(Xem: 1131)
Lâu nay ở các giới đàn, tình trạng tổ chức lệch lạc, không đúng luật rất nhiều, dẫn đến phi pháp. Ở góc độ kiến giải của các Luật sư theo truyền thống Bắc tông thì “giới tử không biết, không nghi thì vẫn đắc giới, chỉ có giới sư là phạm luật”. Nhưng đối với kiến giải của truyền thống Nam tông thì giới sư không đúng pháp, giới tử không đắc giới, dù giới tử không biết. Ngay cả khi vị giới sư phạm luật mà không biết mình phạm, thì các vị khác cũng cần chỉ lỗi để vị ấy biết mà như pháp sám hối, không nên nể nang nhau mà im lặng.
(Xem: 2040)
Bốn bộ luật tiểu Tỳ ni – Sa di – Oai nghi – Cảnh sách của Tổ Quy Sơn, Tổ Châu Hoằng,….Các Ngài là bậc long tượng trong thiền môn, vì thương hàng hậu học các Ngài chỉ thẳng phương pháp hóa giải tập khí của hàng xuất gia khi mới bước chân vào đạo, phải nói bốn bộ luật tiểu này được xem là khuôn vàng thước ngọc, là cẩm nang gối đầu giường của hành giả tu tập. Sách này không những là cơ sở cho giới cụ túc mà cũng là nền tảng cho giới Bồ-tát
(Xem: 833)
Giới hạnh của người tu liên quan đến sự thịnh suy của Phật pháp một cách mật thiết. Như vậy, chỉ có giới luật mới tạo nên đức hạnh của người tu, đồng thời cũng góp phần xây dựng cho chúng ta thành những chiến sĩ trên mặt trận đạo đức, tạo nền tảng cho Phật pháp hưng thịnh.
(Xem: 3165)
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Chẳng những thân không phạm, luôn cả cái “không phạm” cũng không còn", tức thân tâm đều dứt, luôn cả cái dứt cũng không có, như thế đối với vô thượng bồ đề mới có hy vọng.
(Xem: 4260)
Ngôi trường Vạn Hạnh, giờ đây vắng bóng thêm một bậc thầy giáo thọ kính yêu... Chúng con từ phương xa kính hướng về Vạn Hạnh, thành kính đảnh lễ nguyện cầu Giác linh Hòa Thượng tân viên tịch thượng phẩm thượng sanh, cao đăng Phật quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta bà, để tiếp tục công cuộc giáo dục hoằng Pháp lợi sanh.
(Xem: 2314)
Các tiêu chuẩn đạo đức và các hành vi đạo đức nhằm mục đích đem đến cho con người và xã hội một cuộc sống hạnh phúc. Ban zeladze, một tư tưởng gia phương Tây, viết: "Vấn đề lý tưởng tối cao và ý nghĩa của cuộc sống thực chất là vấn đề hạnh phúc. Con người là giá trị cao nhất, là cơ sở, là ngọn nguồn của mọi giá trị, mọi thứ đều là phương tiện cho con người và cuộc sống của con người
(Xem: 4192)
Giới là một trong ba môn học vô lậu của Giới, Định và Tuệ chỉ có trong giáo pháp của Đức Phật thường được hiểu là Giới hạnh và vị trí của nó đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo lý Phật giáo. Sự học tu tập về Giới là một việc rất đương nhiên đối với những ai khát khao sự thanh tịnh. Ở đây, thanh tịnh nên hiểu là Niết-bàn1
(Xem: 3567)
Quyển Tỳ-ni mà quý vị đang có đây, được tôi mở đầu bằng trọn bản Việt dịch ‚Phật Thuyết Hy Hữu Giảo Lượng Công Đức Kinh‛, đây là Kinh văn Đức Phật giảng giải về công đức thọ trì Giới pháp. Phần sau là Tỳ-ni và Giới bổn, do tôi biên dịch từ nguyên bản Hán văn ‚Tỳ-Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu‛ đã nói ở trên, đồng thời soạn lại bố cục, nội dung và lấy tựa đề là ‚Pháp Kệ Tỳ-Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu‛
Kinh
(Xem: 1319)
Luận về những gì thuộc huyết khí thì phải có tính biết, phàm có tính biết chắc chắn đồng thể. Thế nên ‘chơn tịnh minh diệu, hư triệt linh thông’ sáng suốt hằng còn. Đó là nguồn gốc của chúng sanh, nên gọi là tâm địa. Là chỗ chứng đắc của chư Phật, nên gọi là bồ đề. Giao lưu suốt khắp, dung thông nhiếp hóa, nên gọi là pháp giới. Vắng lặng, thanh tỉnh chơn thường , chơn lạc gọi là niết bàn. Chẳng rơ chẳng rĩ, gọi là trong sạch. Không hư vọng, không biến đổi gọi là chơn như.
(Xem: 865)
Nguyên bản Hán dịch Tạp A-hàm hiện tại, ấn hành trong Đại tạng kinh Đại chính tân tu (ĐTK/ĐCTT), gồm 50 quyển, 1362 kinh, do Tam tạng Cầu-na-bạt-đà-la (Guṇabhadra, người Trung Ấn Độ) dịch vào đời Lưu Tống (435 Tây lịch). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nguyên bản tiếng Phạn được sử dụng để dịch sang chữ Hán của Tạp A-hàm là do Hóa Địa Bộ truyền, có chung một bản gốc nguyên thủy với truyền bản Pāli. Phạn bản đầy đủ hiện nay không còn. Gần đây, tại vùng Tân Cương, Trung Quốc, người ta phát hiện vài tàn bản tiếng Phạn của kinh này mà thôi.
(Xem: 1020)
Theo Xuất Tam Tạng Ký Tập thì Kinh Tạp A-Hàm (雜阿含經) do ngài Cầu-na-bạt-đà-la (求那跋陀羅; S. Guṇabhadra) dịch từ Phạn sang Hán tại chùa Kỳ Hoàn (祇洹寺) vào niên hiệu Nguyên Gia năm thứ mười hai (năm 435 TL), đời vua Tống Văn Đế (407-453). Tác phẩm Cao Tăng Truyện và Phật Tổ Thống Kỷ cũng xác nhận sự tương đồng về sự kiện và niên đại.
