26 Thay Lời Kết

24/12/201112:00 SA(Xem: 3883)
26 Thay Lời Kết


NGƯỜI GÁNH NẮNG

Bút ký của Quách Giao
Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Hà Nội 2006

Thay lời kết

Nơi vườn chùa, ngoài hoa cỏ tốt tươi còn có một cây cảnh bằng lăng được trồng trong một chiếc thuyền thúng. Chiếc thuyền nầy đã từng đưa nhà sư Viên Mãn qua lại từ đất liền đến Hòn Đỏ, nhất là trong công việc chuyển tải nước, đất trồng trọt trong những tháng ngày mới khai phá và xây dựng hoang đảo. Kỷ niệm ghi dấu ban đầu còn có cây bằng lăng mọc côi đơn trên đảo. Sau này chiếc thuyền thúng theo thời gian mà tàn tạ, nhà sư Viên Mãn mới dùng làm chậu hoa trồng cây bằng lăng để làm vật lưu niệm những tháng ngày đội nắng trên Hòn Đỏ.

Nhà giáo Phong Hương đã có đôi dòng xúc cảm:

Cây cảnh bằng lăng

Cây bằng lăng xưa
Khẳng khiu
Trong chiếc thuyền thúng
Nằm đơn độc
Bên cạnh vườn hoa
Chưa xóa nhòa
Cảnh nắng trưa
Nhà sư trần lưng gánh nước
Bước từng bước
Từ chân dốc lên đồi
Ôi! những giọt mồ hôi
Chảy dài trên lưng Bồ tát.
Nắng chói chang
Lòng vẫn luôn rào rạt
Ước mong xanh mát bóng chùa…
Từ Tôn, Hòn Đỏ hương đưa
Cây bằng lăng vẫn dáng xưa một lòng.

Trần Phong Hương

Nha Trang ngày 9 tháng 9 năm 2006
Quách Giao 


Phụ bản:
Hòn Đỏ
(Trích từ cuốn Hướng Về Tháp Bà Thiên Y của Quách Giao, 
nxb Hội Nhà Văn năm 2005
)

blankTừ đỉnh Sinh Trung phóng mắt nhìn về Đông Bắc, dưới chân dãy núi Cù Lao, nằm cách chân núi vào khoảng 500 m có hòn đảo nhỏ chập chờn trên sóng nước. Đảo vắng người vãng lai vì chung quanh chân đảo đá dựng chập chùng. Màu sắc của đá, dáng hình của đá có hình thái khác mọi nơi. Đá trên đảo và ven chân đảo phần nhiều đều có sắc đỏ. Nhiều nơi có từng mảng lớn màu đỏ như son tàu. Có lẽ do trong đá có nhiều chất sắt bị ôxy hóa lâu ngày mà thành. Những ngư dân từ biển cả bao la khi quay thuyền về bến cá Cù Lao trong ánh nắng bình minh đã nhìn thấy hòn hải đảo nhỏ xinh này đỏ rực đón ánh chiêu dương. Lấy sắc đá, nhìn cảnh đẹp lúc bình minh trên hải đảo, người dân chài đã gọi tên hải đảo này là Hòn Đỏ. Được mang tên đơn giản như các đảo đàn anh Hòn Mun, Hòn Rùa, Hòn Chồng, Hòn Én v.v.. Người dân địa phương đã đặt tên các hòn đảo theo hình dáng, theo sản vật có trên đảo. Một đôi khi lại có tên rất văn học, như đảo Trí Nguyên, đảo Bích Đầm v.v..

Hòn Đỏ cũng được những người dân sống trên bờ gần đảo nhìn thấy hoàng hôn xuống, phía trời Tây hừng đỏ ráng chiều chiếu trên những tảng đá lớn đứng nơi bến đò làm cho đảo càng thêm đỏ thắm. Khi phương trời Tây sắc hồng đã phai và sắc tím hoàng hôn ngự trị trên bầu trời thì màu đỏ của đá lại càng thêm đậm đặc. Sắc đá không phai theo sắc trời, sắc biển mà dường như chứa đọng lại sắc ráng chiều và như ráng chiều đã xuống nằm ngủ nơi vách đá. Nhân dân địa phương đã nhìn cảnh mà đặt tên cho hải đảo: Hòn Đỏ. Khách văn chương lại đặt tên cho đảo là Hòn Ráng Chiều. Khách phương xa đến viếng đảo đã gởi lại những vần thơ kỷ niệm:

Một áng Đường thi :

Hòn Đỏ Từ Tôn

Hòn Đỏ nằm bên cạnh Đá Chồng
Một bên liền đất một bên không
Thắm tươi sắc đỏ nên danh hiệu
Nhuần đượm màu xanh kết dải đồng
Phương Bắc gió về xua nắng bức
Gành Đông hương thoảng đón trăng lồng
Trông vời mây nước đâu xa cách
Mà chỉ gần nhau một tấc lòng.
Vương Kiều Thu

Hai vần Ngũ ngôn của Lê Triều Phương :

Triền miên, triền miên sóng
Nền đá nhẵn hồng tươi
Hòn Đỏ tên người gọi
Lòng son tự muôn đời

Nghênh ngang gió lồng lộng
Rung cây cành ngả nghiêng
Vòm xanh nằm ẩn bóng
Mái Từ Tôn tịnh yên

Thời tiền chiến nhà thơ Đường Quách Tấn cùng các bạn Chế Lan Viên, Yến Lan v.v.. thường đi ghe nhỏ ra viếng Hòn Chồng. Sau khi ghé thăm Hòn Chữ nằm giữa sông Cù cận Tháp Bà, thuyền lại vượt qua cửa biển Đại Cù Huân. Đường đi trên sông nước, tuy rất ít người đi song cũng được nhà thơ giới thiệu với khách du lịch:

Hỡi ai viếng cảnh Nha Trang
Muốn tìm dấu cũ thì sang Tháp Bà
Muốn trông trời bể bao la
Con thuyền nho nhỏ bơi ra Hòn Chồng…
( Xứ Trầm Hương)

Vượt qua cửa sông (cửa Đại Cù Huân) thì du khách thấy ngay Hòn Đỏ trước khi đến Hòn Chồng. Bơi thuyền một vòng quanh Hòn Đỏ cảnh trí của Hòn Đỏ từ dưới biển trông lên vô cùng ngoạn mục. Tuy cảnh đẹp, tình muốn lên song vách đá dưới chân đảo lập nên dãy “vạn lý trường thành” nên khách du quan đành rẽ nước thẳng đến Hòn Chồng. Phần đông khách du lịch đều đến Hòn Chồng bằng đường bộ nên ít người được biết mặt Hòn Đỏ vị khi ấy chưa có con đường thuận tiện đi ngang qua bờ bên kia đảo.

Hòn Đỏ nằm song song với Hòn Chồng cách xa không đầy một cây số. Hòn Chồng thì thuận tiện đường đi, nằm nối với đất liền nên được khách du quan thường xuyên lui tới, và trở nên nổi danh là một thắng cảnh của Nha Trang.

Trước đây khách đến Hòn Chồng với tấm lòng bâng khuâng man mác trước trời biển bao la để ngắm nhìn dãy đá nằm nghiêng mình trên sóng nước. Khách đến với Hòn Chồng từng đôi, từng nhóm, với một tâm hồn thanh thản, một niềm vui hồn nhiên để tâm hồn rộng mở trước cảnh trời nước bao la. Từng tảng đá, từng hang đá đều mang một câu chuyện huyền thoại một nguồn vui, gợi lại trong lòng ta, một thời kỳ hồng hoang khi mà con người còn cùng với thiên nhiên quấn quít thân tình. Thuở mà còn những bóng dáng học sinh cùng đến với trời mây để cho lòng nhẹ nhàng cùng sóng nước. Thuở mà đôi lứa cùng đến để ngồi bên nhau nghe sóng vỗ rì rầm, để cùng nhau đo xem bàn tay ông Khổng lồ lớn đến mấy gang tay. Việc viết tên kỷ niệm trên đá hay vứt bừa bãi rác bẩn hay các lon nước ngọt, lon bia xuống các khe đá không bao giờ xảy ra. Khách đến viếng còn để lại cho hậu thế những vần thơ đầy cảm mến :

Đất nắn trời nung khéo định đôi
Hòn Chồng đực cái phối hai ngôi.
Ông xây nên móng cây trồi mụt
Bà đúc ra chuông đá mọc chồi.
Mây núi rũ giăng màn tịnh túc
Nước khe hầu rót chén giao bôi.
Non thề giai lão trơ trơ đó
Gió chẳng lung lay sóng chẳng dồi
Chí sĩ Trần Cao Vân

Và :

Trời mây biển nước cảnh mênh mông
Chân núi giô ra đá mấy chồng.
Khắng khít thớt em nương thớt chị
Vững vàng hòn cháu đỡ hòn ông.
Sóng xô đẩy mãi bền gan sắt
Rêu buộc ràng thêm chặt dải đồng.
Gặp gỡ đá đây ta hỏi đá
Vá trời bao thuở mới nên công.
Quách Tấn

