Phần 01

04/06/201112:00 SA(Xem: 7053)
Phần 01

THIỀN SƯ VIỆT NAM

Hoà Thượng Thích Thanh Từ
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh 1992



KHƯƠNG TĂNG HỘI
(K’ANG-SEN-HOUCI)

Ngài Khương Tăng Hội (K’ang-Sen-Houci) người nước Khương Cư (Sogdiane), cha mẹ sang Giao Châu buôn bán. Ngài mồ côi cha mẹ từ lúc mười tuổi. Sau thời kỳ cư tang, Ngài xuất gia, chăm học kinh điển, trở thành một tăng sĩ nổi danh thời ấy. Ngài tánh tình chân thật hòa nhã rất thông minh. Ngài thông hiểu tam tạng, lục kinh còn nghiên cứu toán số, thiên văn, văn chương và chính trị. Ngài sang Đông Ngô tuyên dương Phật pháp trong thời Ngô Tôn Quyền (229-252).

Ngài đến thành Kiến Nghiệp (Nam Kinh) nhằm năm thứ mười niên hiệu Xích Ô nhà Ngô (247) cất một túp lều ở đó tu trì và mở trường giảng dạy. Ngô Tôn Quyền thấy Ngài thi thố nhiều phép lạ lấy làm tín phục, xây dựng ngôi chùa Kiến Sơ thỉnh Ngài ở. Từ đây Phật giáo thạnh hành miền Giang Tả.

Ngài phiên dịch nhiều kinh chữ Phạn ra chữ Hán và viết tựa trong kinh An Ban Thủ Ý, biên tập chú sớ các kinh khác, Ngài tịch khoảng niên hiệu Thiên Kỷ thứ tư nhà Ngô (280).

THÍCH ĐẠO THIỀN

Thích Đạo Thiền (Theo Cao Tăng Truyện viết) người Giao Chỉ, sớm xuất gia lập hạnh tinh nghiêm, giới luật trong sạch, chẳng kém các bậc cao đức. Dân chúng tăng tục đều kính quí đức khắc kỷ và sự dốc chí tu hành của Sư. Chùa núi Tiên Châu xưa bị nhiều cọp quấy nhiễu, Sư đến ở đó nạn ấy liền hết. Nghe Cánh Lăng Vương nhà Tề rộng mở Thiền luật, lập nhiều chỗ giảng dạy, người xa gần dong ruổi kéo đến Kim Lăng. Họ là những người tài đức bốn phương trong đạo. Sư giảng dạy kinh điển rất thông, ban đêm ít ngủ tham khảo kinh sách cố tìm chân lý. Đến năm Vĩnh Minh thứ nhất (483), Sư dạo đến kinh đô ở chùa Vân Cư Hạ tại Chung Sơn. Sư vâng lệnh vua điều khiển tăng chúng, nổi tiếng vì rộng dùng luật Thập Tụng...

Sư thích diệt giác và quán, luôn ẩn núi xa, nếu cảnh ồn náo liền tìm cách lui bước. Sư thích ăn những thức ăn hoang dã, mặc đồ rách rưới, miệng không bao giờ nói chuyện phù phiếm; nếu có ai cho thức ngon đồ đẹp đều đem cấp phát cho người nghèo ốm. Sư sống một đời thiểu dục tri túc, ít ai sánh kịp. Về già, Sư đến ở nhà của chùa, chôn dấu mình ở núi rừng không giao thiệp với kẻ cao sang, sống trong cảnh khổ hạnh. Người ta cho thế là buồn, song Sư vẫn thấy là an vui của mình. Niên hiệu Đại Thông thứ nhất (527) Sư mất ở chùa núi, thọ 70 tuổi. 

THÍCH HUỆ THẮNG

Thích Huệ Thắng (Theo Cao Tăng Truyện viết) là người Giao Chỉ, ở chùa núi Tiên Châu, lánh ngụ rừng đầm, thong dong ngoại vật, tụng kinh Pháp Hoa, ngày đến một biến, mỗi năm càng sâu. Sư ăn mặc đơn sơ, tùy thân vui dùng, theo Thiền sư nước ngoài là Đạt-ma-đề-bà (Dharmadeva) học pháp quán hạnh. Mỗi lần Sư nhập định đến ngày mai mới xuất định.

Lưu TíchBành Thành khi làm Thái thú ở Nam Hải, nghe đạo phong của Sư, lúc về nước thỉnh Sư cùng đi. Khi về tới Bành Thành, Sư cư trú tại chùa U Thê. Sư giữ kín chỗ kỳ đặc, thường tỏ ra ngu ngốc. Nhưng người ở lâu với Sư rất kính trọng, những học giả về Thiền rất khâm phục. Ở chùa U Thê, Sư không đòi phần ăn, chỉ sống bằng khất thực, hoàn toàn tuân theo sự thanh liêm

Năm Vĩnh Minh thứ năm (487), Sư dời về Tịnh xá Diên Hiền tại núi Khế Chung. Từ trẻ đến già, Sư giữ gìn một tâm trinh chánh. 

