-ma-địa Cự sí nhiên, Tam-ma-địa Nghiêm tịnh tướng, Tam-ma-địa Vô tướng, Tam-ma-địa Vô trược nhẫn tướng, Tam-ma-địa Cụ nhất thiết diệu tướng, Tam-ma-địa Cụ tổng trì, Tam-ma-địa Bất hỷ nhất thiết khổ lạc, Tam-ma-địa Vô tận hành tướng, Tam-ma-địa Nhiếp phục nhất thiết chánh tà tánh, Tam-ma-địa Đoạn tắng ái, Tam-ma-địa Ly vi thuận, Tam-ma-địa Vô cấu minh, Tam-ma-địa Cực kiên cố, Tam-ma-địa Mãn nguyệt tịnh quang, Tam-ma-địa Đại trang nghiêm, Tam-ma-địa Vô nhiệt điển quang, Tam-ma-địa Năng chiếu nhất thiết thế gian, Tam-ma-địa Năng cứu nhất thiết thế gian, Tam-ma-địa Định bình đẳng tánh, Tam-ma-địa Vô trần hữu trần bình đẳng lý thú, Tam-ma-địa Vô tránh hữu tránh bình đẳng lý thú, Tam-ma-địa Vô sào huyệt vô tiêu xí vô ái lạc, Tam-ma-địa Quyết định an trụ chơn như, Tam-ma-địa Khí trung dũng xuất, Tam-ma-địa Thiêu chư phiền não, Tam-ma-địa Đại trí tuệ cự, Tam-ma-địa Xuất sanh thập lực, Tam-ma-địa Khai xiển, Tam-ma-địa Hoại thân ác hạnh, Tam-ma-địa Hoại ngữ ác hạnh, Tam-ma-địa Hoại ý ác hạnh, Tam-ma-địa Thiện quán sát, Tam-ma-địa Như hư không, Tam-ma-địa Vô nhiễm trước như hư không. Có vô lượng trăm ngàn Tam-ma-địa như vậy, là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Kiện hành?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, mà có khả năng thọ tất cả cảnh giới Tam-ma-địa, có khả năng thực hành vô biên kiện hành thù thắng, có khả năng dẫn đầu tất cả đẳng trì, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Kiện hành.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Bảo ấn?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng thấu triệt tất cả cảnh giới Tam-ma-địa và quyết định hành tướng việc làm, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Bảo ấn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Sư tử du hý?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, du hý tự tại, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Sư tử du hý.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Diệu nguyệt?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, như mặt trăng tròn đầy trong sáng chiếu khắp các định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Diệu nguyệt.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nguyệt tràng tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng chấp trì hết tất cả tướng định, như mặt trăng tròn đầy trong sáng tỏa xuống luồng ánh sáng vi diệu, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nguyệt tràng tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhất thiết pháp dũng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng xuất hết các Tam-ma-địa, như suối, ao lớn phun ra các dòng nước, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhất thiết pháp dũng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Quán đỉnh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng quán đến điểm cao nhất của tất cả Tam-ma-địa, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Quán đỉnh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Pháp giới quyết định?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, quyết định chiếu rõ tất cả pháp giới, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Pháp giới quyết định.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Quyết định tràng tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng quyết định duy trì vững chắc các định tràng tướng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Quyết định tràng tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Kim-cang-dụ?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng làm chủ các định, chẳng bị các định kia lôi cuốn, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Kim-cang-dụ.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhập pháp ấn?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng chứng nhập hết tất cả pháp ấn, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhập pháp ấn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa vương Tam-ma-địa?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, thống nhiếp các định tự tại như vua, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa vương Tam-ma-địa.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Thiện an trú?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khéo duy trì các công đức, chẳng khiến khuynh động, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Thiện an trú.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Thiện lập định vương?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các định vương, có khả năng khéo kiến lập, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Thiện lập định vương.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Phóng quang?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với ánh sáng của các định, có khả năng khai phát hết, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Phóng quang.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô vong thất?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với hành tướng của cảnh giới các đẳng trì, có khả năng ghi nhớ không sót cảnh nào, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô vong thất.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Phóng quang vô vong thất?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, phóng ánh sáng định thù thắng, chiếu các loại hữu tình, khiến họ nhớ lại những việc đã qua, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Phóng quang vô vong thất.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tinh tấn lực?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng phát ra sức mạnh tinh tấn của các định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tinh tấn lực.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Trang nghiêm lực?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng dẫn phát sức mạnh trang nghiêm của các định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Trang nghiêm lực.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Đẳng dũng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến cho các đẳng trì bình đẳng hiện ra, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Đẳng dũng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhập nhất thiết ngôn từ quyết định?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với khắp tất cả ngôn từ quyết định đều có khả năng ngộ nhập, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhập nhất thiết ngôn từ quyết định.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhập nhất thiết danh tự quyết định?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với khắp tất cả danh tự quyết định đều có khả năng ngộ nhập, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhập nhất thiết danh tự quyết định.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Quán phương?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với hướng đến của các định, có khả năng quán chiếu khắp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Quán phương.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tổng trì ấn?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng giữ gìn hết ấn tượng của các diệu định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tổng trì ấn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Chư pháp đẳng thú hải ấn?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến cho các định thù thắng đều thu nhập, như đại hải ấn, nhiếp thọ các dòng sông, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Chư pháp đẳng thú hải ấn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vương ấn?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến các sự nghiệp đều được quyết định, như được ấn của vua, điều mong muốn đều thành tựu, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vương ấn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Biến phú hư không?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, có khả năng bảo hộ che chở, không có chỗ trống, như hư không rộng lớn, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Biến phú hư không.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Kim-cang luân?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng giữ gìn hết tất cả định thù thắng, khiến chẳng tan hoại, như bánh xe Kim-cang, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Kim-cang luân.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tam luân thanh tịnh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chẳng chấp trước các định, người nhập định và cảnh định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tam luân thanh tịnh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô lượng quang?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, phóng các thứ ánh sáng, vựot qua các số lượng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô lượng quang.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa vô trước vô chướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với tất cả pháp, không chấp không ngại, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa vô trước vô chướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Đoạn chư pháp luân?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng cắt đứt tất cả các pháp lưu chuyển, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Đoạn chư pháp luân.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Khí xả trân bảo?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với tướng của các định đều xả bỏ, huống là chẳng xả bỏ tướng của các phiền não, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Khí xả trân bảo.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Biến chiếu?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chiếu khắp các định, khiến ánh sáng các định ấy hiện rõ, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Biến chiếu.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Bất thuấn?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với đẳng trì này, tâm ý chuyên nhất, với các định khác, pháp khác, không thủ, không cầu, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Bất thuấn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô tướng trụ?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chẳng thấy các pháp địnhmảy may tướng có thể an trụ, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô tướng trụ.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Bất tư duy?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chẳng khởi tất cả tâm và tâm sở, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Bất tư duy.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Hàng phục tứ ma?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với bốn thứ ma oán, đều có khả năng hàng phục, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Hàng phục tứ ma.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô cấu đăng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, như cầm đèn tịnh chiếu rõ các định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô cấu đăng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô biên quang?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng phát ánh sáng lớn chiếu sáng vô cùng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô biên quang.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Phát quang?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chiếu các đẳng trì, khiến không gián đoạn, dẫn phát các thứ ánh sáng thù thắng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Phát quang.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Phổ chiếu?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các môn định đều có khả năng chiếu khắp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Phổ chiếu.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tịnh kiên định?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chứng đắc tánh thanh tịnh bình đẳng của các đẳng trì, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tịnh kiên định.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Sư tử phấn tấn?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các cấu uế, dù tùy ý xả bỏ, như sư tử chúa hùng dũng tiến tới, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Sư tử phấn tấn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Sư tử tần thân?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, phát khởi thần thông thù thắng, tự tại vô úy, hàng phục tất cả ma quân bạo ác, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Sư tử tần thân.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Sư tử khiếm khư?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, dẫn phát biện tài khéo léo, ở chỗ đông không sợ sệt, phá dẹp tất cả tà tông ngoại đạo, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Sư tử khiếm khư.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô cấu quang?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng dứt trừ tất cả cấu uế của định, cũng có khả năng chiếu khắp các đẳng trì thù thắng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô cấu quang.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Diệu lạc?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, lãnh thọ niềm vui nhiệm màu của tất cả đẳng trì, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Diệu lạc.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Điển đăng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chiếu các đẳng trì như ánh sáng điện chớp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Điển đăng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô tận?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, dẫn phát khởi công đức vô tận của các đẳng trì mà chẳng thấy tướng tận, chẳng tận của nó, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô tận.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tối thắng tràng tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, vượt lên trên tướng các định, như cờ tối thắng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tối thắng tràng tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Đế tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, chứng đắc tướng tự tại, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Đế tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Thuận minh chánh lưu?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với dòng định tưởng sáng suốt, chơn chánh, hoàn toàn tùy thuận, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Thuận minh chánh lưu.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Cụ oai quang?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, riêng nó oai quang tràn đầy, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Cụ oai quang.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Ly tận?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, thấy các đẳng trì, tất cả đều vô tận, mà chẳng thấy tướng của một mảy may pháp nào có tận hoặc chẳng tận, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Ly tận.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Bất khả động chuyển?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến các đẳng trì không động, không trước, không thối chuyển, không hý luận, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Bất khả động chuyển.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tịch tịnh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, đều thấy tịch tịnh, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tịch tịnh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô hà khích?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến các đẳng trì, quán chiếu không kẻ hỡ, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô hà khích.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhật đăng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các môn định, phát ra ánh sáng chiếu khắp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhật đăng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tịnh nguyệt?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, phá tan bóng tối như mặt trăng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tịnh nguyệt.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tịnh nhãn?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng khiến cho năm loại mắt đều được thanh tịnh, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tịnh nhãn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tịnh quang?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, được bốn vô ngại, cũng khiến các định ấy đều có thể phát khởi, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tịnh quang.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nguyệt đăng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, diệt trừ sự ngu si tăm tối của các hữu tình như mặt trăng chiếu sáng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nguyệt đăng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Phát minh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến các môn định phát ánh sáng chiếu khắp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Phát minh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Ưng tác bất ưng tác?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, biết tất cả đẳng trì, nên thực hiện, chẳng nên thực hiện, cũng khiến các định thành tựu như việc này, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Ưng tác bất ưng tác.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Trí tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, thấy tướng sở hữu của các đẳng trì, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Trí tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Kim-cang man?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, thông đạt tất cả đẳng trì và pháp, đối với định và pháp, đều không có sở kiến, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Kim-cang man.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Trụ tâm?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, tâm chẳng lay động, chẳng chuyển, chẳng chiếu, cũng chẳng thiếu sót, chẳng nghĩ có tâm, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Trụ tâm.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Phổ minh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với ánh sáng các định, có khả năng chiếu khắp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Phổ minh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Diệu an lập?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, có khả năng an lập mầu nhiệm, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Diệu an lập.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Bảo tích?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, thấy các đẳng trì đều như khối báu, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Bảo tích.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Diệu pháp ấn?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, in đậm các đẳng trì, vì dùng cái vô ấn mà in, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Diệu pháp ấn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhất thiết pháp bình đẳng tánh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, không thấy có pháp lìa tánh bình đẳng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhất thiết pháp bình đẳng tánh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Khí xả trần ái?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các pháp định, xả bỏ trần ái, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Khí xả trần ái.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Pháp dũng viên mãn?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến các pháp Phật hiện ra tròn đầy, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Pháp dũng viên mãn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhập pháp đảnh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng diệt trừ vĩnh viễn tất cả pháp tối tăm, cũng vượt lên các định mà đứng đầu, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhập pháp đảnh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Bảo tánh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng phát ra vô biên sự quí báu của đại công đức, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Bảo tánh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Xả huyên tránh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, xả bỏ các thứ tranh cải huyên náo trong thế gian, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Xả huyên tránh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Phiêu tán?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, làm tiêu tan tất cả pháp chấp về đẳng trì, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Phiêu tán.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Phân biệt pháp cú?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng khéo léo phân biệt pháp cú của các định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Phân biệt pháp cú.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Quyết định?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với pháp đẳng trì đều được quyết định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Quyết định.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô cấu hạnh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng phát ra vô biên hạnh thanh tịnh thù thắng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô cấu hạnh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tự bình đẳng tướng? Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chứng đắc tướng bình đẳng các danh tự đẳng trì, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tự bình đẳng tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Ly văn tự tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, chẳng thủ đắc một chữ, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Ly văn tự tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Đoạn sở duyên?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, dứt hết cảnh tướng sở duyên của các đẳng trì, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Đoạn sở duyên.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô biến dị?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chẳng thấy có tướng biến dị của các pháp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô biến dị.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô phẩm loại?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chẳng thấy tướng phẩm loại sai khác của các pháp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô phẩm loại.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhập danh tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, ngộ nhập thật tế danh tướng của các pháp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhập danh tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô sở tác?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, tất cả việc làm đều dừng nghỉ, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô sở tác.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhập quyết định danh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, ngộ nhập danh tự quyết định của các pháp đều không có sở hữu, chỉ giả bày ra, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhập quyết định danh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô tướng hành?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với tướng các định đều không có sở đắc, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô tướng hành.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Ly ế ám?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú trong Tam-ma-địa này, sự che khuất của các định đều trừ hết, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Ly ế ám.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Cụ hành?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, ở trong việc hành định, tuy thấy mà chẳng thấy, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Cụ hành.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Bất biến động?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú trong Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, chẳng thấy biến động, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Bất biến động.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Độ cảnh giới?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, vượt lên cảnh giới sở duyên của các đẳng trì, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Độ cảnh giới.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tập nhất thiết công đức?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng tập hợp công đức có được của các định, đối với tất cả pháp khôngý tưởng tập hợp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tập nhất thiết công đức.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô tâm trụ?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các định, tâm không chuyển, không đọa, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô tâm trụ.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Quyết định trụ?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các định, tâm tuy quyết định an trụ, nhưng biết rõ ràng tướng của nó chẳng thể nắm bắt được, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Quyết định trụ.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tịnh diệu hoa?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến các đẳng trì đều được thanh tịnh, trang nghiêm sáng rõ giống như hoa quí, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tịnh diệu hoa.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Cụ giác chi?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến tất cả định, đối với bảy chi giác ngộ, mau được viên mãn, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Cụ giác chi.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô biên biện?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, ở trong các pháp, được biện tài vô biên, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô biên biện.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô biên đăng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với tất cả pháp, đều có khả năng chiếu rõ, giống như cây đèn sáng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô biên đăng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô đẳng đẳng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến các đẳng trì, đạt được bậc cao nhất, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô đẳng đẳng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Siêu nhất thiết pháp?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với pháp ba cõi, đều khả năng siêu vượt, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Siêu nhất thiết pháp.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Quyết phán chư pháp?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, thấy các thắng định và tất cả pháp, vì các hữu tình, phân biệt rõ ràng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Quyết phán chư pháp.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tán nghi?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì và tất cả pháp, có nhiều nghi ngờ, đều có thể dẹp tan, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tán nghi.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô sở trụ?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chẳng thấy các pháp có chỗ an trụ, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô sở trụ.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhất tướng trang nghiêm?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chẳng thấy các pháp có hai tướng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhất tướng trang nghiêm.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Dẫn phát hành tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì và tất cả pháp, tuy có khả năng dẫn phát các thứ hành tướng, nhưng hoàn toàn chẳng thấy cái khả năng dẫn phát, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Dẫn phát hành tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhất hành tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, thấy các đẳng trì không có hai hành tướng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhất hành tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Ly chư hành tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, thấy các đẳng trì hoàn toàn không có hành tướng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Ly chư hành tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Diệu hành?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến các đẳng trì, tuy khởi các thứ hạnh thù thắng vi diệu nhưng không có sự chấp trước, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Diệu hạnh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Đạt chư hữu để viễn ly?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì và tất cả pháp, chứng đắc trí thông đạt, đắc trí này rồi, đối với các pháp hữu, thông đạt, viễn ly, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Đạt chư hữu để viễn ly.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhập nhất thiết thi thiết ngữ ngôn?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, ngộ nhập tất cả pháp Tam-ma-địa, mượn lời nói trình bày, mà không có sự ỷ thị, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhập nhất thiết thi thiết ngữ ngôn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Kiên cố bảo?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng dẫn phát vô biên điều quí báu của công đức thù thắng, vi diệu, không thối chuyển, không tan hoại, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Kiên cố bảo.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Ư nhất thiết pháp vô sở thủ trước?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, ở trong các pháp không có sự thủ trước, vì tất cả pháp lìa tánh tướng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Ư nhất thiết pháp vô sở thủ trước.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Điển diệm trang nghiêm?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, phát ra các thứ ánh sáng chiếu các chỗ tối tăm, lại dùng vô lượng công đức trang nghiêm, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Điển diệm trang nghiêm.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Trừ khiển?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, diệt trừ vô biên phiền não, tập khí, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Trừ khiển.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Pháp cự?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chiếu rõ tự tướng, cộng tướng của các pháp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Pháp cự.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Tuệ đăng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chiếu rõ lý không, vô ngã của các pháp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Tuệ đăng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Thú hướng bất thối chuyển thần thông?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng dẫn phát vô lượng thần thông tối thắng, khó hàng phục, chẳng thối chuyển, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Thú hướng bất thối chuyển thần thông.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Giải thoát âm thanh văn tự?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, thấy các đẳng trì giải thoát tất cả cái tướng âm thanh, văn tự, tịch diệt, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Giải thoát âm thanh văn tự.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Cự xí nhiên?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, chỉ có oai đức của nó là rất lớn, chiếu rõ các định, giống như ngọn đuốc bừng cháy, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Cự xí nhiên.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nghiêm tịnh tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, làm cho tướng của chúng được trang nghiêm, thanh tịnh, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nghiêm tịnh tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì chẳng thấy tướng của chúng, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô trược nhẫn tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với tất cả pháp, đạt được cái nhẫn vô trược, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô trược nhẫn tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Cụ nhất thiết diệu tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, diệu tướng các định đều đầy đủ, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Cụ nhất thiết diệu tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Cụ tổng trì?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng giữ gìn hết sự thù thắng của các định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Cụ tổng trì.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Bất hỷ nhất thiết khổ lạc?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với tướng khổ vui của các đẳng trì, chẳng thích quán sát, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Bất hỷ nhất thiết khổ lạc.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô tận hành tướng?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chẳng thấy có sự chấm dứt của hành tướng các định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô tận hành tướng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Nhiếp phục nhất thiết chánh tà tánh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với tánh chánh, tánh tà các đẳng trì, nhiếp phục các kiến chấp, đều khiến chẳng khởi, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Nhiếp phục nhất thiết chánh tà tánh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Đoạn tắng ái?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chẳng thấy tướng ghét, tướng ưa của các pháp định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Đoạn tắng ái.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Ly vi thuận?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chẳng thấy có tướng thuận, tướng nghịch của các pháp định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Ly vi thuận.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô cấu minh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì, hoặc rõ, hoặc mờ, đều chẳng thấy, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô cấu minh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Cực kiên cố?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến các đẳng trì đều được kiên cố, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Cực kiên cố.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Mãn nguyệt tịnh quang?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến công đức của các đẳng trì đầy đủ, như mặt trăng trong sáng, tròn đầy làm nước các biển dâng lên, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Mãn nguyệt tịnh quang.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Đại trang nghiêm?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến các đẳng trì thành tựu các sự trang nghiêm lớn, hy hữu, vi diệu, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Đại trang nghiêm.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô nhiệt điển quang?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, phóng ánh sáng trong mát, chiếu các loại hữu tình, khiến dứt tất cả tối tăm, độc hại, nóng bức, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô nhiệt điển quang.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Năng chiếu nhất thiết thế gian?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chiếu các đẳng trì và các pháp, khiến cho các loại hữu tình đều được hiểu rõ, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Năng chiếu nhất thiết thế gian.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Năng cứu nhất thiết thế gian?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, có khả năng cứu độ các thứ lo sầu, khổ não của thế gian, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Năng cứu nhất thiết thế gian.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Định bình đẳng tánh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chẳng thấy sự sai biệt giữa định và tán của các đẳng trì, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Định bình đẳng tánh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô trần hữu trần bình đẳng lý thú?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, liễu đạt tính chất bình đẳng hữu trần, vô trần của các định và tất cả pháp, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô trần hữu trần bình đẳng lý thú.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô tránh hữu tránh bình đẳng lý thú?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, chẳng thấy sự sai biệt giữa tánh và tướng hữu tránh, vô tránh của các pháp và tất cả định, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô tránh hữu tránh bình đẳng lý thú.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô sào huyệt vô tiêu xí vô ái lạc?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, phá các sào huyệt, bỏ các cờ lịnh, đoạn các ái lạckhông chấp trước, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô sào huyệt vô tiêu xí vô ái lạc.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Quyết định an trụ chơn như?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các đẳng trì và tất cả pháp, thường chẳng xả bỏ thật tướng chơn như, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Quyết định an trụ chơn như.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Khí trung dũng xuất?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến các đẳng trì xuất sanh công đức, như do phước lực trời mà thức ăn trong bát hiện ra, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Khí trung dũng xuất.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Thiêu chư phiền não?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đốt cháy các phiền não chẳng sót tí nào, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Thiêu chư phiền não.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Đại trí tuệ cự?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, phát ánh sáng trí tuệ soi thấu tất cả, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Đại trí tuệ cự.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Xuất sanh thập lực?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, khiến mười lực Phật mau được viên mãn, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Xuất sanh thập lực.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Khai xiển?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, thường vì hữu tình, khai xiển pháp yếu, khiến mau giải thoát đại khổ sanh tử, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Khai xiển.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Hoại thân ác hạnh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, tuy chẳng thấy có thân nhưng mà dứt ác hạnh của thân, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Hoại thân ác hạnh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Hoại ngữ ác hạnh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, tuy chẳng thấy có tiếng mà dứt ác hạnh của lời nói, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Hoại ngữ ác hạnh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Hoại ý ác hạnh?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, tuy chẳng thấy có tâm mà dứt ý ác hạnh của ý, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Hoại ý ác hạnh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Thiện quán sát?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các hữu tình có khả năng khéo quán sáthiểu rõ căn tánh để mà độ thoát, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Thiện quán sát.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Như hư không?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, đối với các hữu tình có khả năng nhiêu ích khắp cả mà tâm bình đẳng như hư không rộng lớn, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Như hư không.

Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là Tam-ma-địa Vô nhiễm trước như hư không?

Thiện Hiện! Nếu khi an trú Tam-ma-địa này, quán tất cả pháp đều không có sở hữu, giống như hư không, không nhiễm, không đắm, thì như vậy gọi là Tam-ma-địa Vô nhiễm trước như hư không.

Thiện Hiện! Có vô lượng trăm ngàn Tam-ma-địa như vậy, nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là bốn niệm trụ. Những gì là bốn? Đó là thân niệm trụ, thọ niệm trụ, tâm niệm trụ, pháp niệm trụ.

Thiện Hiện! Thân niệm trụ là khi đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tuy đối với nội thân, trụ quán khắp thân, nhưng rốt ráo chẳng khởi tầm tư về thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu thế gian. Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tuy đối với ngoại thân, trụ quán khắp thân, nhưng rốt ráo chẳng khởi tầm tư về thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh trí, vì muốn điều phục tham ưu thế gian. Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tuy đối với nội ngoại thân, trụ quán khắp thân, nhưng rốt ráo chẳng khởi tầm tư về thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu thế gian. Thiện Hiện! Đó là thân niệm trụ của đại Bồ-tát.

Thiện Hiện! Thọ niệm an trụ là các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tuy đối với nội thọ, trụ quán khắp thọ, nhưng rốt ráo chẳng khởi tầm tư về thọ, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian. Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tuy đối với ngoại thọ, trụ quán khắp thọ, nhưng rốt ráo chẳng khởi tầm tư về thọ, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian. Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tuy đối với nội ngoại thọ, trụ quán khắp thọ, nhưng rốt ráo chẳng khởi tầm tư về thọ, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian. Thiện Hiện! Đó là thọ niệm trụ của đại Bồ-tát.

Thiện Hiện! Tâm niệm trụ là các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tuy đối với nội tâm, trụ quán khắp tâm, nhưng rốt ráo chẳng khởi tầm tư về tâm, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian. Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tuy đối với ngoại tâm, trụ quán khắp tâm, nhưng rốt ráo chẳng khởi tầm tư về tâm, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian. Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tuy đối với nội ngoại tâm, trụ quán khắp tâm, nhưng rốt ráo chẳng khởi tầm tư về tâm, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian. Thiện Hiện! Đó là tâm niệm trụ của đại Bồ-tát.

Thiện Hiện! Pháp niệm trụ là các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tuy đối với nội pháp, trụ quán khắp pháp, nhưng rốt ráo chẳng khởi tầm tư về pháp, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian. Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tuy đối với ngoại pháp, trụ quán khắp pháp, nhưng rốt ráo chẳng khởi tầm tư về pháp, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian. Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tuy đối với nội ngoại pháp, trụ quán khắp pháp, nhưng rốt ráo chẳng khởi tầm tư về pháp, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian. Thiện Hiện! Đó là pháp niệm trụ của đại Bồ-tát.

Quyển Thứ 52

HẾT

 

 

03

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội ngoại của thân, thọ, tâm, pháp, trụ quán khắp thân, thọ, tâm, pháp, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, quán kỹ tự thân, khi đi biết là đi, khi đứng biết là đứng, khi ngồi biết là ngồi, khi nằm biết là nằm, cứ như thế, như thế, sự sai khác về oai nghi của tự thân như thế nào, biết chính xác, đầy đủ, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, quán kỹ tự thân, biết chính xác qua lại, biết chính xác nhìn ngắm, biết chính xác cúi ngước, biết chính xác co duỗi, mặc Tăng-già-lê, cầm nắm y bát, ăn uống, nằm nghỉ, kinh hành, ngồi, đứng lên, đón tiếp, thức ngủ, nói im, vào ra các định đều nhớ biết chính xác, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, quán kỹ tự thân, khi thở vào thì biết như thậtthở vào, khi thở ra thì biết như thậtthở ra; khi thở vào dài thì biết như thậtthở vào dài, khi thở ra dài thì biết như thậtthở ra dài; khi thở vào ngắn thì biết như thậtthở vào ngắn, khi thở ra ngắn thì biết như thậtthở ra ngắn. Như thợ bánh xe hoặc học trò của y, khi sức bánh xe quay nhiều vòng thì biết như thật là sức bánh xe quay nhiều vòng, khi sức bánh xe quay ít vòng thì biết như thật là sức bánh xe quay ít vòng. Các đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, quán kỹ tự thân, thở vào thở ra, hoặc dài hoặc ngắn, đều biết như thật, cũng lại như vậy, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, quán kỹ tự thân, nghĩ biết như thật bốn giới sai biệt, đó là địa giới, thủy, hỏa, phong giới. Như người đồ tể giỏi hoặc học trò của y, giết chết trâu rồi, lại dùng dao bén, cắt xẻ thân trâu, chia làm bốn phần, hoặc ngồi hoặc đứng, quán biết như thật. Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, quán kỹ tự thân, nghĩ biết như thật sự sai biệt của bốn giới địa, thủy, hỏa, phong, cũng lại như vậy, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, quán kỹ tự thân, nghĩ biết như thật, từ chân đến đầu, đầy dẫy các loại bất tịnh trong đó, ngoài là lớp da mỏng bao bọc, đó là tóc, lông, móng, răng, da, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, tim, gan, tỳ, thận, phổi, mật, dạ dày, ruột già, ruột non, phân, nước tiểu, nước miếng, nước mũi, nước dãi, nước mắt, cấu bẩn, mồ hôi, đàm, mủ, mỡ lá, màng óc, ghèn, cứt ráy, những loại bất tịnh như vậy đầy dẫy trong thân, như trong kho của nông phu hoặc các trưởng giả, chứa đầy các thứ tạp cốc, đó là nếp, mè, lúa tẻ, đậu, lúa mì v.v... Có người sáng mắt mở kho thấy hết, liền biết như thật, trong đó chỉ có các thứ tạp cốc, nếp, mè, lúa tẻ v.v... Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, quán kỹ tự thân, nghĩ biết như thật, từ chân đến đầu, chỉ có các thứ bất tịnh hôi thối đầy dẫy trong đó, cũng lại như vậy, kẻ trí nào lại quý mến thân này, chỉ có phàm phu mới mê lầm đắm trước, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đến nơi hoang vắng, quán tử thi vứt bỏ, tử thi trải qua một ngày, hay trải qua hai ngày, cho đến bảy ngày, tử thi ấy phình trướng, biến thành màu xanh bầm thối rữa, da thủng, mủ máu chảy ra, thấy sự ấy rồi, tự nghĩ thân mình có tính chất như vậy, có đầy đủ hiện tượng như vậy, chưa được giải thoát, chung quy cũng như vậy; kẻ trí nào lại quý mến thân này, chỉ có kẻ ngu si mới mê lầm đắm trước, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đến nơi hoang vắng quán tử thi vứt bỏ, tử thi trải qua một ngày, hoặc hai ngày cho đến bảy ngày, bị các loài cầm thú như chim điêu, thứu, quạ, bồ cắt, xi, kiêu, hổ, báo, chồn, sói, dã can, chó v.v... hoặc mổ hoặc bấu, xương thịt rơi rã, cắn rứt mổ ăn; thấy việc này rồi, tự nghĩ thân mình có tính chất như vậy, đầy đủ các hiện tượng như vậy, chưa được giải thoát, chung quy cũng như vậy, kẻ trí nào lại quý mến thân này, chỉ có kẻ ngu si mới mê lầm đắm trước, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đến nơi hoang vắng quán tử thi vứt bỏ, cầm thú ăn rồi, tử thi tan rã nhầy nhụa gớm ghiết, mủ máu tràn lan, có vô lượng trùng dòi nhúc hôi thối ghê tởm hơn là chó chết, thấy việc ấy rồi, tự nghĩ thân mình có tính chất như vậy, đầy đủ các hiện tượng như vậy, chưa được giải thoát, chung quy cũng thế, người trí nào lại quý mến thân này, chỉ có kẻ ngu si mới mê lầm chấp trước, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đến nơi hoang vắng quán tử thi vứt bỏ, trùng dòi ăn rồi, thịt rã xương lòi, lóng đốt liền nhau, gân ràng máu dính, chỉ còn thịt thối rữa; thấy việc này rồi, tự nghĩ thân mình có tính chất như vậy, đầy đủ hiện tượng như vậy, chưa được giải thoát, chung quy cũng thế, người trí nào lại quý mến thân này, chỉ có kẻ ngu si mới mê lầm chấp trước, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đến nơi hoang vắng quán tử thi vứt bỏ, còn bộ xương, máu thịt đều hết, chỉ còn gân gắn liền; thấy việc này rồi, tự nghĩ thân mình có tính chất như vậy, đầy đủ những hiện tượng như vậy, chưa được giải thoát, chung quy cũng thế, người trí nào lại quý mến thân này, chỉ có kẻ ngu si mới mê lầm chấp trước, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đến nơi hoang vắng quán tử thi vứt bỏ, chỉ còn sót lại ít xương, màu xương trắng hếu như ốc tuyết kha, các gân tan nát, lóng đốt rời rả; thấy việc này rồi, tự nghĩ thân mình có tính chất như vậy, đầy đủ hiện tượng như vậy, chưa được giải thoát, chung quy cũng thế, người trí nào lại quý mến thân này, chỉ có kẻ ngu si mới mê lầm chấp trước, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đến nơi hoang vắng quán tử thi vứt bỏ, đã thành xương trắng, lóng đốt phân tán, vung vải khắp nơi, đó là xương bàn chân, xương ống chân, xương đầu gối, xương đùi vế, xương bàn tọa, xương sống, xương sườn, xương ngực, xương bắp tay, xương cánh tay, xương bàn tay, xương cổ sau, xương cằm, xương má, xương đầu, mỗi xương nằm riêng một chỗ; thấy việc này rồi, tự nghĩ thân mình có tính chất như vậy, đầy đủ hiện tượng như vậy, chưa được giải thoát, chung quy cũng như thế, người trí nào lại quý mến thân này, chỉ có kẻ ngu si mới mê lầm tham trước, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đến nơi hoang vắng quán tử thi vứt bỏ, hài cốt ngổn ngang, gió thổi nắng đốt, mưa chan, sương phủ, trải nhiều năm tháng, màu như tuyết kha; thấy việc này rồi, tự nghĩ thân mình có tính chất như vậy, đầy đủ hiện tượng như vậy, chưa được giải thoát, chung quy cũng như thế, người trí nào lại quý mến thân này, chỉ có kẻ ngu si mới mê lầm chấp trước, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đến nơi hoang vắng quán tử thi vứt bỏ, xương còn vung vãi trên đất, trải nhiều trăm năm, hoặc nhiều ngàn năm, xương biến thành màu xanh, giống như màu chim cáp, hoặc có xương mục nát bủn như bụi, hòa lẫn trong đất, chẳng thể phân biệt; thấy việc này rồi, tự nghĩ thân mình có tính chất như vậy, đầy đủ hiện tượng như vậy, chưa được giải thoát, chung quy cũng thế, người trí nào lại quý mến thân này, chỉ có kẻ ngu si mới mê lầm chấp trước, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian.

Thiện Hiện! Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với sự sai biệt của nội thân như vậy, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian, đối với ngoại thân, trụ quán khắp thân, đối với nội ngoại thân, trụ quán khắp thân, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian, tùy theo sở thích, cũng lại như vậy.

Thiện Hiện! Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội ngoại của cả thọ, tâm, pháp, trụ quán khắp thọ, tâm, pháp, mạnh mẽ tinh tấn, đầy đủ niệm chánh tri, vì muốn điều phục tham ưu của thế gian, tùy theo sở thích, nói rộng như trên.

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát như vậy, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với nội ngoại thân cùng đồng thọ, tâm, pháp, khi trụ khắp thân thọ, tâm, pháp, tuy quán như vậy mà không có sở đắc. Thiện Hiện! Nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là bốn chánh đoạn. Những gì là bốn?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với các pháp ác bất thiện chưa sanh thì đừng cho sanh, nên sanh ý muốn thúc đẩy phát khởi sự siêng năng chân chính, thúc giục tâm giữ tâm, đó là chánh đoạn thứ nhất.

Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đối với các pháp ác bất thiện đã sanh, thì làm cho đoạn trừ vĩnh viễn, nên sanh ý muốn thúc đẩy phát khởi sự siêng năng chân chính, thúc giục tâm giữ tâm, đó là chánh đoạn thứ hai.

Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, thiện pháp chưa sanh thì khiến cho phát sanh, nên sanh ý muốn thúc đẩy phát khởi sự siêng năng chân chính, thúc giục tâm giữ tâm, đó là chánh đoạn thứ ba.

Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, thiện pháp đã sanh thì khiến cho an trụ, chẳng quên tăng trưởng mở rộng, bội tu viên mãn, nên sanh ý muốn thúc đẩy phát khởi sự siêng năng chân chính, thúc giục tâm giữ tâm, đó là chánh đoạn thứ tư.

Thiện Hiện! Nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là bốn thần túc. Những gì là bốn?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu thần túc Dục Tam-ma-địa đoạn hành thành tựu thì nương vào ly, nương vào vô nhiễm, nương vào diệt, hồi hướng xả, đó là thần túc thứ nhất.

Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu thần túc Cần Tam-ma-địa đoạn hành thành tựu, thì nương vào ly, nương vào vô nhiễm, nương vào diệt, hồi hướng xả, đó là thần túc thứ hai.

Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu thần túc Tâm Tam-ma-địa đoạn hành thành tựu, thì nương vào ly, nương vào vô nhiễm, nương vào diệt, hồi hướng xả, đó là thần túc thứ ba.

Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu thần túc Quán Tam-ma-địa đoạn hành thành tựu, thì nương vào ly, nương vào vô nhiễm, nương vào diệt, hồi hướng rồi xả, đó là thần túc thứ tư.

Thiện Hiện! Nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là năm căn. Những gì là năm?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, thì đối tượng tu hànhtín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.

Thiện Hiện! Nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là năm lực. Những gì là năm?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, thì đối tượng tu hànhtín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.

Thiện Hiện! Nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là bảy chi đẳng giác. Những gì là bảy?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, thì đối tượng tu hành là niệm đẳng giác, trạch pháp đẳng giác, tinh tấn đẳng giác, hỷ đẳng giác, khinh an đẳng giác, định đẳng giác, xả đẳng giác, nương vào ly, nương vào vô nhiễm, nương vào diệt, hồi hướng xả.

Thiện Hiện! Nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là tám chi thánh đạo. Những gì là tám?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, thì đối tượng tu hànhchánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, nương vào ly, nương vào vô nhiễm, nương vào diệt, hồi hướng xả.

Thiện Hiện! Nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là ba Tam-ma-địa. Những gì là ba?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, quán tự tướng của tất cả pháp đều là không, tâm được an trụ, thì gọi là pháp môn giải thoát không, cũng gọi là Tam-ma-địa không, đó là Tam-ma-địa thứ nhất.

Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, vì quán tự tướng của tất cả pháp là không, nên đều không có tướng, tâm được an trụ, thì gọi là pháp môn giải thoát vô tướng, cũng gọi là Tam-ma-địa vô tướng, đó là Tam-ma-địa thứ hai.

Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, vì quán tự tướng của tất cả pháp là không, nên đều không có sở nguyện, tâm được an trụ, thì gọi là pháp môn giải thoát vô nguyện, cũng gọi là Tam-ma-địa vô nguyện, đó là Tam-ma-địa thứ ba.

Thiện Hiện! Nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là pháp trí, loại trí, thế tục trí, tha tâm trí, khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, tận trí, vô sanh trí, như thật trí, đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là pháp trí?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu trí lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết sự chuyển biến tướng sai biệt của năm uẩn v.v... thì đó là pháp trí.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là loại trí?

Thiện Hiện! Nếu trí lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết uẩn giới, xứ và các duyên khởi, hoặc tổng, hoặc biệt là vô thường v.v... thì đó là loại trí.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là thế tục trí?

Thiện Hiện! Nếu trí lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết tất cả pháp là danh tự giả thiết, thì đó là thế tục trí.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là tha tâm trí?

Thiện Hiện! Nếu trí lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết tâm, tâm sở pháp của hữu tìnhtu hành chứng diệt, thì đó là tha tâm trí.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là khổ trí?

Thiện Hiện! Nếu trí lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết khổ nên chẳng thọ sanh, thì đó là khổ trí.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là tập trí?

Thiện Hiện! Nếu trí lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết tập nên đoạn trừ vĩnh viễn, thì đó là tập trí.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là diệt trí?

Thiện Hiện! Nếu trí lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết diệt nên tác chứng, thì đó là diệt trí.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đạo trí?

Thiện Hiện! Nếu trí lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết đạo nên tu tập, thì đó là đạo trí.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là tận trí?

Thiện Hiện! Nếu trí lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết tham, sân, si hết, thì đó là tận trí.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là vô sanh trí?

Thiện Hiện! Nếu trí lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết cõi đến của chúng sanh chẳng sanh lại, thì đó là vô sanh trí.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là như thật trí?

Thiện Hiện! Trí nhất thiết, trí nhất thiết tướng của Như Lai, đó là như thật trí.

Thiện Hiện! Nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là ba Vô lậu căn. Những gì là ba? Đó là vị tri đương tri căn, dĩ tri căn, cụ tri căn.

Lúc bấy giờ, Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là vị tri đương tri căn?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu các hành giả, đối với các Thánh đế, chưa được hiện quán, chưa được Thánh quả, nhưng có tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, thì đó gọi là vị tri đương tri căn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là dĩ tri căn?

Thiện Hiện! Nếu các hành giả đối với các Thánh đế đã được hiện quán, đã được Thánh quả, lại có tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, thì đó gọi là dĩ tri căn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là cụ tri căn?

Thiện Hiện! Các hành giả, hoặc là A-la-hán, hoặc là Độc-giác, hoặc là Bồ-tát đã trụ thập địa, hoặc là chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, có tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, thì đó gọi là cụ tri căn.

Thiện Hiện! Ba căn như vậy, nếu ai lấy vô sở đắc làm phương tiện, thì nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là ba Tam-ma-địa. Những gì là ba? Đó là Tam-ma-địa hữu tầm hữu tứ, Tam-ma-địa vô tầm duy tứ, Tam-ma-địa vô tầm vô tứ.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là Tam-ma-địa hữu tầm hữu tứ?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu lìa pháp dục ác bất thiện, có tầm, có tứ, ly sanh hỷ lạc, nhập tịnh lự ban đầuan trú trọn vẹn trong đó, thì đó là Tam-ma-địa hữu tầm hữu tứ.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là vô tầm duy tứ?

Thiện Hiện! Nếu là định ở giữa tịnh lự ban đầutịnh lự thứ hai, thì đó là Tam-ma-địa vô tầm duy tứ.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là Tam-ma-địa vô tầm vô tứ?

Thiện Hiện! Nếu là tịnh lự thứ ba cho đến phi tưởng phi phi tưởng xứ, thì đó là Tam-ma-địa vô tầm vô tứ.

Thiện Hiện! Với ba Tam-ma-địa như vậy, nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện ấy, thì nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là mười tùy niệm. Những gì là mười? Đó là tùy niệm Phật, tùy niệm Pháp, tùy niệm Tăng, tùy niệm giới, tùy niệm xả, tùy niệm thiên, tùy niệm tịch tịnh yểm ly, tùy niệm nhập xuất tức, tùy niệm thân, tùy niệm tử.

Thiện Hiện! Với mười tùy niệm như vậy, nếu ai lấy vô sở đắc làm phương tiện ấy, thì nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát nghĩa là đối với bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, tám giải thoát, tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ v.v... có bao nhiêu thiện pháp, nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, thì nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là mười lực của Phật. Những gì là mười? Đó là xứ phi xứ trí lực, nghiệp dị thục trí lực, chủng chủng giới trí lực, chủng chủng thắng giải trí lực, căn thắng liệt trí lực, biến hành hành trí lực, tịnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí tạp nhiễm thanh tịnh trí lực, túc trụ tùy niệm trí lực, tử sanh trí lực, lậu tận trí lực.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là xứ phi xứ trí lực?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết như thật tướng xứ phi xứ của các pháp nhân quả, thì đó là xứ phi xứ trí lực.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là nghiệp dị thục trí lực?

Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết rõ như thật, cái tướng của các nghiệp pháp và các thứ nhân quả phải chịu ở quá khứ, vị lai, hiện tại của các loài hữu tình, thì đó là nghiệp dị thục trí lực.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là chủng chủng giới trí lực?

Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết rõ như thật tướng giới vô lượng của các loài hữu tình, thì đó là chủng chủng giới trí lực.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là chủng chủng thắng giải trí lực?

Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết rõ như thật tướng thắng giải vô lượng của các loại hữu tình, thì đó là chủng chủng thắng giải trí lực.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là căn thắng liệt trí lực?

Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết rõ như thật tướng căn thắng liệt của các loài hữu tình, thì đó là căn thắng liệt trí lực.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là biến hành hành trí lực?

Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết rõ như thật tướng hoạt động cùng khắp của các loại hữu tình, thì đó là biến hành hành trí lực.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là tịnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí tạp nhiễm thanh tịnh trí lực?

Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết rõ như thật tướng tịnh lự, giải thoát, đẳng trì, đẳng chí, tạp nhiễm, thanh tịnh, căn, lực, giác chi, đạo chi v.v... của các loại hữu tình, thì đó là tịnh lự giải thoát đẳng trì đẳng chí tạp nhiễm thanh tịnh trí lực.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là túc trụ tùy niệm trí lực?

Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết rõ như thật tướng sự việc ở vô lượng vô số đời trước của các loại hữu tình, thì đó là túc trụ tùy niệm trí lực.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là tử sanh trí lực?

Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết rõ như thật tướng vô lượng vô số việc sanh tử của các loại hữu tình, thì đó là tử sanh trí lực.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là lậu tận trí lực?

Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, biết rõ như thật các lậu dứt hẳn, tâm vô lậu giải thoát, tuệ vô lậu giải thoát, ở trong hiện pháp, tự tác chứng, an trú hoàn toàn, có khả năng chánh tri: Ta, sự sanh diệt dứt, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng thọ thân sau, thì đó là lậu tận trí lực.

Thiện Hiện! Nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là bốn vô sở úy. Những gì là bốn? Đó là chánh đẳng giác vô úy, lậu tận vô úy, chướng pháp vô úy, tận khổ đạo vô úy.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là chánh đẳng giác vô úy?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, tự xưng ta là bậc Chánh Đẳng Giác, dù có Sa-môn, hoặc Bà-la-môn, hoặc trời, ma, phạm hoặc kẻ thế tục nào khác, y vào pháp lập vấn nạn và nghĩ nhớ nói rằng đối với pháp ấy, chẳng phải là Chánh đẳng giác thì ta đối với sự vấn nạn kia, thấy rõ là không có lý do; vì đối với sự vấn nạn kia, thấy không có lý do, nên được an trú trong yên ổn, không sợ, không hãi; tự xưng ta ở ngôi vị Đại tiên tôn quí, ở trong đại chúng, chính thức rống lên tiếng rống sư tử, chuyển bánh xe pháp nhiệm mầu, bánh xe đó thanh tịnh, chính chơn vô thượng; tất cả Sa-môn, hoặc Bà-la-môn, hoặc trời, ma, phạm, hoặc kẻ thế tục nào khác đều không ai có khả năng chuyển bánh xe pháp như vậy, thì đó là chánh đẳng giác vô úy.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là lậu tận vô úy?

Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, tự xưng ta đã hết hẳn các lậu, dù có Sa-môn, hoặc Bà-la-môn, hoặc trời, ma, phạm, kẻ thế tục nào khác y vào pháp lập vấn nạn và nghĩ nhớ nói rằng, có lậu như vậy, chưa hết hẳn, thì ta đối với sự vấn nạn kia, thấy rõ là không có lý do; vì đối với sự vấn nạn kia, thấy không lý do, nên được trong yên ổn, không sợ, không hãi; tự xưng ta ở ngôi vị Đại tiên tôn quí, ở trong đại chúng, chính thức rống lên tiếng rống sư tử, chuyển bánh xe pháp nhiệm mầu, bánh xe ấy thanh tịnh, chính chơn vô thượng; tất cả Sa-môn, hoặc Bà-la-môn, hoặc trời, ma, phạm, hoặc kẻ thế tục nào khác, đều không có ai có khả năng chuyển bánh xe pháp như vậy, thì đó là lậu tận vô úy.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là chướng pháp vô úy?

Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, vì các đệ tử nói rõ pháp trở ngại đạo, dù có Sa-môn, hoặc Bà-la-môn, hoặc trời, ma, phạm hoặc kẻ thế tục nào khác y pháp lập vấn nạn và nghĩ nhớ nói rằng làm theo pháp này chẳng có khả năng chướng ngại đạo; ta đối với sự vấn nạn kia, thấy rõ là không có lý do; vì đối với sự vấn nạn kia, thấy không có lý do, nên được an trú trong sự yên ổn, không sợ, không hãi, tự xưng ta ở ngôi vị Đại tiên tôn quí, ở trong đại chúng, chính thức rống lên tiếng rống sư tử, chuyển bánh xe pháp nhiệm mầu, bánh xe này thanh tịnh, chính chơn vô thượng; tất cả Sa-môn, hoặc Bà-la-môn, hoặc trời, ma, phạm, hoặc kẻ thế tục nào khác đều không có ai có khả năng chuyển bánh xe pháp như vậy, thì đó là chướng pháp vô úy.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là tận khổ đạo vô úy?

Thiện Hiện! Nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, vì các đệ tử nói đạo dứt hết khổ, dù có Sa-môn, hoặc Bà-la-môn, hoặc trời, ma, phạm hoặc kẻ thế tục nào khác, y vào pháp lập vấn nạn và nghĩ nhớ nói rằng tu đạo này chẳng thể dứt hết khổ. Ta đối với sự vấn nạn kia, thấy rõ là không có lý do; vì đối với sự vấn nạn kia, thấy không lý do, nên được an trú trong sự yên ổn, không sợ, không hãi; tự xưng ta ở ngôi vị Đại tiên tôn quí, ở trong đại chúng, chính thức rống lên tiếng rống sư tử, chuyển bánh xe pháp nhiệm mầu, bánh xe này thanh tịnh chánh chơn vô thượng; tất cả Sa-môn, hoặc Bà-la-môn, hoặc trời, ma, phạm, hoặc kẻ thế thục nào khác đều không có khả năng chuyển bánh xe pháp như vậy, thì đó là tận khổ đạo vô úy.

Thiện Hiện! Nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là bốn sự hiểu biết thông suốt. Những gì là bốn? Đó là sự hiểu biết thông suốt về nghĩa, sự hiểu biết thông suốt về pháp, sự hiểu biết thông suốt về từ, sự hiểu biết thông suốt về biện luận.

Thiện Hiện! Với bốn sự hiểu biết thông suốt như vậy, nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, thì nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, năm loại mắt, sáu phép thần thông, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng.

Thiện Hiện! Với các pháp như vậy, nếu lấy vô sở đắc làm phương tiện, thì nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là mười tám pháp Phật bất cộng. Những gì là mười tám? Đó là Ta, Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, từ đêm mới chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột, cho đến đêm cuối cùng, việc làm đã làm xong, nhập Vô-dư-y đại Niết-bàn, ở trong khoảng giữa, thường không lầm lẫn, không một lời vội vàng, thô bạo, không có niệm lơ đễnh, không có tâm bất định, không nghĩ mông lung, có trạch có xả, chí muốn không lùi, tinh tấn không lùi, niệm không lùi, tuệ không lùi, giải thoát không lùi, giải thoát tri kiến không lùi, tất cả thân nghiệp, trí là dẫn đầu, tùy trí mà chuyển; tất cả ngữ nghiệp, trí là dẫn đầu, tùy trí mà chuyển; tất cả ý nghiệp, trí là dẫn đầu, tùy trí mà chuyển, đối với quá khứ phát khởi trí kiến không đắm không ngại, đối với đời vị lai phát khởi trí kiến không đắm không ngại, đối với đời hiện tại phát khởi trí kiến không đắm không ngại. Thiện Hiện! Mười tám pháp Phật bất cộng như vậy, đều lấy vô sở đắc làm phương tiện, nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát là các pháp môn văn tự Đà-la-ni.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là pháp môn văn tự Đà-la-ni?

Phật dạy: Thiện Hiện! Tánh bình đẳng của văn tự, tánh bình đẳng của ngôn ngữ, tánh bình đẳng của ngôn thuyết lý thú, nhập vào các pháp môn văn tự, đó là pháp môn văn tự Đà-la-ni.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là nhập vào các pháp môn văn tự?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, thì do nhập vào pháp môn chữ "Khả" nên ngộ tất cả pháp vốn bất sanh; do nhập vào pháp môn chữ "Lạc" nên ngộ tất cả pháp lìa cấu trần; do nhập vào pháp môn chữ "Bả" nên ngộ thắng nghĩa giáo của tất cả pháp; do nhập vào pháp môn chữ "Giả" nên ngộ tính không sanh tử của tất cả pháp; do nhập vào pháp môn chữ "Na" nên ngộ tínhđắc thất xa lìa danh tướng của tất cả pháp; do nhập vào pháp môn chữ "Lả" nên ngộ tính xuất thế gian của tất cả pháp, nhân duyên của ái vĩnh viễn chẳng hiện; do nhập vào pháp môn chữ "Đà" nên ngộ tính điều phục, tịch tịnh, chơn như, bình đẳng, vô phân biệt của tất cả pháp; do nhập vào pháp môn chữ "Bà" nên ngộ tính lìa ràng buộc của tất cả pháp; do nhập vào pháp môn chữ "Trà" nên ngộ tính lìa nóng nảy, kiêu mạn, cấu uế của tất cả pháp, được thanh tịnh; do nhập vào pháp môn chữ "Sa" nên ngộ tínhquái ngại của tất cả pháp; do nhập vào pháp môn chữ "Phược" nên ngộ tính ngôn âm đạo đoạn của tất cả pháp; do nhập vào pháp môn chữ "Đả" nên ngộ tính chơn như bất động của tất cả pháp; do nhập vào pháp môn chữ "Dã" nên ngộ tính như thật bất sanh của tất cả pháp; do nhập vào pháp môn chữ "Sắc tra" nên ngộ tướng chế phục nhậm trì của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Ca" nên ngộ tác giả của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Ta", nên ngộ tánh bình đẳng về thời gian của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Ma", nên ngộ tánh ngã và ngã sở của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Già" nên ngộ tính hành thủ của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Tha" nên ngộ tính của tất cả pháp xứ sở là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Xà" nên ngộ sự sanh khởi tính của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Thấp phược", nên ngộ tánh an ổn của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Đạt" nên ngộ tính giới của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Xả", nên ngộ tánh tịch tịnh của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Khư", nên ngộ tánh như hư không của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Sạn", nên ngộ tánh cùng tận của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Tát đả" nên ngộ tính nhậm trì xứ phi xứ khiến chẳng động chuyển của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Nhã", nên ngộ tánh được biết rõ của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Lặc tha", nên ngộ tánh chấp trước nghĩa của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Kha", nên ngộ tánh nguyên nhân của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Bạc", nên ngộ tánh có thể phá hoại của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Xước", nên ngộ tánh che khuất của dục lạc của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Táp ma", nên ngộ tánh có thể nhớ nghĩ của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Hạp phược", nên ngộ tánh có thể mời gọi của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Ta", nên ngộ tánh dõng kiện của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Kiện", nên ngộ tánh bình đẳng rộng lớn của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Soai", nên ngộ tánh chứa nhóm của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Nõa" nên ngộ lìa tất cả việc tranh cải ồn ào, không lại, không qua, đi, đứng, nằm, ngồi của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Phả" nên ngộ quả báo đầy đủ cùng khắp của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Tắt ca", nên ngộ tánh tích tụ chứa nhóm của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Dật Ta", nên ngộ tánh tướng già suy của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Chước " nên ngộ dấu vết của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Tra", nên ngộ tánh bức bách xua đuổi nhau của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được; do nhập vào pháp môn chữ "Trạch" nên ngộ chỗ cứu cánh của tất cả pháp là chẳng thể nắm bắt được.

Thiện Hiện! Pháp môn văn tự như vậy là có khả năng ngộ nhập đến tận cùng pháp không; trừ văn tự như vậy, còn cái biểu thị về cái không của các pháp lại chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Thiện Hiện! Ý nghĩa của văn tự như vậy chẳng thể nói ra được, chẳng thể hiển thị được, chẳng thể chấp thủ, chẳng thể ghi chép giữ gìn, chẳng thể quán sát, vì lìa các tướng.

Thiện Hiện! Giống như hư không là nơi qui thú của tất cả vật, các pháp môn văn tự này, cũng lại như vậy. Nghĩa không các pháp đều nhập vào pháp môn này mới được rõ bày.

Thiện Hiện! Nhập vào chữ "Khả" này v.v… gọi là nhập vào các pháp môn văn tự. Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với việc nhập vào các pháp môn văn tự như vậy thì đạt được trí thiện xảo, đối với sự nói năng, sự phô diễn, sự tiêu biểu của các thứ âm thanh, ngôn ngữ đều không bị trở ngại; đối với tánh bình đẳng không của tất cả pháp,có khả năng chứng đắcduy trì hết; đối với các thứ âm thanh, ngôn ngữ đều được thông suốt.

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát có khả năng nghe và nhập vào tướng ấn, cú ấn của các pháp môn văn tự như vậy, nghe rồi thọ trì, đọc tụng rành rọt, vì người khác giảng giải, chẳng ham danh lợi thì do nhân duyên này mà đạt được hai mươi thứ công đức thù thắng. Những gì là hai mươi? Đó là được nghĩ nhớ dai, được tàm quí hơn hết, được sức kiên cố, được chỉ thú của pháp, được sự hiểu biết tăng thượng, được trí tuệ thù thắng, được biện tài vô ngại, được pháp môn tổng trì, được sự không nghi hoặc, được sự không giận hay ưa đối với lời nói nghịch thuận, được an trú trong sự bình đẳng không cao thấp, được sự thông suốt đối với âm thanh ngôn ngữ của hữu tình, được uẩn hoàn hảo, xứ hoàn hảo, giới hoàn hảo, được duyên khởi hoàn hảo, nhân hoàn hảo, duyên hoàn hảo, pháp hoàn hảo, được trí hoàn hảo phân biệt sự thắng liệt của căn, được trí hoàn hảo biết tâm người khác, được sự quán sát khéo léo về tinh tú niên lịch, được trí thiên nhĩ hoàn hảo, trí túc trụ tùy niệm hoàn hảo, trí thần cảnh hoàn hảo, trí hoàn hảo biết sống chết, được trí lậu tận hoàn hảo, được trí hoàn hảo nói về xứ phi xứ, được oai nghi hoàn hảo, qua lại trên đường.

Thiện Hiện! Đó là được hai mươi công đức thù thắng.

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, lấy vô sở đắc làm phương tiện, đạt được pháp môn văn tự Đà-la-ni, thì nên biết đó là tướng Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Phật bảo Thiện Hiện! Ngươi hỏi thế nào là nên biết đại Bồ-tát phát tâm hướng đến Đại-thừa ư?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành sáu phép Ba-la-mật-đa, từ bậc này đến bậc khác, thì nên biết đó là đại Bồ-tát phát tâm hướng đến Đại-thừa.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát, khi tu hành sáu phép Ba-la-mật-đa, từ bậc này đến bậc khác?

Phật dạy: Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát biết tất cả pháp không từ đâu đến, cũng chẳng đến đâu, vì sao? Vì tất cả pháp không đi không đến, không chỗ khởi hành, không có đích để đến, vì các pháp ấy không biến hoại, đại Bồ-tát ấy, đối với chỗ khởi hành và chỗ đến, chẳng ỷ lại, chẳng tư duy, tuy tu sửa nghiệp ở bậc của mình mà chẳng thấy bậc ấy, thì này Thiện Hiện, đó là đại Bồ-tát, khi tu hành sáu phép Ba-la-mật-đa, từ bậc này đến bậc khác.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tu sử nghiệp ở bậc của mình?

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ ở bậc ban đầuCực hỷ, nên khéo léo tu sửa mười thứ nghiệp thù thắng. Những gì là mười? Một là lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu sửa nghiệp ý lạc thù thắng thanh tịnh, vì việc ý lạc thù thắng chẳng thể nắm bắt được; hai là lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu sửa nghiệp tâm bình đẳng đối với tất cả hữu tình, vì tất cả hữu tình chẳng thể nắm bắt được; ba là lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu sửa nghiệp bố thí vì người cho, kẻ nhận và vật được cho chẳng thể nắm bắt được; bốn là lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu sửa nghiệp thân cận thiện hữu, vì thiện hữu, ác hữu không có hai tướng; năm là lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu sửa nghiệp cầu pháp, vì các pháp được cầu chẳng thể nắm bắt được; sáu là lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu sửa nghiệp thường ưa xuất gia, vì việc xả bỏ nhà cửa chẳng thể nắm bắt được; bảy là lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu sửa nghiệp mến thích thân Phật, vì các tướng tốt và vẻ đẹp kèm theo chẳng thể nắm bắt được; tám là lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu sửa nghiệp khai xiển giáo pháp, vì pháp được phân biệt chẳng thể nắm bắt được; chín là lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu sửa nghiệp phá trừ kiêu mạn, vì các pháp hưng thịnh chẳng thể nắm bắt được; mười là lấy vô sở đắc làm phương tiện, tu sửa nghiệp ngôn ngữ chắc thật, thường hằng vì tánh của tất cả ngôn ngữ chẳng thể nắm bắt được.

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi an trú bậc ban đầuCực hỷ, nên khéo tu sửa mười nghiệp thù thắng như vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ bậc thứ hai là Ly cấu, nên đối với tám pháp, tư duy, tu tập, khiến mau viên mãn. Những gì là tám? Một là cấm giới thanh tịnh, hai là tri ân báo ân, ba là trụ sức an nhẫn, bốn là thọ hoan hỷ thù thắng, năm là không bỏ hữu tình, sáu là hằng khởi đại bi, bảy là đối với các Sư trưởng đem tâm kính tin để thăm hỏi, thừa sự, cúng dường, tưởng như phụng sự Phật, tám là khuyên cầu tu tập Ba-la-mật-đa.

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ bậc thứ hai là Ly cấu, nên đối với tám pháp như vậy, tư duy, tu tập, khiến mau viên mãn.

Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ bậc thứ ba là Phát quang, nên trụ năm pháp. Những gì là năm? Một là cần cầu đa văn, thường không nhàm chán và không cho là đủ, đối với pháp đã nghe chẳng chấp trước văn tự; hai là lấy tâm vô nhiễm, thường hành pháp thí, tuy mở rộng giáo hóa mà không tự cao; ba là vì nghiêm tịnh cõi nước mà trồng các căn lành, tuy là để hồi hướng mà chẳng tự đề cao; bốn là vì giáo hóa hữu tình, tuy chẳng mệt mỏi chán nản với việc sanh tử vô biên mà chẳng tự cao; năm là tuy trụ tàm quí mà không chấp trước.

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ bậc thứ ba là Phát quang, nên thường an trú năm pháp như vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ bậc thứ tư là Diệm tuệ, nên trụ mười pháp thường tu chẳng bỏ. Những gì là mười? Một là ở chỗ thanh vắng, thường chẳng xa lìa, hai là thiểu dục, ba là hỷ túc, bốn là thường chẳng lìa bỏ công đức đầu đà, năm là đối với các học xứ chưa từng xả bỏ, sáu là đối với dục lạc hết sức sanh nhàm chán, xa lìa, bảy là thường ưa phát khởi tâm vắng lặng, tám là bỏ các sở hữu, chín là tâm chẳng ngưng trệ chìm đắm, mười là đối với các sở hữu không có gì luyến tiếc đoái hoài.

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ bậc thứ tư là Diệm tuệ, nên an trú mười pháp như vậy, thường hành chẳng bỏ.

Quyển Thứ 53

HẾT

 

 

04

Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ bậc thứ năm là Cực nan thắng, phải xa lìa mười pháp. Những gì là mười? Một là phải xa lìa nhà ở, hai là phải xa lìa Bí-sô-ni, ba là phải xa lìa nhà keo kiệt, bốn là phải xa lìa chúng hội tranh cãi, năm là phải xa lìa sự khen mình chê người, sáu là phải xa lìa mười nghiệp đạo bất thiện, bảy là phải xa lìa sự tăng thượng kiêu mạn ngạo nghễ, tám là phải xa lìa sự điên đảo, chín là phải xa lìa sự do dự, mười là phải xa lìa tham, sân, si.

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ bậc thứ năm là Cực nan thắng, phải thường xa lìa mười pháp như vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ bậc thứ sáu là Hiện tiền, phải viên mãn sáu pháp. Những gì là sáu? Một là phải viên mãn bố thí Ba-la-mật-đa, hai là phải viên mãn tịnh giới Ba-la-mật-đa, ba là phải viên mãn an nhẫn Ba-la-mật-đa, bốn là phải viên mãn tinh tấn Ba-la-mật-đa, năm là phải viên mãn tịnh lự Ba-la-mật-đa, sáu là phải viên mãn Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Lại phải xa lìa sáu pháp. Những gì là sáu? Một là phải xa lìa tâm Thanh-văn, hai là phải xa lìa tâm Độc-giác, ba là phải xa lìa tâm nhiệt não, bốn là thấy kẻ hành khất đến tâm chẳng bực bội lo lắng, năm là bỏ vật sở hữu tâm không lo buồn hối tiếc, sáu là đối với kẻ đến cầu xin, hoàn toàn chẳng kiêu ngạo dối gạt.