Hòn Đỏ đẹp hơn Hòn Chồng song vị đường đến đảo khó khăn nên đảo được sống một thời gian dài tĩnh lặng. Hằng ngày, vào lúc trời chiều khi thủy triều rút xuống,các rặng đá và san hô chung quanh đảo nhô cao thì người có thể lội bộ mà ra đến đảo. Những lúc nước dâng cao thì phải có đò đưa sang.

blankDiện tích đảo Hòn Đỏ rộng hơn 4000 mét vuông. Đảo có hình một củ khoai tây. Chiều dài từ Đông đến Tây độ 500 m, từ Bắc đến Nam dài độ 400 m. Trên đảo đá nhiều hơn đất, cây con cằn cỗi, cây cổ thụ chỉ lưa thưa. Cảnh quan trên đảo đầy vẻ hoang sơ, nhưng thơ mộng. Tuy chỉ cách đất liền không quá 500 m mà khi du khách đến viếng thăm đều có cái cảm giác như đang đặt chân lên một hải đảo xa xôi cách đất liền hàng vạn dặm vị trước mắt ta chỉ toàn là trời biển bao la. Trước kia vị không có đường đi rộng rãi từ đất liền ra đến bờ bên kia đảo, nên vắng tiếng động cơ máy móc, tiếng ồn ào của phồn hoa không bao giờ vọng đến. Cảnh đã tịnh mà âm thanh lại càng xa vắng như có như không. Cho nên trước năm 1960 đảo dường như hoàn toàn vắng bóng khách viễn du. Đến Hòn Đỏ ta chỉ nghe tiếng gió thì thầm cùng tiếng sóng vỗ dịu dàng lên vách đá và đôi tiếng chim thưa thớt thoảng trong nắng ban trưa. Trước trời biển bao la, hải đảo Hòn Đỏ trở nên nhỏ nhoi xinh xắn. Sắc đá, màu cây trang trí cho đảo thêm phần diễm lệ.

Hướng Đông của đảo, trời nước bao la, màu xanh của biển hòa lẫn với sắc biếc của trời. Cận tầm mắt là hải đảo Hòn Mun nằm oai vệ giữa biển khơi trông như một áng bình phong nằm chắn gió cho Hòn Đỏ. Hòn Mun là nơi ghé lại của tầm nhìn từ Hòn Đỏ ra bể khơi. Trước biển Đông, Hòn Đỏ không cô đơn vị chung quanh còn có nhiều hòn đảo khác to lớn hơn, kỳ vĩ hơn. Giữa bầu trời mênh mông với màu xanh của biển, của trời chen lẫn với màu trắng của mây, của muôn ngàn con sóng trùng dương chập chờn tung bọt hoa trắng xóa, Hòn Đỏ vẫn không thấy lẻ loi vì phía sau đảo còn có dãy núi Cù Lao, có Tháp Bà và xa hơn nữa còn có Hòn Bà đang uy nghiêm dõi nhìn về bể Đông.

Buổi bình minh ở Hòn Đỏ, đẹp nhất là về hướng Đông. Thiên nhiên đã tạo cho hòn đảo có một quang cảnh vô cùng diễm tuyệt. Bờ đá ở phía Đông không cao mà lại dài, nằm trải rộng im lìm để mặc cho sóng nước vỗ về xoa nắn. Mặt biển nhiều khi phẳng lặng như một mặt hồ mông mênh. Màu xanh của đại dương như trong suốt hòa với màu trời có sắc xanh thẫm lác đác những vị sao tắt muộn. Tuy mặt trời chưa rựng mọc song cái cảnh trong sáng của một bầu trời sắp rạng đông đã mang lại cho biển một màu sáng mơ hồ để phân biệt được giữa ngày và đêm.

Nhà thơ Lê Triều Phương sau một chuyến thăm Hòn Đỏ đã viết nên một bài thơ :
Bình minh trên Hòn Đỏ

Dạo chơi trên Hòn Đỏ
Cận kề bên biển Đông
Giữa lòng trời mênh mông
Màu xanh chen sắc trắng
Cánh buồm mây phẳng lặng
Ngắm hoa biển chập chờn
Thuyền xa về cô đơn
Sóng vỗ quanh đảo nhỏ.
Bước chân lên Hòn Đỏ
Gặp vách đá ngàn xưa
An lành cùng nắng mưa.
Bờ phía Đông ửng nắng
Lòng biển xanh phẳng lặng
Tình biển cả bao la.
Mặt trời tự phương xa
Ửng hồng chân mây thắm.
Ngồi trên hòn đá phẳng
Chờ đợi ánh triêu dương
Đây là mảnh thiên đường
Buổi mai hồng dâng tặng .
Mây hồng phơn phớt trắng
Xanh biển xanh mặn mà
Vang vọng muôn lời ca
Đàn chim âu giăng cánh
Mặt nước hồng sóng sánh
Nâng ánh mặt trời lên
Hòn Đỏ bóng bồng bềnh
Cùng bình minh thức giấc.

Cần phải có một đêm sống trên đảo Hòn Đỏ, du khách mới cảm nhận được cái đẹp lúc bình minh, cái trong trẻo của ban mai và cái cảm giác của con người trước vũ trụ sau một đêm đen dày đặc. Được sống, được cảm nhận, được đọc thơ, lòng du khách mới cảm nhận được đầy vơi khi ngồi trên bờ đá nơi hướng Đông Hòn Đỏ trong bầu trời bình minh.

Có ngồi đón bình minh nơi Hòn Đỏ, du khách mới tận hưởng được màu sắc của đá để phân biệt được màu hồng của trời lẫn vào màu hồng của đá như thấp thoáng màu hồng của da thịt con người, da thịt của một bé thơ vừa mới tắm. Ngồi lắng lòng, mắt lim dim, du khách chắc chắn sẽ cảm nhận được, sẽ nhìn thấu suốt được sắc hồng tươi tắn của thiên nhiên với một cảm nhận rung động nhẹ nhàng giữa bình minh nguyên thủy trên hải đảo Hòn Đỏ Từ Tôn.
Trong thời gian từ lúc mặt trời lên cho đến khi đứng bóng, du khách có thể men theo đường mòn, theo bờ cỏ dại, vượt qua những chòm đá nằm rải rác im lìm dưới nắng để ngắm nhìn cảnh quan chung quanh đảo. Đến đâu cũng nhìn thấy mặt bể bao la, bầu trời xanh ngắt. Nhiều nơi cận kề sát mé biển du khách có thể trông thấy bờ vách đá nơi chân núi với sóng nhẹ vỗ lên bờ đá, với hoa sóng tung tóe trên vách hồng của đá. Trước quang cảnh này du kháchcảm tưởng là mình đã rời xa chốn bụi trần để hoàn toàn sống cùng với trời mây biển cả.

Về phía Bắc đảo, du khách bắt gặp nhiều cảnh khác biệt. Nhìn gần thì thấy bờ đá khẳng khiu có dáng khắc khổ hơn mọi nơi trên đảo. Vách đá dựng đứng dưới nước, nhiều mũi đá nhọn nhô cao như một rừng chông bảo vệ cho đảo. Trên đảo thì cỏ cây khô héo lúc hạ sang và đợi đến đông về mới xanh tươi trở laị. Mùa đông những cơn gió bấc hợp với sóng biển vỗ mạnh vào đá khiến cho đá phải lồi lõm, cây cỏ phải điêu tàn. Chỉ đợi đến mùa hạ đến thì mặt Bắc của đảo mới hưởng được cơn gió nồm đem cái hiu hắt, cái cơn mát dịu dàng đến ấp iu cùng hải đảo.

Nhìn xa xa du khách bắt gặp Hòn Chồng nằm trải dài từ bờ ra đến biển. Nhấp nhô trên đá bóng những du khách dạo chơi ngắm cảnh đá nước Hòn Chồng. Và xa hơn nữa là chập chùng núi biếc.

Về hướng Nam của đảo, thật ra là hướng Tây Nam, thành phố Nha Trang nằm phơi mình trong nắng biển. Nắng biển không chói chang nên thành phố nằm êm đềm trong tĩnh lặng. Thành phố NhaTrang không cần đến những chung cư, cao ốc vươn lên như chọc trời để khách du quan có thể từ hải đảo Hòn Đỏ ngắm nhìn pho tượng Kim thân Phật tổ ngự trên đỉnh đồi Trại Thủy in hình trên nền trời xanh thấp thoáng bóng mây trắng lững lờ bay quanh. Cùng lúc, chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa thắm đỏ trên ngọn núi Sinh Trung ngân đưa hồi chuông triêu mộ. Ngọn núi Sinh Trung hôm nay không còn soi mình trên mặt nước đầm Xương Huân, lặng lẽ nhìn bến nước Hà Ra lao xao trong nắng. Nhưng vẫn hiện diện cùng với trời mây trên thành phố Nha Trang.

