(Xem: 1379)
Theo Tứ phần luật thì nguyên nhân Phật chế định sự an cư là do nhóm sáu người gọi là lục quần Tỳ kheo thường du hành trong nhân gian, bất cứ mùa nào, nhất là vào mùa mưa, họ dẫm đạp chết vô số côn trùng. Các cư sĩ thấy thế than phiền. Đức Phật hay biết việc ấy, Ngài khiển trách nhóm lục quần Tỳ kheo và chế định từ đó trở đi, hằng năm các Tỳ kheo phải an cư ba tháng vào mùa mưa, để tránh tình trạng đi ra đạp chết cỏ, trùng và để yên tĩnh tu dưỡng thân tâm.
(Xem: 1089)
Ngày nay, cả hai hệ Phật giáo phương Nam và phương Bắc đều tự tứ theo truyền thống sau mùa an cư giải hạ. Chỉ có thời gian tổ chức không đồng bộ do sự dị biệt tính phái và ảnh hưởng bản sắc dân tộc vùng miền khi Phật giáo du nhập.
(Xem: 1458)
Giới luật Phật giáo không dành riêng cho đối tượng nào nhưng hàng xuất gia là đối tượng bắt buộc phải học giới luật Phật giáo.
(Xem: 1509)
Tôi nhận được bản thảo của quyển “Giới bổn Thức-xoa của Luật Tứ phần” do Thượng tọa Nhật Từ dịch và chú thích từ bản chữ Hán “Thức-xoa-ma-na-ni giới bổn” (式义摩那尼戒本) do Sa-môn Hoằng Tán (沙門弘贊) biên tập. Giới bổn này đã được Trưởng lão Thích Trí Quang dịch và xuất bản từ năm 1993. Tuy nhiên, việc dịch mới một tác phẩm thích ứng với điều kiện tu học của hành giả trong thời điểm hiện tại cũng là điều hết sức cần thiết. Bản dịch của Thượng tọa Nhật Từ có nhiều chú thích về thuật ngữ, giúp các Thức-xoa-ma-na, các Ni sinh đang ngồi trên ghế các trường Trung cấp Phật học, Trường Cao đẳng Phật học, hoặc đang tu học tại các tòng lâm tự viện, hiểu rõ hơn về các điều khoản giới luật một cách chi tiết, nhận thức rõ tầm quan trọng của Giới bổn và ứng dụng hành trì trong bối cảnh tu học của tự thân.
(Xem: 2457)
Giới Bồ-tát tại gia được đức Phật quy định trong “Kinh Ưu-bà-tắc giới”, đang khi giới Bồ-tát xuất gia được ghi chép trong “Kinh Phạm võng Bồ-tát giới”. Đây là hai bản kinh quan trọng về quy phạm hành vi của người tu học theo Phật giáo Đại thừa nhằm hoàn thiện đạo đức trọn vẹn, một trong ba trụ cột tâm linh cốt lõi của Phật giáo. Hai trụ cột tâm linh còn lại là trí tuệ và thiền định.
(Xem: 1653)
Giới Bồ-tát xuất gia được quy định trong “Kinh Phạm võng Bồ-tát giới”, đang khi giới Bồ-tát tại gia được ghi chép trong “Kinh Ưu-bà-tắc giới”. Đây là hai bản kinh quan trọng về quy phạm hành vi của người tu học theo Phật giáo Đại thừa nhằm hoàn thiện đạo đức trọn vẹn, một trong ba trụ cột tâm linh cốt lõi của Phật giáo. Hai trụ cột tâm linh còn lại là trí tuệ và thiền định.
(Xem: 2061)
Những năm gần đây tôi có công bố một số bài viết về mối liên hệ giữa Thiền tông sơ kỳ và giới luật, cả giới Thanh văn thuộc Luật tạng truyền thống lẫn giới Bồ-tát. Ban đầu tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu vấn đề này là quan trọng bởi vì nó liên quan đến việc phát triển các luật lệ của Thiền tông được gọi là “thanh quy” (清規).
(Xem: 2807)
Quyển “Giải thích giới luật và oai nghi của Sa-di” được Thượng tọa Nhật Từ dịch từ nguyên tác chữ Hán: “Sa-di luật nghi yếu lược tập chú” (沙彌律儀要略集註) của Hòa thượng Luật sư Quảng Hóa, là tác phẩm có giá trị đối với sự tu học của các Sa-di và người xuất gia trẻ tuổi.
Kinh
(Xem: 548)
- "Thưa Thế Tôn, Ngài vượt sang được bên kia sông bằng cách nào vậy? - Không dừng lại cũng không cố gắng, này các Tỳ kheo, đấy là cách mà ta vượt sang được bên kia sông. - Tại sao lại như vậy, thưa Đấng Thế Tôn, Ngài không dừng lại cũng không cố gắng thế nhưng tại sao Ngài lại vượt sang được phía bên kia sông? - Nếu bất động, này các Tỳ kheo, thì ta sẽ bị chìm. Thế nhưng nếu vùng vẫy thì ta sẽ bị cuốn trôi. Này các Tỳ kheo, không dừng lại, cũng không cố gắng, đấy là cách mà ta vượt sang được bên kia sông"
(Xem: 428)
Suttanipātapāḷi – Kinh Tập là tập thứ năm thuộc Tiểu Bộ, Tạng Kinh, theo sau bốn tập Khuddakapāṭhapāḷi – Tiểu Tụng, Dhammapadapāḷi – Pháp Cú, Udānapāḷi – Phật Tự Thuyết, và Itivuttakapāḷi – Phật Thuyết Như Vậy. Về nội dung, tập Kinh Suttanipātapāḷi – Kinh Tập trình bày về một số giáo lý và phương pháp tu tập từ thấp lên cao theo nhiều khía cạnh.
(Xem: 856)
Bản kinh được in trong ấn bản nầy chủ yếu là của Max Müller.1 Tôi có ghi thêm phần phân bổ trang của ông trong dấu ngoặc vuông,2 để người đọc có thể căn cứ vào đó và trích dẫn rõ ràng. Trích dẫn riêng của tôi luôn luôn dựa vào các phẩm do Max Müller đã phân ra từ kinh văn. Một bản sao khác của bản khắc gỗ tương tự hiện còn ở London School of Oriental Studies,1 và nhờ sự hỗ trợ của các tư liệu nầy, mà tôi có điều kiện được rà soát lại các ghi chép của Max Müller. Về các ghi chú, tôi đã dùng nhiều tư liệu khác nhau, ở đây được sắp xếp theo thứ tự niên đại: Hai nguồn tư liệu xưa nhất là Bản dịch tiếng Hán của ngài Cưu-ma-la-thập,2 và Luận giải của ngài Vô Trước và Thế Thân.3
(Xem: 1285)
Dự án phiên dịch “Tam tạng Phật giáo Việt Nam” với tên gọi trong truyền thống Đại thừa là Đại tạng Kinh Việt Nam được Viện Tăng thống GHPGVNTN triệu tập, thảo luận kế hoạch và chính thức thành lập vào ngày 20-22/10/1973. Cơ quan trực tiếp phụ trách dự án này là Hội đồng phiên dịch Tam tạng gồm 18 thành viên, dưới sự chủ tọa của HT. Thích Trí Tịnh, HT. Thích Minh Châu và HT. Thích Quảng Độ.