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ bậc thứ sáu là Hiện tiền, phải viên mãn sáu pháp như vậy và phải xa lìa sáu pháp như vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ ở bậc thứ bảy là Viễn hành, phải xa lìa hai mươi pháp. Những gì là hai mươi? Một là phải xa lìa chấp ngã, chấp hữu tình cho đến chấp cái biết, chấp cái thấy, hai là phải xa lìa chấp đoạn, ba là phải xa lìa chấp thường, bốn là phải xa lìa chấp tướng, năm là phải xa lìa chấp nhơn kiến, sáu là phải xa lìa chấp danh sắc, bảy là phải xa lìa chấp uẩn, tám là phải xa lìa chấp xứ, chín là phải xa lìa chấp giới, mười là phải xa lìa chấp Thánh đế, mười một là phải xa lìa chấp duyên khởi, mười hai là phải xa lìa chấp trụ trước ba cõi, mười ba là phải xa lìa chấp tất cả pháp, mười bốn là phải xa lìa chấp như lý và chẳng như lý của tất cả pháp, mười lăm là phải xa lìa kiến chấp nương vào Phật, mười sáu là phải xa lìa kiến chấp nương vào Pháp, mười bảy là phải xa lìa kiến chấp nương vào Tăng, mười tám là phải xa lìa kiến chấp nương vào giới, mười chín là phải xa lìa sự sợ hãi pháp không, hai mươi là phải xa lìa sự trái chống tánh không. Lại phải viên mãn hai mươi pháp. Những gì là hai mươi? Một là phải viên mãn sự thông đạt cái không, hai là phải chứng đắc sự viên mãn vô tướng, ba là phải viên mãn sự hiểu biết vô nguyện, bốn là phải viên mãn ba luân thanh tịnh, năm là phải viên mãn tâm bi mẫn hữu tình và đối với hữu tình không có sự chấp trước, sáu là phải viên mãn cái thấy bình đẳng về tất cả các pháp và ở trong đó không có sự chấp trước, bảy là phải viên mãn cái thấy bình đẳng về tất cả hữu tình và ở trong đó không có sự chấp trước, tám là phải viên mãn sự thông đạt lý thú chơn thật và ở trong đó không có sự chấp trước, chín là phải viên mãn cái trí Vô-sanh-nhẫn, mười là phải viên mãn cái thuyết tất cả pháp đều qui lý nhất tướng, mười một là phải viên mãn sự diệt trừ phân biệt, mười hai là phải viên mãn sự xa lìa các tưởng, mười ba là phải viên mãn sự xa lìa các kiến chấp, mười bốn là phải viên mãn sự xa lìa phiền não, mười lăm là phải viên mãn sự Sa-ma-tha, Tỳ-bát-xá-na (chỉ quán), mười sáu là phải viên mãn sự điều phục tâm tánh, mười bảy là phải viên mãn sự tịch tịnh tâm tánh, mười tám là phải viên mãn tánh vô ngại trí, mười chín là phải viên mãn sự không ái nhiễm, hai mươi là phải viên mãn sự tùy theo ý muốn đến các cõi Phật, tự hiện thân trong chúng hội của Phật.

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ bậc thứ bảy là Viễn hành, phải xa lìa hai mươi pháp như vậy và phải viên mãn hai mươi pháp như vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ ở bậc thứ tám là Bất động, phải viên mãn bốn pháp. Những gì là bốn? Một là phải viên mãn sự ngộ nhập tâm hạnh của tất cả hữu tình, hai là phải viên mãn các thần thông du hý, ba là phải viên mãn cái thấy các cõi Phật, và như cái thấy ấy mà tự trang nghiêm các cõi Phật, bốn là phải viên mãn sự cúng dường, thừa sự chư Phật Thế Tôn, đối với thân Như Lai, quán sát như thật.

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ ở bậc thứ tám là Bất động, phải viên mãn bốn pháp như vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ ở bậc thứ chín là Thiện tuệ, phải viên mãn bốn pháp. Những gì là bốn? Một là phải viên mãn vế cái trí căn cơ thắng, liệt của các hữu tình, hai là phải viên mãn sự nghiêm tịnh cõi Phật, ba là phải viên mãn đẳng trì như huyễn, thường nhập vào các định, bốn là phải viên mãn sự tùy theo thiện căn thuần thục của các hữu tình mà nhập vào các cõi, tự hiện hóa sanh.

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ ở bậc thứ chín là Thiện tuệ, phải viên mãn bốn pháp như vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ ở bậc thứ mười là Pháp vân, phải viên mãn mười hai pháp. Những gì là mười hai? Một là phải viên mãn đại nguyện nhiếp thọ vô biên xứ sở, tùy theo sở nguyện đều được viên mãn, hai là phải viên mãn cái trí biết âm thanh của các loài khác nhau như là chư thiên, long, dược xoa, Kiền-đạt-phược, A-tố-lạc, Yết-lộ-trà, Khẩn-nại-lạc, Mạc-hô-lạc-già, nhơn, phi nhơn v.v... ba là phải viên mãn trí biện thuyết vô ngại, bốn là phải viên mãn sự nhập thai hoàn hảo, năm là phải viên mãn sự đản sanh hoàn hảo, sáu là phải viên mãn gia tộc hoàn hảo, bảy là phải viên mãn chủng tánh hoàn hảo, tám là phải viên mãn quyến thuộc hoàn hảo, chín là phải viên mãn sanh thân hoàn hảo, mười là phải viên mãn xuất gia hoàn hảo, mười một là là phải viên mãn trang nghiêm cây Bồ-đề hoàn hảo, mười hai là là phải viên mãn sự hoàn thành tất cả công đức hoàn hảo.

Thiện Hiện! Đại Bồ-tát khi trụ ở bậc thứ mười là Pháp vân, phải viên mãn mười hai pháp như vậy. Thiện Hiện! Nên biết đã viên mãn bậc thứ mười là Pháp vân, đại Bồ-tát cùng các Như Lai phát ra lời nói không khác.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp ý lạc thù thắng thạnh tịnh?

Phật dạy: Thiện Hiện: Nếu đại Bồ-tát lấy tâm tương ưng trí nhất thiết trí, tu tập tất cả thiện căn, thì đó là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp ý lạc thanh tịnh thù thắng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp của tâm bình đẳng đối với tất cả hữu tình?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát lấy tâm tương ưng trí nhất thiết trí dẫn phát bốn thứ vô lượng: Từ, bi, hỷ, xả, thì đó là của đại Bồ-tát tu sửa nghiệp tâm bình đẳng đối với tất cả hữu tình.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp bố thí?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với tất cả hữu tình không có phân biệt mà hành bố thí, thì đó là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp bố thí.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp thân cận thiện hữu?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát thấy các thiện hữu khuyến hóa hữu tình, khiến họ tu tập trí nhất thiết trí, liền thân cận cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen, thăm hỏi, thọ lãnh chánh pháp, ngày đêm vâng lời, phụng sự, tâm không lười mỏi, thì đó là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp thân cận thiện hữu.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp cầu pháp?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát lấy tâm tương ưng trí nhất thiết trí, cần cầu Chánh pháp Vô Thượng của Như Lai, chẳng rơi vào các bậc Thanh-văn, Độc-giác, thì đó là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp cầu pháp.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp thường ưa xuất gia?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát tất, ở tất cả nơi chốn sanh ra, thường chán sự tạp nhạp ồn ào của lao ngục gia cư, thường ưa vui với Phật Pháp, thanh tịnh xuất gia, không gì có thể ngăn trở, thì đó là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp thường ưa xuất gia.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp ưa mến thân Phật?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát chỉ thoáng thấy hình tượng Phật rồi cho đến khi chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột, hoàn toàn chẳng xả tác ý nghĩ nhớ đến Phật, thì đó là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp ưa mến thân Phật.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp triển khai giáo pháp?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát khi Phật còn tại thế và sau khi nhập Niết-bàn, vì các hữu tình truyền khai giáo pháp, lúc đầu khoảng giữa và sau đều thiện, văn nghĩa xảo diệu, thuần nhất viên mãn, phạm hạnh trong sạch, đó là khế kinh, ứng tụng, ký biệt, phúng tụng, tự thuyết, duyên khởi, thí dụ, bổn sự, bổn sanh, phương quảng, hy pháp, luận nghĩa, thì đó là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp triển khai giáo pháp.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp phá bỏ kiêu mạn?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát thường giữ sự khiêm tốn, cung kính điều phục tâm kiêu mạn, do đó chẳng sanh vào giòng họ hạ tiện, thì đó là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp phá bỏ kiêu mạn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp ngôn ngữ chắc thật thường hằng?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát nói ra tương xứng với sự hiểu biết, lời nóiviệc làm hợp nhau, thì đó là đại Bồ-tát tu sửa nghiệp ngôn ngữ chắc thật thường hằng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát giữ cấm giới thanh tịnh?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát chẳng khởi tác ý Thanh-văn, Độc-giác và các việc khác về phá giới, chướng ngại, giác ngộ, thì đó là đại Bồ-tát giữ cấm giới thanh tịnh.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tri ân báo ân?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bồ-tát hạnh, đối với việc được một ơn nhỏ còn chẳng quên báo đáp, huống là đối với ân huệ lớn mà chẳng báo đền, thì đó là đại Bồ-tát tri ân báo ân.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát trụ sức an nhẫn?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát dù có các hữu tình đến xúc phạm, hủy nhục, nhưng đối với họ không có tâm tức giận, làm hại, thì đó là đại Bồ-tát trụ sức an nhẫn.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát thọ hoan hỷ thù thắng?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát việc giáo hóa hữu tình đã được thành thục, thân tâm vui vẻ, hưởng niềm hoan hỷ thù thắng, thì đó là đại Bồ-tát thọ hoan hỷ thù thắng.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát chẳng bỏ hữu tình?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát cứu độ hữu tình, tâm hằng chẳng bỏ, thì đó là đại Bồ-tát chẳng bỏ hữu tình.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát hằng khởi đại bi?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát, khi tu hành Bồ-tát hạnh, khởi lên ý nghĩ thế này: Ta vì nhiêu ích tất cả hữu tình, giả sử trải qua vô lượng vô số trăm ngàn kiếp, ở trong đại địa ngục chịu các khổ kịch liệt, hoặc thiêu hoặc nấu, hoặc chém hoặc chặt, hoặc đâm hoặc treo, hoặc xay hoặc giã, chịu vô lượng sự khổ như vậy. Cho đến vì muốn khiến họ nương nơi Phật thừa mà nhập Niết-bàn, thế giới của tất cả hữu tình như vậy mà hết, nhưng tâm đại bi chưa từng mệt mỏi chán nản, thì đó là đại Bồ-tát hằng khởi đại bi.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát đối với các Sư trưởng đem tâm kính tín, thăm hỏi, phụng sự, cúng dường tưởng như phụng sự Phật?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát vì cầu quả vị giác ngộ cao tột, cung thuận Sư trưởng, không để tâm đến điều gì khác, thì đó là đại Bồ-tát đối với các bậc Sư trưởng lấy tâm kính tín, thăm hỏi phụng sự, cúng dường tưởng như phụng sự Phật.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát cần cầu tu tập Ba-la-mật-đa?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với các Ba-la-mật-đa chuyên tâm cầu học, xa lìa các việc khác, thì đó là đại Bồ-tát cần cầu tu tập Ba-la-mật-đa.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát cần cầu đa văn, thường không chán nản, không cho là đủ, đối pháp được nghe chẳng đắm vào văn tự?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát phát khởi sự siêng năng tinh tấn, nghĩ rằng: Đối với Chánh pháp của Phật ở cõi này hoặc chư Phật Thế Tônmười phương thế giới đã nói, ta đều nghe, tu tập đọc tụng, thọ trì, nhưng đối với những giáo pháp ấy, chẳng đắm trước văn tự, thì đó là đại Bồ-tát cần cầu đa văn, thường không chán nản, không cho là đủ, đối với pháp đã nghe, chẳng đắm trước văn tự.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát lấy tâm vô nhiễm thường hành pháp thí, tuy mở rộng giáo hóa nhưng chẳng tự cao?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát vì các hữu tình tuyên thuyết chánh pháp còn chẳng tự duy trì thiện căn này hồi hướng quả Giác ngộ, huống là cầu việc khác, tuy hóa đạo nhiều mà chẳng tự thị, thì đó là đại Bồ-tát lấy tâm vô nhiễm thường hành pháp thí, tuy mở rộng giáo hóa nhưng chẳng tự cao.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát vì nghiêm tịnh cõi nước, trồng các căn lành, tuy để hồi hướng nhưng chẳng tự đề cao?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát dõng mãnh tinh tấn tu các căn lành, vì muốn trang nghiêm các cõi Phật thanh tịnh và làm thanh tịnh tâm của mình và người, tuy làm việc như vậy mà chẳng tự cao, thì đó là đại Bồ-tát vì nghiêm tịnh cõi nước, trồng các căn lành, tuy là để hồi hướng mà chẳng tự đề cao.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát vì giáo hóa hữu tình, tuy chẳng chán nản mệt mỏi với sanh tử vô biên, nhưng chẳng tự cao?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát vì muốn thành thục tất cả hữu tình, trồng các căn lành, nghiêm tịnh cõi Phật, cho đến khi chưa được viên mãn trí nhất thiết trí, tuy chịu sự cần khổ của vô biên sanh tử, nhưng không chán nản mỏi mệt, cũng chẳng tự cao, thì đó là đại Bồ-tát vì giáo hóa hữu tình, tuy chẳng mệt mỏi chán nản với vô biên sanh tử, nhưng chẳng tự cao.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tuy trụ tàm quí nhưng không đắm trước?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát chuyên cầu quả vị giác ngộ cao tột, đối với ý nghĩ Thanh-văn, Độc-giác đầy đủ tàm quí, hoàn toàn chẳng móng khởi, nhưng ở trong đó, cũng không đắm trước, thì đó là đại Bồ-tát, tuy trụ tàm quí nhưng không đắm trước.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát trụ nơi thanh vắng thường chẳng rời bỏ?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát vì cầu quả vị giác ngộ cao tột, vượt lên các bậc Thanh-văn, Độc-giác v.v... thường chẳng rời bỏ nơi thanh vắng, thì đó là đại Bồ-tát trụ nơi thanh vắng thường chẳng rời bỏ.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát thiểu dục?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với quả vị Giác ngộ còn chẳng tự mong cầu, huống là muốn tiếng khen lợi dưỡng v.v… của thế gian, thì đó là đại Bồ-tát thiểu dục.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát hỷ túc?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát chỉ vì chứng đắc trí nhất thiết trí, nên đối với các việc khác không đắm trước, thì đó là đại Bồ-tát hỷ túc.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát thường chẳng rời bỏ công đức đầu đà?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát thường đối với pháp thâm diệu, khởi lên sự kiên nhẫn, quán sát kỹ lưỡng, thì đó là đại Bồ-tát, thường chẳng rời bỏ công đức đầu đà.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát đối với các học xứ chưa từng xả bỏ?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với giới đã học, giữ vững chẳng sai lệch, nhưng ở trong đó, thường chẳng chấp tướng, thì đó là đại Bồ-tát đối với các học xứ chưa từng xả bỏ.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát đối với các dục lạc sanh nhàm chán sâu sắc, xa lìa?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với dục lạc ngọt ngào hấp dẫn, chẳng khởi dục tâm, thì đó là đại Bồ-tát, đối với các dục lạc sanh nhàm chán sâu sắc, xa lìa.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát thường hay phát khởi tâm tịch diệt vốn có?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đạt được tất cả pháp nhưng không hề khởi tác, thì đó là đại Bồ-tát thường hay phát khởi tâm tịch diệt vốn có.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát bỏ các sở hữu?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với pháp nội ngoại, không hề chấp thủ, thì đó là đại Bồ-tát bỏ các sở hữu.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát tâm chẳng ngưng trệ chìm đắm?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với các thức đã trụ chưa từng khởi tâm, thì đó là đại Bồ-tát tâm chẳng ngưng trệ chìm đắm.

Bạch Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ-tát, đối với các vật sở hữu, không tham luyến đoái hoài?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với tất cả vật, không có sự tư duy, thì đó là đại Bồ-tát đối với các sở hữu không có sự tham luyến đoái hoài.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát xa lìa nhà ở?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát ý chí muốn đi đến các cõi Phật, tùy theo nơi sanh ra, thường ưa xuất gia, cạo bỏ râu tóc, thọ trì bình bát, khoác ba pháp y, hiện làm Sa-môn, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa nhà ở.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa Bí-sô-ni?

Thiện Hiện! Nếu là đại Bồ-tát, thường phải xa lìa Bí-sô-ni, chẳng cùng ở chung dù trong khoảnh khắc, đối với họ cũng lại chẳng khởi dị tâm, thì đó là lý do của đại Bồ-tát phải xa lìa Bí-sô-ni.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa nhà keo kiệt?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát khởi lên ý nghĩ: Ta nên ở trong đêm dài tăm tối, làm việc lợi ích an lạc cho tất cả hữu tình, khiến các hữu tình này do phước lực của họ mà cảm được nhà thí chủ tốt đẹp, cho nên ta ở trong đó, chẳng nên tham lam, tật đố, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa nhà keo kiệt.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chúng hội tranh chấp giận dữ?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát khởi lên ý nghĩ thế này: Nếu ở trong chúng hội, mà trong chúng đó, hoặc có Thanh-văn, Độc-giác, nói thừa ấy là tương ưng với pháp yếu, khiến ta thối thất tâm Đại Bồ-đề, vì thế nhất định phải xa lìa chúng hội; lại khởi lên ý nghĩ thế này: Các kẻ tranh chấp giận dữ có thể khiến hữu tình phát khởi sân hại, tạo tác đủ các loại nghiệp ác bất thiện, việc ấy còn trái với đường thiện, huống là đại Bồ-đề, vì thế nhất định phải xa lìa sự tranh chấp giận dữ, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa chúng hội tranh chấp.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa việc tự khen mình chê người?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với pháp nội, ngoại, đều không thấy có, nên xa lìa việc khen mình chê người, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa việc tự khen mình chê người.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa mười nghiệp đạo bất thiện?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát khởi lên ý nghĩ thế này: Mười pháp ác này, còn trở ngại đường thiện, Nhị-thừa, Thánh-đạo, huống là vị đại Giác ngộ, cho nên phải xa lìa, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa mười nghiệp đạo bất thiện.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa sự ngạo mạn tăng thượng?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát chẳng thấy có pháp có thể khởi ngạo mạn, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa sự ngạo mạn tăng thượng.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa điên đảo?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán việc điên đảo hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa điên đảo.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa do dự?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán việc do dự hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, thì đó là lý do đại Bồ-tát nên xa lìa do dự.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa tham, sân, si?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát hoàn toàn chẳng thấy có việc tham, sân, si, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa tham, sân, si.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sáu phép Ba-la-mật-đa?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát viên mãn sáu phép Ba-la-mật-đa, vượt lên các bậc Thanh-văn và Độc-giác, lại trụ sáu phép Ba-la-mật-đa này, Phật và Nhị-thừa có khả năng vượt qua năm thứ bờ biển sở tri. Những gì là năm? Một là quá khứ, hai là vị lai, ba là hiện tại, bốn là vô vi, năm là bất khả thuyết, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải viên mãn sáu phép Ba-la-mật-đa.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa tâm Thanh-văn?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát khởi lên ý nghĩ thế này: Tâm của các Thanh-văn chẳng phải thứ tâm chứng đạo đại Giác ngộ Vô thượng, cho nên phải xa lìa, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa tâm Thanh-văn.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa tâm Độc-giác?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát khởi lên ý nghĩ thế này: Tâm của các Độc-giác nhất định chẳng có khả năng chứng đắc trí nhất thiết trí, cho nên ta nay phải xa lìa nó, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa tâm Độc-giác.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa tâm nhiệt não?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát khởi lên ý nghĩ thế này: Tâm sợ hãi sanh tử nhiệt não, chẳng phải là tâm chứng đắc đạo Giác ngộ cao tột, cho nên phải xa lìa, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa tâm nhiệt não.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát thấy kẻ ăn xin đến, tâm chẳng nhàm chán lo lắng?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát khởi lên ý nghĩ thế này: Tâm nhàm chán lo lắng này đối với đại Bồ-đề, chẳng có khả năng chứng đạo, nên ta nay nhất định phải xa lìa, thì đó là lý do đại Bồ-tát thấy kẻ ăn xin đến, tâm chẳng nhàm chán lo lắng.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát bỏ các vật sở hữu không có tâm hối tiếc?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát khởi lên ý nghĩ thế này: Tâm hối tiếc này đối với việc chứng đắc quả vị giác ngộ cao tột, nhất địnhchướng ngại nên ta phải bỏ, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải bỏ các vật sở hữu, không có tâm hối tiếc.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát đối với người đến cầu xin, hoàn toàn chẳng kiêu mạn, dối gạt?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát khởi lên ý nghĩ thế này: Tâm kiêu mạn dối gạt này, nhất định chẳng phải là đạo Giác ngộ cao tột. Vì sao? Vì đại Bồ-tát khi mới phát tâm cầu quả vị giác ngộ cao tột, có phát lời thề rằng: Hễ ta có vật gì đều cho người đến xin, tùy theo ý muốn, không làm lơ, nhưng tại sao bây giờ lại kiêu ngạo, dối gạt họ, thì đó là lý do đại Bồ-tát đối với người đến xin, hoàn toàn chẳng kiêu ngạo dối gạt.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chấp ngã, chấp hữu tình cho đến chấp cái biết, chấp cái thấy?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán ngã, hữu tình cho đến cái biết, cái thấy, rốt ráo chẳng thể nắm bắt được, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa chấp ngã, chấp hữu tình cho đến chấp cái biết, cái thấy.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chấp đoạn?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán nghĩa rốt ráo của tất cả pháp là bất sanh, vô đoạn, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa chấp đoạn.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chấp thường?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán tánh của tất cả pháp là vô thường, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa chấp thường.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa tướng tưởng?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán tánh tạp nhiễm chẳng thể nắm bắt được, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa tướng tưởng.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa kiến chấp về nhân v.v...?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát hoàn toàn chẳng thấy có các tánh thấy, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa kiến chấp về nhân v.v...