Từ Hòn Đỏ ban đêm nhìn về thành phố Nha Trang ta thấy thân mến hơn, gần gũi hơn và nhất là rực rỡ hơn. Ánh đèn giăng mắc dọc theo bờ biển từ Chụt gần đến Bãi Tiên. Chiếc cầu vồng hoa đăng Trần Phú như một dãi đăng ten kết bằng sao trời lộng lẫy vắt ngang qua cửa sông Cù. Ban đêm từ hải đảo Hòn Đỏ nhìn thành phố Nha Trang tuy không to lớn rực rỡ bằng Hà Nội, Sài Gòn mà là một thành phố đủ thương đủ nhớ cho những du khách ghé lại một thời.

Trưa đến, khí nóng hừng hừng trên vách đá. Không thể phơi mình ngoài nắng nóng du khách đành nương bóng mát của các cây me, cây đa phủ bóng lên trên dãy đá.

Dưới bóng hai cành đa soãi mình trên lưng đá nơi hướng Tây Đông, chiếc võng đong đưa nâng hồn du khách vào thế giới bồng lai. Gió từ biển xa thổi về nhè nhẹ. Nằm nghiêng mình trên chiếc võng nhìn xuống vũng nằm giữa đảo và đất liền du khách ngắm nhìn những con thuyền đánh cá neo đậu đang chập chờn trên sóng nước.

Thuyền đậu không nhiều nhưng chứa đầy thơ mộng. Nó gợi cho ta một bến nước xa xưa chỉ có một vài chiếc thuyền neo đậu nghỉ trưa nơi hải đảo xa xôi. Khi nào lòng ta chán chê trước cảnh chen chúc đậu bừa bãi của các ghe thuyền khi vào bến ở Cù Lao, Cồn Giữa, Cửa Bé v.v.. thì ta mới nhận ra rằng thấy một vài chiếc thuyền neo đậu nghỉ trưa nơi bến Hòn Đỏ, trí ta liền nghĩ đến cảnh một bến Tiêu Tương nào đấy hay một nơi bãi vắng của một hải đảo xa xôi, vắng vẻ khách phàm trần.

Qua khe lá ta bắt gặp được buổi trưa hè yên lành, buổi trưa của thời trẻ dại, ta được nằm dưới vòm lá hiu hiu gió mát, từ cánh đồng lúa mạ non thổi về. Ta sẽ nằm thiu thiu mà không ngủ để nghe chất mặn của bể khơi lẫn trong hơi mát tự trùng dương thổi đến để lòng đón nhận cái mênh mông của đất trời tỏa trên hải đảo. Tự nhiên lòng lại nhớ đến bài thơ của phu nhân nhà thơ Lê Triều Phương đã cùng chồng đến du lãm Hòn Đỏ Từ Tôn:

Hòn Đỏ ban trưa

Trên cành đa vững chắc
Chiếc võng nhẹ đu đưa
Mơn man gió mát đừa
Hương nồng từ biển cả
Hòa cùng hơi mát đá
Nâng giấc nồng lên khơi
Mây trắng bay dạo chơi
Giữa trời xanh sắc biển
Muôn ngàn con sóng lượn
Quanh đảo nhỏ chập chờn
Niềm vui nào vui hơn
Buổi trưa nằm nghe sóng
Dưới biển sắc trời đọng
Trong gió lá thì thào
Cánh én vút trời cao
Đoàn ghe nằm trong vũng
Theo nhịp trưa xao động
Hiu hiu giấc trưa nồng
Hồn hòa cùng mênh mông
Một tiếng chim vừa hót
Như pha lê nhỏ giọt
Trên phím đàn trời xanh
Buổi trưa vàng yên lành
Hòn Đỏ đầy thơ mộng.
Đoàn Thị Gái

Trên chiếc võng đu đưa ta sẽ thiếp dần vào giấc ngủ cùng với nắng vàng trên Hòn Đỏ đầy thơ, đầy mộng. Và khi tỉnh giấc hồn ta cảm thấy sảng khoái, lòng ta cảm thấy vui vui để lắng nghe những câu chuyện hoang đường, những huyền thoại vô cùng thích thú.

Trước tiên là của các hòn đá. Nơi hướng Đông có một hòn đá có tên là Hòn Chị Em. Hòn Em to lớn hơn Hòn Chị lại nằm ở phía dưới trông như đang nâng đỡ chị để cùng nhìn ra biển Đông.

Nơi phía Hòn Chồng có Hòn Chồng Cái gồm hai pho đá đứng song song với nhau xứng với câu thơ của nhà thơ Quách Tấn:

Khắng khít thớt em nương thớt chị”

còn ở đây thì tương hợp với câu :

“Khắng khít thớt em nâng thớt chị “

Vị ở gần nhau nên cùng chung hưởng một tình thơ.

Kế đến là hòn đá to lớn hình khối có tên gọi là Hòn Đá Trắp. Gọi là trắp vị nó giống hình một cái trắp đựng sách của các nhà nho xưa. Đó là cái trắp đựng các tập thơ của một vị tiên thường hay đến hải đảo Hòn Đỏ ngắm trăng làm thơ. Kế bên Hòn Đá Trắp là Hòn Đá Bàn cờ. Từ Hòn Đá Bàn Cờ này sinh ra câu chuyện Ông Khổng Lồ đánh cờ với tiên và thắng được Hòn Đỏ. Câu chuyện như sau :

Nguyên xưa kia nơi đây, đảo được nối liền với dãy núi Cù Lao nhô ra tận biển Đông. Cảnh đầy thơ mộng, có nhiều cây cổ thụ sống ngàn năm cùng với suối tuôn màu thúy bạch và hoa cỏ thơm lừng. Cho nên các vị tiên mới cùng nhau tụ hội để ngâm thơ ngắm trăng giữa trời nước mênh mông và đánh cờ trong những ngày nhàn rỗi. Cai quản hòn đảo này là một vị tiên đầy tánh tình của vị cờ tiên Đế Thích. Vị tiên thích đánh cờ đến nổi gặp ai cũng gạ đánh với mình, thua được không bận tâm, chỉ cốt sao có người cùng ngồi đối diện trước bàn cờ.

Một hôm đang ngồi buồn trên hải đảo Hòn Đỏ, vị tiên chợt trông thấy ông Khổng lồ ngồi câu cá nơi Hòn Chồng. Thèm muốn có người cùng đánh cờ nên vị tiên ông bèn bay đến Hòn Chồng, gạ ông Khổng lồ đánh cờ cùng mình. Tánh ông Khổng lồ lại không giống vị tiên ông. Ông Khổng lồ chỉ thích câu cá. Một bên thích lao động trí óc còn một bên lại thích lao động chân tay. Ông Khổng lồ từ chối một cách dứt khóat .Mời không được, vị tiên ông bèn dụ dỗ. Biết được thú vui duy nhất của ông Khổng lồ là câu cá nên vị tiên mời ông Khổng lồ đến đảo Hòn Đỏ để câu cá. Nghe vị tiên ông tả cảnh cây cối rậm rạp tươi mát của Hòn Đỏ cùng với đàn cá dầy đặc nơi bờ đá, ông Khổng lồ vui vẻ dời chỗ ngồi câu sang bên Hòn Đỏ.

Trong lúc ông Khổng lồ ngồi câu cá thì vị tiên ông làm thơ và uống rượu. Nghĩ được câu thơ hay, làm được một vần thơ ưng ý vị tiên ông lại đọc cho ông Khổng lồ nghe. Tuy không thích thơ phú song ông Khổng lồ vị sợ mất lòng vị tiên có tâm tốt cho mình ngồi câu nơi cảnh đẹp, cá nhiều này nên ông Khổng lồ chú ý lắng nghe những vần thơ đắc ý của vị tiên ông. Nhiều lúc mải theo dõi chiếc phao chập chờn trên mặt sóng ông Khổng lồ quên đáp ứng với lời thơ nên nhiều lúc làm vị tiên ông mất hứng thú đọc thơ của mình cho bạn nghe. Mặc dù đã thành tiên song vị tiên trên đảo vẫn còn lưu giữ cái tật của khách làm thơ là luôn luôn muốn đọc thơ của mình cho người khác nghe và muốn nhận nơi người nghe, lời khen tặng nồng nhiệt. Cho nên khi không thấy ông Khổng lồ khen tặng lời khen tương xứng nữa thì vị tiên đâm ra ngán ngẫm cho vị thơ của mình và bỗng nhiên thèm đánh một ván cờ. 