(Xem: 777)
Quyển “Sổ tay mục lục Tam tạng Pāḷi” này chứa đựng các thông tin nền tảng của quyển toàn diện hơn, “Tổng mục lục Tam tạng Pāḷi,” giúp người tìm hiểu về Phật giáo Thượng tọa bộ nói riêng và người yêu thích Phật giáo nói chung, có thể tra cứu nhanh về xuất xứ của các bản văn Kinh, Luật, Luận Pāḷi, cũng như đối chiếu tựa đề Việt – Pāḷi – Hán.
(Xem: 1643)
Từ khi vào chùa với tuổi để chỏm, Bổn sư thế độ đã trao cho tôi bản kinh "Phật thuyết A-di-đà" bằng chữ Hán, bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập và dạy phải học thuộc lòng, rồi theo đại chúng đi thực tập tụng kinh vào mỗi buổi chiều. Học và tụng thuộc lòng ngâm nga vào mỗi buổi chiều, mà chẳng hiểu gì, nhưng tôi lại rất thích.
(Xem: 1805)
Sau đây là những điều tôi được nghe lúc đức Thế Tôn còn lưu trú ở tịnh xá Kỳ Viên trong vườn Kỳ Đà tại thành Xá Vệ; Ngài gọi các vị khất sĩ và bảo: – Này quý thầy. Các vị khất sĩ đáp: – Có chúng con đây. Đức Thế Tôn dạy: – Tôi sẽ nói cho quý thầy nghe thế nào là người biết sống một mình. Trước hết tôi nói đại cương, sau đó tôi sẽ giải thích. Quý thầy hãy lắng nghe.
(Xem: 565)
PHẬT NÓI KINH DIÊN /DUYÊN MỆNH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT Hán dịch: Không rõ tên người dịch [PN: Ngài Bất-Không Tam-Tạng phụng chiếu dịch] Việt dịch: HUYỀN THANH Pram Nguyễn chú giải { gạch bỏ thay vào, hay chú thích bằng [ ] } 12/15/2018
(Xem: 1043)
Tổng hợp bài giảng của thầy Tuệ Sỹ về Nhập Trung Luận.
(Xem: 3062)
Ngài Thế Thân (Vasubandhu) tạo Luận Câu-xá vào khoảng năm 900 sau khi Phật nhập diệt, tức khoảng thế kỷ thứ tư hay thứ năm Tây lịch, làm căn bản cho tác phẩm nổi danh khác cũng do Ngài viết hơn 30 năm sau là Duy Thức Tam Thập Tụng. Luận Câu-xá gồm 600 bài tụng và trường hàng, chia làm 8 hoặc 9 phẩm, gồm 29 hoặc 30 quyển theo sự sắp xếp của các luận gia về sau.
(Xem: 1544)
Ám ảnh bức bách duy nhất của mọi sinh vật chính là sự chết. Các sợ hãi khác chỉ là biến thái của sợ chết. Thế giới bị chinh phục, bị khống chế, bị điều động bởi sự chết. Kinh Phật nhân cách hóa nó thành một loại Ma. Theo từ nguyên, trong tiếng Phạn, mara là danh từ phái sinh từ động từ √mṛ: mriyate, nó chết. Mọi hoạt động của chúng sinh, mọi thứ được kể là văn minh tiến bộ, thảy đều là những biện pháp mà các loài lựa chọn để bảo đảm sự sinh tồn của bản thân và đồng loại. Thế nhưng, do nhận thức sai lầm, điên đảo, kết quả của những lựa chọn đại phần, nếu không muốn nói tất cả, thảy đều tai hại. Đức Phật thành Chánh giác, được mô tả là sau khi chiến thắng quân đội Ma và những quyến rũ của Ma. Các vị luận giải A-tì-đạt-ma cho rằng sợ hãi là một biểu hiện của phiền não. Đây là khía cạnh tiêu cực của sợ hãi. Mặt tích cực được biểu hiện nơi các yếu tố tâm sở thiện.
(Xem: 11620)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 8737)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 6551)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 5838)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
(Xem: 6582)
“Thân tác chứng thành tựu và an trú tịnh giải thoát”: Thế nào là gia hành của tịnh giải thoát này? Tu quán hành giả do phương gì nhập tịnh giải thoát định? Khi người mới bắt đầu sự nghiệp tu quán, trước hết cần phải nắm lấy hình thái thanh thọ, như thanh hành, thanh chi, thanh diệp, thanh hoa, thanh quả, hoặc nắm lấy hình thái thanh y, thanh nghiêm cụ tướng, hoặc nắm lấy đa dạng thanh tướng nào khác. Khi đã nắm lấy các thanh tướng như thế rồi, do lực thắng giải, tư duy tưởng niệm, quan sát an lập, tín giải sắc này là thanh tướng ấy.
CHUYÊN ĐỀ
Khi thế giới đối phó với những tổn thương do COVID-19 gây ra, Ngày Nhân ái Thế giới (World Kindness Day), được tổ chức vào ngày 13 tháng 11 hàng năm, là một cơ hội tốt để chúng ta suy ngẫm về tiềm năng chữa lành bệnh bởi những hành động tử tế lớn và nhỏ của con người. Quả thực, chính những hành động tử tế của những người làm các công việc thiết yếu đã giúp cứu sống nhiều người trong mùa đại dịch vừa qua. Là một học giả nghiên cứu về Phật học, tôi đã nghiên cứu những cách mà các nhà sư Phật giáo nói về sự tử tế và lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh.
Thưa mẹ, Suối vàng có rêu xanh? Dòng nào thuyền mẹ thả? Có bến bờ an vui? Nghì thu miền chín suối, Mẹ mang theo được gì? Dư vị một kiếp người? Hay ngày xưa chua xót? Giọng ngâm: Hồng Vân - Phổ nhạc Võ Tá Hân - Ca sĩ Xuân Phú và Hồ Quốc Việt
Trước nhất cha mẹ là những người ân cần nhất đã cho ta thân người Sau đó, đạo sư ân cần nhất trong việc trình bày giáo thiêng liêng. Cuối cùng con phải tự biểu lộ lòng ân cần to lớn nhất, Luôn luôn thành tâm với thân thể, lời nói và tâm ý với giáo pháp
Từ khi nào rằm tháng Bảy và lễ hội xá tội vong nhân đã đi vào tâm thứcvăn hóa Việt nam? Chúng ta không biết chính xác niên đai và xuất xứ của lễ này cùng với câu chuyên của Mục Kiền Liên cứu mẹ trong Tự Tứ – ngày chư Tăng mãn Hạ theo truyền thống Đạo Phật phát triển.