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chấp danh sắc?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán tánh của danh sắc hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa các danh sắc.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chấp uẩn?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán tánh của năm uẩn hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa chấp uẩn.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chấp xứ?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán tánh của mười hai xứ hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa chấp xứ.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chấp giới?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán tánh của mười tám giới v.v... hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa chấp giới.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chấp đế?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán tánh của các đế hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa chấp đế.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chấp duyên khởi?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán tánh của các duyên khởi, chẳng thể nắm bắt được, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa chấp duyên khởi.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chấp sự trụ trước tam giới?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán tánh của tam giới hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa chấp sự trụ trước tam giới.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chấp tất cả pháp?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán tánh của các pháp đều như hư không, hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa tất cả pháp.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa chấp sự như lý, bất như lý đối với tất cả pháp?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán tánh của các pháp hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, và tánh của các pháp không có sự như lý hoặc bất như lý, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa chấp sự như lý, bất như lý của tất cả pháp.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa kiến chấp nương vào Phật?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát biết sự kiến chấp nương vào Phật, chẳng được thấy Phật, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa kiến chấp nương vào Phật.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa kiến chấp nương vào Pháp?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đạt được chơn pháp tánh là chẳng thể thấy được, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải xa lìa kiến chấp nương vào Pháp.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa kiến chấp nương vào Tăng?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát biết chúng hòa hợpvô tướng, vô vi chẳng thể thấy được, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải xa lìa kiến chấp nương vào Tăng.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa kiến chấp nương vào giới?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát biết tánh tội phước hoàn toàn chẳng có, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải xa lìa kiến chấp nương vào giới.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa sự sợ hãi pháp không?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán các pháp không đều không có tự tánh, đối tượng của sự sợ hãi rốt ráo chẳng có, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải xa lìa sự sợ hãi pháp không.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải xa lìa tánh chống trái cái không?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát quán tự tánh của tất cả pháp đều không, cái chẳng phải không cùng cái không có sự chống trái, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải xa lìa tánh chống trái cái không.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự thông đạt cái không?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đạt tự tướng của tất cả pháp đều là không, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự thông đạt cái không.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự chứng đắc vô tướng?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát chẳng tư duy tất cả tướng, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự chứng đắc vô tướng.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự hiểu biết về vô nguyện?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với pháp của ba cõi, tâm không có chỗ trụ, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự hiểu biết về vô nguyện.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn ba luân thanh tịnh?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát thanh tịnh hoàn toàn mười thiện nghiệp đạo, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn ba luân thanh tịnh.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn lòng bi mẫn hữu tình và đối với hữu tình không có sự chấp trước?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đã chứng đắc đại binghiêm tịnh cõi nước, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải viên mãn lòng bi mẫn hữu tình và đối với hữu tình không có sự chấp trước.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn cái thấy bình đẳng đối với tất cả pháp và ở trong đó không có sự chấp trước?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với tất cả pháp, chẳng tăng, chẳng giảm và đối với trong ấy không thủ, không trụ, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn cái thấy bình đẳng đối với tất cả pháp và ở trong đó không có sự chấp trước.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn cái thấy bình đẳng đối với tất cả hữu tình và trong đó không có sự chấp trước?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với các hữu tình chẳng tăng, chẳng giảm và đối với trong đó không thủ, không trụ, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn cái thấy bình đẳng đối với tất cả hữu tình và ở trong đó không có sự chấp trước.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự thông đạt lý thú chơn thật và ở trong đó không có sự chấp trước?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với lý thú chơn thật của tất cả pháp, tuy như thật thông đạt nhưng không có đối tượng thông đạt và ở trong đó không thủ, không trụ, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự thông đạt lý thú chơn thật và ở trong đó không có sự chấp trước.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn trí Vô-sanh-nhẫn?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát chịu đựng sự không sanh, không diệt, không có sự tạo tác của tất cả pháp và biết danh sắc rốt ráo chẳng sanh, thì đó là lý do đại Bồ-tát phải viên mãn trí Vô-sanh-nhẫn.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn thuyết tất cả pháp đều qui về lý nhất tướng?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với tất cả pháp hành, không hai tướng, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn thuyết tất cả pháp đều qui về lý nhất tướng.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự diệt trừ phân biệt?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với tất cả pháp, chẳng khởi sự phân biệt, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự diệt trừ phân biệt.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự xa lìa các tưởng?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát xa lìa tất cả tưởng lớn nhỏ vô lượng, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự xa lìa các tưởng.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự xa lìa các kiến chấp?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát xa lìa tất cả kiến chấp của Thanh-văn, Độc-giác v.v... thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự xa lìa các kiến chấp.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự xa lìa phiền não?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát xả bỏ sự tương tục của tất cả tập khí phiền não hữu lậu, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự xa lìa phiền não.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn bậc Sa-ma-tha, Tỳ-bát-xá-na?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát tu trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn bậc Sa-ma-tha, Tỳ-bát-xá-na.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự điều phục tâm tánh?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với pháp của ba cõi, chẳng ưa, chẳng động, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự điều phục tâm tánh.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự tịch tịnh tâm tánh?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát khéo nhiếp sáu căn, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự tịch tịnh tâm tánh.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn tánh vô ngại trí?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát tu hành chắng đắc Phật nhãn, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn tánh vô ngại trí.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự không ái nhiễm?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đối với ngoại lục xứ, có khả năng khéo xả bỏ, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự không ái nhiễm.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự tùy theo ý muốn đến các cõi Phật, tự hiện thân trong chúng hội của Phật?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát tu hành thần thông thù thắng, từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, cung kính cúng dường, tôn trọng ngợi khen chư Phật Thế Tôn, thỉnh chuyển pháp luân, làm lợi ích tất cả, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự tùy theo ý muốn đến các cõi Phật, tự hiện thân trong chúng hội của Phật.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự ngộ nhập tâm hành của tất cả hữu tình?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát dùng trí nhất tâm, biết khắp như thật tâm và tâm sở của tất cả hữu tình, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự ngộ nhập tâm hành của tất cả hữu tình.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn các thần thông du hý?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát dùng các thứ thần thông tự tại dạo chơi, để được thấy Phật, từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, cũng lại chẳng sanh ý tưởng về sự dạo chơi cõi Phật, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn các thần thông du hý.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn cái thấy các cõi Phật và như cái thấy ấy, mà tự trang nghiêm các cõi Phật?

Thiện Hiện! Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở một cõi Phật mà có khả năng thấy vô biên các cõi Phật trong mười phương, cũng có khả năng thị hiện nhưng chẳng từng sanh ý tưởng về cõi Phật, lại vì thành thục các hữu tình, nên hiện ở trong thế giới ba lần ngàn, ở ngôi Chuyển luân vương mà tự trang nghiêm, cũng có khả năng xả bỏ mà không có sự chấp trước, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn cái thấy các cõi Phật, và như cái thấy ấy mà tự trang nghiêm các cõi Phật.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự cúng dường, thừa sự chư Phật Thế Tôn, đối với thân Như Lai, như thật quan sát?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát vì muốn lợi ích cho các hữu tình, nên đối với nghĩa thú của pháp, như thật phân biệt, như vậy gọi là dùng pháp cúng dường, thừa sự chư Phật, lại phải quan sát kỹ pháp thân chư Phật, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự cúng dường, thừa sự chư Phật Thế Tôn, đối với thân Như Lai, như thật quan sát.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự hiểu biết về cái trí thắng, liệt của căn cơ các hữu tình?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát an trú mười lực Phật, biết rõ như thật, các căn thắng liệt của tất cả hữu tình, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự hiểu biết về cái trí thắng, liệt của căn cơ các hữu tình.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự nghiêm tịnh cõi Phật?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát lấy vô sở đắc làm phương tiện, nghiêm tịnh tâm hành tất cả hữu tình, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự nghiêm tịnh cõi Phật.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn đẳng trì như huyễn, thường nhập vào các định?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát trụ đẳng trì này, tuy có khả năng hoàn thành tất cả sự nghiệp mà tâm chẳng động, lại tu đẳng trì đến thành thục cùng tột, chẳng khởi gia hạnh mà luôn luôn hiện tiền, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn đẳng trì như huyễn, thường nhập vào các định.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự tùy theo thiện căn thuần thục của các hữu tình để nhập vào các cõi, tự hiện hóa sanh?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát vì muốn thành thục thiện căn thù thắng của các loài hữu tình, tùy theo điều kiện thuận tiện của họ nên nhập vào các cõi mà thị hiện thọ sanh, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát tùy theo căn cơ thành thục của các hữu tình, nhập vào các cõi tự hiện hóa sanh.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn đại nguyện nhiếp thọ vô biên xứ sở, tùy theo sở nguyện đều viên mãn?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát vì đã tu đầy đủ sáu phép Ba-la-mật-đa hết sức viên mãn rồi, nên hoặc vì nghiêm tịnh các cõi Phật, hoặc vì thành thục các loại hữu tình, tùy sở nguyện của tâm, đều được viên mãn, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn đại nguyện nhiếp thọ vô biên xứ sở, tùy theo sở nguyện đều viên mãn.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn trí hiểu biết âm thanh, tùy theo các loài khác nhau như chư thiên, rồng, Dược xoa, Kiền-đạt-phược, A-tố-lạc, Yết-lộ-trà, Khẩn-nại-lạc, Mạc-hô-lạc-già, nhơn phi nhơn v.v...?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát tu tập sự hiểu biết vô ngại về ngôn từ thù thắng, biết rõ sự sai biệt về âm thanh ngôn ngữ của hữu tình, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn trí hiểu biết âm thanh, tùy theo các loài khác nhau như chư thiên, rồng, Dược xoa, Kiền-đạt-phược, A-tố-lạc, Yết-lộ-trà, Khẩn-nại-lạc, Mạc-hô-lạc-già, nhơn phi nhơn v.v... khác nhau.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn trí biện thuyết vô ngại?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát tu tập sự hiểu biết vô ngại, biện tài thù thắng, vì các hữu tình thường thuyết không dừng nghỉ, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn trí biện thuyết vô ngại.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự nhập thai hoàn hảo?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát tuy đối với tất cả chỗ sanh ra, sự thật là thường hóa sanh, nhưng vì lợi ích hữu tình nên hiện nhập thai tạng, ở trong đó, đầy đủ các việc thù thắng, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn việc nhập vào thai hoàn hảo.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sự đản sanh hoàn hảo?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát vào khi xuất thai, thị hiện các việc thù thắng hy hữu, khiến các hữu tình thấy đều hoan hỷ, được lợi lạc lớn, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự đản sanh hoàn hảo.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn gia tộc hoàn hảo?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát hoặc sanh vào nhà thuộc dòng họ lớn Sát-đế-lợi, hoặc sanh vào nhà thuộc dòng họ lớn Bà-la-môn, việc nương vào cha mẹ để ra đời không thể chê trách, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn gia tộc hoàn hảo.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn chủng tánh hoàn hảo?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát thường hội nhập trong chủng tánh các đại Bồ-tát ở quá khứ mà sanh ra, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn chủng tánh hoàn hảo.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn quyến thuộc hoàn hảo?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát thường lấy vô lượng vô số Bồ-tát làm quyến thuộc, chẳng phải là các loại hỗn tạp tầm thường, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn quyến thuộc hoàn hảo.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn sanh thân hoàn hảo?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát vào lúc sơ sinh, thân thể hoàn hảo, tất cả tướng tốt, phóng hào quang lớn, chiếu khắp vô biên thế giới chư Phật, cũng khiến thế giới ấy, sáu thứ biến động, hữu tình gặp được đều được lợi ích, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sanh thân hoàn hảo.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn xuất gia hoàn hảo?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát vào lúc xuất gia, vô lượng vô số trời, rồng, Dược xoa, nhơn phi nhơn v.v… đi theo hai bên, đi đến đạo tràng, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, thọ trì bình bát, hướng dẫn vô lượng vô số hữu tình, khiến nương vào ba thừa mà hướng đến viên tịch, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn việc xuất gia hoàn hảo.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn việc trang nghiêm cây Bồ-đề hoàn hảo?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát có thiện căn thù thắng, nguyện lực rộng lớn, đều được cây Bồ-đề đẹp đẽ như thế này: Dùng ngọc quí phệ lưu ly làm thân, vàng ròng làm gốc, cành, lá, hoa, quả đều dùng loại bảy báu hảo hạng làm thành; cây này cao rộng phủ khắp cõi Phật trong thế giới ba lần ngàn, ánh sáng rực rỡ chiếu khắp vô số thế giới chư Phật trong mười phương, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn sự trang nghiêm cây Bồ-đề hoàn hảo.

Bạch Thế Tôn! Vì sao đại Bồ-tát phải viên mãn tất cả công đức hoàn hảo?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát đầy đủ tư lương trí tuệ thù thắng, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, thì đó là lý do mà đại Bồ-tát phải viên mãn tất cả công đức hoàn hảo.

Quyển Thứ 54

HẾT

 

 

05

Bạch Thế Tôn! Vì sao nên biết đã viên mãn bậc thứ mười là Pháp vân, đại Bồ-tát cùng chư Như Lai phát ra lời nói không khác?

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát ấy đã viên mãn sáu phép Ba-la-mật-đa, đã viên mãn bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc; đã viên mãn bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo; đã viên mãn pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện; đã viên mãn năm loại mắt, sáu phép thần thông; đã viên mãn mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng; đã viên mãn tất cả pháp Phật, lại nếu đoạn trừ vĩnh viễn sự tương tục của tất cả phiền não tập khí, thì liền trụ Phật địa, vì vậy nên biết là đã viên mãn bậc thứ mười là Pháp vân, đại Bồ-tát cùng với chư Như Lai phát ra lời nói không khác.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Làm thế nào từ bậc thừ mười là Pháp vân, đại Bồ-tát hướng đến bậc Như Lai?

Phật dạy: Thiện Hiện! Đại Bồ-tát ấy, dùng phương tiện thiện xảo hành sáu phép Ba-la-mật-đa, tu vô lượng tịnh lự, định vô sắc, ba mươi bảy pháp Bồ-đề phần, ba pháp môn giải thoát; học năm loại mắt, sáu phép thần thông, mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng, vì tất cả pháp Phật đã được viên mãn, nên vượt lên bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc thứ tám, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác và mười bậc Bồ-tát, đoạn trừ vĩnh viễn sự tương tục của tập khí phiền não, mới thành Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác

Thiện Hiện! Như vậy bậc thứ mười là Pháp vân đại Bồ-tát hướng đến bậc Như Lai.

Thiện Hiện! nên biết đó là đại Bồ-tát phát tâm hướng đến Đại-thừa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngươi hỏi Đại-thừa như vậy phát xuất từ chỗ nào và đến an trụ ở đâu?

Thiện Hiện! Đại-thừa như vậy từ trong ba cõi mà ra và đến an trụ trong trí nhất thiết trí; do vì trí nhất thiết tríhiện ra ba cõi, nhưng vì không có hai, nên không (từ đâu) ra không (có chỗ) đến. Vì sao? Vì hoặc Đại-thừa, hoặc trí nhất thiết trí, hai pháp như vậy chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng, chẳng phải hữu sắc, chẳng phải vô sắc, chẳng hữu kiến, chẳng phải vô kiến, chẳng hữu đối, chẳng phải vô đối, đều cùng nhất tướng, gọi đó là vô tướng. Pháp vô tướng không (từ đâu) ra không (có chỗ) đến. Vì sao? Thiện Hiện! Pháp vô tướng chẳng đã (từ đâu) ra và đã (có chỗ) đến, chẳng phải sẽ (từ đâu) ra và sẽ (có chỗ) đến, chẳng phải đang (từ đâu) ra và đang (có chỗ) đến.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến chơn như có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì chơn như chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến trụ trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì chơn nhưtự tánh của chơn như là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng ấy có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, cảnh giới bất tư nghì, cảnh giới hư không, cảnh giới đoạn, cảnh giới ly, cảnh giới diệt, cảnh giới vô tánh, cảnh giới vô tướng, cảnh giới vô tác, cảnh giới vô vi, cảnh giới an ổn, cảnh giới tịch tịnh, định pháp, trụ pháp, bổn vô, thật tế, có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì pháp giới cho đến thật tế chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì pháp giới và tánh của pháp giới là không, cho đến thật tế và tánh của thật tế là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến sắc có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì sắc chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì sắc và tự tánh của sắc là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến thọ, tưởng, hành, thức có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì thọ, tưởng, hành, thức chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì thọ, tưởng, hành, thức và tự tánh của thọ, tưởng, hành, thức là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến nhãn xứ có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì nhãn xứ chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì nhãn xứ và tự tánh của nhãn xứ là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứtự tánh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến sắc xứ có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì sắc xứ chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì sắc xứtự tánh của sắc xứ là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì thanh, hương, vị, xúc, pháp xứtự tánh của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến nhãn giới có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì nhãn giới chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì nhãn giớitự tánh của nhãn giới là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì sắc giới cho đến các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì sắc giớitự tánh của sắc giới là không, cho đến các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra và tự tánh của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến nhĩ giới có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì nhĩ giới chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì nhĩ giớitự tánh của nhĩ giới là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì thanh giới cho đến các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì thanh giới và tự tánh của thanh giới là không cho đến các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra và tự tánh của các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến tỷ giới có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì tỷ giới chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tỷ giới và tự tánh của tỷ giới là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì hương giới cho đến các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì hương giớitự tánh của hương giới là không, cho đến các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra và tự tánh của các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến thiệt giới có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì thiệt giới chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì thiệt giới và tự tánh của thiệt giới là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì vị giới cho đến các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì vị giới và tự tánh của vị giới là không, cho đến các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra và tự tánh của các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến thân giới có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì thân giới chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì thân giớitự tánh của thân giới là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì xúc giới cho đến các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì xúc giới và tự tánh của xúc giới là không, cho đến các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra và tự tánh của các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến ý giới có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì ý giới chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ý giớitự tánh của ý giới là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì pháp giới cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì pháp giớitự tánh của pháp giới là không, cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra và tự tánh của các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến địa giới có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì địa giới chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì địa giớitự tánh của địa giới là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến thủy, hỏa, phong, không, thức giới có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì thủy, hỏa, phong, không, thức giới chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì thủy, hỏa, phong, không, thức giớitự tánh của thủy, hỏa, phong, không, thức giới là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến Thánh đế khổ, có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì Thánh đế khổ, chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì Thánh đế khổ và tự tánh của Thánh đế khổ là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến Thánh đế tập, diệt, đạo có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì Thánh đế tập, diệt, đạo chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì Thánh đế tập, diệt, đạo và tự tánh của Thánh đế tập, diệt, đạo là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến vô minh có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì vô minh chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì vô minhtự tánh của vô minh là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì hành cho đến lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì hành và tự tánh của hành là không, cho đến lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não và tự tánh của lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến sự huyễn có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì sự huyễn chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì sự huyễn và tự tánh của sự huyễn là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến cảnh mộng, ảnh tượng, tiếng vang, bóng sáng, hoa đốm giữa hư không, sóng nắng, ảo thành, sự biến hóa có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì cảnh mộng cho đến sự biến hóa chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì cảnh mộng và tự tánh của cảnh mộng là không, cho đến sự biến hóatự tánh của sự biến hóa là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến cái không nội có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì cái không nội chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì cái không nội và tự tánh cái không nội là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì cái không ngoại và tự tánh của cái không ngoại là không, cho đến cái không không tánh tự tánhtự tánh của cái không không tánh tự tánh là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến bố thí Ba-la-mật-đa có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì bố thí Ba-la-mật-đa chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì bố thí Ba-la-mật-đa và tự tánh của bố thí Ba-la-mật-đa là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đatự tánh của tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến bốn tịnh lự có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì bốn tịnh lự chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì bốn tịnh lựtự tánh của bốn tịnh lự là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến bốn vô lượng, bốn định vô sắc có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì bốn vô lượng, bốn định vô sắc chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì bốn vô lượng, bốn định vô sắctự tánh của bốn vô lượng, bốn định vô sắc là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến bốn niệm trụ có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì bốn niệm trụ chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì bốn niệm trụ và tự tánh của bốn niệm trụ là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì bốn chánh đoạn và tự tánh của bốn chánh đoạn là không, cho đến tám chi thánh đạotự tánh của tám chi thánh đạo là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến pháp môn giải thoát không có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì pháp môn giải thoát không chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì pháp môn giải thoát không và tự tánh của pháp môn giải thoát không là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyệntự tánh của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến năm loại mắt có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì năm loại mắt chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì năm loại mắttự tánh của năm loại mắt là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến sáu phép thần thông có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì sáu phép thần thông chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì sáu phép thần thôngtự tánh của sáu phép thần thông là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến mười lực của Phật có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì mười lực của Phật chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì mười lực của Phật và tự tánh của mười lực của Phật là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì bốn điều không sợ cho đến trí nhất thiết tướng chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì bốn điều không sợ và tự tánh của bốn điều không sợ là không, cho đến trí nhất thiết tướng và tự tánh của trí nhất thiết tướng là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến bậc Dự-lưu sanh vào đường ác có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì bậc Dự-lưu sanh vào đường ác chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì bậc Dự-lưu sanh vào đường ác và tự tánh của bậc Dự-lưu sanh vào đường ác là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến bậc Nhất-lai sanh lại nhiều lần, bậc Bất-hoàn sanh vào Dục giới, bậc đại Bồ-tát sanh ra để tự lợi, bậc A-la-hán, Độc-giác, Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì bậc Nhất-lai sanh lại nhiều lần cho đến Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì bậc Nhất-lai sanh lại nhiều lần và tự tánh của bậc Nhất-lai sanh lại nhiều lần là không, cho đến Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giáctự tánh của Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả và tự tánh của Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như Lai có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả cho đến Như Lai chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả và tự tánh của Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả là không, cho đến Như laitự tánh của Như Lai là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyếttự tánh của danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết là không.

