Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
(Xem: 1094)
Với tuệ giác của bậc giác ngộ, Đức Phật đã quán sát thế gian, hình ảnh những hoa sen đang vươn mình lên trong bùn nhơ nước đục, gợi cho Ngài những ấn tượng sâu sắc về những khả năng tiềm ẩn trong mỗi chúng sanh.
(Xem: 2167)
Cho tới nay có ít nhất mười nhà dịch giả (thuật) bộ Qui Sơn Cảnh Sách sang Việt ngữ như trong sách Phật Tổ Tam Kinh (1950; của Vô Danh Thị), Hòa Thượng Thích Hành Trụ (1972), Tuệ Nhuận (1973); Chư Thượng Tọa, Đại Đức dạy chúng, tại các trường Phật học Báo Quốc, Linh Ứng (Non Nước), Nguyên Thiều (Bình Định), Ấn Quang (Sàigon), Lưỡng Xuyên (Trà Vinh), Phật Ân (Mỹ Tho), Huệ Nghiêm (Gia Định) v.v... đều giảng dạy tăng sinh bộ sách quý này. Tại sao chúng tôi vẫn tiếp tục dịch luận bản văn trên sang tiếng Việt làm gì?
(Xem: 1986)
Thanh tịnh đạo đã nói lên ý nghĩa căn bản con đường phạm hạnh, kim chỉ nam cho những ai tầm cầu đạo lộ chí thượng độc nhất thanh tịnh, vì ngoài nó ra không còn con đường nào khác hướng đến tuần tự tiến hóa. Và tầm quan trọng của nó được thể hiện phổ biến rộng rãi qua các xứ Quốc giáo khi nó là nền tảng cho các hành giả phát triển thiền quán.
(Xem: 1398)
Chúng tôi vẫn hay nói, có những vị đến giới đàn là để “thọ giấy” hơn là “thọ giới”. Điều này có thể cho là ý kiến chủ quan, nhưng thực tế ngày nay chúng tôi và các vị tôn túc đều cảm thấy như vậy.
(Xem: 2612)
Nói đến giới luật là nói đến hệ thống các quy định về chuẩn mực trong đời sống phạm hạnh, quy tắc ứng xử, cũng như các hoạt động mang tính nội bộ, đặc thù của Tăng sĩ Phật giáo nói riêng và Tăng đoàn nói chung. Giới luật ấy chia làm hai phần, gồm giới và luật. Hai phần này có quan hệ khắng khít, mật thiết với nhau trong quá trình hành và trì giới luật của các vị thọ Đại giới: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni.
(Xem: 2417)
Bài Văn Cảnh Sách này là do Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu (năm 771-853) soạn viết để cảnh giác và sách tấn đồ chúng dưới tòa của ngài, vì vậy nên gọi là bài văn Cảnh Sách. Bởi vì ngài khai sơn và ở núi Quy giáo hóa đồ chúng nên gọi là Quy Sơn. Ngài là bậc triệt ngộ xuất chúng dưới tòa của Tổ Bá Trượng, là đời thứ tư của dòng Tào Khê, là người sáng lập ra tông Quy Ngưỡng cùng với đệ tử là Thiền Sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch.
(Xem: 1953)
So sánh Giới Luật Tỳ Khưu giữa các Trường phái chính Phật Giáo - A Comparative Study of The Bhikhhu Patimokkha of The Principal Buddhist Schools Ph.D. Thesis, Magadh University, Bodh-Gaya - India 2002
(Xem: 113987)
Đối với Phật giáo, các nguồn gốc của mọi hành vi tác hại, thí dụ như ham muốn, thù hận và cảm nhận sai lầm được coi như là cội rể cho mọi sự xung đột của con người.[i] Khi đã nghĩ như vậy, người ta luôn cho rằng „tôi có quyền và muốn có quyền“, để mà ngược đải người khác
Kinh
(Xem: 752)
Bài kinh này cũng khá nổi tiếng liên quan đến việc giúp đỡ những ai bị bệnh. Ở Myanmar, bài kinh này rất thường được tụng đọc cho việc điều trị các bệnh tật.
(Xem: 899)
Thuộc Tăng Chi Bộ (Anguttaranikàya) của Kinh tạng Pàli, đây là một bài kinhđược tụng đọc thường nhật ở các xứ Phật giáo Nam Truyền, vừa như một thoại đầu cho hành giả mà cũng vừa là bài kinh hộ niệm cho người bệnh.
(Xem: 1328)
"Thưa Thế Tôn, nguyên nhân nào đưa đến sự già nua và cái chết?" "Sự sinh, này các tỳ-kheo, là nguyên nhân tạo điều kiện cần thiết đưa đến sự già nua và cái chết"
(Xem: 41266)
Trở lại câu hỏi, có MỘT quyển kinh nào, của Phật giáo, tương ưng đối tác với quyển Kinh Thánh của 3 tôn giáo lớn Tây phương hay không, câu trả lời là CÓ, một cách quyết xác và không do dự,
(Xem: 1141)
Tất cả chúng ta, từ khi vừa mở mắt chào đời, ai nấy cũng đều có những mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình. Tuy nhiên, hạnh phúc mà con người đang tìm kiếm thật ra chỉ là mộng tưởng, bào ảnh, không chân thật. Hạnh phúc đó chỉ thoáng qua trong giây phút ngắn ngủi rồi lại đưa chúng ta bước vào vũng lầy của vô minh, khổ lụy.