Sáng nay tình cờ xem một clip thấy hình ảnh một người cha ốm yếu đứng sau chiếc xe cứu thương chở hai quan tài của con đi hỏa táng, chiếc xe đậu trước nhà trên một đường phố vắng vẻ, người cha bước khấp khểnh tiễn đưa người con xấu số rồi quỳ xuống lạy mấy lạy.
Theo cái nhìn của nhà Phật, việc đốt vàng mã chẳng có một chút lợi ích nào cả cho người đã khuất và cho cả người sống (nếu có, thì rất hạn chếxuất phát từ ý niệm thiện lành nhưng chưa đúng chính pháp của người thực hiện). Như vậy, ‘Làm thế nào để có lợi ích thật sự cho người mất, cho ông bà tổ tiên và cho cả người thực hiện (người sống)?” là vấn đề bài kết tập này tập trung mổ xẻ trên nền tảng giáo điển Nikàya (Pali tạng) trong sự liên hệ tương ưng với giáo pháp Đại Thừa của Phật Tổ, ngỏ hầu giúp quý Phật tử (bất bộ phái) có cái nhìn khách quan và đúng đắn, qua đó hành giả có thể tùy duyên ứng dụng hoặc thực hành, mang lại lợi ích cho người mất, ông bà tổ tiên vv, cho cả chính người thực hiện, và hơn thế nữa.
Mùa Vu Lan năm nay bên cạnh bông hồng đỏ, trắng của những đứa con ngoan còn mẹ hay mất mẹ cài lên áo; ước mong rồi đến một năm nào đó rất gần như sang năm, sẽ có đóa hoa xanh, hoa tím… thêm màu nở từ những cõi lòng thấm nước mắt của những đứa con chưa ngoan biết hối cải, ăn năn trở về với Mẹ.
Hôm nay là ngày 15/8 dương lịch nhằm ngày mồng Tám tháng Bảy, Tân Sửu. Chỉ còn một tuần nữa là tới Rằm tháng Bảy. Rằm tháng Bảy âm lịch là ngày mà các chùa theo đạo Phật khắp nơi trên thế giới đều tổ chức Lễ Vu-Lan rất trọng thể. Lễ Vu-Lan từ lâu đã được xem như là ngày Lễ Báo Hiếu của những người con dành cho bậc cha mẹ. Hòa cùng nhịp tim của những người con thảo luôn nghĩ nhớ đến công ơn dưỡng dục sanh thành của cha mẹ nhất là vào mùa Vu-Lan báo hiếu này. Hôm nay chúng tôi muốn cùng quý vị tìm hiểu ý nghĩa bài kinh quan trọng luôn được tụng đọc trong ngày đại lễ Vu-Lan tổ chức tại các chùa Phật giáo Bắc tông. Đó là “Kinh Vu-Lan-Bồn” hay “Phật thuyết Vu-Lan-Bồn kinh” .
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina). Nếu an cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền an cư (Purimikavassà), còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An Cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An Cư (Pacchimikāvassā). Truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi là ‘An cư kiết hạ’, tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Sau rằm tháng tư âm lịch Chư Tăng theo truyền thống Đại thừa bắt đầu kiết túc an cư, cho đến hết ngày mười bốn tháng bảy âm lịch, làm lễ tự tứgiải hạ kết thúc mùa an cư.
Mùa thu hiền dịu và thân thương lại trở về với muôn loài cỏ cây vạn vật, mùa thu hắt hiu gợi cho hồn thi nhân nguồn cảm hứng dạt dào bởi những chiếc lá úa vàng rơi, mặt nước hồ thu trong veo, yên bình dễ phản chiếu một bầu trời ảm đạm. Nhưng đối với người con Phật, thì mùa thu là mùa Vu Lan, là mùa báo hiếu.
Con là Phật tử, hiện đang là sinh viên. Gia đình con thờ Bồ-tát Quán Thế Âm. Trong quá trình tu học, con thường trì chú Đại bi, niệm danh hiệu Bồ-tát và nhận được nhiều sự nhiệm mầu linh ứng không thể nghĩ bàn. Con chỉ thắc mắc một điều là, theo luật nhân quả, những gì xảy đến với con người trong hiện tại là do nhân duyên đã gieo trồng trong quá khứ. Nhưng khi trì niệm thần chú Đại bi, nhờ thành tâm trì chú, thiết tha nguyện cầu, được Bồ-tát cảm ứnggia hộ nên được thành tựu như nguyện (ví dụ như đau bệnh được lành, không con được con…) thì việc tu tập linh ứngluật nhân quả đang vận hành có gì mâu thuẫn không?
Thời gian trôi qua như nước chảy gầm cầu, thấm thoát mới đó mà đã là tháng bảy âm lịch rồi. Tháng bảy đối với người Việt chúng ta là tháng dành cho tâm linh. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ bao đời xem tháng bảy là tháng mà cửa ngục được mở ra để cho linh hồn những người đang bị giam giữ trở về thăm gia đình trên dương thế. Vì thế tháng bảy người Việt chúng ta thường làm những điều thiện lành để tích lũy phước đức hồi hướng cho ông bà tổ tiên ông bà cha mẹ đã khuất được siêu thoát.
Theo thói quen, người ta thường gọi phụ nữ là ‘phái yếu’ mặc dù thực tế không hẵn như thế. Trong nhà, vị trí của người mẹ là không thể thay thế, đó là chỗ dựa vững chắc, là thành trì đạo đứctâm linh của cả gia đình. Ngoài xã hội, người phụ nữ cũng chưa từng đòi hỏi một đặc quyền nào trong công việc. Từ những phẩm đức đáng trân quý như dịu dàng ôn hoà, nhẫn nhịn khiêm cung, vị tha và khoan hậu đã tạo nên một hình tượng tiêu biểu của nữ giới được tôn vinh là ‘phái đẹp’.
Cuốn sách Nguồn gốc hình thành và phát triển tín ngưỡng Quán Âm của tác giả Lý Lợi An, được nhóm dịch giả Thích Nguyên TúThích Nữ Chơn Thủy – Trần Huỳnh Thông làm việc tại Trung tâm Biên phiên dịch Tư liệu Phật giáo Quốc tế Vĩnh Nghiêm Tùng Thư thực hiện, với độ dày hơn 700 trang.
....Bản tin AP hôm 1/8/2021 kể về một vị lạt ma tái sinh, bây giờ đang còn là một học sinh trung học ở Minnesota, Hoa Kỳ. Đó là cậu bé có tên là Jalue Dorje, một em vị thành niên rất mực Hoa Kỳ, trưởng thành ở một khu ngoại ô thành phố Minneapolis. Và cũng như vô lượng thiếu niên trên đời này, cậu Dorje, bây giờ mới 14 tuổi, rất mực ưa thích môn thể thao bóng bầu dục, trò chơi Pokémon, và nhạc rap.