(Xem: 2008)
Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh Sớ, còn gọi là Tuệ Tịnh Sớ, của Pháp sư Tuệ Tịnh (578 - 653) là một trong những chú sớ sớm nhất sau khi ngài Huyền Trang dịch Tâm Kinh vào năm 649. Khi ấy ngài Tuệ Tịnh đã già nên thối thác lời thỉnh cầu tham gia dịch trường từ vua Đường Thái Tông, dù trước đó ngài là đại dịch giả trước cả Huyền Trang, bút thọ giúp ngài Ba-la-phả-mật-đa-la chuyển dịch Phạn - Hán tác phẩm Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, từ năm 630 - 633.
(Xem: 2750)
Nhiều Phật tử đã suy tưởng quá nhiều về Phật pháp nhưng lại thực hành quá ít. Rõ ràng là, vì thiếu kinh nghiệm trong việc hành trì giữ giới, cũng như thiếu những kết quả của công phu thiền tập, họ đã làm sai lệch giáo pháp với những mộng tưởng của chính họ. Bất hạnh thay, trong số những Phật tử này là những vị giáo thọ.
(Xem: 990)
Đây giải về 38 điều Hạnh Phúc mà Đức Thế Tôn là đấng thượng sư tự thuyết ra có ý nghĩa như vầy
(Xem: 846)
Tôi hân hạnh đọc bộ Kinh Thơ Hoa Nghiêm của Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng pháp danh Như Ninh thực hiện ròng rã trong nhiều năm, với khoảng gần bốn ngàn câu song thất lục bát thi hóa hết sức chuẩn mực, đúng âm vận đã diễn tả được hình ảnh của hành giả thực hiện Bồ tát đạo giữa dòng đời nhân thế theo tinh thần Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.
(Xem: 1249)
Mangala có nghĩa la “hạnh phúc” – “Phúc đức” - “ Điềm lành” – “Phước lành”. Hay nói một cách bao quát hơn, rộng nghĩa hơn Mangala là những nguyên tắc tạo cho con người thực hành đưa đến một đời sống an lạc, hạnh phúc, lợi mình, lợi người; một nền tảng xây dựng xã hội an lành, đạo đức. Một đạo đức nhân thân đưa đến thành công trong đời sống. Vì thế, không phải là bản kinh chỉ để tụng đọc mà là để hành trì. Đây là bài kinh quan trọng đến độ, một chú tiểu vào chùa tại Miến điện, đầu tiên được dạy bản kinh này; thậm chí một số sư thuộc lòng, xem đó là bản kinh gối đầu giường và là bản đồ dẫn đạo suốt lộ trình tu tập.
(Xem: 4811)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 5972)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 4437)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 4182)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
(Xem: 4291)
“Thân tác chứng thành tựu và an trú tịnh giải thoát”: Thế nào là gia hành của tịnh giải thoát này? Tu quán hành giả do phương gì nhập tịnh giải thoát định? Khi người mới bắt đầu sự nghiệp tu quán, trước hết cần phải nắm lấy hình thái thanh thọ, như thanh hành, thanh chi, thanh diệp, thanh hoa, thanh quả, hoặc nắm lấy hình thái thanh y, thanh nghiêm cụ tướng, hoặc nắm lấy đa dạng thanh tướng nào khác. Khi đã nắm lấy các thanh tướng như thế rồi, do lực thắng giải, tư duy tưởng niệm, quan sát an lập, tín giải sắc này là thanh tướng ấy.
(Xem: 3452)
Bí-sô nên biết! ở đây, vị Thánh đệ tử, bằng đặc điểm như vậy tùy niệm chư Phật, nghĩa là vị Thế Tôn ấy là bậc Như Lai, A-la-hán, nói chi tiết cho đến: Phật Bạc-già-phạm”. Hoặc có vị Thánh đệ tử nào bằng đặc điểm như thế tùy niệm chư Phật, những gì là niệm tương ưng với kinh nghiệm nhận thức, mà kiến là căn bản: tùy niệm, chuyên niệm, ức niệm, không quên, không mất, không rơi sót, không rò rỉ, không mất trạng thái của Pháp, trạng thái ghi nhớ sáng suốt của tâm. Đó gọi là tùy niệm Phật.
(Xem: 4339)
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi Tử lại nói với đại chúng: Cụ thọ nên biết! Đức Phật đối với mười pháp sau khi đã tự mình khéo thông đạt, hiện đẳng giác, liền tuyên thuyết khai thị cho các đệ tử. Hôm nay chúng ta nên hòa hợp kết tập, để ngăn ngừa sau khi đức Phật diệt độ xảy ra sự tranh cãi, khiến cho pháp luật tùy thuận phạm hạnh được an trụ lâu dài mang lại lợi lạc cho vô lượng hữu tình; lại vì thương xót thế gian, chúng chư thiên và nhân loại, khiến cho họ có được nghĩa lợi an lạc thù thắng. Những gì là mười pháp? Ở đây khái lược có hai loại mười pháp, đó là mười biến xứ và mười pháp vô học.
(Xem: 4442)
Theo nghiên cứu của các học giả Abhidharma hiện đại, đại biểu như Đại sư Ấn Thuận, sáu túc luận A-tì-đạt-ma lấy Phát trí luận làm bản luận[1]. Việc nhóm tập sáu túc luận thành một tổ hợp hay nhóm mục, sớm nhất phải kể đến luận Đại trí độ, trong đây khi Long Thọ đề cập đến “lục phần A-tì-đàm”[2], đồng thời nói đến “thân nghĩa tì-đàm”[3]. Thân: ở đây chỉ cho Phát trí luận[4], nghĩa này Đại Tì-bà-sa luận nói rằng, thời đại của ngài Long Thọ đã thường gọi Phát trí luận là thân, sáu túc luận kia là chi phần. ....
CHUYÊN ĐỀ
Tại sao? Tại sao có sanh già, bệnh chết? Tại sao nhân loại phải khổ đau? Tại sao đế vương quyền uy cũng không tránh khỏi lìa xa vương vị? cha ta, vua một thị tộc tại Ca Tỳ La Vệ rồi cũng vậy sao? Tại sao giai cấp Sát đế Lị quyền uy hơn Thủ Đa la? Tại sao?....
Kính chúc mọi người chúng ta đều thành tựu đức tính Từ Bi của Bồ tát Quán Thế Âm để tự mình hóa giải hết tất cả những nổi khổ niềm đau và giúp tha nhân trần gian Ta bà, xây dựng niềm tin chơn chính và từng bước chân an lạc hạnh phúc trong cuộc sống.