Sư mất khoảng niên hiệu Thiên Giám (502-519), tuổi vừa 70.

PHÁI THIỀN TỲ-NI-ĐA-LƯU-CHI

Đời thứ: I.Thiền sư Pháp Hiền (626)
 II. 
 III. Thiền sư Huệ Nghiêm
 IV. Thiền sư Thanh Biện (686)
 V.
 VI.
 VII.
 VIII. Thiền sư Định Không (808)
 IX. Thiền sư Thông Thiện
 X. Trưởng lão La Quí (936)
 Thiền sư Pháp Thuận (990)
 Thiền sư Ma-ha
 XI. Thiền Ông Đạo Giả (979)
 Thiền sư Sùng Phạm (1087)
 XII. Thiền sư Vạn Hạnh (1018)
 Thiền sư Định Huệ
 Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1115)
 Thiền sư Minh Không (1141)
 Thiền sư Trì Bát (1117)
 Thiền sư Thuần Chân (1101)
 XIII. Thiền sư Huệ Sinh (1063)
 Thiền sư Thiền Nham (1163)
 Thiền sư Bổn Tịch (1140)
 XIV. Thiền sư Khánh Hỷ (1142)
 XV. Thiền sư Giới Không
 Thiền sư Pháp Dung (1174)
 XVI. Thiền sư Chân Không (1100)
 Thiền sư Trí
 Thiền sư Đạo Lâm (1203)
 XVII. Ni sư Diệu Nhân (1113)
 Thiền sư Viên Học (1116)
 Thiền sư Tịnh Thiền (1193)
 XVIII. Quốc sư Viên Thông (1151)
 XIX. Thiền sư Y Sơn (1213)

PHÁI THIỀN VÔ NGÔN THÔNG

Đời thứ: I. Thiền sư Cảm Thành (860)
 II. Thiền sư Thiện Hội (900)
 III. Thiền sư Vân Phong (956)
 IV. Đại sư Khuông Việt (1011)
 V. Thiền sư Đa Bảo
 VI. Trưởng lão Định Hương (1051)
 Thiền Lão Thiền Sư
 VII. Thiền sư Viên Chiếu (1090)
 Thiền sư Cứu Chỉ 
 Thiền sư Minh Tâm (1034)
 Thiền sư Bảo Tính (1034)
 Thiền sư Quảng Trí
 VIII. Thiền sư Ngộ Ấn (1088)
 Thiền sư Mãn Giác (1096)
 Quốc Sư Thông Biện (1134)
 IX. Thiền sư Bảo Giám (1173)
 Thiền sư Đạo Huệ (1172)
 Thiền sư Không Lộ (1119)
 Thiền sư Bổn Tịnh (1176)
 X. Thiền sư Giác Hải (thế kỷ 11-12)
 Thiền sư Tịnh Không (1170)
 Thiền sư Đại Xả (1180)
 Thiền sư Tín Học (1190)
 Thiền sư Trường Nguyên (1165)
 Thiền sư Tịnh Lực (1175)
 Thiền sư Trí Bảo (1190)
 Thiền sư Minh Trí (1196)
 Thiền sư Tịnh Giới (1207)
 Thiền sư Nguyện Học (1174)
 XI. Thiền sư Quảng Nghiêm (1190)
 XII. Thiền sư Thường Chiếu (1203)
 XIII. Thiền sư Thần Nghi (1216)
 Đại sĩ Thông Thiền (1228)
 XIV. Thiền sư Tức Lự
 Thiền sư Hiện Quang (1220)
 Cư sĩ Ứng Thuận Vương

PHÁI THIỀN THẢO ĐƯỜNG
(1055 - 1205)
 I. 1. Lý Thánh Tông
 2. Bát-nhã
 3. Ngộ Xá
 II. 1. Ngô Ích
 2. Thiệu Minh
 3.- ?
 4. Định Giác
 III. 1. Đỗâ Vũ
 2. Phạm Âm
 3. Lý Anh Tông
 4. Đỗ Đô
 IV. 1. Trương Tam Tạng
 2. Chân Huyền
 3. Đỗ Thường
 4.- ?
 V. 1. Hải Tịnh
 2. Lý Cao Tông
 3. Nguyễn Thức
 4. Phạm Phụng Ngự

Thiền sư TỲ-NI-ĐA-LƯU-CHI
(VINITARUCI) (? - 594)
(Tổ khai sáng dòng Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi ở Việt Nam)

Sư là người Nam Thiên Trúc (Nam Ấn Độ) dòng Bà-la-môn tên Vinitaruci. Thuở nhỏ đã có chí khác thường, đi khắp miền Tây Trúc (Tây Ấn Độ) để tham khảo Thiền Tông. Nhưng vì cơ duyên chưa gặp, Sư lại sang Đông Nam.