NEW POSTING
Thời Đức Phật còn tại thế, khi con người bắt đầu nhận ra được thế gian này có quá nhiều chuyện phiền não, rất nhiều người đã đến gặp Đức Phật và cùng hỏi về một vấn đề. - “Kính thưa Đức Thế Tôn, con nên làm thế nào mới thôi không còn những điều phiền muộn?”
Ý đồ của Hốt-tất-liệt, dựa trên Phật giáo Tây Tạng để thống trị Trung Quốc không chỉ bằng vũ lực mà còn cả về tư tưởng, tôn giáo, chính trị xã hội; nếu suy luận này của chúng ta không lạc hướng, thế thì lịch sử chứng tỏ ý đồ này đã thất bại. Ý nghĩa của sự thất bại này thuộc phạm vi nghiên cứu của các nhà văn hóa và sử học.
“Như du khách, chúng ta tiến bước trên con đường trong suốt kiếp sống bắt đầu từ trong tử cung của người mẹ. Vào lúc này hay lúc khác, chúng ta sẽ phải xuống xe ở cuối cuộc hành trình. Mỗi người nắm giữ tấm vé nghiệp, chúng ta tiến thẳng tới đích đến tương ứng riêng của mình.”
Ngoài Danh và Sắc, phần tâm linh và phần vật chất, là hai thành phần cấu tạo chúng sanh, Phật Giáo không chấp nhận có một linh hồn vĩnh cửuhay một bản ngã trường tồncon người đã thọ lãnh một cách bí ẩn, từ một nguồn gốc cũng không kém bí ẩn.
Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy, Kiếp phù sinh trông thấy mà đau. Trăm năm còn có gì đâu, Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì !
Chúng đệ tử Phật Việt Nam, trong nước cũng như ngoài nước, cùng chung một huyết thống tổ tiên, cùng tôn thờ một Đức Đạo Sư, hãy cùng hòa hiệp như nước với sữa, thì ở trong Phật pháp mới có sự tăng íchan lạc. Hãy quên đi những bất đồng quá khứhiện tại trong các hoạt động Phật sự, hãy quên đi những lỗi lầm của người này hay người kia, cùng hòa hiệp nhất trí hoằng dương Chánh Pháp trên cơ sở giáo nghĩa được lưu truyền trong Tam tạng Thánh giáo, để không phụ công ơn tài bồi của các Sư Trưởng; công đức hy sinh vô úy của chư vị Tăng Ni, Phật tử, vì sự trong sáng của Chánh Pháp, vì sự thanh tịnh và hòa hiệp của Tăng già, đã tự châm mình làm ngọn đuốc soi đường cho chúng ta ngày nay vững bước trên Thánh đạo.
Hiện nay có một số ít người ăn chay trường đến tuổi già lại ngả qua ăn mặn cho biết là các bác sĩ gia đình của họ yêu cầu ăn thịt cá vì cơ thể thiếu chất protein. Do vậy có bài dịch dưới đây. Nguyên tác bài viết của Bác sĩ John A. McDougall, chuyên gia dinh dưỡng hàng đầu người Hoa Kỳ dạy về sức khỏe thông qua chế độ ăn chay, ông đã nghiên cứu và viết nhiều tài liệu về tác động của dinh dưỡng tới bệnh tật trong vòng 30 năm. (Bản dịch Việt: Tịnh Thủy)
Mới đây, vào ngày 14/11/2021, trong chuyến du hành mang tên Nước Mỹ Hãy Thức Dậy (ReAwaken America) của nhóm cực hữu, ông tướng bốn sao Michael Flynn- cựu cố vấn an ninh quốc gia dưới thời Ô. Trump đã nói rằng, “Nếu chúng ta có một quốc gia đặt dưới sự che chở của Thượng Đế thì chúng ta chi có một tôn giáo mà thôi” (If we are going to have one nation under God — which we must — we have to have one religion,” Flynn said in San Antonio at a stop for the far-right “ReAwaken America” tour. “One nation under God, and one religion under God.)
Cách lựa chọn một môn thiền đúng đắn. Cách phân biệt đâu là thiền ngoại đạo , đâu là thiền của đức phật
Không phải. Phật giáo chính tín không có quan niệm Chúa sáng thế. Đức Phật là bậc giác ngộ trong nhân gian, Ngài tuy thấu rõ tất cả mọi nguyên lý của thế gian này, nhưng Ngài lại không thể thay đổi trạng thái vốn có của thế gian này.
Cảm ơn người giấu mặt Không lời, không chê khen Cảm ơn nơi không Phật Cho tôi ghé thắp đèn...
- "Thưa Thế Tôn, Ngài vượt sang được bên kia sông bằng cách nào vậy? - Không dừng lại cũng không cố gắng, này các Tỳ kheo, đấy là cách mà ta vượt sang được bên kia sông. - Tại sao lại như vậy, thưa Đấng Thế Tôn, Ngài không dừng lại cũng không cố gắng thế nhưng tại sao Ngài lại vượt sang được phía bên kia sông? - Nếu bất động, này các Tỳ kheo, thì ta sẽ bị chìm. Thế nhưng nếu vùng vẫy thì ta sẽ bị cuốn trôi. Này các Tỳ kheo, không dừng lại, cũng không cố gắng, đấy là cách mà ta vượt sang được bên kia sông"
Chào đón lễ Phật Thành Đạo & Xuân Nhâm Dần 2022, cung kính điểm lại một số danh nhân Phật giáo sinh vào các năm Dần.
Trong những ngày qua, nhiều trang báo mạng đưa tin: Điêu khắc gia Hoàng Gia Thuận vừa qua đời do bệnh già, thọ 83 tuổi. Ông là nhà điêu khắc, tác giả tạo dấu ấn với bức tượng Phật ngoài trời cao nhất Việt Nam ở TP. Nha Trang: KIM THÂN PHẬT TỔ.
(1) Giới thiệu Hai Sự Thật Thành Lập Thật-Tại Bản dịch Việt: Đặng Hữu Phúc (2021) The Dalai Lama. Transcendent WisdomBản dịch Anh: The Dalai Lama. Transcendent Wisdom. Translated by B. Alan Wallace. Snow Lion Publication (1988, 1994, 2009)
Kết quả khả thi duy nhất của sự ra đời là cái chết. Chúng ta tất yếu sẽ chết. Không có chúng sinh hữu tình nào mà đời sống họ không kết thúc với cái chết. Con người thử rất nhiều phương pháp để ngăn chặn cái chết xuất hiện, nhưng điều đó không thể. Không có thuốc nào chữa chúng ta khỏi cái chết.
Bậc Chân Nhân, nói chung, là người biết mình biết người, và trên hết, biết đúng thực tế, ít nhất ở một mức độ nào đó. Quả thực, Bậc Chân Nhân hay người tốt thực sự đóng góp rất nhiều cho xã hội & cộng đồng. Ngay cả khi chưa giác ngộ, bậc chân nhân cũng mang lại nhiều lợi ích cho nhân sinh & xã hội, còn khi đã giác ngộ rồi thì những lợi ích và điều tốt đẹp mà người như vậy mang đến còn nhiều hơn, vĩ đại hơn.