Sự đam mê nồng cháy đến độ giá lúc ấy có người chịu cùng đánh cờ với nhau thì vị tiên ông có thể tặng cả thế gian này cho người chơi cờ. Biết không thể nào nài nỉ ông Khổng lồ được nên vị tiên ông bèn nghĩ ra được một mưu kế. Thấy ông Khổng lồ câu được nhiều cá và tỏ ý thích thú nơi này, vị tiên bèn đề nghị đánh cờ ăn cuộc: Nếu ông Khổng lồ thắng thì ông Khổng lồ sẽ nhận được quyền sở hửu hải đảo Hòn Đỏ này. Còn nếu ông Khổng lồ thua thì ông sẽ được đến đây câu cá thường xuyên. Nghe như vậy ông Khổng lồ thích quá vị được thua gì mình vẫn có lợi. Cái chính là câu cá. Thế thì tại sao ta lại không đánh cờ kia chứ. Ông Khổng lồ nghĩ vậy và chấp nhận vào cuộc. Bàn cờ được bày ra vị tiên ông vừa uống rượu vừa ngâm thơ còn ông Khổng lồ vẫn an nhiên ngồi câu cá, tâm không lưu ý đến bàn cờ.

Ván cờ vừa đi được ba nước thì có một con cá vượt tung mình lên không trung ông Khổng lồ mắt luyến tiếc ngó theo tay hờ hững cầm lấy con cờ chủ tướng. Rồi ông xuất tướng. Thoáng cau mày nhưng vị tiên lòng an nhiên trầm tư suy nghĩ. Bóng chiều đã ngã về Tây. Hải đảo đỏ au lên trong ráng chiều. Vị tiên ông ngồi yên lặng suy tư trong bóng hoàng hôn. Ông Khổng lồ gác cần câu nằm gối đầu trên đá ngáy ầm ầm như cùng hòa âm với sóng chiều đang vỗ mạnh vào vách đá.

Một đêm dài trôi qua. Ông Khổng lồ đã thức dậy từ lúc hừng đông và tiếp tục câu cá. Vị tiên suốt đêm dài không ngủ, ngồi suy nghĩ đến nước thứ 1000 mới gỡ được thế cờ xuất tướng của ông Khổng lồ. Cuộc cờ lại tiếp tục. Khoan khoái vị vừa câu được một con cá đuối lớn bằng chiếc chiếu trải đình, ông KhổnglLồ đem xe vượt sông, thí xe đổi lấy chốt đầu. Vị tiên ông lại phải ròng rã ba đêm ngày suy nghĩ để hiểu nước cờ này và tìm ra cách phá.

Với những nước cờ tự nhiên không tính toán của ông Khổng Lồ, với sự đắn đo suy tính của vị tiên ông, ván cờ kéo dài đến khi râu tóc của vị tiên dài ra trắng xóa bay phơi phới trên bầu trời trong vịnh Nha Trang. Cuối cùng vị tiên ông đành chịu thua ông Khổng lồ, tuy ván cờ chưa tàn cuộc. Vô tâm đã thắng hữu tâm, Hòn Đỏ từ đấy thuộc về ông Khổng lồ. Khi rời đảo vị tiên ông đã để lại cho ông Khổng lồ tất cả những vật chất cùng với tinh ba của trời đất đọng chứa nơi hải đảo. Trên Hòn Đỏ, Hòn Đá Chị Em, Hòn Trắp, Hòn Bàn Cờ vẫn mang tên, mang hương vị của hồn xưa , còn Hòn Ấn nằm bên Hòn Bàn Cờ lại còn mang thêm vết tích của dấu xưa. Đó là dấu in ngón tay cái của vị tiên ông đã ấn vào Hòn Ấn để làm bằng chứng nhường hải đảo Hòn Đỏ lại cho ông Khổng lồ. Tại nơi Hòn Chồng còn vết bàn tay của ông Khổng lồ in sâu vào đá và nơi hải đảo này còn lưu vết ngón cái của thần tiên.

Ngồi nghe câu chuyện thần tiên du khách lòng lại bâng khuâng nhớ lời thơ của Cổ Bàn Nhân :

Chuyện đời tuy có mà không
Tuy không mà có chuyện ông Khổng lồ.
( Nước Non Bình Định )

Kể thêm một câu chuyện nữa về ông Khổng lồ cho vui. Có người hỏi ông Khổng lồ rằng ông có tu đạo hay không? Ông Khổng lồ đã trả lời: Khi được sinh ra, lòng ông vốn đã có đạo rồi. Sở dĩ con người cần phải có đạo vì đạo vốn có trong lòng song con người lại quên đi và như vậy phải cần tu theo đạo. Lại hỏi thêm rằng sao ông Khổng lồ đã có đạo trong lòng rồi mà còn bắt cá mà ăn trong khi đó trên đảo có rất nhiều cây cỏ. Ông Khổng lồ cười mà rằng :

Tất cả cỏ cây, đất đá cũng đều là chúng sinh. Chúng cũng được sinh ra và lớn lên. Mỗi chúng sinh đều có một cuộc sống, một hòa đồng cùng chung với nhau, một sự liên hệ mật thiết nhưng vì vô minh nên chúng ta chưa hiểu nhau mà thôi. Như vậy tránh không ăn vật này để ăn vật khác thì cũng không tránh được sát sinh. Ta ăn cá vì ta thích câu cá và cá ta câu được bỏ đi cũng uổng nên ta ăn đó thôi. Nếu ta ăn cỏ cây trên đảo thì còn đâu bóng mát cho ta ngồi, màu xanh cho ta ngắm. Ta chỉ ăn khi cần và ăn theo tự nhiên, sẵn có gì thì ăn cái ấy không kén lừa, không thích thú vì miếng ăn.

Nghe quan niệm coi cỏ cây như một sinh vật, biết thương yêu, biết quyến luyến với con người, tôi bỗng nhớ đến một câu chuyện có thật đã được nhà thơ Quách Tấn ghi trong tập Hồi ký Bóng Ngày Qua:

Khóm mận già

Đứng giữa sân trước phòng khách ngay ngõ bước vào. Ba gốc đứng sít nhau. Tôi gọi là Khóm Mận Ba Nhành.

Khóm mận này do ông thân sinh người chủ cũ của ngôi nhà số 21 đường Bến Chợ trồng lúc người này còn nhỏ. Mà người chủ cũ lớn hơn tôi đến 25, 27 tuổi, thì cây mận sanh trước tôi ít ra cũng hai mươi năm. Tôi mua ngôi nhà năm 1937, lúc ấy tôi đã 28 tuổi, thì cây mận ít ra cũng 48 tuổi rồi. Cho nên lúc tôi dọn đến, thì gốc mận đã bị bộng ruột, cành chỉ còn lơ thơ. Nhiều người bảo tôi đốn đi để trồng cây khác. Nhưng tôi không nỡ, cứ để đó, chừng nào gốc thật mục, cành thật khô sẽ hay.

Tôi nhớ một chuyện xưa :

“Quan Thái Thú đất Giang Tây toan hạ một cổ thọ trước dinh. Một hành nhân thấy thợ đang sắp sửa ra tay, liền đề nơi gốc cây một tuyệt:

Diêu tri thử khứ đống lương tài
Vô phục thanh âm phú lục đài
Chỉ khủng nguyệt minh thu dạ lãnh
Ngộ tha thiên tuế hạc qui lai

Nghĩa là :

Một đi nên cột nên rường
Không còn bóng cả lợp đường rêu xanh
Chỉn e thu lạnh lùng canh
Tuổi già nương bóng trăng thanh hạc về.

Quan Thái Thú xem thơ, cảm động, bèn sai thợ dừng búa.”

Nhớ đến bài thơ tôi càng thương quí khóm mận. Những buổi mai buổi chiều đẹp trời, những đêm trăng sáng, tôi cùng vợ con bè bạn, thường bắc ghế, kê giường nằm ngồi dưới gốc cây chung vui. Mấy tháng sau, những nhánh còn sống sót tự nhiên đâm chồi nẩy lộc và to lớn lần lần. Gốc sanh một lớp vỏ mới mỗi ngày mỗi dày thêm. Và không đầy một năm, cành lá đã xum xuê, che mát cả sân thềm, mới trông qua ai cũng ngỡ là một khóm mận tơ chịu thủy thổ.

Thiên hạ trầm trồ. Kẻ thì bảo rằng: ”Vật chờ chủ”. Người có óc phán đoán lại nói “ Cây mận nhờ có người canh coi chăm sóc, lũ trẻ không bứt lá bẻ cành, nên phát trở lại”. Người bạn Ấn Độ của tôi là Kicha Nassamy lại giải thích:

Đó là nhờ sức nhân điện của anh và gia đình anh mà cây mận hồi xuân.

Không biết lời nào đúng, tôi chỉ biết mừng được một cổ thụ xanh tốt ở trong vườn.

Khi cành lá đã sung, hoa bắt đầu trổ. Hoa trổ kỳ nhất vào tháng mười âm lịch. Đến Tết trái chín.