Sư sang Trung Quốc nhằm đời Trần Tuyên Đế niên hiệu Thái Kiến năm thứ sáu (574) vào đến Trường An. Gặp thời Chu Vũ Đế phá diệt Phật pháp, Sư lại phải sang qua đất Nghiệp (Hồ Nam). Lúc ấy, Tổ Tăng Xán đang mang y bát ở ẩn trong núi Tư Không, bỗng nhiên Sư tìm gặp được Tổ. Thấy cử chỉ phi phàm của Tổ, Sư phát tâm kính mộ, đến trước vòng tay ba lần, Tổ vẫn ngồi im nhắm mắt không nói. Sư đứng suy nghĩ giây lát bỗng nhiên tâm có sở đắc. Sư liền sụp xuống lạy ba lạy, Tổ cũng chỉ gật đầu ba cái. Sư lùi lại ba bước thưa:

- Đệ tử lâu nay không được an, Hòa thượng vì lòng đại từ bi, xin cho con theo hầu hạ Ngài.

Tổ bảo:

- Ngươi nên mau qua phương Nam giáo hóa, không nên ở đây lâu.

Sau khi được tâm ấn nơi Tổ, Sư từ biệt sang Quảng Châu trụ trì tại chùa Chế Chỉ. Thời gian sáu năm ở đây, Sư dịch xong bộ kinh “Tượng Đầu Tinh Xá” chữ Phạn ra chữ Hán.(Phật thuyết Tượng Đầu Tinh Xá Kinh, Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng số 466)

Đến niên hiệu Đại Tường năm thứ hai nhà Chu (580), Sư sang Việt Nam trụ trì tại chùa Pháp Vân. (Chùa Pháp Vân cũng gọi là chùa Dâu tên chữ là chùa Diên Ứng ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, hiện nay cách Hà Nội khoảng 25km về hướng Đông. Chùa này thời Lý gọi là chùa Cổ Châu (làng Cổ Châu, huyện Siêu Loại); đời Trần gọi là chùa Thiền Định hay chùa Siêu Loại; đời Hậu Lê gọi là chùa Diên Ứng.) Nơi đây, Sư dịch xong bộ kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì. (Phật thuyết Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì Kinh, Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng số 275.)

Một hôm, Sư gọi đệ tử nhập thấtPháp Hiền bảo:

- Tâm ấn của chư Phật, không có lừa dối, tròn đồng thái hư, không thiếu không dư, không đi không lại, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn; vốn không có chỗ sanh, cũng không có chỗ diệt, cũng chẳng xa lìa, mà chẳng phải chẳng xa lìa. Vì đối với vọng duyêngiả lập tên ấy thôi. Bởi thế, chư Phật trong ba đời cũng như thế, nhiều đời Tổ sư cũng do như thế mà được, ta cũng do như thế được, ngươi cũng do như thế được, cho đến hữu tình vô tình cũng do như thế được. Tổ Tăng Xán khi ấn chứng tâm này cho ta, bảo ta mau về phương Nam giáo hóa, không nên ở đây lâu. Đã trải qua nhiều nơi, nay đến đây gặp được ngươi quả là phù hợp với lời huyền ký. Vậy ngươi khéo giữ gìn, giờ đi của ta đã đến.

Nói xong, Sư chấp tay thị tịch. Pháp Hiền làm lễ hỏa táng, lượm xá-lợi năm sắc, xây tháp cúng dường. Năm ấy nhằm niên hiệu Khai Hoàng thứ mười bốn nhà Tùy (594).

Về sau, vua Lý Thái Tông (1028-1054) có làm bài kệ truy tán phong tặng Sư:

 Mở lối nước Nam đến
 Nghe Ngài giỏi tập thiền.
 Hiện bày các Phật tánh
 Xa hiệp một nguồn tâm.
 Trăng Lăng-già sáng rỡ
 Hoa Bát-nhã ngạt ngào.
 Bao giờ được gặp mặt
 Cùng nhau bàn đạo huyền.
 Sáng tự Nam lai quốc 
 Văn quân cửu tập thiền 
 Ứng khai chư Phật tính 
 Viễn hợp nhất tâm nguyên 
 Hạo hạo Lăng-già nguyệt 
 Phân phân Bát-nhã liên. 
 Hà thời hạnh tương kiến 
 Tương dữ thoại trùng huyền.

Thiền Sư PHÁP HIỀN
(? - 626)
(Đời thứ I, Dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)

Sư họ Đỗ quê ở Chu Diên (Sơn Tây), thân hình to lớn cao đến bảy thước ba tấc (2m30). Khi mới xuất gia, Sư theo Đại sư Quán Duyên ở chùa Pháp Vân thọ giới. Đến lúc Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi sang Việt Nam vào chùa Pháp Vân gặp Sư. Tổ nhìn kỹ vào mặt hỏi:

- Ngươi họ gì?
Sư đáp:
- Hòa thượng họ gì?
- Ngươi không có họ sao?
- Họ thì chẳng không, Hòa thượng làm sao biết được?
- Biết để làm gì?