Thiện Hiện! Ai muốn khiến pháp vô tướng có chỗ ra có chỗ đến, thì kẻ ấy muốn khiến vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi có chỗ ra có chỗ đến. Vì sao? Vì vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi chẳng thể từ trong tam giới mà ra, cũng chẳng thể đến an trú trong trí nhất thiết trí. Vì sao? Thiện Hiện! Vì vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vitự tánh của vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi là không.

Thiện Hiện! Do duyên này, nên việc Đại-thừa từ trong tam giới mà ra, đến an trú trong trí nhất thiết trí, là vô nhị, nên không (từ đâu) ra, không (có chỗ) đến, vì là pháp vô tướng, nên không động không chuyển.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngươi hỏi, Đại-thừa như vậy là trụ ở chỗ nào?

Thiện Hiện! Đại-thừa như vậy hoàn toàn vô sở trụ. Vì sao? Vì tất cả pháp đều vô sở trụ. Vì sao? Vì chỗ trụ của các pháp chẳng thể nắm bắt được.

Thiện Hiện! Nhưng Đại-thừa trụ vô sở trụ.

Thiện Hiện! Như tánh của chơn như chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh chơn nhưvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh chơn như tức là cái không của tánh chơn như.

Thiện Hiện! Như pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, cảnh giới bất tư nghì, cảnh giới hư không, cảnh giới đoạn, cảnh giới ly, cảnh giới diệt, cảnh giới vô tánh, cảnh giới vô tướng, cảnh giới vô tác, cảnh giới vô vi, cảnh giới an ổn, cảnh giới tịch tịnh, định pháp, trụ pháp, tánh bổn vô, thật tế chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh pháp giới cho đến tánh thật tếvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh pháp giới, tức là cái không của tánh pháp giới, cho đến tánh thật tế là cái không của tánh thật tế.

Thiện Hiện! Như tánh của sắc chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của sắc là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh sắc là cái không của tánh sắc

Thiện Hiện! Như tánh của thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh thọ, tưởng, hành, thức là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh thọ, tưởng, hành, thức là cái không của tánh thọ, tưởng, hành, thức.

Thiện Hiện! Như tánh của nhãn xứ chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh nhãn xứ là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh nhãn xứ tức là cái không của tánh nhãn xứ.

Thiện Hiện! Như tánh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ tức là cái không của tánh nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.

Thiện Hiện! Như tánh của sắc xứ chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của sắc xứvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh sắc xứ là cái không của tánh sắc xứ.

Thiện Hiện! Như tánh của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ tức là cái không của tánh thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.

Thiện Hiện! Như tánh của nhãn giới chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của nhãn giớivô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh nhãn giới tức là cái không của tánh nhãn giới.

Thiện Hiện! Như tánh của sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh sắc giới cho đến tánh của các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh sắc giới tức là cái không của tánh sắc giới, cho đến tánh các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra tức là cái không của tánh các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra.

Thiện Hiện! Như tánh của nhĩ giới chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của nhĩ giớivô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh nhĩ giới tức là cái không của tánh nhĩ giới.

Thiện Hiện! Như tánh của thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của thanh giới cho đến tánh các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh thanh giới tức là cái không của tánh thanh giới, cho đến tánh các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra tức là cái không của tánh các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra.

Thiện Hiện! Như tánh của tỷ giới chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của tỷ giới là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh tỷ giới tức là cái không của tánh tỷ giới.

Thiện Hiện! Như tánh của hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của hương giới, cho đến tánh các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh hương giới tức là cái không của tánh hương giới, cho đến tánh các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra tức là cái không của tánh các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra.

Thiện Hiện! Như tánh của thiệt giới chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của thiệt giới là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh thiệt giới tức là cái không của tánh thiệt giới.

Thiện Hiện! Như tánh của vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của vị giới cho đến tánh các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh vị giới tức là cái không của tánh vị giới, cho đến tánh các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra tức là cái không của tánh các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra.

Thiện Hiện! Như tánh của thân giới chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh thân giớivô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh thân giới tức là cái không của tánh thân giới.

Thiện Hiện! Như tánh của xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh xúc giới cho đến tánh các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh xúc giới tức là cái không của tánh xúc giới, cho đến tánh các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra tức là cái không của tánh các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra.

Thiện Hiện! Như tánh của ý giới chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh ý giớivô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh ý giới tức là cái không của tánh ý giới.

Thiện Hiện! Như tánh của pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh pháp giới, cho đến tánh các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh pháp giới tức là cái không của tánh pháp giới, cho đến tánh các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra tức là cái không của tánh các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra.

Thiện Hiện! Như tánh của địa giới chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh địa giới là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh địa giới tức là cái không của tánh địa giới.

Thiện Hiện! Như tánh của thủy, hỏa, phong, không, thức giới chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh thủy, hỏa, phong, không, thức giớivô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh thủy, hỏa, phong, không, thức giới tức là cái không của tánh thủy, hỏa, phong, không, thức giới.

Thiện Hiện! Như tánh của Thánh đế khổ, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh Thánh đế khổ là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh Thánh đế khổ tức là cái không của tánh Thánh đế khổ.

Thiện Hiện! Như tánh của Thánh đế tập, diệt, đạo chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh Thánh đế tập, diệt, đạo là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh Thánh đế tập, diệt, đạo tức là cái không của tánh Thánh đế tập, diệt, đạo.

Thiện Hiện! Như tánh của vô minh chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh vô minhvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh vô minh tức là cái không của tánh vô minh.

Thiện Hiện! Như tánh của hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh hành cho đến tánh lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh hành tức là cái không của tánh hành, cho đến tánh lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não tức là cái không của tánh lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não.

Thiện Hiện! Như tánh của sự huyễn chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh sự huyễn là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh sự huyễn tức là cái không của tánh sự huyễn.

Thiện Hiện! Như tánh của cảnh mộng, ảnh tượng, tiếng vang, bóng sáng, hoa đốm giữa hư không, sóng nắng, ảo thành, sự biến hóa chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh cảnh mộng cho đến tánh sự biến hóavô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh cảnh mộng tức là cái không của tánh cảnh mộng, cho đến tánh sự biến hóa tức là cái không của tánh sự biến hóa.

Thiện Hiện! Như tánh của cái không nội chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh cái không nội là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh cái không nội tức là cái không của tánh cái không nội.

Thiện Hiện! Như tánh của cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh cái không ngoại cho đến tánh cái không không tánh tự tánhvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh cái không ngoại tức là cái không của tánh cái không ngoại, cho đến tánh cái không không tánh tự tánh tức là cái không của tánh cái không không tánh tự tánh.

Thiện Hiện! Như tánh của bố thí Ba-la-mật-đa chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh bố thí Ba-la-mật-đa là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh bố thí Ba-la-mật-đa tức là cái không của tánh bố thí Ba-la-mật-đa.

Thiện Hiện! Như tánh của tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đavô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa tức là cái không của tánh tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa.

Thiện Hiện! Như tánh của bốn tịnh lự chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh bốn tịnh lựvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh bốn tịnh lự tức là cái không của tánh bốn tịnh lự.

Thiện Hiện! Như tánh của bốn vô lượng, bốn định vô sắc chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh bốn vô lượng, bốn định vô sắcvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh bốn vô lượng, bốn định vô sắc tức là cái không của tánh bốn vô lượng, bốn định vô sắc.

Thiện Hiện! Như tánh của bốn niệm trụ chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh bốn niệm trụ là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh bốn niệm trụ tức là cái không của tánh bốn niệm trụ.

Thiện Hiện! Như tánh của bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạovô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh bốn chánh đoạn tức là cái không của tánh bốn chánh đoạn, cho đến tám chi thánh đạo tức là cái không của tánh tám chi thánh đạo.

Thiện Hiện! Như tánh của pháp môn giải thoát không chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh pháp môn giải thoát không là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh pháp môn giải thoát không tức là cái không của tánh pháp môn giải thoát không.

Thiện Hiện! Như tánh của pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyệnvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện tức là cái không của tánh pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện.

Thiện Hiện! Như tánh của năm loại mắt chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh năm loại mắtvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh năm loại mắt tức là cái không của tánh năm loại mắt.

Thiện Hiện! Như tánh của sáu phép thần thông chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh sáu phép thần thôngvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh sáu phép thần thông tức là cái không của tánh sáu phép thần thông.

Thiện Hiện! Như tánh của mười lực Phật chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh mười lực của Phật là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh mười lực của Phật tức là cái không của tánh mười lực của Phật.

Thiện Hiện! Như tánh của bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tuớng chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh bốn điều không sợ, cho đến tánh trí nhất thiết tướng là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh bốn điều không sợ tức là cái không của tánh bốn điều không sợ, cho đến tánh trí nhất thiết tướng tức là cái không của tánh trí nhất thiết tướng.

Thiện Hiện! Như tánh của bậc Dự-lưu sanh vào đường ác chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh bậc Dự-lưu sanh vào đường ác là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh bậc Dự-lưu sanh vào đường ác tức là cái không của tánh bậc Dự-lưu sanh vào đường ác.

Thiện Hiện! Như tánh của bậc Nhất-lai sanh lại nhiều lần, bậc Bất-hoàn sanh vào cõi Dục, bậc đại Bồ-tát sanh ra để tự lợi, bậc A-la-hán, Độc-giác, Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của bậc Nhất-lai sanh lại nhiều lần cho đến tánh Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sauvô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh bậc Nhất-lai sanh lại nhiều lần tức là cái không của tánh Nhất-lai sanh lại nhiều lần, cho đến tánh Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau tức là cái không của tánh Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau.

Thiện Hiện! Như tánh của Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả tức là cái không của tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả.

Thiện Hiện! Như tánh của Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như Lai chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả cho đến tánh Như Laivô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả tức là cái không của tánh Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, cho đến tánh Như Lai tức là cái không của tánh Như Lai.

Thiện Hiện! Như tánh của danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh danh tự, giả tưởng, thi thiết ngôn thiết là vô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết tức là cái không của tánh danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết.

Thiện Hiện! Như tánh của vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì tánh của vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng vô vivô trụ, vô bất trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tánh vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng vô vi tức là cái không của tánh vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi.

Thiện Hiện! Do vì duyên này, Đại-thừa như vậy, tuy hoàn toàn không có chỗ trụ nhưng trụ vô sở trụ.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngươi hỏi, ai là người lại nương vào Đại-thừa ấy mà xuất hiện?

Thiện Hiện! Hoàn toàn không có ai nương vào Đại-thừa ấy mà xuất hiện. Vì sao? Hoặc chỗ để nương và người nương do lẽ này, vì lẽ này, mà chỗ xuất hiện, chỗ đi đến, lúc xuất hiện, lúc đi đến, tất cả điều ấy đều không có sở hữu, hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tất cả pháp đều không có sở hữu, hoàn toàn chẳng thể nắm bắt được, rốt ráo thanh tịnh, thì như vậy tại sao có thể nói là có chỗ để nương, người nương có sự xuất hiện, sự đi đến và lúc xuất hiện lúc đi đến?

Thiện Hiện! Nên biết, ngã khôngsở hữu nên chẳng thể nắm bắt được, kẻ nương Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, hữu tình, dòng sinh mạng, sự sanh, sự dưỡng, sự trưởng thành, chủ thể luân hồi, người do người sanh, ngã tối thắng, khả năng làm việc, khả năng khiến người làm việc, khả năng tạo nghiệp, khả năng khiến người tạo nghiệp, tự thọ quả báo, khiến người thọ quả báo, cái biết, cái thấy không có sở hữu nên chẳng thể nắm bắt được. Kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, chơn như không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, cảnh giới bất tư nghì, cảnh giới hư không, cảnh giới đoạn, cảnh giới ly, cảnh giới diệt, cảnh giới vô tánh, cảnh giới vô tướng, cảnh giới vô tác, cảnh giới vô vi, cảnh giới an ổn, cảnh giới tịch tịnh, định pháp, trụ pháp, bổn vô, thật tế, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sắc khôngsở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, thọ, tưởng, hành, thức không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, nhãn xứ không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sắc xứ không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, nhãn giới không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, nhĩ giới không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, tỷ giới khôngsở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, thiệt giới khôngsở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, thân giới không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, ý giới không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Quyển Thứ 55

HẾT

 

 

Thiện Hiện! Nên biết, địa giới không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, thủy, hỏa, phong, không, thức giới không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, Thánh đế khổ khôngsở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, Thánh đế tập, diệt, đạo không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, vô minh không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự huyễn không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, cảnh mộng, ảnh tượng, tiếng vang, bóng sáng, hoa đốm giữa hư không, sóng nắng, ảo thành, việc biến hóa, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, cái không nội khôngsở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh, không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bố thí Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bốn tịnh lự không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bốn vô lượng, bốn định vô sắc không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bốn niệm trụ không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, pháp môn giải thoát không khôngsở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, năm loại mắt không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, sáu phép thần thông không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, mười lực của Phật không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng khôngsở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bậc Dự-lưu sanh vào đường ác không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bậc Nhất-lai sanh lại nhiều lần, bậc Bất-hoàn sanh vào cõi Dục, đại Bồ-tát sanh ra để tự lợi, A-la-hán, Độc-giác, Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như lai không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi khôngsở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, khoảng trước, khoảng giữa và khoảng sau không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự vãng lai không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự đi đứng không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, vô sanh không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự tăng giảm không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bậc Cực hỷ không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, bậc Tịnh quán không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh. Như vậy, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự thành thục hữu tình không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Nên biết, sự nghiêm tịnh cõi Phật không có sở hữu, nên chẳng thể nắm bắt được; kẻ nương vào Đại-thừa cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì rốt ráo thanh tịnh.

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Pháp nào, chẳng thể nắm bắt được, nên nói là ngã v.v..., chẳng thể nắm bắt được?

Phật dạy: Thiện Hiện! Tánh ngã, chẳng thể nắm bắt được, nên nói ngã chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh cái thấy, chẳng thể nắm bắt được, nên nói cái thấy, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh ngã cho đến tánh cái thấy chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh chơn như, chẳng thể nắm bắt được, nên nói chơn như, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh thật tế, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thật tế, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh chơn như, cho đến tánh thật tế, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh sắc, chẳng thể nắm bắt được, nên nói sắc, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh thức, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thức, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh sắc cho đến tánh thức, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nhãn xứ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nhãn xứ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh ý xứ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói ý xứ, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nhãn xứ cho đến tánh ý xứ chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh sắc xứ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói sắc xứ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh pháp xứ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp xứ, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh sắc xứ cho đến tánh pháp xứ chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nhãn giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nhãn giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nhãn giới cho đến tánh các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nhĩ giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nhĩ giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nhĩ giới cho đến tánh các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh tỷ giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói tỷ giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh tỷ giới cho đến tánh các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh thiệt giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thiệt giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh thiệt giới cho đến tánh các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh thân giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thân giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh thân giới cho đến tánh các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh ý giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói ý giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được, nên nói các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh ý giới cho đến tánh các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh địa giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói địa giới, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh thức giới, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thức giới, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh địa giới cho đến tánh thức giới, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh Thánh đế khổ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Thánh đế khổ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Thánh đế đạo, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Thánh đế đạo, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh Thánh đế khổ cho đến tánh Thánh đế đạo chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh vô minh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói vô minh, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, chẳng thể nắm bắt được, nên nói lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh vô minh cho đến tánh lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh sự huyễn, chẳng thể nắm bắt được, nên nói sự huyễn, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh sự biến hóa, chẳng thể nắm bắt được, nên nói sự biến hóa, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh sự huyễn cho đến tánh sự biến hóa, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh cái không nội cho đến tánh cái không không tánh tự tánh, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bố thí Ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bố thí Ba-la-mật-đa, cho đến tánh Bát-nhã-ba-la-mật-đa chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bốn tịnh lự, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn tịnh lự, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bốn định vô sắc, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn định vô sắc, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bốn tịnh lự cho đến tánh bốn định vô sắc chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bốn niệm trụ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn niệm trụ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh tám chi thánh đạo, chẳng thể nắm bắt được, nên nói tám chi thánh đạo, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bốn niệm trụ cho đến tánh tám chi thánh đạo chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh pháp môn giải thoát không, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp môn giải thoát không, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh pháp môn giải thoát vô nguyện, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp môn giải thoát vô nguyện, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh pháp môn giải thoát không cho đến tánh pháp môn giải thoát vô nguyện chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh năm loại mắt, chẳng thể nắm bắt được, nên nói năm loại mắt, chẳng thể nắm bắt được; tánh sáu phép thần thông, chẳng thể nắm bắt được nên nói sáu phép thần thông, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh năm loại mắt, tánh sáu phép thần thông chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh mười lực của Phật, chẳng thể nắm bắt được, nên nói mười lực của Phật, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh trí nhất thiết tướng, chẳng thể nắm bắt được, nên nói trí nhất thiết tướng, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh mười lực của Phật, cho đến tánh trí nhất thiết tướng chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Dự-lưu sanh vào đường ác, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Dự-lưu sanh vào đường ác, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Dự-lưu sanh vào đường ác, cho đến tánh Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác sanh lại đời sau chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Như lai, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Như lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả cho đến tánh Như lai chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết, chẳng thể nắm bắt được, nên nói danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh danh tự, giả tưởng, thi thiết, ngôn thuyết chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi, chẳng thể nắm bắt được, nên nói vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, vô tịnh, vô tướng, vô vi chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh khoảng đầu, giữa, sau, chẳng thể nắm bắt được, nên nói khoảng đầu, giữa, sau, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh khoảng đầu, giữa, sau chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh vãng lai, chẳng thể nắm bắt được, nên nói vãng lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh vãng lai, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh đi đứng, chẳng thể nắm bắt được, nên nói đi đứng, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh đi đứng chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh tử sanh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói tử sanh, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh tử sanh chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh tăng giảm, chẳng thể nắm bắt được, nên nói tăng giảm, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh tăng giảm chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Cực hỷ, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Cực hỷ, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bậc Pháp vân, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Pháp vân, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Cực hỷ cho đến tánh bậc Pháp vân chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Tịnh quán, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Tịnh quán, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bậc Như Lai, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Như Lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Tịnh quán cho đến tánh bậc Như Lai chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh thành thục hữu tình, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thành thục hữu tình, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh thành thục hữu tình chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nghiêm tịnh cõi Phật chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bố thí cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bố thí cho đến Bát-nhã-ba-la-mật-đa, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh năm loại mắt, sáu phép thần thông trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói năm loại mắt, sáu phép thần thông, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh năm loại mắt, sáu phép thần thông trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói năm loại mắt, sáu phép thần thông, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh năm loại mắt, sáu phép thần thông trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói mười lực của Phật cho đến trí nhất thiết tướng, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói mười lực của Phật cho đến trí nhất thiết tướng, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như Lai ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, cho đến Bồ-tát, Như Lai, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như Lai ở trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả cho đến Bồ-tát Như Lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như Lai ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Cực hỷ, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bậc Cực hỷ, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân ở trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Cực hỷ, bậc Ly cấu, bậc Phát quang, bậc Diệm tuệ, bậc Cực nan thắng, bậc Hiện tiền, bậc Viễn hành, bậc Bất động, bậc Thiện tuệ, bậc Pháp vân ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai ở trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh thành thục hữu tình ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thành thục hữu tình, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh thành thục hữu tình trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói thành thục hữu tình, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh thành thục hữu tình ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Thiện Hiện! Tánh nghiêm tịnh cõi Phật ở trong cái không nội, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thể nắm bắt được, cho đến tánh nghiêm tịnh cõi Phật trong cái không không tánh tự tánh, chẳng thể nắm bắt được, nên nói nghiêm tịnh cõi Phật, chẳng thể nắm bắt được. Vì sao? Vì tánh nghiêm tịnh cõi Phật ở trong đó, chẳng phải đã nắm bắt được, chẳng phải sẽ nắm bắt được, chẳng phải đang nắm bắt được, vì rốt ráo thanh tịnh.