Suttanipātapāḷi – Kinh Tập là tập thứ năm thuộc Tiểu Bộ, Tạng Kinh, theo sau bốn tập Khuddakapāṭhapāḷi – Tiểu Tụng, Dhammapadapāḷi – Pháp Cú, Udānapāḷi – Phật Tự Thuyết, và Itivuttakapāḷi – Phật Thuyết Như Vậy. Về nội dung, tập Kinh Suttanipātapāḷi – Kinh Tập trình bày về một số giáo lý và phương pháp tu tập từ thấp lên cao theo nhiều khía cạnh.
Pháp quan trọng nhất trong cuộc sống là tâm. Tâm thống trị cả thế gian. Tâm làm chủ tất cả những ý nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta. Vì vậy, nó làm chủ cả thế gian. Nếu chúng ta có thể làm chủ chỉ một pháp, đó là tâm của chúng ta, chúng ta sẽ có được hạnh phúc nhân loại, hạnh phúc cõi trờihạnh phúc cao thượng Níp-bàn. Mahā Saddhamma Jotikadhaja
Toàn bộ lý do để nghiên cứu Pháp, các giáo lý của Đức Phật, là tìm kiếm một phương cách để vượt qua khổ đau và đạt được bình an, hạnh phúc. Cho dù chúng ta nghiên cứu các hiện tượng vật lý hay tinh thần, tâm hoặc các tâm sở của nó, thì chỉ khi nào chúng ta giải thoát khỏi khổ đau với mục tiêu tối thượngchúng ta đang đi đúng đường. Khổ đau có một nhân, một duyên (điều kiện) để hiện hữu.
Nghiệp trong kiếp sống này: ‘Nghiệp sinh khởi và cho quả của nó’ là một tài liệu sưu tập những bài giảng và thuyết pháp (dhamma) của Sayadaw Nandamālābhivaṃsa đã giảng trong suốt nhiều năm tại một số nơi ở Myanmar và nước ngoài. Một số bài nói đã được phiên âm hay chuyển ngữ trước.
"Giáo dục là vũ khí mạnh nhất để thay đổi thế giới. Để phá hủy bất kỳ quốc gia nào, không cần phải sử dụng đến bom nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa. Chỉ cần hạ thấp chất lượng giáo dụccho phép gian lận trong các kỳ thi của sinh viên. - Bệnh nhân chết dưới bàn tay các bác sĩ của nền giáo dục ấy. - Các tòa nhà sụp đổ dưới bàn tay các kỹ sư của nền giáo dục ấy. - Tiền bị mất trong tay các nhà kinh tế và kế toán của nền giáo dục ấy. - Nhân loại chết dưới bàn tay các học giả tôn giáo của nền giáo dục ấy. - Công lý bị mất trong tay các thẩm phán của nền giáo dục ấy. - Sự sụp đổ của giáo dục là sự sụp đổ của một quốc gia".
Lúc hoàn mãn một Pháp hội Đại Thành Tựu (Drupchen) về Phổ Ba Kim Cương tại Tsering Jong ở Bir, khi mà các hành giả kết hợp ba thực hành Phổ Ba Kim Cương như Orgyen Tobgyal Rinpoche giải thích trong giáo lý này, Ngài đã ban một bài nói chuyện truyền thống trước Marme Monlam, lời nguyện cúng dường ánh sáng, điều kết thúc một Drupchen. Trong bài thuyết giảng, Rinpoche nhắc nhở người tham dự về sức mạnh phi phàm của điều mà họ vừa làm và truyền cảm hứng để họ hồi hướng công đức bằng cách chỉ ra những lời nguyện cần phát vào lúc này. Bởi các nguyên tắc giống nhau đều áp dụng lúc kết thúc mọi Drupchen, trước Marme Monlam, Rinpoche mong muốn rằng chúng tôi chia sẻ những lời dạy này.
Tư tưởng thiền học của Tuệ Trung Thượng Sĩ thời Trần gắn liền với quan điểm bất nhị, kiến tánh, phá chấp. Tuệ Trung thông rõ, trong bản thể các pháp trần chỉ là huyễn, nên không bị kẹt dính vào bất cứ thứ gì trên thế gian; thấy rõ trong chân như không có sự khác biệt giữa phàm thánh, Phật và chúng sanh, sanh tửNiết bàn, phiền nãoBồ đề. Cho nên Tuệ Trung tự tại giữa sống chết thịnh suy, tùy duyên thuận pháp nhập thế hành Bồ tát đạo trên hình tướng cư sĩ.
“……Vượt không gian thử thách đắn đo / Cái nghĩa khí vĩ nhân rộng lớn / Sự thành công nào phải ai cho / Cũng con đường này ngại bước chân / Người đi qua thách thức tử thần / Thanh Bảo Kiếm chân trời viễn mộng / Hãnh diện đời cái nghĩa thanh bần / Người qua rồi trang sử còn đây / Dư hương thơm xứng đáng bậc thầy / Tôi chiêm ngưỡng rêu phong thánh tích / Và tìm tòi trong vết chân mây…”
Hỏi: Có chứng cứ khoa học nào về tái sinh, đời trước, đời sau? Xin giải thích vắn tắt về tái sinh theo quan điểm Phật giáo. Niềm tin rằng có đời trước, đời sauý nghĩa gì đối với một Phật tử?
Mấy hôm nay đọc báo trên các mạng lưới trực tuyến xã hội tiếng Việt, người Việt khắp nơi trong cũng như ngoài nước, được nghe một nguồn dư luận mới xôn xao về việc nên giữ hay bỏ một câu khẩu hiệu đã trở thành quá quen thuộc trong tất cả các hệ thống trường học Việt Nam từ xưa tới nay. Đó là câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” thường được dán ngay trên tường trước mặt học sinh trong lớp học.
Tự tánh của các pháp là như huyễn, như mộng, như sóng nắng (mà tưởng là nước), như bóng sáng, như hình bóng trong gương. Đây là những thí dụ về sự không thật của các pháp, tức là những thí dụ về tánh Không. Tánh Không gồm trong ba giải thoát môn: Không, Vô tướng, Vô nguyện.
Trái đất nóng lên là một thực tế cấp bách. Không ai trong chúng ta có thể thay đổi được quá khứ. Nhưng tất cả chúng ta đều có trách nhiệm đóng góp cho một tương lai tốt đẹp hơn. Thật vậy, chúng tatrách nhiệm đối với bản thân và hơn bảy tỷ người đang sống ngày nay, để đảm bảo rằng tất cả chúng ta có thể tiếp tục sống trong hòa bình và an toàn. Với hy vọngquyết tâm, chúng ta phải chăm lo cho cuộc sống của chính mình và của tất cả những người xung quanh.