Sư bỗng nhiên tự tỉnh, liền sụp xuống lạy. Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi ấn chứng, từ đây về sau Sư luôn luôn theo hầu Tổ.

Sau khi Tổ tịch, Sư vào núi Từ Sơn tu thiền định, thân như cây gỗ, vật ngã đều quên. Các loài cầm thú thường quấn quít chung quanh Sư. Người đời thấy thế càng thêm kính mộ, đệ tử tìm đến học đạo càng ngày càng đông. Nhân đó, Sư mới lập chùa nhận đồ đệ ở tu, số học chúng hằng ngày trên ba trăm vị. Thiền Tông phương Nam từ đây được thạnh hành.

Thích sử Lưu Phương nghe danh của Sư, bèn dâng sớ về Trung Quốc tâu lên vua nhà Tùy:

“...Cõi này người khâm sùng Phật giáo, lại có những vị cao đức danh tăng...”

Vua Tùy sai sứ mang năm hòm xá-lợi Phật và tờ điệp, bảo Sư xây tháp cúng dường. Sư bèn xây tháp ở chùa Pháp Vân và các chùa danh tiếng ở các châu Phong, Hoan, Trường, Ái... cũng đều dựng tháp cúng dường.

Về sau, Sư trụ trì tại chùa Chúng Thiện, núi Thiên Phước huyện Tiên Du.

Niên hiệu Võ Đức năm thứ chín đời Đường (626), Sư an tường thị tịch. Thiền sư Thanh Biện là người kế thừa dòng thiền của Sư.

Thiền Sư THANH BIỆN
(? - 686)-(Đời thứ 4, Dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)

Sư họ Đỗ quê ở Cổ Giao, năm 12 tuổi theo ngài Pháp Đăng ở chùa Phổ Quang tu học. Khi ngài Pháp Đăng sắp thị tịch, Sư hỏi:

- Sau khi Hòa thượng đi, con nương tựa vào đâu?

Pháp Đăng bảo:

- Con chỉ Sùng Nghiệp mà thôi.

mờ mịt không hiểu.

Pháp Đăng tịch rồi, Sư chuyên trì kinh Kim Cang lấy đó làm sự nghiệp.

Một hôm có thiền khách đến viếng, thấy Sư trì kinh, bèn hỏi:

- Kinh này là mẹ chư Phật trong ba đời, thế nào là ý nghĩa mẹ Phật?
Sư thưa:
- Từ trước đến nay trì kinh mà chưa hiểu ý kinh.
Thiền khách hỏi:
- Ông trì kinh đến giờ đã được bao lâu?
- Đã tám năm.
- Trì kinh đã tám năm mà một ý kinh cũng không hiểu, dù trì mãi đến trăm năm nào cóù công dụng gì?
Sư liền đảnh lễ, thưa hỏi chỗ thâm sâu ấy. Thiền khách bảo đến Thiền sư Huệ Nghiêm ở chùa Sùng Nghiệp giải quyết cho. Sư chợt tỉnh, nói:
- Nay tôi mới biết lời của Hòa thượng Pháp Đăng, quả phù hợp như vậy.
Sư bèn khăn gói hỏi thiền khách đường đến chùa Sùng Nghiệp. Đến nơi, Sư làm lễ ra mắt.
Thiền sư Huệ Nghiêm thấy liền hỏi:
- Ngươi vì việc gì đến?
Sư thưa:
- Con trong tâm có chỗ chưa ổn. 
Huệ Nghiêm hỏi:
- Ngươi chưa ổn cái gì?
Sư liền đem việc trước thuật lại đầy đủ.
Huệ Nghiêm than rằng:

- Ngươi tự quên mất rồi, sao không nhớ trong kinh nói “Chư Phật trong ba đời và pháp A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, đều từ kinh này ra”, đâu không phải là nghĩa mẹ chư Phật ư?
Sư thưa:


- Phải. Thế là con tự quên.
Huệ Nghiêm hỏi:
- Kinh này là người nào nói?
- Đâu không phải Như Lai nói sao?

- Trong kinh nói “Nếu nói Như Lai có nói pháp tức là chê bai Phật, người ấy không thể hiểu nghĩa ta nói”, ngươi khéo suy nghĩ đó. Nếu nói kinh này không phải Phật nói là chê bai kinh, nếu nói là Phật nói tức chê bai Phật. Ngươi phải làm sao? Nói mau! Nói mau!

Sư toan mở miệng, Huệ Nghiêm cầm phất tử đánh ngay miệng. Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ. Liền sụp xuống lạy tạ. Sư ở lại đây một thời gian.