Khi trái kỳ nhất đã kết, thì hoa ra kỳ nhì vào tháng 11 và trái chín vào tháng 2 hoặc tháng 3. Nhiều năm hoa thêm một kỳ thứ 3 nữa vào tháng giêng.

Hoa mận cánh trắng nhụy trắng. Mọi thứ hoa, hoa nào cũng đẹp nhờ cánh. Hoa mận lại đẹp nhờ nhụy. Nhụy dài và thanh. Chữ gọi là ba tu, tục gọi là râu mận. Khi hoa nở thì cánh bị râu che lấp hết trông vào như một chùm ngân tuyến có mùi hương.

Những ngày hoa nở sắc trắng của hoa át hẳn màu xanh của lá. Nhìn lên tàn mận, giống y mái đầu bà lão bảy mươi cúp bum bê. Nhụy hoa cánh hoa rụng phơi phới như mưa tuyết. Mùi hoa ngòn ngọt như mùi hoa xoài. Một buổi sáng thức dậy, nhìn ra sân tôi có cảm giác đang ngồi nơi tiểu đình trên Phú Sỹ Sơn ở Nhật hay Mont Blanc ở Pháp.

Thật là thú. Nhưng lắm lúc man mác buồn vị có ý nghĩ “Không có gì vĩnh viễn”, nhất là khi người nhà lo quét dọn sân hè. Để hứng vị không pha lẫn cay chua, tôi bèn dặn con em trong nhà đợi tôi đi làm hoặc đi chơi rồi mới quét râu mận. Tôi có mấy câu ngẫu thành, gởi gắm ít nhiều tâm sự :

Tuyết phủ đầy sân hoa rụng đầy
Hương sầu theo gió chập chờn bay
Em ơi! đừng quét.. Em đừng quét
Anh chỉ yêu hoa những phút này.

Ở Nha Trang mùa đông ít lạnh và ít mưa to gió lớn như các tỉnh bạn. Tuy vậy trăm hoa, cả hoa giấy chắc gan đều “lánh mặt” chỉ riêng hoa mận là “đua cười gió đông”. Cho nên tôi gọi hoa mận là hoa Tuế Hàn thay cho Bạch Mai của cổ nhân mà Nha Trang không có.

Mùa đông ít hoa nên ong bướm cũng ít. Bởi vậy kỳ mận tháng 10 tháng 11 ít khi bị quấy rầy vì loài có cánh. Nhưng đến kỳ hoa tháng giêng thì lớp ong lớp bướm, kéo nhau đến từng bầy. Ong phần nhiều là ong ruồi. Ong bầu cũng có song chỉ năm bảy con mà thôi. Tôi không hiểu tại sao, khi mai nở chúng lại kéo đến đông, còn lúc mận nở chúng chỉ “cử đại biểu” đến. Và đối với mai chúng rất tàn nhẫn, còn đối với mận chúng lại có vẻ “biết điều”? Có người bảo rằng vì hoa mận lớn, chúng nằm vào lòng hoa mà hút mật, mật lại nhiều nên không cần phải dụng sức dụng công. Còn hoa mai nhỏ bị chúng ôm gọn vào lòng để hút mật, vì mật ít nên phải vét cho “ráo máng cạn tàu” mới đủ no. Có người lại nói rằng trên tàn mận ngoài ong bầu còn có ong ruồi. Ong bầu sợ ong ruồi nên không dám “làm tàng” với hoa. Thuyết trước e đúng hơn.

Còn bướm thì “không thể chê” nhiều giống nhiều màu sắc. Con thì vàng ánh như huỳnh kim. Con thì trắng phau phau như bông gòn. Con thì đen nhánh như răng hạt huyền. Con thì nâu như lông cánh bìm bịp. Con thì cánh trắng viền đỏ. Con thì cánh vàng sắc hỏa hoàng điểm những hạt cườm đen hoặc cườm trắng. Con thì rằn rịt, con thì vá quàng v.v.. Trông giấp giới như một rừng phong lan.

Bươm bướm là giống phong nhã. Chúng đối với hoa lịch sự như những chàng thanh niên có giáo dục đối với tình nhân, lúc nào cũng dịu dàng, cũng nhẹ nhàng , ung dung, tự tín. Đậu vào hoa chỉ đậu phơn phớt, đưa vòi vào nhuỵ hoa chỉ đưa một cách thưng thưng. Nhiều con chỉ bay lượn chung quanh hoa dường như chỉ để hứng lấy hương chớ không màng đến mật. Lại có con bám theo râu hoa rơi từ cành xuống đất, rồi chớp cánh bay trở lên cành. Rơi xuống một cách nhẹ nhàng mà bay lên cũng một cách nhẹ nhàng như mảnh giấy bay theo gió. Đứng trước cảnh đó tôi chợt nhớ đến bài thơ Haikai của Nhật mà Pháp dịch :

Illusion

Fleur tombée
Retournant à la branche?...
Oh ! c’était un papillon!
Con tôi (Quách Giao) đã phỏng dịch thêm một lần nữa để tôi ngâm trong lúc cùng cảnh chung vui:

Ảo ảnh
Hoa rơi vụt trở lại cành
Ồ ! Con bươm bướm nặng tình với hoa.

Khi hoa đã thành quả thì ong và bướm bay đi hết, se sẻ lại kéo đến đông đầy. Tiếng kêu chinh chích không bao giờ ngớt.

Bảo rằng se sẻ kéo đến không đúng. Mùa đông chúng sợ mưa gió chui núp nơi trần nhà, ở dưới mái hiên. Lúc tạnh bay ra tìm mồi thì bay lẻ tẻlặng lẽ như chiếc bóng qua ngang. Nếu không để ý thì tưởng chúng đã bay đi nơi khác hết. Nhưng đến lúc xuân sang, nắng ấm, chúng rủ nhau bay ra từng tốp, lớp bay lớp đậu, rộn rã tưng bừng. Chúng đông nhưng không phá phách. Luồn qua lá mận, song không bao giờ đụng vào trái lúc chín cũng như lúc còn xanh.

Bươm bướm là tài tử giai nhân, se sẻ là tao nhân mặc khách, đem tình xuân trang điểm cho ngày xuân của khóm mận thêm xuân.

Cho nên trong mùa hoa nở, mùa trái chín, bạn bè thường họp nhau dưới bóng mận. Và những lúc vắng người, tôi thường nằm nơi võng cột trước hiên, nhìn cây mận để ôn lại chuyện xưa hay tìm hưởng thú mới.

Vị thế mà hình ảnh cây mận in sâu vào tâm khảm và tình mận thường len vào tứ thơ, nhất là từ năm 1940 trở đi sau khi đã gặp Liên Tâm và thường cùng Chế Lan Viên, Yến Lan, Quách Tạo chung bóng dưới trời trưa mùa hè.

Khóm mận đối với tôi cũng rất có tình.

Năm 1943, tôi ra Đà Nẵng và Huế chơi hơn nửa tháng. Lúc ấy đã gần cuối đông, hoa mận đã kết quả. Khi tôi về trên cành chỉ toàn lá. Tôi hỏi người nhà:

- Sao hái mận sớm thế? Không đợi chín để ăn Tết?

Lũ nhỏ thưa:

- Ba đi được mấy hôm, hoa quả lần lần rụng sạch. Không sót được trái nào cả!

Tôi cho là tại thời tiết.

Đến năm 1944, tôi đưa gia đình về Bình Định lánh nạn tàu bay Mỹ khủng bố quân đội Nhật. Tôi gởi nhà cho ông Ba Lồ Ô ở trước ngõ. Khi tôi đi thì mận lớp ra hoa, lớp kết quả, xum oằn cả cây. Nhưng một tháng sau tôi trở vào thì mận không còn một trái nhỏ. Tôi trách ông Ba:

- Ông Ba ăn trái không nhớ kẻ trồng cây.

Ông Ba cười:

- Có được ăn trái nào đâu mà bảo nhớ với không nhớ. Bởi thầy đi được ít lâu thì hoa lẫn trái già trái non rụng đầy đất!

Một ông bạn pha trò:

- Chắc cây mận sống lâu năm đã thành tinh và là tinh đàn bà nên vắng hơi anh, tương tư chớ gì!

Tôi chợt nhớ lại khi bà thân tôi mất, hai cây trầu cùng mấy cây cau bà trồng đều chết theo. Và khi bà nội của nhà tôi mất, cây cam của bà trồng đương xanh tốt liền héo rồi chết đứng và vườn chuốí rủ lá rồi lụn dần! Tôi lại nhủ:

- Thường ngày mình lân la bên mận, mận quen hơi quen hám. Đến khi vắng mình, thiếu hơi hám đã quen, mận rụng trái rụng hoa; đó là việc thường đối với người biết chút ít về khoa học thực nghiệm.

Nghĩ vậy để tự cho mình có óc thực tế, có óc khoa học. Đó là trí nghĩ chớ trong thâm tâm tôi vẫn cho là “thảo mộc hữu tình”. Do đó tôi càng thương yêu khóm mận. Đi xa nhớ nhà, hình ảnh khóm mận quanh quẩn bên vợ con trong mơ, trong giấc.