Những điều đã viết trên từng chặng đường có chăng đó chỉ như những bông hoa nhỏ điểm tô trên một chiếc bánh thật ngon mời gọi mọi người tự mình một lần cầm lên để nếm thử. Lumbinī (Đức Phật Đản Sanh), Bhodgaya (Đức Phật Chứng Đạo), Sarnath (Đức Phật Chuyển Pháp Luân) và Kusinārā ( Đức Phật Nhập Niết Bàn - Đó là bốn nơi lưu giữ trong mình những vết tích lịch sử cùng với thời gian dành cho tất cả những người con Phật đến để kiểm chứng sự thật. Hãy tự mình một lần đến Tứ Thánh Tích này, hãy nếm thử và rồi bạn sẽ cảm nhận được vị ngọt thơm của của chiếc bánh, sẽ thấy được Đức Tin và Niềm An Lạc tăng trưởng trong lòng mình như chính lời Đức Phật đã dạy...
Trong khi ca ngợi tha lực “ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay nâng đỡ” của Ngài, bản Kinh cũng dành đến 18 câu để nhắc nhở người tu tập nhận ra Phật tánh, tánh biết-như-thật sẵn có nơi mỗi cá nhân (câu 430-447). Ngoài việc khuyến khích trì tụng Tâm Chú Đại Bi, niệm danh hiệu Quán Thế ÂmĐức Phật A Di Đà, bản Kinh cũng khuyên thực hành thiền địnhquy kính Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Ngài khích lệ hành giả nỗ lực tu tập và làm việc thiện để chuyển hóa nghiệp ác, luôn luôn vì an vui, lợi ích cho chúng sanh. Theo đạo lý Duyên Khởi, nói đến chúng sanh là đã bao gồm cả bản thânbà con nhiều đời của mình.
Nói đến lễ Vu Lan thì ai cũng biết đó là mùa báo hiếu, đề cao, tưởng nhớ công ơn sinh thành của bậc cha mẹ nhất là mẹ. Có nhắc nữa chỉ phiền lòng quí bạn, than: “Khổ lắm, biết rồi, nói mãi„ nên trong bài này tôi không nhắc nữa, vì khi Quí bạn đọc bài này, Quí bạn đã là người con hiếu thảo nên mới quan tâm về lễ Vu Lan. Tuy nhiên, vì Quí bạn không tham dự nên tôi mới kể bạn nghe những diễn tiến tại Tu viện Viên Đức trong dịp lễ giữa mùa dịch bịnh còn đang hoành hành này.
Kinh Pháp Hoa (saddharma puṇḍarīka sūtra) là một trong những bộ kinh thuộc truyền thống Đại thừa (mahāyāna), hay còn gọi là Phật giáo phát triển. Trong quan điểm của các nhà Phật học từ trước đến nay, tư tưởng và triết lý của Kinh Pháp Hoa có một vị trí đặc biệt quan trọng, nhất là khi đối diện với những vấn nạn của con người trong thời đại chúng ta.
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina). Nếu an cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền an cư (Purimikavassà), còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An Cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An Cư (Pacchimikāvassā). Truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi là ‘An cư kiết hạ’, tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Sau rằm tháng tư âm lịch Chư Tăng theo truyền thống Đại thừa bắt đầu kiết túc an cư, cho đến hết ngày mười bốn tháng bảy âm lịch, làm lễ tự tứgiải hạ kết thúc mùa an cư.
Hôm ấy là Mùa Vu Lan, các Chùa cứ thay phiên nhau làm lễ bông hồng cài áo. Tôi ngồi buồn thỉu, buồn thiu nhìn bông hoa hồng trắng cài trên áo. Nhớ ngày tôi mất mẹ mới thật thê thảm, vì chưa ngộ được lý vô thường nên tôi không chấp nhận được việc khi đi làm về vào phòng chào mẹ chẳng thấy bóng bà. Tôi vật vã, thương nhớ khôn nguôi.
Có phải bất công lắm không khi hằng năm vào dịp Vu Lan, trên thế gian này không biết bao nhiêu Văn nhân, Thi sĩ, Nhạc sĩ múa bút tán tụng tình Mẹ: Huyền thoại mẹ, Phật giáo tôn vinh giá trị những bà mẹ, lạm bàn về mẹ, tản mạn về mẹ..v.v..và..v.v... bên cạnh đó, dường như mọi người vô tình đã bỏ quên một thứ tình cũng nồng nàn không kém, đôi khi còn thắm thiết hơn, đó là tình cha. Vâng, tôi có một người cha như thế.
Chúng ta phải tập tánh nghe từ ngay trong chính mình. Tóm lại, xã hội chúng ta đang không biết lắng nghe. Chúng ta phóng tâm theo những chuyện bên ngoài nhiều quá, không lắng nghe quanh mình còn bao nhiêu tiếng thở than, bao nhiêu nỗi băn khoăn, bao nhiêu oan khuất, bao nhiêu trăn trở. Liệu có bao nhiêu người trong chúng ta về nhà hỏi han cha mẹ một lời, nghe các cụ tâm sự về nỗi đời riêng cần chia sẻ. Phần đông chúng ta sống thờ ơ, hững hờ.
Sau khi đắc quả A-la-hán, Tôn giả Mục-kiền-liên vận thần thông đi khắp các cõi tìm người mẹ đã khuất. Thấy mẹ đang chịu đói khát khổ sở trong kiếp ngạ quỷ, Ngài đau lòng vô cùng, vội dâng lên mẹ bát cơm. Lòng bỏn sẻn tham lam chưa dứt, bà sợ chúng ma cướp giật nên đưa tay che bát cơm. Nhưng cơm đã hóa thành lửa đỏ!
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.
Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật! Kính bạch Chư Tôn Đức Tăng Ni! Kính thưa quý vị Phật tử! Nhân mùa Vu-lan năm 2020, con xin đảnh lễ, kính chúc chư Tôn đức Tăng Ni thêm một tuổi đạo, thành công hơn nữa trong các Phật sự, nhằm mang lại lợi íchphúc lạc cho nhân sinh. Con kính chúc các bậc làm cha mẹ thêm một tuổi đời, làm nền tảng đạo đứchạnh phúc cho con cháu trong gia đình và họ tộc. Con kính chúc tất cả các anh chị, các cháu thanh thiếu niên, đề cao đạo lý hiếu kính cha mẹ ông bà, thể hiện tinh thần tự lập, xa lánh các thói hư tật xấu, các thói quen nghiện ngập, hưởng thụ ăn chơi, để sống một cuộc đời hữu ích, và làm cho cha mẹ được hạnh phúc hiện tiền. Nhờ đó, có một tương lai tươi sáng.