Như vậy, Thiện Hiện! Các đại Bồ-tát, khi tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, tuy quán tất cả pháp đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được, rốt ráo thanh tịnh, nên không nương vào Đại-thừa mà xuất hiện và đi đến, nhưng lấy vô sở đắc làm phương tiện, nương vào Đại-thừa ra khỏi sanh tử ba cõi, đến trí nhất thiết trí, lợi ích, an ổn tất cả hữu tình, đến tận cùng đời vị lai, thường không dừng nghỉ.

 

XVI. PHẨM TÁN ĐẠI-THỪA

01

Lúc bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nói Đại-thừa, Đại-thừa ấy là tối tôn, tối diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian. Đại-thừa như vậy ngang bằng với hư không. Thí như hư không có khả năng bao trùm vô số, vô lượng, vô biên hữu tình, Đại-thừa cũng vậy, có khả năng bao trùm vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Lại như hư không, không đến, không đi, không trụ, có thể thấy, Đại-thừa cũng vậy, không đến, không đi, không trụ, có thể thấy. Lại như hư không, khoảng trước, sau, giữa, đều chẳng thể nắm bắt được, Đại-thừa cũng vậy, khoảng trước, sau, giữa, đều chẳng thể nắm bắt được, ba đời bình đẳng, nên gọi là Đại-thừa.

Phật bảo: Thiện Hiện! Đúng vậy! Đúng vậy! Như lời ông nói, Bồ-tát Đại-thừa đầy đủ vô biên công đức như vậy.

Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy, tức là bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy, tức là cái không nội, cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh v.v…

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy tức là Tam-ma-địa Kiện hành cho đến Tam-ma-địa Vô nhiễm trước như hư không v.v... vô lượng trăm ngàn Pháp môn Tam-ma-địa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy tức là bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy tức là ba Tam-ma-địa cho đến mười tám pháp Phật bất cộng.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nên biết, Đại-thừa như vậy tức là pháp môn văn tự Đà-la-ni … tất cả pháp môn Đà-la-ni.

Thiện Hiện! Nên biết, vô lượng, vô biên công đức thù thắng như vậy, đều là Đại-thừa của đại Bồ-tát.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ông nói Đại-thừa là tối tôn, tối diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian? Đúng vậy! Đúng vậy! Như lời ông nói. Vì sao? Thiện Hiện! Nếu dục giớichơn như chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì dục giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sắc và Vô sắc giớichơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì sắc và Vô sắc giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sắc là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì sắc chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thọ, tưởng, hành, thức là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu nhãn xứ là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì nhãn xứ chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứchơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sắc xứchơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì sắc xứ chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thanh, hương, vị, xúc, pháp xứchơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu nhãn giớichơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì nhãn giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu nhĩ giớichơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì nhĩ giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu tỷ giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì tỷ giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thiệt giới là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thiệt giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thân giớichơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thân giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì xúc giới, thân thức giới và thân xúc cùng các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu ý giớichơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì ý giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì pháp giới, ý thức giới và ý xúc cùng các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu địa giớichơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì địa giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu thủy, hỏa, phong, không, thức giớichơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì thủy, hỏa, phong, không, thức giới chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu vô minhchơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì vô minh chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não là chơn như, chẳng phải hư vọng, chẳng phải điên đảo, chẳng phải giả thiết, là chắc, là thật, có thường, có hằng, không biến, không dịch, có thật tánh, thì Đại-thừa này, chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian; nhưng vì hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não chẳng phải là chơn như mà là hư vọng, là điên đảo, là giả thiết, chẳng phải chắc, chẳng phải thật, không thường, không hằng, có biến, có dịch, hoàn toàn không có thật tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v.... trong thế gian.

 

Quyển Thứ 56

HẾT

 

 

02

Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu chơn như thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì chơn như chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu pháp giới, pháp tánh, tánh chẳng hư vọng, tánh chẳng đổi khác, tánh bình đẳng, tánh ly sanh, cảnh giới bất tư nghì, cảnh giới hư không, cảnh giới đoạn, cảnh giới ly, cảnh giới diệt, cảnh giới vô tánh, cảnh giới vô tướng, cảnh giới vô tác, cảnh giới vô vi, cảnh giới an ổn, cảnh giới tịch tịnh, định pháp, trụ pháp, bổn vô, thật tế mà thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì pháp giới cho đến thật tế, chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu cái không nội thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì cái không nội chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu cái không ngoại, cái không nội ngoại, cái không không, cái không lớn, cái không thắng nghĩa, cái không hữu vi, cái không vô vi, cái không rốt ráo, cái không không biên giới, cái không tản mạn, cái không không đổi khác, cái không bổn tánh, cái không tự tướng, cái không cộng tướng, cái không tất cả pháp, cái không chẳng thể nắm bắt được, cái không không tánh, cái không tự tánh, cái không không tánh tự tánh thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì cái không ngoại cho đến cái không không tánh tự tánh chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu bố thí Ba la mật đa thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì bố thí Ba la mật đa chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu bốn tịnh lự thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì bốn tịnh lự chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu bốn vô lượng, bốn định vô sắc thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì bốn vô lượng, bốn định vô sắc chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu bốn niệm trụ thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì bốn niệm trụ chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy chi đẳng giác, tám chi thánh đạo thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì bốn chánh đoạn cho đến tám chi thánh đạo, chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu pháp môn giải thoát không, thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì pháp môn giải thoát không chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì pháp môn giải thoát vô tướng, vô nguyện, chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu năm loại mắt thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì năm loại mắt chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu sáu phép thần thông thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì sáu phép thần thông chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu mười lực của Phật thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì mười lực của Phật chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí nhất thiết, trí đạo tướng, trí nhất thiết tướng thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì bốn điều không sợ cho đến trí nhất thiết tướng, chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu mười bậc của Bồ-tát thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì mười bậc của Bồ-tát chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, pháp Dự-lưu, pháp Nhất-lai, pháp Bất-hoàn, pháp A-la-hán, pháp Độc-giác, pháp đại Bồ-tát, pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, cho đến pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu Bổ-đặc-già-la của bậc Tịnh quán thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì Bổ-đặc-già-la của bậc Tịnh quán chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu Bổ-đặc-già-la của bậc Chủng tánh, Dự-lưu, Nhất-lai, Bất-hoàn, A-la-hán, Độc-giác, đại Bồ-tát, Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì Bổ-đặc-già-la của bậc Chủng tánh cho đến Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu đại Bồ-tát từ sơ phát tâm cho đến khi được ngồi tòa Bồ đề nhiệm mầu, các tâm khởi lên ở khoảng giữa thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì đại Bồ-tát từ sơ phát tâm cho đến khi được ngồi tòa Bồ đề nhiệm mầu, các tâm khởi lên ở khoảng giữa chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu trí Kim-cang-dụ của đại Bồ-tát thật có tánh, thì Đại-thừa này chẳng phải tôn, chẳng phải diệu, chẳng vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì trí Kim-cang-dụ của đại Bồ-tát chẳng phải thật có tánh, nên Đại-thừa này là tôn, là diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu cái sở đoạn của trí Kim-cang-dụ của đại Bồ-tát là sự tương tục của tập khí phiền não là thật có tánh, thì trí Kim-cang-dụ năng đoạn này chẳng thể đạt được những thứ ấy, hoàn toàn không có tự tánh; đoạn xong chứng đắc trí nhất thiết trí; nhưng vì cái sở đoạn của trí Kim-cang-dụ là sự tương tục tập khí phiền não chẳng phải thật có tánh, nên trí Kim-cang-dụ năng đoạn này mới có khả năng liễu đạt các thứ ấy là hoàn toàn không có tự tánh; đoạn xong chứng đắc trí nhất thiết trí.

Thiện Hiện! Nếu các thứ trang nghiêm thân của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác là ba mươi hai tướng đại sĩ và tám mươi vẻ đẹp kèm theo mà thật có tánh, thì oai quang diệu đức của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chẳng vượt hơn trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian; nhưng vì các thứ trang nghiêm thân của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác là ba mươi hai tướng đại sĩ và tám mươi vẻ đẹp kèm theo chẳng phải thật có tánh, nên oai quang diệu đức của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Thiện Hiện! Nếu hào quang tỏa chiếu của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mà thật có tánh, thì hào quang tỏa chiếu của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chẳng có thể chiếu khắp vô số thế giới chư Phật trong mười phương; nhưng vì hào quang tỏa chiếu của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chẳng phải thật có tánh, nên hào quang tỏa chiếu của các đức Như Lai đều có thể chiếu khắp vô số thế giới các chư Phật trong mười phương.

Thiện Hiện! Nếu sáu mươi thứ âm thanh mỹ diệu các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thật có tánh, thì các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác có đầy đủ sáu mươi thứ âm thanh mỹ diệu ấy chẳng thể biến khắp vô lượng, vô số thế giới chư Phật trong mười phương; nhưng vì sáu mươi thứ âm thanh mỹ diệu các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chẳng phải thật có tánh, nên các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác có đầy đủ sáu mươi thứ âm thanh mỹ diệu đều có khả năng biến khắp vô lượng, vô số trăm ngàn ức thế giới chư Phật trong mười phương.

Thiện Hiện! Nếu sự chuyển pháp luân của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mà thật có tánh, thì sự chuyển pháp luân của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chẳng phải cực thanh tịnh, cũng chẳng phải tất cả Sa-môn, Bà-la-môn, Trời, Ma, Phạm v.v... trong thế gian chẳng có thể chuyển được; nhưng vì sự chuyển pháp luân của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chẳng phải thật có tánh, nên sự chuyển pháp luân của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác là tối cực thanh tịnh, tất cả Sa-môn, Bà-la-môn, Trời, Ma, Phạm v.v... trong thế gian chẳng có thể chuyển được.

Thiện Hiện! Nếu các hữu tình được các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chuyển diệu pháp luân mà thật có tánh, thì sự chuyển pháp luân của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chẳng có thể khiến các loài hữu tình ấy, đối với cảnh giới diệu Niêt-bàn Vô-dư-y, đã nhập, đang nhập và sẽ nhập Niết-bàn; nhưng vì các hữu tình được các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác chuyển diệu pháp luân chẳng phải thật có tánh, nên sự chuyển pháp luân của các đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đều có thể khiến các loài hữu tình ấy, đối với cảnh giới diệu Niết-bàn Vô-dư-y đã nhập, đang nhập và sẽ nhập Niết-bàn.

Thiện Hiện! Do vô lượng nhân duyên như vậy, nên nói Đại-thừa là tối tôn, tối diệu, vượt hơn tất cả trời, người, A-tố-lạc v.v... trong thế gian.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ông nói Đại-thừa như vậy, ngang bằng với hư không. Đúng vậy! Đúng vậy! Như lời ông nói. Vì sao? Thiện Hiện! Vì giống như hư không chẳng phải có sự phân ranh phương hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, tứ vi, thượng hạ có thể nắm bắt được, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải có phân ranh phương hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, tứ vi, thượng hạ có thể nắm bắt được, nên nói Đại-thừa cùng hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải có cái hình sắc dài ngắn, vuông tròn, cao thấp, cong ngay, có thể nắm bắt được, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải có cái hình sắc dài ngắn, vuông tròn, cao thấp, cong ngay, có thể nắm bắt được, nên nói Đại-thừa cùng hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải có hiển sắc như xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, tía, xanh nhợt v.v... có thể nắm bắt được, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải có hiển sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, tía, xanh nhợt v.v... có thể nắm bắt được, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải tăng, chẳng phải giảm, chẳng phải tấn, chẳng phải thối, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải tăng, chẳng phải giảm, chẳng phải tấn, chẳng phải thối, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải tạp nhiễm, chẳng phải thanh tịnh, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải tạp nhiễm, chẳng phải thanh tịnh, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, chẳng phải trụ, chẳng phải dị, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, chẳng phải trụ, chẳng phải dị, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải thiện, chẳng phải phi thiện, chẳng phải hữu ký, chẳng phải vô ký, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải thiện, chẳng phải phi thiện, chẳng phải hữu ký, chẳng phải vô ký, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải kiến, chẳng phải văn, chẳng phải giác, chẳng phải tri, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải kiến, chẳng phải văn, chẳng phải giác, chẳng phải tri, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải sở tri, chẳng phải sở đạt, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải sở tri, chẳng phải sở đạt, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải biến tri, chẳng phải vĩnh đoạn, chẳng phải tác chứng, chẳng phải tu tập, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải biến tri, chẳng phải vĩnh đoạn, chẳng phải tác chứng, chẳng phải tu tập, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải dị thục, chẳng phải có pháp dị thục, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải dị thục, chẳng phải có pháp dị thục, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải có pháp tham, chẳng phải có pháp ly tham, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải có pháp tham, chẳng phải có pháp ly tham, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải có pháp sân, chẳng phải có pháp ly sân, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải có pháp sân, chẳng phải có pháp ly sân, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải có pháp si, chẳng phải có pháp ly si, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải có pháp si, chẳng phải có pháp ly si, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải đọa Dục giới, chẳng phải đọa Sắc giới, chẳng phải đọa Vô sắc giới, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải đọa Dục giới, chẳng phải đọa Sắc giới, chẳng phải đọa Vô sắc giới, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải có bậc sơ phát tâm, có thể nắm bắt được, cho đến chẳng phải có bậc thứ mười phát tâm, có thể nắm bắt được, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải có bậc sơ phát tâm, có thể nắm bắt được, cho đến chẳng phải có bậc thứ mười phát tâm, có thể nắm bắt được, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải có bậc Tịnh quán, bậc Chủng tánh, bậc Đệ bát, bậc Cụ kiến, bậc Bạc, bậc Ly dục, bậc Dĩ biện, bậc Độc-giác, bậc Bồ-tát, bậc Như Lai, có thể nắm bắt được, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải có bậc Tịnh quán cho đến bậc Như Lai có thể nắm bắt được, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải có Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả, Nhất-lai hướng, Nhất-lai quả, Bất-hoàn hướng, Bất-hoàn quả, A-la-hán hướng, A-la-hán quả, Độc-giác hướng, Độc-giác quả, Bồ-tát, Như Lai có thể nắm bắt được, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải có Dự-lưu hướng, Dự-lưu quả cho đến Bồ-tát, Như Lai có thể nắm bắt được, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải có bậc Thanh-văn, bậc Độc-giác, bậc Chánh đẳng giác, có thể nắm bắt được, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải có bậc Thanh-văn, bậc Độc-giác, bậc Chánh đẳng giác, có thể nắm bắt được, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải hữu sắc, chẳng phải vô sắc, chẳng phải hữu kiến, chẳng phải vô kiến, chẳng phải hữu đối, chẳng phải vô đối, chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải hữu sắc, chẳng phải vô sắc, chẳng phải hữu kiến, chẳng phải vô kiến, chẳng phải hữu đối, chẳng phải vô đối, chẳng phải tương ưng, chẳng phải chẳng tương ưng, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, chẳng phải lạc, chẳng phải khổ, chẳng phải ngã, chẳng phải vô ngã, chẳng phải tịnh, chẳng phải bất tịnh, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, chẳng phải lạc, chẳng phải khổ, chẳng phải ngã, chẳng phải vô ngã, chẳng phải tịnh, chẳng phải bất tịnh, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải không, chẳng phải bất không, chẳng phải hữu tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải hữu nguyện, chẳng phải vô nguyện, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải không, chẳng phải bất không, chẳng phải hữu tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải hữu nguyện, chẳng phải vô nguyện, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải tịch tịnh, chẳng phải bất tịch tịnh, chẳng phải viễn ly, chẳng phải bất viễn ly, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải tịch tịnh, chẳng phải bất tịch tịnh, chẳng phải viễn ly, chẳng phải bất viễn ly, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải sáng, chẳng phải tối, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải sáng, chẳng phải tối, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải uẩn, xứ, giới, chẳng phải ly uẩn, xứ, giới, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải uẩn, xứ, giới, chẳng phải ly uẩn, xứ, giới, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải có thể nắm bắt được, chẳng phải chẳng có thể nắm bắt được, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải có thể nắm bắt được, chẳng phải chẳng có thể nắm bắt được, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Lại như hư không chẳng phải khả thuyết, chẳng phải bất khả thuyết, Đại-thừa cũng vậy, chẳng phải khả thuyết, chẳng phải bất khả thuyết, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Thiện Hiện! Do vô lượng nhân duyên như vậy, nên nói Đại-thừa cùng với hư không ngang bằng nhau.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ông nói giống như hư không, có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình, Đại-thừa cũng vậy, có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình? Đúng vậy! Đúng vậy! Như lời ông nói. Vì sao? Thiện Hiện! Vì hữu tình không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì, hoặc hữu tình, hoặc hư không, hoặc Đại-thừa, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì hữu tình vô số, vô lượng, vô biên, nên hư không cũng vô số, vô lượng, vô biên. Vì hư không vô số, vô lượng, vô biên, nên Đại-thừa cũng vô số, vô lượng, vô biên. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì hữu tình vô số, vô lượng, vô biên, hư không vô số, vô lượng, vô biên, Đại-thừa vô số, vô lượng, vô biên, nên tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì hữu tình không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì hữu tình, hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp; tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã khôngsở hữu, nên hữu tình cũng không có sở hữu. Vì hữu tình không có sở hữu, nên dòng sinh mạng cũng không có sở hữu. Vì dòng sinh mạng không có sở hữu, nên sự sanh cũng không có sở hữu. Vì sự sanh khôngsở hữu, nên sự dưỡng cũng không có sở hữu. Vì sự dưỡng không có sở hữu, nên sự trưởng thành cũng không có sở hữu. Vì sự trưởng thành không có sở hữu, nên chủ thể luân hồi cũng không có sở hữu. Vì chủ thể luân hồi không có sở hữu, nên người do người sanh cũng không có sở hữu. Vì người do người sanh khôngsở hữu, nên ngã tối thắng cũng không có sở hữu. Vì ngã tối thắng không có sở hữu, nên khả năng làm việc cũng không có sở hữu. Vì khả năng làm việc không có sở hữu, nên khả năng khiến người làm việc cũng không có sở hữu. Vì khả năng khiến người làm việc không có sở hữu, nên khả năng tạo nghiệp cũng không có sở hữu. Vì khả năng tạo nghiệp không có sở hữu, nên khả năng khiến người tạo nghiệp cũng không có sở hữu. Vì khả năng khiến người tạo nghiệp không có sở hữu, nên tự thọ quả báo cũng không có sở hữu. Vì tự thọ quả báo không có sở hữu, nên khiến người thọ quả báo cũng không có sở hữu. Vì khiến người thọ quả báo không có sở hữu, nên cái biết cũng không có sở hữu. Vì cái biết không có sở hữu, nên cái thấy cũng không có sở hữu. Vì cái thấy không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì cớ sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên chơn như cũng không có sở hữu. Vì chơn như không có sở hữu, nên pháp giới cũng không có sở hữu. Vì pháp giới không có sở hữu, nên pháp tánh cũng không có sở hữu. Vì pháp tánh không có sở hữu, nên tánh chẳng hư vọng cũng không có sở hữu. Vì tánh chẳng hư vọng không có sở hữu, nên tánh chẳng đổi khác cũng không có sở hữu. Vì tánh chẳng đổi khác không có sở hữu, nên tánh bình đẳng cũng không có sở hữu. Vì tánh bình đẳng không có sở hữu, nên tánh ly sanh cũng không có sở hữu. Vì tánh ly sanh không có sở hữu, nên cảnh giới bất tư nghì cũng không có sở hữu. Vì cảnh giới bất tư nghì không có sở hữu, nên cảnh giới hư không cũng không có sở hữu. Vì cảnh giới hư không không có sở hữu, nên cảnh giới đoạn cũng không có sở hữu. Vì cảnh giới đoạn không có sở hữu, nên cảnh giới ly cũng không có sở hữu. Vì cảnh giới ly không có sở hữu, nên cảnh giới diệt cũng không có sở hữu. Vì cảnh giới diệt không có sở hữu, nên cảnh giới vô tánh cũng không có sở hữu. Vì cảnh giới vô tánh không có sở hữu, nên cảnh giới vô tướng cũng không có sở hữu. Vì cảnh giới vô tướng không có sở hữu, nên cảnh giới vô tác cũng không có sở hữu. Vì cảnh giới vô tác không có sở hữu, nên cảnh giới vô vi cũng không có sở hữu. Vì cảnh giới vô vi khôngsở hữu, nên cảnh giới an ổn cũng không có sở hữu. Vì cảnh giới an ổn không có sở hữu, nên cảnh giới tịch tịnh cũng không có sở hữu. Vì cảnh giới tịch tịnh không có sở hữu, nên pháp định cũng không có sở hữu. Vì pháp định không có sở hữu, nên pháp trụ cũng không có sở hữu. Vì pháp trụ không có sở hữu, nên bổn vô cũng không có sở hữu. Vì bổn vô khôngsở hữu, nên thật tế cũng không có sở hữu. Vì thật tế không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy; hoặc chơn như cho đến thật tế; hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên sắc cũng không có sở hữu. Vì sắc khôngsở hữu, nên thọ cũng không có sở hữu. Vì thọ không có sở hữu, nên tưởng cũng không có sở hữu. Vì tưởng không có sở hữu, nên hành cũng không có sở hữu. Vì hành khôngsở hữu, nên thức cũng không có sở hữu. Vì thức không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên nhãn xứ cũng không có sở hữu. Vì nhãn xứ không có sở hữu, nên nhĩ xứ cũng không có sở hữu. Vì nhĩ xứ không có sở hữu, nên tỷ xứ cũng không có sở hữu. Vì tỷ xứ không có sở hữu, nên thiệt xứ cũng không có sở hữu. Vì thiệt xứ không có sở hữu, nên thân xứ cũng không có sở hữu. Vì thân xứ không có sở hữu, nên ý xứ cũng không có sở hữu. Vì ý xứ không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên sắc xứ cũng không có sở hữu. Vì sắc xứ không có sở hữu, nên thanh xứ cũng không có sở hữu. Vì thanh xứ không có sở hữu, nên hương xứ cũng không có sở hữu. Vì hương xứ không có sở hữu, nên vị xứ cũng không có sở hữu. Vì vị xứ không có sở hữu, nên xúc xứ cũng không có sở hữu. Vì xúc xứ không có sở hữu, nên pháp xứ cũng không có sở hữu. Vì pháp xứ không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên nhãn giới cũng không có sở hữu. Vì nhãn giới không có sở hữu, nên sắc giới cũng không có sở hữu. Vì sắc giới không có sở hữu, nên nhãn thức giới cũng không có sở hữu. Vì nhãn thức giới không có sở hữu, nên nhãn xúc cũng không có sở hữu. Vì nhãn xúc không có sở hữu, nên các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra cũng không có sở hữu. Vì các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc nhãn giới cho đến các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên nhĩ giới cũng không có sở hữu. Vì nhĩ giới không có sở hữu, nên thanh giới cũng không có sở hữu. Vì thanh giới khôngsở hữu, nên nhĩ thức giới cũng không có sở hữu. Vì nhĩ thức giới khôngsở hữu, nên nhĩ xúc cũng không có sở hữu. Vì nhĩ xúc không có sở hữu, nên các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra cũng không có sở hữu. Vì các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc nhĩ giới cho đến các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên tỷ giới cũng không có sở hữu. Vì tỷ giới khôngsở hữu, nên hương giới cũng không có sở hữu. Vì hương giới không có sở hữu, nên tỷ thức giới cũng không có sở hữu. Vì tỷ thức giới khôngsở hữu, nên tỷ xúc cũng không có sở hữu. Vì tỷ xúc không có sở hữu, nên các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra cũng không có sở hữu. Vì các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc tỷ giới cho đến các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên thiệt giới cũng không có sở hữu. Vì thiệt giới khôngsở hữu, nên vị giới cũng không có sở hữu. Vì vị giới khôngsở hữu, nên thiệt thức giới cũng không có sở hữu. Vì thiệt thức giới khôngsở hữu, nên thiệt xúc cũng không có sở hữu. Vì thiệt xúc không có sở hữu, nên các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra cũng không có sở hữu. Vì các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc thiệt giới cho đến các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên thân giới cũng không có sở hữu. Vì thân giới không có sở hữu, nên xúc giới cũng không có sở hữu. Vì xúc giới khôngsở hữu, nên thân thức giới cũng không có sở hữu. Vì thân thức giới khôngsở hữu, nên thân xúc cũng không có sở hữu. Vì thân xúc không có sở hữu, nên các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra cũng không có sở hữu. Vì thân xúc làm duyên sanh các thọ không có sở hữu, nên hư không không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc thân giới cho đến các thọ do thân xúc làm duyên sanh ra, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên ý giới cũng không có sở hữu. Vì ý giới không có sở hữu, nên pháp giới cũng không có sở hữu. Vì pháp giới không có sở hữu, nên ý thức giới cũng không có sở hữu. Vì ý thức giới khôngsở hữu, nên ý xúc cũng không có sở hữu. Vì ý xúc không có sở hữu, nên các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra cũng không có sở hữu. Vì các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc ý giới cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên địa giới cũng không có sở hữu. Vì địa giới không có sở hữu, nên thủy giới cũng không có sở hữu. Vì thủy giới không có sở hữu, nên hỏa giới cũng không có sở hữu. Vì hỏa giới không có sở hữu, nên phong giới cũng không có sở hữu. Vì phong giới không có sở hữu, nên không giới cũng không có sở hữu. Vì không giới không có sở hữu, nên thức giới cũng không có sở hữu. Vì thức giới không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc địa, thủy, hỏa, phong, không, thức giới, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên Thánh đế khổ cũng không có sở hữu. Vì Thánh đế khổ khôngsở hữu, nên Thánh đế tập cũng không có sở hữu. Vì Thánh đế tập không có sở hữu, nên Thánh đế diệt cũng không có sở hữu. Vì Thánh đế diệt không có sở hữu, nên Thánh đế đạo cũng không có sở hữu. Vì Thánh đế đạo không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên vô minh cũng không có sở hữu. Vì vô minh không có sở hữu, nên hành cũng không có sở hữu. Vì hành khôngsở hữu, nên thức cũng không có sở hữu. Vì thức không có sở hữu, nên danh sắc cũng không có sở hữu. Vì danh sắc không có sở hữu, nên lục xứ cũng không có sở hữu. Vì lục xứ không có sở hữu, nên xúc cũng không có sở hữu. Vì xúc không có sở hữu, nên thọ cũng không có sở hữu. Vì thọ không có sở hữu, nên ái cũng không có sở hữu. Vì ái không có sở hữu, nên thủ cũng không có sở hữu. Vì thủ không có sở hữu, nên hữu cũng không có sở hữu. Vì hữu khôngsở hữu, nên sanh cũng không có sở hữu. Vì sanh khôngsở hữu, nên lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não cũng không có sở hữu. Vì lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc vô minh cho đến lão tử, sầu, than, khổ, ưu, não, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