Sau, Sư đến trụ trì chùa Kiến Dương ở làng Hoa Lâm phủ Thiên Đức.

Hóa duyên đã mãn, Sư thị tịch năm Bính Tuất nhằm niên hiệu Thùy Cung thứ hai đời Đường (686).

Thiền Sư ĐỊNH KHÔNG
(730 - 808)-(Đời thứ 8, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)

 Sư họ Nguyễn quê ở làng Cổ Pháp, con nhà danh giá, lại thâm hiểu về thế số. Những hành động của Sư đều hợp pháp tắc, người trong làng quí kính gọi là Trưởng Lão.

Lúc tuổi đã lớn, Sư đến pháp hội Long Tuyền Nam Dương nghe pháp, liền lãnh hội ý chỉ. Nhân đây Sư phát tâm xuất gia theo Phật. 

Đời Đường khoảng niên hiệu Trinh Nguyên (785-804), Sư lập ngôi chùa Quỳnh Lâm tại quê nhà. Khi đào đất đắp nền chùa gặp được một quả hương đề và mười cái khánh. Sư sai đem xuống nước rửa, một cái khánh lăn đến tận đáy ao mới dừng. Sư giải rằng:

- Chữ thập, chữ khẩu, hợp thành chữ cổ. Chữ thủy?, chữ khứ hợp thành chữ pháp. Thổ là chính chỗ chúng ta ở, tức chỉ đất này.

Nhân đây, Sư đổi tên làng là Cổ Pháp (trước tên Diên Uẩn), lại làm bài tụng:

 Đất dâng pháp khí
 Một món thuần đồng.
 Ấy điềm Phật pháp hưng long.
 Đặt tên làng là Cổ Pháp.
 Địa trình pháp khí?
 Nhất phẩm tinh đồng.?
 Trị Phật pháp chi hưng long
 Lập hương danh chi Cổ Pháp.)?
Sư lại nói:
 Pháp khí hiện ra mười cái chung đồng
 Họ Lý làm vua ba phẩm thành công.
 Pháp khí xuất hiện thập khẩu đồng chung
 Lý hưng vương tam phẩm thành công.)

Lại nói:

 Thập, khẩu, thủy, thổ, khứ
 Danh hiệu làng Cổ Pháp
 Gà ở sau loan nguyệt
 Chính là Tam bảo thạnh.
 (Thập, khẩu, thủy, thổ, khứ 
 Cổ Pháp danh hương hiệu. 
 Kê cư loan nguyệt hậu 

 Chánh thị hưng Tam bảo.)
Sau, Sư trụ trì tại chùa Thiền Chúng ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức (nay là làng Đình Bảng, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh).
Sắp tịch, Sư gọi đệ tử Thông Thiện đến bảo:

- Ta muốn mở rộng làng xã, nhưng giữa chừng e gặp họa nạn, ắt có người khác đến phá hoại đất đai của chúng ta (quả nhiên, sau có Cao Biền đời Đường đến trấn ở đây). Sau khi ta tịch, ngươi khéo gìn giữ pháp của ta. Khi nào gặp người họ Đinh sẽ truyền thì nguyện của ta được mãn vậy.

Nói xong, Sư cáo biệt mà tịch, thọ 79 tuổi, nhằm đời Đường niên hiệu Nguyên Hòa thứ ba (808) năm Bính Tý.
Thông Thiện xây tháp thờ Sư ở phía tây chùa Lục Tổ và ghi lời phó chúc rành rõ.

Thiền Sư VÔ NGÔN THÔNG
(? - 826)
(Tổ khai sáng dòng Thiền Vô Ngôn ThôngViệt Nam)

Sư họ Trịnh quê ở Quảng Châu, xuất gia tại chùa Song Lâm xứ Vũ Châu. Tánh Sư điềm đạm ít nóithông minh, nên thời nhân gọi là Vô Ngôn Thông.

lễ Phật, có một thiền khách đến hỏi:

- Tọa chủ lễ đó là cái gì?
Sư đáp:- Là Phật.
Thiền khách bèn chỉ tượng Phật hỏi:- Cái này là Phật gì?