NEW POSTING
“Tinh thần Dân chủ Nhân dân đã trở thành một phần, không thể tách rời trong phạm vi cuộc sống của nhân loại trên hành tinh này. Điều đó có thể nói là đã ngấm vào tận xương tủy của con người. Nhìn từ sự phát triển của một quốc gia, hay một đất nước phát triển, trên nền tảng chính trị do đa số người dân sống ở một vùng, miền nào đó thực hiện”.
Tôi yêu Lễ tạ ơn. Hầu hết người Hoa Kỳ cũng vậy, xếp hạng đây là ngày lễ yêu thích thứ hai của họ trong năm sau ngày lễ Giáng sinh. Có rất nhiều điều để yêu thích về Lễ Tạ ơn. Có khái niệm về lòng biết ơn - điều mà chúng ta vĩnh viễn quên đi trong cuộc sống hàng ngày bận rộn của mình. Đó là sự ấm áp của gia đình - quây quần bên bàn ăn để nói cười với những người thân yêu của chúng ta. Và có một sức hấp dẫn thế tục - người Mỹ thuộc mọi tín ngưỡng ngày nay tổ chức Lễ Tạ ơn với sự nhiệt tình bình đẳng không phân biệt tôn giáo, sắc tộc. Nhưng có một thứ mà chúng ta, với tư cách là một xã hội anh em nên xem xét lại về Lễ Tạ ơn: con gà tây.
Trong tuần lễ mùa Tạ Ơn tại Hoa Kỳ, ý nghĩa ban đầu cũng đã nhạt dần. Và nhiều phần đã biến đổi. Lễ Tạ Ơn đầu tiên tại Hoa Kỳ thực hiện vào tháng 10/1621, tức là cách nay 396 năm. Lúc đó, bữa tiệc Lễ Tạ Ơn Đầu Tiên kéo dài 3 ngày, với 90 thổ dân da đỏ (chữ bây giờ, gọi lịch sự là Người Mỹ Bản Xứ, Native American) và 53 người Pilgrims (những người Châu Âu chạy sang Hoa Kỳ tỵ nạn, thuộc một hệ phái Ky tô bị truy bức)
Hàng năm có hơn 270 triệu con gà tây bị giết làm thức ăn, trong đó có 78 triệu con lên bàn ăn vào ngày lễ Tạ Ơn. Trước khi chúng bị giết làm thức ăn, những chú gà dễ thương này chỉ sống được một thời gian rất ngắn ngủi là nửa năm, không được cha mẹ săn sóc, che chở hay được chạy nhảy tung tăng trên những cánh đồng cỏ mà phải sống trong những chuồng hộp công nghiệp chật hẹp. Chúng bị cắt mỏ để không cho cắn lộn nhau vì bị căng thẳng thần kinh do sống trong một môi trường chật hẹp. Nhiều chú yếu sức thường bị chết vì ngộp thở.
Qua ý nghĩa sơ bộ của tính không, chúng ta sẽ đạt được một ý nghĩa rõ ràng hơn về si mê là gì; điều này sẽ đưa đến một kinh nghiệm khá hơn về tính không. Sự hiểu biết về tính không tốt hơn, đến lượt chính nó, sẽ làm nổi bật sự nhận diện ra si mê ám chướng của chúng ta, và điều gì đang bị phủ nhận.
Phật giáo đã và đang đóng góp hệ giá trị Châu Á trong dòng chảy phát triển và hội nhập quốc tế ngày nay qua việc lý giải thấu đáo về nguyên nhân của sự phát triển không bền vững trong đời sống kinh tế xã hội. Với giáo lý nhân duyên, duyên khởi đã khiến nhận thức của con người thay đổi vì mình vì người. Mặt khác, tự thân Phật giáo cũng có những yếu tố bền vữngđiều chỉnh hướng phát triển đáp ứng vai trò của mình đối với yêu cầu xã hội đặt ra.
Nhân chuyến về Việt Nam vào cuối năm 2016, chúng tôi có dịp ghé thăm thành phố Đà Nẵng và viếng Bảo tàng Văn hóa Phật giáo chùa Quán Thế Âm nằm trong quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng.
Văn hóatôn giáo thường được thảo luận theo sự đối xứng. Cả hai đều có sự tương tác phụ thuộc lẫn nhau. Hai thứ cũng đã trở thành một phần trong cuộc sống của con người. Mặc khác, văn hóatôn giáo có những đặc điểm dị biệt.
Hơn 150 năm sau khi chế độ nô lệ chấm dứt, nghiệp phân biệt chủng tộc bi thảm của nước Mỹ vẫn tiếp diễn đến ngày nay. Giáo viên Phật giáo Larry Ward nói rằng nếu chúng ta hiểu rõ nghiệp thực sự hoạt động như thế nào, chúng ta có thể ngăn chặn được nó.
Còn đau không | tiếng chim kêu buồn nơi nhánh sầu đông trước ngõ | phù sa cuộn đục trên sông dài bờ bến mông lung | rác rưởi lầy nhầy ung thối ngày tàn thu | bầy ruồi nhặng no bụng buồn tung cánh | gia tài dành dụm một sớm tan bay
happy thanksgivingTrong đời sống hằng ngày, cho để nhận là một chuyện rất bình thường trong mọi sự trao đổi lẫn nhau. Tôi trả tiền, tôi nhận món hàng. Vậy, cho để nhận là một quy luật tự nhiên hay còn là một nguyên tắc đạo đức? Đó là một hành động tự nguyện, bất vụ lợi, xuất phát từ lòng thương người?
Working is praying. Khi ta làm việc ta không cảm thấy “bị lao động,” mà trái lại, làm việc là góp tay với Tạo Hóa để cho thế giới – và chính ta - được chuyển mình và tiến hóa về cái Đẹp, cái Đúng. Trong công việc ta hiện thân ra tính thể - working is being - mà bản chất của ta sẽ quyết định cách thức làm việc và phẩm chất cho kết quả và thể tướng nơi sự vật tác thành.