Đến năm 1945, Nhật đảo chính Pháp tôi thôi làm việc ở tòa sứ Nha Trang. Tôi cho mướn ngôi nhà số 21 để về Bình Định cùng với vợ con. Rồi bị kẹt ở Bình Định gần 10 năm. Mãi đến ngày ký hiệp định Genève tôi mới trở lại Nha Trang cùng gia đình.

Nhà cửa hư sơ sơ. Đồ đạc mất hết. Hoa kiểng tiêu tan, khóm mận trước sân chỉ còn hai gốc, song vẫn xum xuê.

Tôi vào Nha Trang vào khoảng tháng 11 âm lịch, gặp kỳ mận ra hoa. Nhân đó có bài thất tuyệt ký thác tâm sự:

Đời chia mưa nắng mấy năm qua
Vườn cũ thêm thương khóm mận già
Ba nhánh tình thâm tâm sự gởi
Không vị xa cách phụ phàng hoa.

Năm ấy hoa ra nhiều, quả kết cũng nhiều. Những người chung quanh bảo nhau rằng “cây chờ chủ”. Một ông lão mắng :

- Mấy năm nay, cây không ai coi ngó, các ông các bà để trẻ con phá từ lúc hoa mới ra thì làm sao có quả được. Chớ cây cối biết gì mà đợi với chờ?

Tôi cười:

- Lời giải thích nghe có lý, song lại chứng tỏ rằng người giải thích vô tình.

Ông lão phản đối:

- Sao lại vô tình?

- Vị không rầy giùm bọn trẻ, nỡ để cho chúng làm hư hết hoa!

Ông lão cười ha hả:

- Không ngờ ông lạc hậu đến thế. Bọn trẻ bây giờ đâu còn “tôn lão kính trưởng” còn tươi tốt như cây mận của ông à? Ông là chủ vườn đó, để rồi xem ông có rầy nổi chúng chăng?

Nhờ lời cảnh cáo của ông lão mà tôi lo đề phòng nên cây mận ít bị ná cao su bắn, kèo nèo giựt… Mỗi ngày tàn mỗi xum thêm, mỗi năm trái mỗi nhiều thêm… Nhưng nhìn kỹ thì gốc cây mỗi ngày mỗi mục thêm và một gốc ngã xiên xiên ra phía đàng cái. Năm nào đến mùa đông, mưa to gió lớn, lòng tôi cũng nơm nớp sợ cho thân phận của cây. Tôi nghĩ cách chống. Song lấy gì chống cho nổi? Đúc trụ bê tông cốt sắt thì không đủ tiền và cũng không đủ chỗ vị đất hẹp. Âu đành nhờ trời thương đến ngày nào hay ngày nấy…

Mười hai năm qua kể từ khi tái hợp.

Mùa đông năm Bính Ngọ (1967) khóm mận ra hoa thạnh gấp bội mấy năm trước. Nhánh toả ra ngoài đường. Người nhà đèn sợ cây chạm vào dây điện đem thang, rựa đến trảy bớt nhánh. Nhưng thấy bông nhiều quá không nỡ xuống tay. Rồi trời đổ mưa dầm gió bấc suốt mấy ngày đêm. Gốc mận ngã xiên, sà thêm xuống thấp, cành lá chạm hẳn vào dây điện ngoài đường.

Sáng ngày 23 tháng 11 âm lịch tức ngày 23 - 11- 1967 trời xửng mưa, gió ngừng thổi. Tôi ra sân đứng nhìn khóm mận. Thấy gốc phía ngoài đã sà nhiều quá, tôi tự nhủ:

- Nếu có một trận gió mạnh thổi đến thì nhất định ngã chớ không thể gượng nổi nữa. Vừa nói tôi vừa đến gần. Tôi ngạc nhiên hết sức: Thân cây run run và cành lá rung rinh mặc dù không có gió. Chợt một tiếng rắc thật to nổi lên và gốc mận phía ngoài đường từ từ ngã xuống, ngã xuống phía đường cái, ngọn nằm trên những dây điện đường. Coi lại thì gốc đã mục hết. Lâu nay cây đứng vững chỉ nhờ lớp vỏ ngoài và một ít giác không lấy gì làm dày lắm!

Thế là khóm mận chỉ còn một gốc, ít cành và đứng thẳng. Lòng tôi bị xúc động mạnh!

Tôi tự nghĩ :

- Có lẽ mận nuối mình tự khi hôm. Nên thấy mặt mình rồi liền ngã.

Tôi có cảm giác mất một người bạn thân yêu ! Một nỗi buồn tràn ngập tâm hồn tôi….

(trích Hồi Ký Quách Tấn, Bóng Ngày Qua. Đời Văn Chương tập hai )

Câu chuyện kỷ niệm về cây mận trong vườn nhà số 12 đường Bến Chợ Nha Trang của thi sĩ Quách Tấn đã làm ý vị thêm lời ông Khổng Lồ nói về cây cỏ cũng có tâm hồn tình cảm như con người. Chẳng những chỉ có ở nước ta mà trên thế giới cũng có những trường hợp như vậy. Nhất là ở Á Đông. Như câu chuyện “Cây mai biết bay” của thi sĩ MYCHIZANE (844-903) bên xứ Phù Tang:

Truyền rằng thi sỹ MYCHIZANE đi xa, xuân đến không về nhà được. Nhớ khóm mai trong vườn bèn sáng tác mấy vần thơ :

Nhắn mai vườn tôi
Ngọn nồm bay sang
Hương đưa dịu dàng
Ôi mai vườn cũ
Em dù vắng chủ
Lòng chớ quên xuân.

Khóm mai nơi vườn cũ, cảm thông tình nhà thơ đang đêm bay đến nơi thi nhân trú ngụ, mọc ngay trước sân nhà trọ. Hoa nở xum cành. Hương bay ngào ngạt.

Buổi sáng thức dậy, nhà thơ MICHIZANE bước ra sân, trông thấy khóm mai của vườn nhà, lòng thê nhiên cảm động bèn ôm lấy gốc mai mà khóc. Khóm mai cũng khóc theo. Những giọt lệ hoa nhỏ đầy trên mái tóc thi nhân. Nhà thơ bỗng nhiên trở thành một khóm mai bằng ngọc nhưng lại biết làm thơ…

Câu chuyện chấm dứt cùng với ánh nắng ban chiều. Biển đông lại ào ào muôn ngàn sóng dậy. Mặt biển cuồn cuộn muôn sóng bạc đầu. Chung quanh chân đảo Hòn Đỏ sóng theo nhau vỗ vào vách đá tung tóe bọt nước trắng phau. Về phía trời Tây mặt trời đã chìm sau dãy núi xa xăm, hất lên bầu trời sắc hồng rực rỡ. Rồi bóng mặt trời khuất lấp và màu đỏ thay cho sắc hồng: Ráng chiều ngự trị ở phương trời Tây. Đây là giây phút đẹp nhất của ngày tàn. Và ở nơi phía Tây Hòn Đỏ dãy đá đứng ven theo mặt nước bên cạnh bến đò, sắc màu trở nên rực rỡ, đỏ thắm rồi trở thành vàng tươi. Màu sắc cứ thay đổi nhanh chóng khiến cho người ngắm cảnh ở trong trạng thái bâng khuâng không biết cảnh thực hay là mình đã thấy cảnh trong mộng.

Nhà thơ Lê Triều Phương đã ghi lại cảm xúc và tình cảm trong hai vần thơ :
 

Chiều trên Hòn Đỏ

Mây ráng trải mênh mông
Biển sóng sánh ánh hồng
Vòm cây chiều ủ mộng
Hòn Đỏ ngắm hư không.

Và :

Lung linh sóng lộng hoàng hôn
Tịnh yên Hòn Đỏ Từ Tôn soi mình
Vẳng ngân vách đá lặng thinh
Hồi chuông thanh thoát đượm tình cố tri…

Pho đá to lớn nhất tại bến đò như mặc áo hồng bào nghiêng mình đưa tiễn du khách. Những mô đá nhấp nhô chạy dài theo chân đảo như một đoàn đệ tử đứng sắp hàng ngay ngắn tiễn đưa khách du quan. Lúc bấy giờ bầu trời phía tây bỗng trở màu tim tím, ráng chiều đã bay đi, đã tan vào hư không. Vách đá vẫn còn tươi thắm như ráng chiều đã xuống đọng nơi chân đảo. Và vách đá đang mở rộng lòng, lưu giữ màu sắc huy hoàng của ngày tàn. Cỏ cây như mỉm cườì đưa tiễn, lòng du khách ngất ngây khi nhìn lại sắc thắm đỏ trên hòn đá cao to đứng nghiêng mình trên bến để chợt nhớ rằng lòng mình đã thấu hiểu tại sao khách văn chương gọi tên hòn đá này là Tịch Dương Thạch (Hòn Đá Chiều Vàng) và hải đảo Hòn Đỏ còn mang tên là Đảo Ráng Chiều.