Sư không đáp được.
Đến tối, Sư y phục chỉnh tề đến lễ thiền khách, thưa:
- Hôm nay Thầy hỏi, tôi chưa biết ý chỉ thế nào?
Thiền khách hỏi:- Tọa chủ được mấy hạ?
Sư thưa:- Mười hạ.
Thiền khách bảo:- Đã từng xuất gia chưa?
Sư càng thêm mờ mịt.
Thiền khách khuyên Sư đồng đến tham vấn với Mã Tổ. Đi đến Giang Tây nghe tin Mã Tổ đã tịch, bèn đến yết kiến Bá Trượng Hoài Hải.
*
* *
Một hôm trong giờ tham vấn, có vị tăng hỏi Bá Trượng:
- Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại thừa?
Bá Trượng đáp:- Đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu.
Nghe câu này, Sư hoát nhiên đại ngộ.
*
* *
Sau, Sư về Quảng Châu trụ trì tại chùa Hòa An. Có người hỏi:
- Thầy phải Thiền sư chăng?
Sư đáp:- Bần đạo chẳng từng học thiền.
Sư lặng thinh giây lâu, gọi người kia.
Người kia đáp: - Dạ!
Sư chỉ cây tòng lư (cây móc).
*
* *
Một hôm, Sư bảo Huệ Tịch đem giường lại. Huệ Tịch đem đến.
Sư bảo:- Đem lại chỗ cũ.
Huệ Tịch vâng theo.
Sư hỏi:- Cái giường ở bên này là vật gì?- Không vật.
Sư gọi: - Huệ Tịch!
Huệ Tịch đáp: - Dạ!
Sư bảo: - Đi!
*
* *
Năm Canh Tý niên hiệu Nguyên Hòa thứ mười lăm đời Đường (820), Sư sang An Nam ở chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng, huyện Tiên Du Bắc Ninh. Ở đây trọn ngày, Sư ngồi xây mặt vào vách, suốt mấy năm mà không ai biết, chỉ Thiền sư Cảm Thành (Trụ trì chùa này) biết Sư là vị cao tăng đắc đạo trong nhà thiền. Cảm Thành hết lòng kính trọng tôn thờ Sư làm thầy.

Một hôm, Sư gọi Cảm Thành đến bảo:

- Ngày xưa Tổ sưNam Nhạc Hoài Nhượng khi sắp tịch có dặn mấy lời:

 Tất cả các pháp đều từ tâm sanh
 Tâm không chỗ sanh, pháp không chỗ trụ.
 Nếu đạt tâm địa chỗ trụ không ngại
 Chẳng gặp thượng căn dè dặt chớ dạy.
 (Nhất thiết chư Pháp giai tùng tâm sanh
 Tâm vô sở sanh pháp vô sở trụ.
 Nhược đạt tâm địa sở trụ vô ngại
 Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa.)

Nói xong, Sư chấp tay thị tịch, nhằm năm Bảo Lịch thứ hai đời Đường (826). Cảm Thành rước Sư lên hỏa đàn, thu hài cốt xây tháp thờ ở núi Tiên Du.

Thiền Sư CẢM THÀNH
(? - 860)-(Đời thứ I, dòng Vô Ngôn Thông)

Sư quê ở Tiên Du, không rõ họ gì, chỉ biết mới xuất gia đạo hiệu là Lập Đức, ở tại quận nhà chuyên lấy việc trì tụng làm sự nghiệp. Có Hương hào họ Nguyễn ở làng Phù Đổng mến đức hạnh cao cả của Sư, tình nguyện đem gia trạch cúng cho Sư làm ngôi chùa. Sư một mực từ chối. Ban đêm Sư mộng thấy thần nhân mách:“Nếu theo ý họ Nguyễn, thời gian chẳng lâu sẽ được điều lành lớn.” Nhân đó, Sư mới nhận lời, nay chính là ngôi chùa Kiến Sơ ở làng Phù Đổng ấy vậy.
Quả như lời thần nhân mách, Sư về trụ trì chưa bao lâu, Thiền sư Vô Ngôn Thông đến. Biết Thiền sư chẳng phải là hạng thường, Sư hôm sớm hết lòng thờ kính, không hề biếng trễ. Vì thế Thiền sư Vô Ngôn Thông đổi hiệu Sư là Cảm Thành.

Một hôm, Thiền sư Vô Ngôn Thông gọi Sư vào dạy:

- Xưa đức Thế Tôn vì một nhân duyên lớn mà xuất hiệnở đời, hóa duyên viên mãn Ngài vào Niết-bàn. Diệu tâm này tên Chánh pháp Nhãn tạng, thật tướng không tướng, pháp môn chánh định, chính Ngài trao cho đệ tửTôn giả Ma-ha Ca-diếp làm Sơ tổ. Đời đời truyền nhau đến Tổ Đạt-ma, từ Ấn Độ sang Trung Hoa trải bao nguy hiểm, vì truyền pháp này. Cứ thế đến Lục tổ Tào Khê được nơi Ngũ tổ, vẫn dòng phái Đạt-ma. Tổ Đạt-ma lúc mới đến, vì người chưa tin hiểu nên lấy việc truyền y bát để rõ chỗ đắc pháp. Nay niềm tin đã thuần thục, thì y là đầu mối của sự tranh giành. Thế nên, Ngũ tổ dặn: “Phải dừng ngay nơi ông, không nên truyền nữa.” Do đó, đến nay chỉ dùng tâm truyền tâm mà chẳng trao y bát.