Dự án phiên dịch “Tam tạng Phật giáo Việt Nam” với tên gọi trong truyền thống Đại thừaĐại tạng Kinh Việt Nam được Viện Tăng thống GHPGVNTN triệu tập, thảo luận kế hoạchchính thức thành lập vào ngày 20-22/10/1973. Cơ quan trực tiếp phụ trách dự án này là Hội đồng phiên dịch Tam tạng gồm 18 thành viên, dưới sự chủ tọa của HT. Thích Trí Tịnh, HT. Thích Minh Châu và HT. Thích Quảng Độ.
Thứ Bảy ngày 27 tháng 11 năm 2021 vừa qua, vào lúc 10 giờ sáng (giờ Việt Nam) Hội đồng Hoằng Pháp (GHPGVNTN) đã tổ chức đại hội lần thứ I trực tuyến qua hệ thống Zoom. Trước đó, các thông báo về tin tức đại hội được loan tải trên trang nhà Hoằng Pháp, công bố chương trình nghị sự và thời gian tổ chức.
Geshe Lhundub Sopa (1923-), học giảđại từ Tu viện Sera, được biết đến vì hiểu biết của ngài về tánh Không. Ngài cũng là một trong các giám khảo kỳ thi biện luận của đức Đạt Lai Lạt Ma vào năm 1959 ngay trước khi phải đào thoát sang Ấn Độ khi Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng. Ngài sang Mỹ năm 1962 và tham gia giảng dạy tại trường Đại học Madison, tiểu bang Wisconsin vào năm 1967 cho đến khi ngưng gần đây.
Sylvain Lévi, Le Buddhacarita d’Ashvaghosha, JA 1892, p. 8, vol. XIX, p. 201 S. Khi Lévi (trang 202) đánh giá Phật sở hành tán là một tác phẩm ‘rút gọn tinh yếu từ Kinh Phổ Diệu’ là ông đã sai lầm. Ít nhất Kinh Phổ Diệu trong bản được biên soạn hiện hành có lẽ không có kiểu mẫu nào như của ngài Mã Minh cả.
Ấn Độ và Tây Tạng có mối quan hệ đặc biệt khá tuyệt vời. Vào thế kỷ thứ bảy, Hoàng đế Tây Tạng đã có quan hệ mật thiết với hoàng gia Trung Quốc, đã kết hôn với một công chúa Trung Quốc, và chúng ta có thể tưởng tượng là Hoàng Đế đã thưởng thức món ăn Trung Quốc và những thứ khác. Tuy nhiên, khi xem xét đến cách định hình một dạng chữ viết cho Tây Tạng, Đức Vua đã không muốn theo truyền thống Trung Quốc - và thay vào đó, ông đã chọn thiết kế một bảng chữ cái Tây Tạng theo mô hình chữ viết Devanagari của Ấn Độ.
Tất cả chúng ta đều lo buồn; rất nhiều chúng sinh hữu tình thường xuyên khốn khổ. Tuy nhiên, ngay tại đây và bây giờ, chúng tathời gian, không giannăng lực để suy nghĩ cách từ bỏ khổ đau – không phải chỉ là vượt qua một vấn đề hoặc trở nên yên bình hơn, mà là hoàn toàn chấm dứt khổ đau.
...Có thể nói, từ lời Phật dạy được tóm lược trong kinh Đại bát Niết-bàn: Hòa quang bất đồng kỳ trần (和光不同其塵) qua bản dịch của ngài Đàm-vô-sấm và lời dạy của Lão Tử trong Đạo đức kinh: Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần (和其光,同其塵) tuy chỉ khác biệt một vài chữ nhưng nghĩa lý cách xa nhau muôn dặm. Trong thực tế ngày nay, khi đạo đức của nhân loại nói chung đang có những biểu hiện suy giảm, đã tác động đến nhiều lãnh vực của xã hội mà trong đó có cả Phật giáo, thì dịch ngữ của ngài Đàm-vô-sấm từ bản kinh Đại-bát Niết-bàn, có thể được vận dụng như một thái độ sống nhu nhuyến, hiệu năngtích cực trong bất kỳ mối quan hệ nào.
Bản kinh được in trong ấn bản nầy chủ yếu là của Max Müller.1 Tôi có ghi thêm phần phân bổ trang của ông trong dấu ngoặc vuông,2 để người đọc có thể căn cứ vào đó và trích dẫn rõ ràng. Trích dẫn riêng của tôi luôn luôn dựa vào các phẩm do Max Müller đã phân ra từ kinh văn. Một bản sao khác của bản khắc gỗ tương tự hiện còn ở London School of Oriental Studies,1 và nhờ sự hỗ trợ của các tư liệu nầy, mà tôi có điều kiện được rà soát lại các ghi chép của Max Müller. Về các ghi chú, tôi đã dùng nhiều tư liệu khác nhau, ở đây được sắp xếp theo thứ tự niên đại: Hai nguồn tư liệu xưa nhất là Bản dịch tiếng Hán của ngài Cưu-ma-la-thập,2 và Luận giải của ngài Vô Trước và Thế Thân.3
“Tôi nuôi dưỡng lòng từ bi trên cơ sở rằng tất cả chúng ta đều là những con người như nhau. Bất cứ nơi nào tôi đến, cho dù đó là Châu Âu, Châu Phi hay Châu Mỹ Latinh, tôi đều mỉm cười. Trái tim ấm áp nhân hậu là điều cốt yếu nếu chúng ta muốn biến thế kỷ này trở thành một thế kỷ hòa bình và một thế giới hòa bình. Đây là điều mà tôi muốn chia sẻ với quý vị”.
Lá đổ ào ạt, từng mảng lá rụng đồng loạt, từng bựng lá bay như đàn bướm. Trời cuối thu, mặt đất phủ đầy lá, đâu đâu cũng lá. Rừng cây đã gần trơ trọi, những khoảng trống, những thân cây như bộ xương cắm trên mặt đất cố vươn những cánh tay lên hư không. Lão Omeehar bệ vệ trong bộ lông xanh đen pha xám, mào và tích lòng thòng chảy dài. Lão nặng đến ba mươi cân Anh chứ ít sao, lúc nào cũng khệnh khạng dẫn ba mụ vợ và đàn con đi loanh quoanh kiếm ăn.
Nam Mô A Di Đà Phật Kính bạch quý ngài, Con, Tỳ Kheo Thích Thánh Trí, trụ trì Tu Viện Bồ Đề, thành phố Renton, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ thành kính đê đầu đảnh lễ tri ân quý ngài trong suốt thời gian gần 2 năm qua đã hết mình trên mọi phương diện hiến dâng cho sự nghiệp hoằng truyền Chánh Pháp, cho sự trường tồn của Giáo Hội truyền thống và làm nhựa sống cho bản thể Tăng già.
Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938 – 2003) đã để lại nhiều tác phẩm lớn, vừa có giá trị Phật học, vừa có giá trị văn học. Một tác phẩm trong những tháng cuối của cuộc đời Ni Trưởng là tập thơ Ngọa Bệnh Ca, được sáng tác trong thời gian nằm bệnh vào đầu năm 2003. Rồi cuối năm 2003, Ni Trưởng tử nạn trong một tai nạn giao thông. Bài viết nảy sẽ ghi lại những suy nghĩ về bài thơ “Người Gỗ” trong thi tập Ngọa Bệnh Ca của Ni Trưởng. Trong bài chỉ là các suy nghĩ rời, từ một người không có thẩm quyền nào, cả về Phật họcvăn học.
Phật Giáo chỉ ra con đường đưa đến hoàn thiện, an lạcgiải thoát cho tất cả mọi lứa tuổi, mọi thành phần, đặc biệt là cho giới trẻ bởi vì tuổi trẻ cần định hình nhân cách, xác định mục tiêu phấn đấu và lý tưởng đẹp đẽ cho cuộc đời, phải tu dưỡng rất nhiều để trở thành công dân tốt cho xã hội.
Bốn năm trước chúng tôi chính thức dọn về sống ở một miền quê, nơi giá nhà rất rẻ dân số vào khoảng mười ngàn người, nơi đây vốn trồng trỉa và chăn nuôi, hàng xóm nuôi gà ngựa dê cừu nhưng không nhiều lắm. Tiếng gà gáy tiếng chim kêu cất lên đón chào một ngày mới, thi thoảng những cơn gió vô tình mang mùi phân và nước tiểu cũng đủ để chúng ta tha hồ quán bất tịnh.
Tôi yêu Lễ tạ ơn. Hầu hết người Hoa Kỳ cũng vậy, xếp hạng đây là ngày lễ yêu thích thứ hai của họ trong năm sau ngày lễ Giáng sinh. Có rất nhiều điều để yêu thích về Lễ Tạ ơn. Có khái niệm về lòng biết ơn - điều mà chúng ta vĩnh viễn quên đi trong cuộc sống hàng ngày bận rộn của mình. Đó là sự ấm áp của gia đình - quây quần bên bàn ăn để nói cười với những người thân yêu của chúng ta. Và có một sức hấp dẫn thế tục - người Mỹ thuộc mọi tín ngưỡng ngày nay tổ chức Lễ Tạ ơn với sự nhiệt tình bình đẳng không phân biệt tôn giáo, sắc tộc. Nhưng có một thứ mà chúng ta, với tư cách là một xã hội anh em nên xem xét lại về Lễ Tạ ơn: con gà tây.
H. Bạn có tin tái sinh không? Nếu tin là có tái sinh thì vì sao bạn lại tin? | H. Nếu tin là có tái sinh, vậy có người nào chết mà không tái sinh không? | H. Vậy điều kiện nào để một người được tái sinh và một người không được tái sinh? | H. Nếu tin là có tái sinh, vậy cái gì dẫn dắt chúng ta đi tái sinh? | H. Khi được tái sanh trở lại làm người, vậy người trong kiếp này và người của kiếp sau có phải cùng là một người không hay là hai người khác nhau? | H. Khi con người chết đi, nghĩa là thân tâm (danh sắc) bị hoại diệt, ngũ uẩn tan rã, không còn gì cả, vậy xin hỏi rằng những lễ cầu siêu cúng cơm, thân nhân đã chết có được hưởng gì không?
Giã từ cõi mộng điêu linh Tôi về buôn bán với mình phôi pha. (Mưa nguồn) Cõi mộng nào chẳng chất ngất điêu linh: Ông thực sự đã giã từ cõi mộng. Còn cái điêu linh thì vẫn còn đó để cho người ta tập nhìn ngắm và học cách biết yêu. Ông đã khơi mở khả tính vô hạn của tình yêu như một thông điệp trao cho toàn cõi vĩnh hằng:
Những rộn ràng họp hội mấy giờ trước đã lắng xuống. Tiếng nói, giọng cười ai đó, đã tan vào hư không. Người thân, người sơ, từng gặp, chưa từng gặp, nhìn nhau chào mừng, nói đôi câu, rồi cuối cùng cũng vẫy tay tạm biệt, chia xa. Không còn ai. Trăng khuya soi rạng vườn sau. Những cánh hồng từ các bồn hoa vươn dậy như được tắm gội dưới ánh sáng dìu dịu, tịnh yên. Một mình ngắm hoa dưới trăng. Một mình ngắm trăng trên hoa. Bất chợt, trong một thoáng nhìn mờ ảo, ánh trăng như vỡ thành những bụi tuyết, lãng đãng rơi trên những cánh hoa dưới sương đêm lóng lánh[1].
Sau hơn sáu tháng hoạt động kể từ khi Hội Đồng Hoằng Pháp của GHPGVNTN ra đời dưới sự chứng minh của Trưởng lão HT. Thích Thắng Hoan (Hoa Kỳ), Trưởng lão HT. Thích Huyền Tôn (Úc châu), HT. Thích Tuệ Sỹ (Việt Nam), với sự cố vấn chỉ đạo của HT. Thích Tuệ Sỹ (Việt Nam), cùng với sự điều hành của Hòa thượng Chánh Thư Ký: HT. Thích Như Điển (Đức quốc) và nhị vị Hòa thượng Phó Thư Ký: HT. Thích Nguyên Siêu (Hoa Kỳ), HT. Thích Bổn Đạt (Canada), Đại hội Hội Đồng Hoằng Pháp Lần 1, sẽ được tổ chức qua hệ thống Zoom, nhằm nối kết Tăng NiPhật tử Việt Nam trên toàn cầu hầu góp phần xiển dương Chánh Pháp trong kỷ nguyên mới.
Chương trình kỳ này đến với quý thính giả là vào dịp lễ Tạ Ơn, dân chúng trên đất Mỹ còn đang quây quần với đại gia đình. Trong bầu không khí đầm ấm ấy, Thy Nga mời quý vị và các bạn cùng nghe các ca khúc tạ ơn, tạ tình nhé ...
Nói một cách chung chung, do một sự tình cờ lịch sử nào đó mà một số người, cùng một hay nhiều huyết thống khác nhau, cùng tụ hội trong một phạm vi không gian, dần dần phát sinh những quan hệ gắn bó, hoặc vật chất hoặc tình cảm, để hình thành một cộng đồng xã hội. Mối dây ràng buộc các thành viên của cộng đồng tất nhiên phải là ngôn ngữ....