 

Quyển Thứ 57

HẾT

 

 

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên cái không nội cũng không có sở hữu. Vì cái không nội khôngsở hữu, nên cái không ngoại cũng không có sở hữu. Vì cái không ngoại khôngsở hữu, nên cái không nội ngoại cũng không có sở hữu. Vì cái không nội ngoại khôngsở hữu, nên cái không không cũng không có sở hữu. Vì cái không không không có sở hữu, nên cái không lớn cũng không có sở hữu. Vì cái không lớn không có sở hữu, nên cái không thắng nghĩa cũng không có sở hữu. Vì cái không thắng nghĩa khôngsở hữu, nên cái không hữu vi cũng không có sở hữu. Vì cái không hữu vi không có sở hữu, nên cái không vô vi cũng không có sở hữu. Vì cái không vô vi không có sở hữu, nên cái không rốt ráo cũng không có sở hữu. Vì cái không rốt ráo không có sở hữu, nên cái không không biên giới cũng không có sở hữu. Vì cái không không biên giới không có sở hữu, nên cái không tản mạn cũng không có sở hữu. Vì cái không tản mạn không có sở hữu, nên cái không không đổi khác cũng không có sở hữu. Vì cái không không đổi khác không có sở hữu, nên cái không bổn tánh cũng không có sở hữu. Vì cái không bổn tánh khôngsở hữu, nên cái không tự tướng cũng không có sở hữu. Vì cái không tự tướng khôngsở hữu, nên cái không cộng tướng cũng không có sở hữu. Vì cái không cộng tướng không có sở hữu, nên cái không tất cả pháp cũng không có sở hữu. Vì cái không tất cả pháp khôngsở hữu, nên cái không chẳng thể nắm bắt được cũng không có sở hữu. Vì cái không chẳng thể nắm bắt được không có sở hữu, nên cái không không tánh cũng không có sở hữu. Vì cái không không tánh khôngsở hữu, nên cái không tự tánh cũng không có sở hữu. Vì cái không tự tánh khôngsở hữu, nên cái không không tánh tự tánh cũng không có sở hữu. Vì cái không không tánh tự tánh không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc cái không nội cho đến cái không không tánh tự tánh, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp; tất cả như vậy đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên bố thí Ba-la-mật-đa cũng không có sở hữu. Vì bố thí Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên tịnh giới Ba-la-mật-đa cũng không có sở hữu. Vì tịnh giới Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên an nhẫn Ba-la-mật-đa cũng không có sở hữu. Vì an nhẫn Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên tinh tấn Ba-la-mật-đa cũng không có sở hữu. Vì tinh tấn Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên tịnh lự Ba-la-mật-đa cũng không có sở hữu. Vì tịnh lự Ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên Bát-nhã-ba-la-mật-đa cũng không có sở hữu. Vì Bát-nhã-ba-la-mật-đa không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tịnh lự, Bát-nhã Ba-la-mật-đa, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp; tất cả như vậy đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên bốn tịnh lự cũng không có sở hữu. Vì bốn tịnh lự không có sở hữu, nên bốn vô lượng cũng không có sở hữu. Vì bốn vô lượng không có sở hữu, nên bốn định vô sắc cũng không có sở hữu. Vì bốn định vô sắc không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc bốn tịnh lự, bốn vô lượng, bốn định vô sắc, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp; tất cả như vậy đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên bốn niệm trụ cũng không có sở hữu. Vì bốn niệm trụ không có sở hữu, nên bốn chánh đoạn cũng không có sở hữu. Vì bốn chánh đoạn không có sở hữu, nên bốn thần túc cũng không có sở hữu. Vì bốn thần túc không có sở hữu, nên năm căn cũng không có sở hữu. Vì năm căn không có sở hữu, nên năm lực cũng không có sở hữu. Vì năm lực không có sở hữu, nên bảy chi đẳng giác cũng không có sở hữu. Vì bảy chi đẳng giác không có sở hữu, nên tám chi thánh đạo cũng không có sở hữu. Vì tám chi thánh đạo không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc bốn niệm trụ cho đến tám chi thánh đạo, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp; tất cả như vậy đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên pháp môn giải thoát không cũng không có sở hữu. Vì pháp môn giải thoát không khôngsở hữu, nên pháp môn giải thoát vô tướng cũng không có sở hữu. Vì pháp môn giải thoát vô tướng không có sở hữu, nên pháp môn giải thoát vô nguyện cũng không có sở hữu. Vì pháp môn giải thoát vô nguyện không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc pháp môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên năm loại mắt cũng không có sở hữu. Vì năm loại mắt không có sở hữu, nên sáu phép thần thông cũng không có sở hữu. Vì sáu phép thần thông không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc năm loại mắt, hoặc sáu phép thần thông, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên mười lực của Phật cũng không có sở hữu. Vì mười lực của Phật không có sở hữu, nên bốn điều không sợ cũng không có sở hữu. Vì bốn điều không sợ không có sở hữu, nên bốn sự hiểu biết thông suốt cũng không có sở hữu. Vì bốn sự hiểu biết thông suốt không có sở hữu, nên đại từ cũng không có sở hữu. Vì đại từ không có sở hữu, nên đại bi cũng không có sở hữu. Vì đại bi không có sở hữu, nên đại hỷ cũng không có sở hữu. Vì đại hỷ không có sở hữu, nên đại xả cũng không có sở hữu. Vì đại xả không có sở hữu, nên mười tám pháp Phật bất cộng cũng không có sở hữu. Vì mười tám pháp Phật bất cộng không có sở hữu, nên trí nhất thiết cũng không có sở hữu. Vì trí nhất thiết khôngsở hữu, nên trí đạo tướng cũng không có sở hữu. Vì trí đạo tướng khôngsở hữu, nên trí nhất thiết tướng cũng không có sở hữu. Vì trí nhất thiết tướng khôngsở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như thế, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc mười lực của Phật cho đến trí nhất thiết tướng, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên bậc Cực hỷ cũng không có sở hữu. Vì bậc Cực hỷ không có sở hữu, nên bậc Ly cấu cũng không có sở hữu. Vì bậc Ly cấu không có sở hữu, nên bậc Phát quang cũng không có sở hữu. Vì bậc Phát quang không có sở hữu, nên bậc Diệm tuệ cũng không có sở hữu. Vì bậc Diệm tuệ không có sở hữu, nên bậc Cực nan thắng cũng không có sở hữu. Vì bậc Cực nan thắng không có sở hữu, nên bậc Hiện tiền cũng không có sở hữu. Vì bậc Hiện tiền không có sở hữu, nên bậc Viễn hành cũng không có sở hữu. Vì bậc Viễn hành khôngsở hữu, nên bậc Bất động cũng không có sở hữu. Vì bậc Bất động không có sở hữu, nên bậc Thiện tuệ cũng không có sở hữu. Vì bậc Thiện tuệ địa không có sở hữu, nên bậc Pháp vân cũng không có sở hữu. Vì bậc Pháp vân không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc bậc Cực hỷ cho đến bậc Pháp vân, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên bậc Tịnh quán cũng không có sở hữu. Vì bậc Tịnh quán không có sở hữu, nên bậc Chủng tánh cũng không có sở hữu. Vì bậc Chủng tánh không có sở hữu, nên bậc Đệ bát cũng không có sở hữu. Vì bậc Đệ bát không có sở hữu, nên bậc Cụ kiến cũng không có sở hữu. Vì bậc Cụ kiến không có sở hữu, nên bậc Bạc cũng không có sở hữu. Vì bậc Bạc không có sở hữu, nên bậc Ly dục cũng không có sở hữu. Vì bậc Ly dục không có sở hữu, nên bậc Dĩ biện cũng không có sở hữu. Vì bậc Dĩ biện không có sở hữu, nên bậc Độc-giác cũng không có sở hữu. Vì bậc Độc-giác không có sở hữu, nên bậc Bồ-tát cũng không có sở hữu. Vì bậc Bồ-tát không có sở hữu, nên bậc Như lai cũng không có sở hữu. Vì bậc Như lai không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc bậc Tịnh quán cho đến bậc Như lai, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên Dự-lưu hướng cũng không có sở hữu. Vì Dự-lưu hướng không có sở hữu, nên Dự-lưu quả cũng không có sở hữu. Vì Dự-lưu quả không có sở hữu, nên Nhất-lai hướng cũng không có sở hữu. Vì Nhất-lai hướng không có sở hữu, nên Nhất-lai quả cũng không có sở hữu. Vì Nhất-lai quả không có sở hữu, nên Bất-hoàn hướng cũng không có sở hữu. Vì Bất-hoàn hướng không có sở hữu, nên Bất-hoàn quả cũng không có sở hữu. Vì Bất-hoàn quả không có sở hữu, nên A-la-hán hướng cũng không có sở hữu. Vì A-la-hán hướng không có sở hữu, nên A-la-hán quả cũng không có sở hữu. Vì A-la-hán quả không có sở hữu, nên Độc-giác hướng cũng không có sở hữu. Vì Độc-giác hướng không có sở hữu, nên Độc-giác quả cũng không có sở hữu. Vì Độc-giác quả không có sở hữu, nên pháp đại Bồ-tát cũng không có sở hữu. Vì pháp đại Bồ-tát không có sở hữu, nên pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác cũng không có sở hữu. Vì pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc Dự-lưu hướng cho đến pháp Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Dự-lưu hướng cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Dự-lưu hướng không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Dự-lưu quả cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Dự-lưu quả không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Nhất-lai hướng cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Nhất-lai hướng không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Nhất-lai quả cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Nhất-lai quả không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Bất-hoàn hướng cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Bất-hoàn hướng không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Bất-hoàn quả cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Bất-hoàn quả không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của A-la-hán hướng cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của A-la-hán hướng không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của A-la-hán quả cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của A-la-hán quả không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Độc-giác hướng cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Độc-giác hướng không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Độc-giác quả cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Độc-giác quả không có sở hữu, nên đại Bồ-tát cũng không có sở hữu. Vì đại Bồ-tát không có sở hữu, nên Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác cũng không có sở hữu. Vì Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc Bổ-đặc-già-la của Dự-lưu hướng cho đến Phật-đà Chánh Đẳng Chánh Giác, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên Thanh-văn thừa cũng không có sở hữu. Vì Thanh-văn thừa không có sở hữu, nên Độc-giác thừa cũng không có sở hữu. Vì Độc-giác thừa không có sở hữu, nên Chánh đẳng giác thừa cũng không có sở hữu. Vì Chánh đẳng giác thừa không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc Thanh-văn thừa, Độc-giác thừa, Chánh đẳng giác thừa, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Thanh-văn thừa cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Thanh-văn thừa không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Độc-giác thừa cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Độc-giác thừa không có sở hữu, nên Bổ-đặc-già-la của Chánh Đẳng giác thừa cũng không có sở hữu. Vì Bổ-đặc-già-la của Chánh Đẳng Giác thừa không có sở hữu, nên hư không cũng không có sở hữu. Vì hư không không có sở hữu, nên Đại-thừa cũng không có sở hữu. Vì Đại-thừa không có sở hữu, nên vô số cũng không có sở hữu. Vì vô số không có sở hữu, nên vô lượng cũng không có sở hữu. Vì vô lượng không có sở hữu, nên vô biên cũng không có sở hữu. Vì vô biên không có sở hữu, nên tất cả pháp cũng không có sở hữu. Do ý nghĩa như vậy, nên nói Đại-thừa có thể bao trùm hết vô số, vô lượng, vô biên hữu tình. Vì sao? Thiện Hiện! Vì ngã cho đến cái thấy, hoặc Bổ-đặc-già-la của Thanh-văn thừa, Độc-giác thừa, Chánh đẳng giác thừa, hoặc hư không, Đại-thừa, vô số, vô lượng, vô biên, tất cả pháp, tất cả đều không có sở hữu, chẳng thể nắm bắt được.

Thiện Hiện! Nên biết, như cảnh giới Niết-bàn có thể bao trùm khắp vô số, vô lượng, vô biên hữu tình, Đại-thừa cũng vậy, có thể bao trùm khắp vô số, vô lượng, vô biên hữu tình.

Thiện Hiện! Do nhân duyên này, cho nên nói: Thí như hư không có thể bao trùm khắp vô số, vô lượng, vô biên hữu tình, Đại-thừa cũng vậy có thể bao trùm khắp vô số, vô lượng, vô biên hữu tình.

Lại nữa, Thiện Hiện! Ngươi nói, lại như hư không, không đến, không đi, không trụ, có thể thấy, Đại-thừa cũng vậy, không đến, không đi, không trụ, có thể thấy? Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tất cả pháp không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Vì tất cả pháp hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Thiện Hiện! Sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của sắc không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của thọ, tưởng, hành, thức không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nhãn xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của nhãn xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của nhãn xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của nhãn xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của nhãn xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứbản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Sắc xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của sắc xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của sắc xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của sắc xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của sắc xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp xứbản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nhãn giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của nhãn giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của sắc giới cho đến các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của nhãn giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của sắc giới cho đến các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của nhãn giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của sắc giới cho đến các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của nhãn giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của sắc giới cho đến các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc cùng các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Nhĩ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của nhĩ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của thanh giới cho đến các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của nhĩ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của thanh giới cho đến các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của nhĩ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của thanh giới cho đến các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của nhĩ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của thanh giới cho đến các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới và nhĩ xúc cùng các thọ do nhĩ xúc làm duyên sanh ra và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Tỷ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của tỷ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của hương giới cho đến các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của tỷ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của hương giới cho đến các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của tỷ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của hương giới cho đến các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của tỷ giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tướng của hương giới cho đến các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Vì sao? Thiện Hiện! Vì tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc cùng các thọ do tỷ xúc làm duyên sanh ra và bản tánh, chơn như, tự tánh, tự tướng của chúng, hoặc động, hoặc trụ, chẳng thể nắm bắt được.

Lại nữa, Thiện Hiện! Thiệt giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; vị giới, thiệt thức giới và thiệt xúc cùng các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Bản tánh của thiệt giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; bản tánh của vị giới cho đến các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Chơn như của thiệt giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; chơn như của vị giới cho đến các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tánh của thiệt giới không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ; tự tánh của vị giới cho đến các thọ do thiệt xúc làm duyên sanh ra không đến, không đi, cũng lại chẳng trụ. Tự tướng của thiệt giới không đến, không đi, cũng lại chẳng