Khi ấy, Tổ sư Nam Nhạc Hoài Nhượng nhận được chân truyền này, bèn trao cho Mã Tổ Đạo Nhất, Mã Tổ trao cho Bá Trượng Hoài Hải. Ta ở chỗ Tiên sư Bá Trượng nhận được tâm pháp ấy đã lâu, nghe ở phương này (Việt Nam) có nhiều người hâm mộ Đại thừa, vì thế mà đến phương Nam để tìm thiện tri thức. Nay ta gặp ngươi đây, ấy bởi túc duyên đã sẵn. Nghe ta nói kệ:

 Các nơi đồn đại
 Dối tự huyên truyền
 Rằng Thủy Tổ ta
 Gốc từ Tây Thiên.
 Truyền pháp Nhãn tạng
 Gọi đó là Thiền
 Một hoa năm cánh
 Hạt giống liên miên.
 Thầm hợp lời mật
 Muôn ngàn có duyên
 Đều gọi tâm tông
 Thanh tịnh bản nhiên.
 Tây Thiên cõi này
 Cõi này Tây Thiên
 Xưa nay nhật nguyệt
 Xưa nay sơn xuyên.
 Chạm đến thành trệ
 Phật tổ thành oan 
 Sai đó hào ly
 Mất đó trăm ngàn.
 Ngươi khéo quán sát
 Chớ lừa cháu con
 Ngay như hỏi ta
 Ta vốn không lời.
 Chư phương hạo hạo 
 Vọng tự huyên truyền 
 Vị ngô thủy tổ 
 Thân tự Tây thiên
 Truyền pháp nhãn tạng 
 Mục vị chi thiền 
 Nhất hoa ngũ diệp 
 Chủng tử miên miên. 
 Tiềm phù mật ngữ 
 Thiên vạn hữu duyên 
 Hàm vị tâm tông 
 Thanh tịnh bản nhiên
 Tây Thiên thử độ 
 Thử độ Tây Thiên 
 Cổ kim nhật nguyệt 
 Cổ kim sơn xuyên. 
 Xúc đồ thành trệ 
 Phật tổ thành oan 
 Sai chi hào ly 
 Thất chi bách thiên. 
 Nhữ thiện quán sát 
 Mạc trám nhi tôn 
 Trực nhiêu vấn ngã 
 Ngã bổn vô ngôn.) 
Nghe xong bài kệ, Sư liền lãnh ngộ.
*
* *
Có vị tăng đến hỏi: - Thế nào là Phật?

Sư đáp:

- Khắp tất cả chỗ.
 - Thế nào là Phật tâm?
 - Chẳng từng che dấu.
 - Học nhân chẳng hội?
 - Đã lầm qua rồi.
*
* *
Về sau, Sư không bệnh mà tịch vào năm Canh Thìn, nhằm năm đầu niên hiệu Hàm Thông (860) nhà Đường.

Thiền Sư THIỆN HỘI
(? - 900)-(Đời thứ 2, dòng Vô Ngôn Thông)

Sư quê ở Điển Lãnh, thuở nhỏ theo thầy Tiệm Nguyên ở chùa Đông Lâm bổn hương xuất gia, hiệu là Tổ Phong. Lớn lên, Sư vân du khắp nơi để tìm thầy tham học. Khi đến chùa Kiến Sơ gặp Thiền sư Cảm Thành bèn xin ở lại đây. Phục vụ Thiền sư Cảm Thành hơn mười năm, mà Sư không biết mỏi mệt.

Một hôm, Sư vào thất hỏi:

- Trong kinh có nói: “Đức Thích-ca Như Lai đã từng tu hành trải vô số kiếp mới được thành Phật.” Nay Thầy dạy rằng: “Tâm tức là Phật”, con chưa hiểu lẽ đó, cúi xin Thầy một phen khai ngộ cho.

Thiền sư Cảm Thành bảo:

- Trong kinh là người nào nói?

Sư thưa:
- Đâu không phải là Phật nói ư?
- Nếu là Phật nói, tại sao trong kinh Văn Thù lại nói: “Ta trụ ở đời 49 năm, chưa từng nói một chữ dạy người.” Cổ đức nói: “Người tìm nơi văn, chấp nơi chứng càng thêm trệ; khổ hạnh cầu Phật là mê, lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo; chấp tâm cầu Phật là ma.”

- Như thế, tâm ấy cái gì chẳng phải Phật, cái gì là Phật?

- Xưa có người đến hỏi Mã Tổ: “Tâm tức là Phật, tâm nào là Phật?” Mã Tổ bảo: 
“Ông nghi cái nào chẳng phải Phật chỉ ra xem?” Người kia không đáp được. Tổ dạy: “Đạt thì khắp tất cả cảnh, chẳng ngộ hằng trái xa.” Chỉ câu nói này, ngươi lại hội chăng?

Liền đó, Sư thưa:

- Nay con hội rồi.
- Ngươi hội thế nào?
- Khắp tất cả chỗ không đâu chẳng phải tâm Phật .