Bài viết này nhằm nục đích xin trã lại sự thật cho Phật Ngôn và phãn biện lại bài viết Tứ Niệm Xứ - Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm của thiền sư Brahmavamso (2) hay gọi tắc là Ajahn Brahm, mà tiến sĩ Binh Anson đã lược dịch đăng trên các trang https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbthn026.htm https://www.coinguonhanhphuc.blogspot.com. http://www.khuongviettu.com/tu-niem-xu-bon-nen-tang-cua.../
HỎI: Tôi đã quy y Tam bảophát nguyện không bao giờ rời xa đạo Phật. Chỉ vì tôi yêu người đạo Công giáo và bạn ấy lỡ đã mang thai, nay gia đình người yêu bắt tôi phải cải đạo thì mới cho cưới. Tôi hoàn toàn không muốn theo nhưng người yêu hiến kế là tạm theo Công giáo cho đủ hình thức để cưới xin rồi cưới xong thì đạo ai nấy giữ, tôi vẫn là một Phật tử được không? (DƯƠNG VĂN, xin ẩn địa chỉ)
Tôi là người thực sự tin tưởng rằng cá nhân có thể làm thay đổi xã hội. Bởi vì những thời kỳ có những thay đổi lớn lao như thời kỳ hiện tại thường ít khi đến trong lịch sử nhân loại, vậy thì, mỗi người trong chúng ta phải cố gắng hết sức mình để xây dựng một thế giới hạnh phúc hơn.
Dr. Lewis Lancaster sẽ thuyết giảng trực tuyến miễn phí từ Viện Đại Học The University of the West với đề tài Detachment in Buddhist Thought Living in the Present Age (Sự Buông Xả trong Phật Giáo vào Thời Hiện Đại) vào Thứ Ba November 24, 2020 lúc 7:00 PM PST (Pacific Standard Time) tức 10 giờ sáng Việt Nam ngày 23 tháng 11 năm 2020. Với Zoom ID và Passcode quý độc giả có thể theo dõi buổi giảng cũng như đặt câu hỏi với giáo sư Lewis Lancaster. Đây là cơ hội hiếm có để quý sinh viên tăng ni tại các viện đại học Phật GiáoViệt Nam học hỏi Phật Pháp qua sinh ngữ Anh.
...Cho nên, hội nhập quốc tế đang diễn ra trên nhiều lãnh vực, Phật giáo Việt Nam cần có chuyên ngành đào tạo mới, đáp ứng nhu cầu hội nhập theo sự phát triển. Vì vậy, ngành này sẽ đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng, có kiến thức và kỹ năng căn bản cũng như chuyên sâu về nghiên cứu quan hệ đối ngoại Phật giáo
Tam pháp ấn được trình bày cả trong kinh điển thuộc văn hệ Pāli và A Hàm Hán tạng. Ba pháp này được Đức Phật dùng để chỉ ra bản chất của mọi sự vật hiện tượng, từ sắc pháp cho đến tâm pháp, đều luôn thay đổi không ngừng và không có một thực thể nào tồn tại độc lập, riêng biệt.
Môn đồ pháp quyến trang nghiêm thắp hoa đăng tưởng niệm và tri ân Bổn sư nhân Lễ Tiểu Tường của Cố Trưởng lão Hòa thượng thượng Trừng hạ Huệ, tự Như Ý, Tam Tự Viện Chủ vào các ngày mồng 4 và 5 tháng 10 năm Canh Tý (18 & 19/11/2020) tại Tổ Đình Linh Sơn Pháp Bảo (xã Vinh Ngọc- Tp. Nha Trang)
Có bốn điều kiện tạo ra giấc chiêm bao: (1) Do cơ thể bị xáo trộn, (2) Sự thấy lại một ấn tượng nào đó ban ngày, (3) Do sự tác động của hàng khuất mặt, (4) Điềm báo.
Nay, với việc ấn hành cuốn “NI GIỚI VIỆT NAM HOẰNG PHÁP TẠI HOA KỲ” của soạn giả - Tiến sỹ Ni sư Thích Nữ Giới Hương, chúng tôi thấy rằng đây là cuốn sách đầu tiên phản ánh khá đầy đủ sinh động trên nhiều bình diện và chiều kích khác nhau của công cuộc xiển dương chánh pháp nói chung và Hoằng Pháp nói riêng của Ni Giới Việt Nam tại Hoa Kỳ từ trước, sau năm 1975 cho đến nay.
1. Đừng mưu cầu gì 2. Không có kỷ luật nào 3. Đừng mong sở đắc 4. Đừng nỗ lực 5. Đừng theo thói quen 6. Đừng niệm gì cả 7. Đừng trước ý 8. Không có ai ngồi thiền cà 9. Quên kinh điển chữ nghĩa 10. Trả lại tự nhiên 11. Không làm gì cả 12. Thư giãn, buông xả
New Posting: Bài 23 - Tình thương người Lòng vị tha đi ngược lại với bản chất con người, vì thế phải luyện tập, và sự luyện tập đó đôi khi cũng khá gay go. Dầu sao đi nữa, vấn đề đặt ra là chúng ta có thể phát động lòng vị tha đó đến mức độ nào? Mỗi khi làm được một điều gì cho kẻ khác, thì có phải là hành động đó của mình tự nó cũng đã pha lẫn một chút vụ lợi kín đáo hay chăng?
Thông thường mọi người không đánh giá cao việc được (hay bị) cách ly trong 21 ngày. Nhưng thời gian tôi bị cách ly khi tôi từ nước ngoài trở về nhà (Bhutan) vào ngày 21 tháng 4 năm 2020 là thời điểm tốt để suy ngẫm.
Đức Phật không phải là một vị Thượng đế, vậy thì tại sao giáo huấn của Ngài là một tôn giáo và tại sao Phật tử tôn thờ Ngài như Thượng đế?’ Câu hỏi vốn được hỏi từ những nhà học giả và những sinh viên mới trong những nghiên cứu Phật giáo?
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ?
Thiền quán để chúng ta thấy rõ sự sai biệt trong cuộc đời đều do con người tạo lấy, giàu nghèo, tốt xấu, nên hư, phải quấy, thành bại, được mất, hơn thua, thông minh, dốt nát, sống thọ, chết yểu đều có nguyên nhân sâu xa của nó. Người Phật tử chân chính ngoài việc học hỏi còn phải dùng thiền quán để soi sáng muôn loài vật.