 Ghi lại cảnh chiều nơi Hòn Đỏ nhà thơ Trần thị Phong Hương đã có mấy vần :

Hòn Đỏ hoàng hôn

Biển ào ào dậy sóng
Mặt trời lặn về tây
Sắc hồng đọng ven mây
Ráng hồng giăng rực rỡ.
Trời phía Tây bừng đỏ
Tươi thắm cảnh trời chiều.
Hòn Đỏ bóng xiêu xiêu
Vách đá màu tươi thắm
Ráng chiều vừa xuống đọng
Trên da đá hồng tươi.
Màu đỏ trên bầu trời
Phút giây liền đổi sắc
Màu tím như đậm đặc
Hòa màu xanh mênh mông.
Sắc đá tỏa rộng lòng
Đón ráng chiều xuống đọng.
Chập chờn muôn hoa sóng
Màu đá ửng hồng tươi
Sắc đỏ như mỉm cười
Với hoàng hôn trên đảo.
Ôi ! màu hồng huyền ảo
Làm đảo có thiện duyên
Mang một tên diễm huyền
Đảo Ráng Chiều: Hòn Đỏ.

Đến thăm đảo, có người về trong ngày và cũng có người ở lại đêm. Nhất là những đêm có trăng, vào các ngày 17,18,19 âm lịch.

Trước lúc trăng mọc du khách được thưởng thức một khoảng thời gian ngắn trong một không gian đầy thú vị trước biển Đông. Ngồi tựa mình nơi vách đá nơi hướng Đông du khách lặng lẽ nhìn dãy đèn câu giăng mắc tận phía chân trời. Khác với khi ngồi nơi bãi biển Nha Trang nhìn ánh đèn câu nơi góc biển, ở đây du khách cảm thấy ánh đèn câu dường như gần gũi hơn, đầm ấm hơn. Màu biển đen nhưng không tăm tối, biển và đảo cùng hòa chung nhịp sóng, ánh đèn câu là nhịp nối giữa đảo với chân trời. Sao trời lấp lánh như muốn chia vui cùng các con sóng chạy quanh đảo, vỗ vào vách đá rì rào. Tiếng rì rào chạy từ bờ đá này sang bờ đá khác như chúng đang trao đổi chuyện tâm tình với nhau. Tiếng sóng ban đêm dường như diụ dàng hơn tiếng sóng lúc ban chiều. Trong màn đen dịu ngọt, trùng dương như đang ngưng thở chờ đón sự đổi thay.

Bỗng nhiên nơi phía chân trời xa một vùng ửng sáng rồi lan rộng khắp trời phía đông. Ánh trăng như vừa thức giấc. Mặt biển như lặng sóng và bóng trăng ló dạng nơi phía chân trời. Trăng vừa mới mọc, hải đảo Hòn Đỏ khẽ chao mình chào đón. Mặt trăng từ từ nhô lên khỏi mặt nước. Bầu trời trong sáng. Mặt đại dương lóng lánh long lanh. Ngồi trên đảo du khách thấy dưới chân mình đại dương đang xao động, ánh trăng quyến luyến trên đầu và cỏ cây đang đùa theo nhịp gió.

Trăng từ từ nhô cao rồi dịu dàng đi dần vào lòng trời trong xanh có vấn vương đôi làn mây trắng. Hòn Đỏ mình nhuộm đầy ánh trăng nhập vào nguồn sáng tươi mát của trời trăng. Những hòn đá nơi bờ đá như vươn cao, bờ đá như nới rộng, mình đẫm ướt ánh trăng. Ánh trăng tắm ướt da đá, gội vàng lên các tàng cây và long lanh trên những viên sỏi phơi mình trên các lối đi, trên các đường mòn trên đảo. Dưới ánh trăng, hoa dại thầm tỏa hương thơm khiến cho du khách ngờ rằng ánh trăng nơi hải đảo Hòn Đỏ có hương thơm.

Giữa khuya tiếng chuông nơi thiền tự Từ Tôn ngân nga đổ hồi. Âm thanh trong suốt như ánh trăng, êm đềm như hơi thở của hoa lá, cùng với hương khói trầm nhang lan tỏa khắp bầu trời. Trăng trên hải đảo nào cũng đẹp cũng xinh cũng tươi thắm lòng người, nhưng trăng trên hải đảo Hòn Đỏ lại càng thêm ý vị vị có tiếng chuông ngân trong niềm trong sáng của thiên nhiên khiến lòng người thêm tịnh, thêm yên vui. Đêm trăng trên Hòn Đỏ gồm tụ những đêm trăng trên bãi biển Nha Trang, trăng trên đồi Trại Thủy và trăng trên núi Sinh Trung.

Trăng trên bãi biển Nha Trang, trong ánh trăng có bóng đèn đường giăng mắc, có bóng người đi lại vui chơi cùng thiên nhiên. Trăng trên đồi Trại Thủy có âm vang của tiếng chuông chùa Hải Đức. Trăng trên núi Sinh Trung ngưng đọng hương khói từ trong chùa bay ra.

Nhà thơ Quách Tùng Phong đã viết về trăng trên Hòn Đỏ:

Trăng trên Hòn Đỏ

Mặt biển bỗng lặng yên
Màu hồng vừa thức giấc
Chân trời trăng rựng mọc
Hòn Đỏ đón hồng tươi
Cỏ cây ửng nụ cười
Ánh trăng hôn lên đá
Gió rung rinh cành lá
Trăng sáng khắp đảo rồi
Một nguồn sáng tinh khôi
Trong veo màu diễm tuyệt.
Mặt đá như đọng tuyết
Sắc hồng thắm màu tươi
Trăm vạn tình biển khơi
Tụ về trên đảo ngọc.
Tàng cây xanh xõa tóc
Lấp loáng ánh trăng ngà
Lối mòn thơm tình hoa
Bầu trời đầy hương Phật
Trăng tự trời Đâu Suất
Rót ngọc xuống trần gian
Óng ánh giọt chuông vàng
Trăng ngân trên Hòn Đỏ.

Đây mới chỉ là thời giankhông gian trên hải đảo Hòn Đỏ. Còn cái hồn, cái tinh túy đều lắng đọng nơi thiền viện Từ Tôn. Chùa được xây trên đỉnh Hòn Đỏ. Mái ngói đơn sơ, vách gạch giản dị nhưng bên trong chùa được bố trí trang nghiêm ấm cúng. Chùa mang dáng dấp một ngôi cổ tự ở thôn quê, ở thời gian xa xưa khi mà lòng con người chưa chuộng cái vẻ hoành tráng bên ngoài, cái đẹp nguy nga của những ngôi chùa trên tranh ảnh. Giữa trời cao biển rộng, ngôi chùa không hề lẻ loi cô quạnh mà đầm ấm vô ngần. Chùa và đảo có mối tình liên hệ thiêng liêng nên Hòn Đỏ được mang tên Hòn Đỏ Từ Tôn. Nhất là khi đọc xong tập lược sử hình thành chùa Từ Tôn Hòn Đỏ của sư trụ trì Thích Viên Mãn.

Suốt trên 40 năm cần cù lao động để khai phá hòn đảo đầy đá, giữa nước mây hiu quạnh, thiếu nước thiếu bóng mát cây cao, sa môn Thích Viên Mãn nhờ vào tấm lòng từ bi kiên nhẫn, sự giúp đỡ của gia đình người chài lưới nghèo khổ (anh Sáu Sài Gòn ) và các tín đồ Phật giáo đã xây dựng được ngôi chùa Từ Tôn và khu đảo Hòn Đỏ. Sự xanh tươi ấm áp đã ngự trị trên hòn đảo nhỏ nhoi và cô độc này nhờ ở tấm lòng vị Đạo vì người, vì quang cảnh thiên nhiên của một nhà sư có một tâm hồn thông thoáng và yêu mến biển cả trời mây.

Có lẽ tại Nha Trang duy nhất có một ngôi chùa được xây trên một hải đảo. Một ngôi chùa nằm giữa mây nước trùng dương mà lại không mang tên có liên quan đến biển cả như Hải Đức, Giác Hải v.v.. Chùa có danh hiệuTừ Tôndanh hiệu của Phật Di Lặc.

Trong kinh Pháp Hoa có câu “Từ bi thị hiển Di Lặc tôn kính Phật” hay nói gọn là “TỪ THỊ DI LẶC TÔN KÍNH PHẬT” và gọi tắt là TỪ TÔN .