Bộ sách gồm 13 cuốn: An bình tĩnh lặng - Bình Anson Bốn bài thiền tập căn bản - Bình Anson Căn bản hành thiền - Bình Anson Căn bản Phật giáo - Bình Anson Giới thiệu Đạo Phật - Bình Anson Lợi ích của thiền hành - Bình Anson Lý thuyếtthực tế - Binh Anson Mười pháp quán tưởng - Bình Anson Những lời Phật dạy - Bình Anson Phật pháp vấn đáp - Bình Anson Thương yêuthông cảm - Bình Anson Trích lục kinh điển Pali - Bình Anson Về quả vị Dự Lưu - Bình Anson Vì sao tôi theo Đạo Phật - Bình Anson
Hàng năm người Hoa Kỳ dành ngày Thứ Năm trong tuần lễ cuối của tháng Mười Một để cử hành lễ Tạ Ơn. Ngày lễ Tạ Ơn cũng còn được gọi là "Ngày Gà Tây" và theo thống kê cho biết mỗi năm có hơn 270 triệu con gà tây bị giết làm thức ăn, trong đó có 78 triệu con lên bàn ăn vào ngày lễ Tạ Ơn. Trong dịp lễ này, ngoài món gà tây nướng, còn có các món khoai lang, bắp ngô và bí đỏ.
Nhang trầm lung linh hương án | Lòng con tha thiết kính dâng | Một lòng xưng dương tán thán | Niệm tưởng Phật Tổ thâm ân.
Nổi tiếng quốc tế như một người viết tiểu thuyết, và cũng nổi tiếng như một Thiền sư, Ruth Ozeki có một văn phong riêng, trộn lẫn các pháp ấn khổ, vô thường, vô ngã vào các chuyện kể trên giấy. Độc đáo như thế: Ruth Ozeki là một nhà văn, một đạo diễn phim ảnh và là một Thiền sư dòng Tào Động
Học pháp là công việc quan trọng của người con Phật nếu muốn đạt được mục đích tối hậu của sự giải thoát. Chúng ta có thể chọn lựa việc học pháp thông qua nhiều hình thức khác nhau như: Gia giáo – thầy truyền cho trò, tham gia các cơ sở giáo dục đào tạo, hoặc qua thực tiễn đời sống… Tất cả đều phụ thuộc vào sự cân nhắc, tính toán của mỗi người. Tuy nhiên, quan trọng nhất của việc học pháp là phải có thái độ chân chính, biết ứng dụng pháp học ấy có hiệu quả vào đời sống tu tập để đạt được an lạc, giải thoát ngay trong hiện tại.
1) Khó Khăn Và Trách Nhiệm (Việt-Anh) 2) Làm sao thực hành lời Phật dạy (Việt-Anh) 3) Mục đích và đường lối sống (Việt-Anh) 4) Những chuyện luân hồi hiện đại 5)Những hạt ngọc trí tuệ Phật giáo 6) Nền tảng của đạo Phật (Việt-Anh) 7) Cây Giác ngộ (Việt-Anh) 8)Chết có thật đáng sợ không (Việt-Anh) 9) Các nghi thức thông thường trong đời sống (Việt-Anh) 10) Chết trong an bình
Chúng đệ tử Phật Việt Nam, trong nước cũng như ngoài nước, cùng chung một huyết thống tổ tiên, cùng tôn thờ một Đức Đạo Sư, hãy cùng hòa hiệp như nước với sữa, thì ở trong Phật pháp mới có sự tăng íchan lạc. Hãy quên đi những bất đồng quá khứhiện tại trong các hoạt động Phật sự, hãy quên đi những lỗi lầm của người này hay người kia, cùng hòa hiệp nhất trí hoằng dương Chánh Pháp trên cơ sở giáo nghĩa được lưu truyền trong Tam tạng Thánh giáo, để không phụ công ơn tài bồi của các Sư Trưởng; công đức hy sinh vô úy của chư vị Tăng Ni, Phật tử, vì sự trong sáng của Chánh Pháp, vì sự thanh tịnh và hòa hiệp của Tăng già, đã tự châm mình làm ngọn đuốc soi đường cho chúng ta ngày nay vững bước trên Thánh đạo.
"Giáo dục là vũ khí mạnh nhất để thay đổi thế giới. Để phá hủy bất kỳ quốc gia nào, không cần phải sử dụng đến bom nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa. Chỉ cần hạ thấp chất lượng giáo dụccho phép gian lận trong các kỳ thi của sinh viên. - Bệnh nhân chết dưới bàn tay các bác sĩ của nền giáo dục ấy. - Các tòa nhà sụp đổ dưới bàn tay các kỹ sư của nền giáo dục ấy. - Tiền bị mất trong tay các nhà kinh tế và kế toán của nền giáo dục ấy. - Nhân loại chết dưới bàn tay các học giả tôn giáo của nền giáo dục ấy. - Công lý bị mất trong tay các thẩm phán của nền giáo dục ấy. - Sự sụp đổ của giáo dục là sự sụp đổ của một quốc gia".
Thứ Bảy ngày 27 tháng 11 năm 2021 vừa qua, vào lúc 10 giờ sáng (giờ Việt Nam) Hội đồng Hoằng Pháp (GHPGVNTN) đã tổ chức đại hội lần thứ I trực tuyến qua hệ thống Zoom. Trước đó, các thông báo về tin tức đại hội được loan tải trên trang nhà Hoằng Pháp, công bố chương trình nghị sự và thời gian tổ chức.
Sau hơn sáu tháng hoạt động kể từ khi Hội Đồng Hoằng Pháp của GHPGVNTN ra đời dưới sự chứng minh của Trưởng lão HT. Thích Thắng Hoan (Hoa Kỳ), Trưởng lão HT. Thích Huyền Tôn (Úc châu), HT. Thích Tuệ Sỹ (Việt Nam), với sự cố vấn chỉ đạo của HT. Thích Tuệ Sỹ (Việt Nam), cùng với sự điều hành của Hòa thượng Chánh Thư Ký: HT. Thích Như Điển (Đức quốc) và nhị vị Hòa thượng Phó Thư Ký: HT. Thích Nguyên Siêu (Hoa Kỳ), HT. Thích Bổn Đạt (Canada), Đại hội Hội Đồng Hoằng Pháp Lần 1, sẽ được tổ chức qua hệ thống Zoom, nhằm nối kết Tăng NiPhật tử Việt Nam trên toàn cầu hầu góp phần xiển dương Chánh Pháp trong kỷ nguyên mới.
Bạn đang tìm kiếm một con đường tâm linh , bạn đang đau khổ và muốn thoát khỏi các khổ đau, hãy tham gia một khóa thiền on-line 10 ngày hoàn toàn miễn phí. Ghi danh theo đường link
Đại đức Pháp Cẩn sẽ mở lớp Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca. Lớp sẽ học những tài liệu tiếng Việt và những tài liệu tiếng Anh do một số bạn thuyết trình. Tuy tài liệu một phần bằng tiếng Anh nhưng những người không biết tiếng Anh vẫn có thể học được vì thuyết trình bằng tiếng Việt.
Kính chia sẻ cùng chư Tôn đức, Pháp hữu và qúy Phật Tử Lịch Pháp thoại và khóa tu tại Hoa Kỳ trong tháng 9, 10, 11 & 12 2021 với sự chia sẻ của Thầy Thích Tánh Tụê.