Trong 02 ngày liên tiếp, mổng 4 và 5 tháng 10 năm Canh Tý (nhằm 18 và 19/11/2020), môn đồ pháp quyến Tổ Đình Linh Sơn Pháp Bảo (xã Vĩnh Ngọc – TP. Nha Trang) đã trang nghiêm tổ chức Lễ Tiểu Tường Cố Hòa thượng Viện Chủ với lòng thành kính tri ân và nỗi niềm thương nhớ bậc ân sư thầy tổ đã khuất bóng tròn một năm.
Những người ăn ớt có thể ít bị tử vong hơn do bệnh tim hoặc ung thư và có thể sống lâu hơn những người không ăn, theo một nghiên cứu mới sẽ được trình bày tại Phiên họp Khoa học của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2020 vào thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Người ta luôn luôn đặt ra câu hỏi này, Đức Phật đã đi về đâu hay hiện Ngài đang sống ở đâu. Đây là một câu hỏi rất khó trả lời đối với những ai chưa từng tu tập một đời sống tâm linh. Lý do là vì họ thường nghĩ về cuộc đời theo cách trần tục, một điều rất khó để cho họ có thể hiểu được khái niệm về một vị Phật. Có một số nhà truyền giáo (Cơ đốc) đến gặp các Phật tử và nói rằng Đức Phật không phải là một vị thượng đế, Ngài là một con người. Ngài đã chết và lìa bỏ thế gian này rồi. Thờ cúng một người đã chết như vậy phỏng có được lợi ích gì? Tuy nhiên,....
Bài giảng của Tiến Sĩ Lancaster tại trường Đại Học University of the West, California vào tháng 10/2020. Tiến sĩ Lancaster, nghiên cứu Phật Giáo 60 năm, và dạy Phật Học 36 năm tại trường Đại Học nổi tiếng University of California, Berkeley. Ông là Gíao sư Thỉnh Giảng hầu hết các trường Đại Học Đông Nam Á trong đó có Viện Đại Học Vạn Hạnh trước 1975 và Học Viện Phật Giáo Việt Nam ngày nay.
Mục đích của Thiền là “thấy tánh”, và sống, tương ưng với tánh ấy cho đến mức trọn vẹn. Thấy tánh là thấy Phật tánh vậy.
Tối nay tôi sẽ nói về một điều rất đơn giảnthiết thực, nhưng lại là điều mà hầu hết chúng ta ít chú ý đến. Tôi muốn nói về sự bí mật của hơi thở, về sự thật ẩn chứa bên trong nó. Mặc dù chúng ta đã thở cả đời, nhưng rất ít người trong chúng ta quan tâm nhiều đến hơi thở, để khám phá ra sự thật mà nó có thể tiết lộ.
Với lượng thông tin khổng lồ trong thời đại Internet hiện nay, nguồn gốc và mức độ tin cậy của chúng đang là một vấn đề đáng lo ngại. Lợi dụng khả năng lan truyền nhanh chóng của các trang mạng xã hội như Facebook và Twitter, những người đứng sau các tin tức sai lệch, giả mạo đang đưa chúng tiếp cận đông đảo người dùng hơn chỉ trong tích tắc nhằm trục lợi. Nếu không được trang bị kiến thức đầy đủ, người dùng Internet sẽ rất dễ sa vào những cái bẫy thông tin đó.
Luận về những gì thuộc huyết khí thì phải có tính biết, phàm có tính biết chắc chắn đồng thể. Thế nên ‘chơn tịnh minh diệu, hư triệt linh thông’ sáng suốt hằng còn. Đó là nguồn gốc của chúng sanh, nên gọi là tâm địa. Là chỗ chứng đắc của chư Phật, nên gọi là bồ đề. Giao lưu suốt khắp, dung thông nhiếp hóa, nên gọi là pháp giới. Vắng lặng, thanh tỉnh chơn thường , chơn lạc gọi là niết bàn. Chẳng rơ chẳng rĩ, gọi là trong sạch. Không hư vọng, không biến đổi gọi là chơn như.
Đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng ba ngày về “Luận giải về Bồ Đề Tâm” của Đức Long Thọ - thể theo sự thỉnh cầu của chư Phật tử ở Nga - qua liên kết truyền hình từ Dinh thự của Ngài ở Dharamsala, HP, Ấn Độ vào ngày 5 - 7 tháng 11, 2020. Ngài cũng tham gia trả lời các câu hỏi của nhóm trong 30 phút cuối chương trình mỗi ngày. Các phần tiếp theo sẽ được thêm vào khi đã có sẵn.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới, hãy hành động khẩn cấp với các biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu, cảnh báo về các loài và hệ sinh thái đang biến mất nhanh chóng khỏi Trái Đất, với hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng tỷ người và hủy hoại hành tinh, bao gồm cả quốc gia Phật giáo Kim Cương thừa Tây Tạng, nơi chôn nhau cắt rốn của Ngài.
Cháy là một trong những tai nạn khó tránh. Cháy rừng, cháy nhà chùa, cháy nhà dân, hay bất cứ cái gì cũng có thể cháy nếu bà Hỏa có điều kiện đến viếng.
Một người đi vượt biên từ Huế đi về hướng Hong kong, trên thuyền đánh cá nhỏ của gia đình gồm 5 người, đi được 5 ngày mà lạc đường hết xăng dầu trôi bềnh bồng trên biển.
Tại sao? Tại sao có sanh già, bệnh chết? Tại sao nhân loại phải khổ đau? Tại sao đế vương quyền uy cũng không tránh khỏi lìa xa vương vị? cha ta, vua một thị tộc tại Ca Tỳ La Vệ rồi cũng vậy sao? Tại sao giai cấp Sát đế Lị quyền uy hơn Thủ Đa la? Tại sao?....
Qua tác phẩm The Clash of Civilization and the Remaking of World Order, Samuel P. Huntington đã nêu lên một luận đề quan trọng về tương lai của chính trị thế giới: thời kỳ xung đột của Chiến tranh Lạnh đã kết thúc, tranh chấp không còn do sự dị biệt trong mối quan hệ Đông Tây và ý thức hệ của các siêu cường. Hiện nay, định đoạt các đường hướng chính trị ngày càng mờ rộng trong nhiều lĩnh vực văn hoá, tôn giáo, sắc tộc và văn minh. Trong bối cảnh va chạm mới này, một cuộc thế chiến sẽ có thể xảy ra.