Sau Thế Tôn là Từ Tôn. Ngài Di Lặc, tượng trưng cho sự an Lạc, cho mai sau. Nụ cười Di Lặc là nụ cười hồn nhiên, nụ cười cho mọi người, cho ngày mai. Và chùa Từ Tôn mang tên của vị Phật an lạc này với tâm nguyện theo đường lối của ngài mang đến niềm vui cho người mai hậu, an lạc cho mai sau. Một nụ cười an lành nở trên hải đảo.

Từ Tôn còn có thể gợi cho khách du quan một cảnh chùa hiền từ nhưng tôn nghiêm giữa chốn trùng dương mây nước. Từ Tôn còn mang ý nghĩ của người dân chất phác là từ từ tôn tạo. Bốn mươi năm cần cù lao động sa môn Thích Viên Mãn và các đệ tử đã chứng nghiệm ý nghĩa này.

Từ Tôn, Từ Tôn
Di Lặc, Di Lặc
Đem an lạc
Cho mai sau
Đầy nhiệm màu
Nở nụ hồng trên hải đảo
Đóa hoa sen huyền ảo
Của Từ Tôn, Từ Tôn
Của Di Lặc, Di Lặc
An lạc đầy tâm hồn.

So với các ngôi chùa khác, chùa Từ Tôn thiếu nhiều điều kiện để trở thành một ngôi đại tự, để trở thành một danh lam. Tuy nhiên Từ Tôn đã có một lịch trình xây dựng gian lao với hình bóng một vị sư lưng trần gánh nước từ dưới bến đò lên đến đỉnh đồi trong nắng ban mai, giữa cái chói chang của trưa nồng và còn để lại cho các đệ tử một câu chuyện của vị sư gặp khổ nạn không thể nào quên.

Nguyên năm 1968 sư Viên Mãn từ đất liền ra đảo Hòn Đỏ. Không có thuyền nên người phải dùng một tấm xốp trên đựng thức ăn và nước uống. Sư Viên Mãn không biết bơi nên phải bám vào tấm xốp. Khi gần đến bờ đảo thì một cơn lốc từ đất liền thổi ra biển khơi đã cuốn theo tấm xốp và người. Lênh đênh trên biển cả suốt hai ngày đêm họ được một chiếc tàu quốc tịch Nhật Bản cứu vớt và gởi thuyền đánh cá của ngư dân Xóm Cồn đưa về đất liền. Càng gặp gian nanViên Mãn càng bền chí khai hoang Hòn Đỏ và kiến tạo chùa Từ Tôn.

Cảnh gánh nước từ chiếc thuyền thúng chở nước ngọt từ trong đất liền ra đảo phải gánh nhiều lần từ dưới bến lên đến đỉnh đồi theo đường dốc quanh co khúc khủyu. Sáng gánh mãi đến trưa mới xong. Dùng nước ngọt này ngoài việc phục vụ cho sinh hoạt ăn uống còn để tưới cho các cây lâu năm trồng trên đảo. Bây giờ có được nước ngọt bơm từ đất liền lên đảo hằng mỗi tuần để chứa trong các hồ xi măng to lớn nên khách du quan không thể tưởng tượng được cảnh thiếu nước và gánh nước cực khổ đến dường nào.

Tham quan bên cạnh vườn chùa, du khách bắt gặp ngoài các chậu hoa tươi đẹp còn có một cây kiểng bằng lăng bộng gốc được trồng trong một chiếc thuyền thúng. Hình dáng cây kiểng bằng lăng và chiếc thuyền thúng gợi nhớ đến những ngày chở nước và gánh nước lên đồi tưới cây của nhà sư Viên Mãn. Bóng một nhà sư đơn độc gánh nước in hằn lên nền trời xanh nơi hoang đảo. Cô liêu, vững vàng như cây bằng lăng còn giữ trọn dáng người xưa.

Cây cảnh bằng lăng.

Cây bằng lăng xưa
Khẳng khiu trong chiếc thuyền thúng
Nằm đơn độc bên cạnh vườn hoa
Chưa xóa nhòa
Cảnh nắng trưa
Nhà sư trần lưng gánh nước
Bước từng bước
Từ chân dốc lên đồi
Ôi ! Những giọt mồ hôi
 Chảy dài trên lưng Bồ tát.
Nắng chói chang
Lòng vẫn luôn rào rạt
Ước mong xanh mát bóng chùa
Từ Tôn Hòn Đỏ hương đưa
Cây bằng lăng giữ dáng xưa một lòng.

Phong Hương

Ngoài ngôi Tam Bảo Từ Tôn, giếng đá, các hồ chứa nước, vườn hoa, còn có nhiều công trình rất mỹ tú. Như tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát đứng nơi Nghênh Phong Đài mặt ngó về phương Đông. Cũng nơi gành đá này một quần cảnh hội tụ tượng Đức Quan Âm với đồng tử có rồng nghinh bái, có đỉnh hương to lớn với tầng bậc thang xây bằng đá xuống sát mé biển đông. Nơi đây công tạo tác của người đã hòa đồng với cảnh trí thiên nhiên thật là tài ba duyên dáng.

Chất ngất giữa sườn non
Chập chờn đá mấy hòn
Biển xanh thuyền chao sóng
Trời thắm đảo chon von
Phật mẫu nhìn khổ hải
Đồng tử bái Quan Âm
Lư hương lồng mây khói
Rồng đến phục Xứ Trầm.
Tùng Phong

Hòn Đỏ Từ Tôn mãi đến tận hôm nay vẫn còn giữ được những nét hoang sơ mặc dù có bàn tay con người trang trí. Mai sau ngôi thiền tự Từ Tôn dù có được xây dựng nguy nga đồ sộ như những cảnh chùa khác, tôi mong ước rằng chùa nên xây thế nào để hợp với dáng núi, với bóng hải đảo có bãi đá viền quanh. Nên lấy cảnh núi của đảo làm chủ mà cảnh chùa chỉ là viên ngọc trong miệng rồng.
Hãy giữ gìn cho da của đá vẫn còn giữ được bóng đỏ ráng chiều, tránh không cho những bài thơ, những tên người ghi trên đá để làm kỷ niệm một chuyến du hành, một mối tình dang dở v. v.. Mong rằng khách tham quan không để lại vết tích của mình trên thân đá, thân cây.

Từ TônDi Lặc, là an lành, là mai sau hạnh phúc, là hồn nhiên.

Những gì thiên nhiên sắp xếp hãy để yên, hãy giữ gìn trọn vẹn. Chỉ cần thêm vào những chi tiết cần thiết cho cảnh thêm tươi, thêm hợp với đời với đạo.

Muốn tham quan một cảnh chùa hoành tráng trang nghiêm thì nên đến chùa Long Sơn. Muốn ngắm nhìn sự tham dự vào thiên nhiên của bàn tay con người thì nên ra đảo Trí Nguyên hay Hòn Ngọc Việt. Đến Hòn Đỏ thì chỉ có Từ Tôn, một ngôi chùa, một hải đảo của an lạc của nụ cười Di Lặc hồn nhiên.

Khi giã từ Hòn Đỏ Từ Tôn, lòng du khách bâng khuâng thương nhớ và hẹn ngày tái ngộ. Nhớ đến chùa Từ Tôn mỗi lúc lòng đời có điều xao xuyến, khiến lòng ao ước trở lại thăm chùa xưa. 

 Đây 2 bài thơ tưởng nhớ:
 

Hòn Đỏ Từ Tôn

Như một đóa sen hồng
Ngưng đọng tình biển Đông
Nở trăm nghìn cánh đá
Ấp ủ chùa Từ Tôn
Màu biển xanh ngọc bích
Sắc đá đỏ ráng chiều
Hòn Đỏ Từ Tôn đảo
Tôn kính và mến yêu
Hòn Đỏ là màu sắc
Ráng chiều không phai màu.
Từ TônDi Lặc
An lành cho mai sau
Đá cúi đầu đảnh lễ
Trời phảng phất hương trầm
Trăm nghìn con sóng bể
Về tụng Hải Triều Âm
Dốc cao thương lối cũ
Giếng đá nhớ mưa nguồn
Nền chùa xưa trăng đọng
Hòn Đỏ có Từ Tôn.
Cách xa ngàn vạn dặm
Lòng vẫn nhớ vẫn thương
Hòn Đỏ Từ Tôn đảo
Đẹp như đóa sen hường…
Và :

Chùa Từ Tôn Hòn Đỏ

Hải đảo trời mây trải nắng mưa
Từ Tôn Hòn Đỏ dáng chùa xưa
Trăng lồng mặt biển hồi chuông vọng
Hương thoảng sườn non ngọn gió đừa.
An lạc nhẹ bồng mây buổi sáng
Trần ai nặng gánh nắng ban trưa
Ra về sắc ráng hương còn đọng
Lưu luyến lòng ai lớp sóng đưa.

Quách Giao

Tạo bài viết
23/04/2014(Xem: 10362)
31/03/2013(Xem: 8274)
03/04/2014(Xem: 32181)
15/09/2016(Xem: 3199)
21/04/2015(Xem: 2564)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.