Nói xong Sư sụp xuống lạy.

Thiền sư Cảm Thành bảo:

- Thế là ngươi hiểu đúng rồi.

Nhân đó, Thiền sư Cảm Thành cho Sư hiệu là Thiện Hội.
*
* *
Sau, Sư trụ trì ở chùa Định Thiền làng Siêu Loại để truyền bá tâm tông. Năm thứ ba niên hiệu Quang Hóa đời Đường (900), Sư tịch tại bổn tự.

Trưởng Lão LA QUÍ
(852 - 936)
(Đời thứ 10, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)

Sư họ Đinh người An Chân, đi du phương từ thuở nhỏ, tham yết khắp các bậc thầy nổi danh trong nhà Thiền. Trải nhiều năm như thế, mà pháp duyên chưa hợp, Sư sắp thối chí. Sau gặp Thiền sư Thông Thiện ở chùa Thiền Chúng nói một câu, tâm Sư liền khai ngộ. Từ đây, Sư ở lại hầu hạ thầy.
Thiền sư Thông Thiện sắp tịch gọi Sư đến bảo:

- Xưa thầy ta là Định Không từng dặn dò rằng: “Con khéo giữ gìn pháp của ta, gặp người họ Đinh sẽ truyền.” Ngươi gắng đảm đang lấy. Nay ta đi vậy.
Sư đã được pháp tùy phương diễn hóa, chọn đất cất chùa. Mỗi khi nói ra lời nào đều phù hợp sấm ngữ. Sư tổ chức đúc tượng Lục Tổ bằng vàng tại chùa Lục Tổ. Sau vì sợ trộm cướp nên đem chôn trước cửa chùa. Sư di chúc rằng: 

 Gặp vua sáng thì hiện
 Thấy chúa tối nên ẩn.
 Trị minh vương tắc xuất 
 Ngộ ám chúa tắc tàng.) 

trụ trì chùa Song Lâm, làng Phù Ninh, phủ Thiên Đức.
Sắp tịch, Sư bảo đệ tửThiền Ông rằng:

- Thuở trước Cao Biền xây thành bên sông Tô Lịch, vì biết vùng đất làng Cổ Pháp có khí tượng đế vương, nên cho đào đứt con sông Điềm và những hồ ao liên hệ v.v... đến mười chín chỗ để mà ếm đó. Nay ta đã sai Khúc Lãm lấp lại như xưa. Lại ta có trồng một cây Miên ở chùa Minh Châu để trấn chỗ bị đứt. Biết sau này ắt có vua hiền ra đời, để vun bồi chánh pháp của ta. Sau khi ta tịch, ngươi nên đắp lên một nền đất, xây lên ngọn tháp, lấy pháp để kín trong ấy, chớ cho người thấy.

Nói xong, Sư thị tịch, thọ 85 tuổi, nhằm niên hiệu Thanh Thái thứ ba nhà Hậu Đường (936).

Lúc trồng cây Miên, Sư có làm bài kệ:

 Đại sơn đầu rồng dấy
 Đuôi to ẩn Châu Minh
 Thập bát tử định thành
 Cây gạo hiện hình rồng
 Thỏ gà trong tháng chuột
 Quyết thấy mặt trời lên
 (Đại sơn long đầu khởi 
 Cầu vỹ ẩn Chu Minh 
 Thập bát tử định thành 
 Miên thọ hiện long hình 
 Thố kê thử ngoạt nội 
 Định kiến nhật xuất thanh.) ?

Tạo bài viết
24/08/2015(Xem: 5989)
14/04/2020(Xem: 3258)
24/02/2020(Xem: 848)
02/11/2019(Xem: 1341)
Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc Moon Jae-in nói: “Phật giáo là nguồn lực Bi-Trí-Dũng, tạo thành sức mạnh đã giúp đất nước và con người Hàn Quốc vượt qua biết bao thử thách trong hơn 1.700 năm qua. Phật giáo luôn sát cánh bên những người đang phấn đấu vì sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, dân chủ và hòa bình của đất nước chúng ta. Tôi hy vọng cộng đồng Phật giáo sẽ liên tục hợp lực để mở ra con đường hướng tới giao lưu liên Triều và thúc đẩy hòa bình trên Bán đảo Triều Tiên”.
Là người quan tâm rất sớm, từ năm 2019, về việc lấy hình ảnh Đức Phật để biếm họa trên Tuổi Trẻ Cười, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn xót xa chia sẻ việc đó là rất nghiêm trọng xét trên phương diện ứng xử văn hóa, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện nay có nhiều biểu hiện suy thoái đạo đức truyền thống.
Có lẽ chưa khi nào vấn đề sùng bái trở nên khủng khiếp như hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã lên tiếng: sùng bái đang dẫn dắt nhiều người xa rời văn minh, tiến bộ xã hội.