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch Covid-19 và tiếp theo là cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, anh chị em trong nhóm đã đánh giá kết quả tu tập sau một thời gian dài và hầu hết đều cho biết kết quả rất tốt, phải nói là vô cùng tốt là giữ được tâm luôn an tĩnh, không giao động hoặc rất ít giao động
Sự phân biệt Vipassana (thiền Tuệ) với các loại thiền khác là vô cùng quan trọng và cần phải được hiểu đầy đủ. Phật giáo nêu ra hai loại thiền chủ yếu. Cả hai đều là những kỹ năng tâm lý, những thể cách vận hành hoặc những tính chất của tâm thức. Đưa thiền đến với trí thức và giới trẻ
Từ một thảo am tịnh tu của những năm xa xưa, sau rất nhiều lần được tôn tạo tái thiết đã dần dần trở thành một ngôi chùa với hình vóc khiêm tốn, giản dị nhưng cũng viên toàn vẻ trang nghiêm ấm cúng để đón nhận đại chúng về nương tựa với tinh thần thiểu dục tri túc. Mùa mưa bão năm nay kéo dài, qua nhiều cơn bão đổ bộ vào Miền Trung với sức càn quét hung hãn đã gây thiệt hại rất nhiều cho nhân quần xã hội, và ngôi chùa Diên Khánh trên ốc đảo vắng vẻ xa xôi này cũng không thoát khỏi được sự tàn phá ghê gớm ấy.
Vào giữa thế kỷ thứ mười bảy, Đức Đệ Ngũ Đạt Lai Lạt Ma đã nhấn mạnh tầm quan trọng như thế nào để việc phân tích không trở thành một bài học thuộc lòng như vẹt mà phải là sống động. Khi chúng ta tìm kiếm cho một “cái tôi” tồn tại cụ thể như vậy mà không thể tìm kiếm được nó hoặc là cùng giống hay khác biệt với tâm thứcthân thể, điều thiết yếu là phải tìm kiếm cùng khắp; bằng khác đi chúng ta sẽ không cảm thấy tác động của việc không tìm thấy nó. Đức Đệ Ngũ Đạt Lai Lạt Ma đã viết:
Nhân loại đã biết cách bay lên mặt trăng, tuy nhiên nhiều nơi trên địa cầu vẫn còn bị ràng buộc với những thói quen xưa cổ, trong đó một thành kiến khó rời bỏ là xem nhẹ phụ nữ. Hầu hết các tôn giáo cũng xem nhẹ phụ nữ. Riêng trong Phật Giáo, phụ nữ từ xưa vẫn có một vị trí đáng kínhbình đẳng trên đường học đạo, để tận cùng là thành tựu Niết Bàn.
Trong bài kinhpháp môn nào,1 Phật hỏi chư Tỷ-kheo: - Có pháp môn nào, do pháp môn ấy, Tỷ-kheo ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài lắng nghe, ngoài suy tư về pháp, ngoài kham nhẫn, thích thú biện luận, có thể xác chứng chánh trí, vị ấy biết rõ “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa?”.
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng cao thượng nhất mà tất cả chúng tathể đạt được.
Những người dân Tây Tạng thân mến của tôi, ở cả trong lẫn ngoài đất nước Tây Tạng, cùng tất cả những ai đang tu tập theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng và những ai đang có những nối kết với Tây Tạng và người Tây Tạng:
Cũng như các tôn giáo Ấn Độ khác, đạo Phật cũng khẳng định về tái sinh. Dòng tâm thức của một cá nhân, với các bản năng, tài năngvân vân của nó, đi từ những kiếp trước, và tiếp tục trong những kiếp tương lai.
Nguyên bản Hán dịch Tạp A-hàm hiện tại, ấn hành trong Đại tạng kinh Đại chính tân tu (ĐTK/ĐCTT), gồm 50 quyển, 1362 kinh, do Tam tạng Cầu-na-bạt-đà-la (Guṇabhadra, người Trung Ấn Độ) dịch vào đời Lưu Tống (435 Tây lịch). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nguyên bản tiếng Phạn được sử dụng để dịch sang chữ Hán của Tạp A-hàm là do Hóa Địa Bộ truyền, có chung một bản gốc nguyên thủy với truyền bản Pāli. Phạn bản đầy đủ hiện nay không còn. Gần đây, tại vùng Tân Cương, Trung Quốc, người ta phát hiện vài tàn bản tiếng Phạn của kinh này mà thôi.
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu đã được rút gọn, chỉ giữ lại ý chính, sẽ không có chú thích về nguồn gốc.
Theo Xuất Tam Tạng Ký Tập thì Kinh Tạp A-Hàm (雜阿含經) do ngài Cầu-na-bạt-đà-la (求那跋陀羅; S. Guṇabhadra) dịch từ Phạn sang Hán tại chùa Kỳ Hoàn (祇洹寺) vào niên hiệu Nguyên Gia năm thứ mười hai (năm 435 TL), đời vua Tống Văn Đế (407-453). Tác phẩm Cao Tăng Truyện và Phật Tổ Thống Kỷ cũng xác nhận sự tương đồng về sự kiện và niên đại.
Chào mừng bạn đến với Tạp chí Nghiên cứu Phật học, một trong những nghiên cứu học thuật về Phật giáo, một văn hóa của công báo Phật giáo do các biên tập viên của Tạp chí Nghiên cứu Phật giáo mang đến cho bạn.
Chúng ta thấy bài Cư trần Lạc đạo của Trúc Lâm Đại Sĩ rất có giá trị thực tiễn, không phải là lý thuyết. Cố nhiên bài này nói lên được cái thái độphương pháp tu học của Trúc Lâm Đại Sĩ, một ông vua đã xuất gia, đã thành đạo và đã sáng lập ra được một tông phái thiền rất có tính cách thiền học. Đó là thiền phái Trúc Lâm.
Từ thời thơ ấu, chúng ta đã biết thiện ác, tốt xấu là gì. Ăn cơm vung vãi đầy bàn là xấu, dơ dáy không tắm rửa là xấu, viết chữ cẩu thả là xấu, ăn nói thô tục chửi thề là xấu…Và ngược lại là tốt.
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày, câu hỏi này vẫn thường quanh quẩn bên ta cùng nỗi phiền muộn. Cuộc sống này quá đỗi ngắn ngủi, và những hành động tử tế thì lại không hề nhận được báo đáp. Cũng như có người chết yểu, có người sống lâu hay thành công hoặc thất bại. Vì sao lại thế? Vì sao có sự bất bình đẳng sai khác giữa chúng sinh?
Điều gì cũng có hai mặt tốt - xấu. Nếu chỉ có mùa xuân mát mẻ mà không có mùa hạ oi ả thì đâu có được ánh nắng rực rỡ để người nông dân phơi lúa, phơi rơm. Nếu chỉ có mùa thu ấm áp mà không có mùa đông lạnh giá thì chúng ta sẽ không bao giờ thấy được cái đẹp của tuyết rơi, và các loài cây ưa lạnh cũng không thể tồn tại. Nếu ngày nào chúng ta cũng ăn ngọt thì sẽ rất ngán, phải ăn đầy đủ vị chua, cay, mặn, đắng,… mới thấy ngon. Cũng vậy, nếu chỉ có thuận mà không có nghịch thì con người khó có thể trưởng thành. Vì thế trong kinh Tiểu Bộ VII[1], đức Phật có nói đến tám pháp của thế gian gồm: được - mất, vinh - nhục, khen - chê, lạc - khổ. Hôm nay tôi sẽ phân tích cho quý vị rõ hơn về vấn đề này.
Hơn 150 năm sau khi chế độ nô lệ chấm dứt, nghiệp phân biệt chủng tộc bi thảm của nước Mỹ vẫn tiếp diễn đến ngày nay. Giáo viên Phật giáo Larry Ward nói rằng nếu chúng ta hiểu rõ nghiệp thực sự hoạt động như thế nào, chúng ta có thể ngăn chặn được nó.
Những người ăn ớt có thể ít bị tử vong hơn do bệnh tim hoặc ung thư và có thể sống lâu hơn những người không ăn, theo một nghiên cứu mới sẽ được trình bày tại Phiên họp Khoa học của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2020 vào thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Với lượng thông tin khổng lồ trong thời đại Internet hiện nay, nguồn gốc và mức độ tin cậy của chúng đang là một vấn đề đáng lo ngại. Lợi dụng khả năng lan truyền nhanh chóng của các trang mạng xã hội như Facebook và Twitter, những người đứng sau các tin tức sai lệch, giả mạo đang đưa chúng tiếp cận đông đảo người dùng hơn chỉ trong tích tắc nhằm trục lợi. Nếu không được trang bị kiến thức đầy đủ, người dùng Internet sẽ rất dễ sa vào những cái bẫy thông tin đó.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới, hãy hành động khẩn cấp với các biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu, cảnh báo về các loài và hệ sinh thái đang biến mất nhanh chóng khỏi Trái Đất, với hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng tỷ người và hủy hoại hành tinh, bao gồm cả quốc gia Phật giáo Kim Cương thừa Tây Tạng, nơi chôn nhau cắt rốn của Ngài.
Dr. Lewis Lancaster sẽ thuyết giảng trực tuyến miễn phí từ Viện Đại Học The University of the West với đề tài Detachment in Buddhist Thought Living in the Present Age (Sự Buông Xả trong Phật Giáo vào Thời Hiện Đại) vào Thứ Ba November 24, 2020 lúc 7:00 PM PST (Pacific Standard Time) tức 10 giờ sáng Việt Nam ngày 23 tháng 11 năm 2020. Với Zoom ID và Passcode quý độc giả có thể theo dõi buổi giảng cũng như đặt câu hỏi với giáo sư Lewis Lancaster. Đây là cơ hội hiếm có để quý sinh viên tăng ni tại các viện đại học Phật GiáoViệt Nam học hỏi Phật Pháp qua sinh ngữ Anh.
Bước Chân An Lạc (Walk With Me) là bộ phim tài liệu về thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai, do hai đạo diễn Max Pugh và Marc J. Francis thực hiện, được công chiếu tại Việt Nam vào đầu tháng 3 năm 2018. Bộ phim bao gồm những cảnh quay yên bình về đời sống tu hành của tăng thân Làng Mai, xen lẫn là lời dẫn chuyện được trích trong quyển sách “Nẻo Về Của Ý” (bản dịch tiếng Anh: Fragrant Palm Leaves) của thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Tu viện Mộc Lan nằm ở vùng Red Hill thuộc thành phố Batesville Mississippi. Vào trung tuần tháng 3 năm 2010, tôi được Thầy dạy về đó để xây dựng chúng xuất sĩ thường trú. .../...Thầy tôi thường dạy rằng, một truyền thống tâm linh muốn được tồn tại và giữ được bản sắc riêng của nó, thì phải hội nhập và học hỏi văn hóa bản địa. Đó cũng là một nhân duyên khiến thiền đường Hải Triều Lên không thiết trí tượng Bụt như những ngôi chùa, tu viện theo truyền thống Á đông. Có những vị Phật tử Á đông trong thời gian đầu đã nhận xét: “Sao giống Chúa quá”, hoặc hỏi: “Sao thiền đường không có tượng Bụt. Bụt đâu để con lạy?”. Tôi từ tốn chia sẻ cho các vị ấy hiểu. May mắn thay, các vị mở lòng lắng nghe, đón nhận và cảm thấy thoải mái hơn. Tâm các vị an bình, nhẹ nhàng có được giây phút lắng yên khi được ngồi, được thở, được bước đi những bước chân đã về đã tới nơi mảnh đất Mộc Lan.
Giữa rừng người từ khi chu du nhiều nơi đây đó rồi về San Diego tạo dựng Dharma Mountain ẩn dật vui thú vui nơi thôn dã cũng đà sắp xỉ ngót mười năm. Người người say mê tạo dựng, nhưng tôi về ẩn tại chốn Non cao, ngày ngày làm vườn nấu nước pha Trà, khép mình trong cái tĩnh. Ban ngày ra vườn, ban tối đọc sách viết vài đoạn, rồi buông thư ngồi tĩnh tọa hít thở, rảnh rỗi thì hái rau vui với Suối Rừng Hoa lá,