(Xem: 926)
Việt Dịch từ Pāli: HT. Thích Minh Châu. English Translation from Pāli: Bhikkhu Ñāṇamoli & Bhikkhu Bodhi. Khái quát Nội dung Kinh Trung Bộ (Tác giả: TT. Thích Nhật Từ). A Summary of the Middle Discourses of the Buddha (Author: Bhikkhu Bodhi). Thực hiện sách Song Ngữ Anh-Việt đối chiếu: Thế Giới Phật Giáo .org (quốc tế).
(Xem: 1000)
Việt Dịch từ Pāli: HT. Thích Minh Châu. English Translation from Pāli: Maurice Walshe. Khái quát Nội dung Kinh Trường Bộ (Tác giả: TT. Thích Nhật Từ). A Summary of the Long Discourses of the Buddha (Author: Maurice Walshe).
(Xem: 33413)
Người ta thường nói môn Abhidhamma rất khó học, và lại không thực tế. Rất khó học vì nó phân tích rất chi li, vi tế những vận hành, diễn tiến của tâm. Không thực tế vì nó bàn đến những vấn đề ở ngoài sự hiểu biết bình thường của con người; ở ngoài chuyện áo cơm, tiền bạc, thế sự và thế tình...
(Xem: 2895)
Tổng hợp bài giảng của thầy Tuệ Sỹ về Nhập Trung Luận.
(Xem: 6749)
Ngài Thế Thân (Vasubandhu) tạo Luận Câu-xá vào khoảng năm 900 sau khi Phật nhập diệt, tức khoảng thế kỷ thứ tư hay thứ năm Tây lịch, làm căn bản cho tác phẩm nổi danh khác cũng do Ngài viết hơn 30 năm sau là Duy Thức Tam Thập Tụng. Luận Câu-xá gồm 600 bài tụng và trường hàng, chia làm 8 hoặc 9 phẩm, gồm 29 hoặc 30 quyển theo sự sắp xếp của các luận gia về sau.
(Xem: 3183)
Ám ảnh bức bách duy nhất của mọi sinh vật chính là sự chết. Các sợ hãi khác chỉ là biến thái của sợ chết. Thế giới bị chinh phục, bị khống chế, bị điều động bởi sự chết. Kinh Phật nhân cách hóa nó thành một loại Ma. Theo từ nguyên, trong tiếng Phạn, mara là danh từ phái sinh từ động từ √mṛ: mriyate, nó chết. Mọi hoạt động của chúng sinh, mọi thứ được kể là văn minh tiến bộ, thảy đều là những biện pháp mà các loài lựa chọn để bảo đảm sự sinh tồn của bản thân và đồng loại. Thế nhưng, do nhận thức sai lầm, điên đảo, kết quả của những lựa chọn đại phần, nếu không muốn nói tất cả, thảy đều tai hại. Đức Phật thành Chánh giác, được mô tả là sau khi chiến thắng quân đội Ma và những quyến rũ của Ma. Các vị luận giải A-tì-đạt-ma cho rằng sợ hãi là một biểu hiện của phiền não. Đây là khía cạnh tiêu cực của sợ hãi. Mặt tích cực được biểu hiện nơi các yếu tố tâm sở thiện.
(Xem: 16919)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 10826)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 8113)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 7086)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
CHUYÊN ĐỀ
Viện Việt Học tại trụ sở Westminster, California, hôm 3/9/2022 đã có buổi Hội thảo giới thiệu công trình chú giải sách Nôm nhan đề Quan Âm Tế Độ -- do GS Nguyễn Văn Sâm phiên âm và chú giải dựa vào bản khắc hơn một thế kỉ trước. Bản gốc là Quan Âm Diệu Thiện (Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Kinh), theo bản khắc năm Mậu Thân 1908 năm thứ 34 niên hiệu Quang Tự (nhà Thanh). Do Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Hiền Tâm phiên âm từ chữ Nôm ra quốc ngữ.
Đức Quan Âm Nam Hải cư trú ở biển Nam Hải. Ngài thường thường có mặt ở miền duyên hải Việt Nam. Ngài xuất thân là một cô công chúa, tên là Diệu Thiện, nên cũng được gọi là Quam Âm Diệu Thiện. Công chúa không phải là người Việt Nam mà là người nước Hưng Lâm phía Đông Thiên Trúc.
Quan Âm Diệu Thiện” là truyện thơ Nôm khuyết danh do Nguyễn Văn Kinh phiên âm, được nhà in Nguyễn Văn Viết xuất bản ở Sài Gòn vào năm 1925. Đến nay, đây vẫn được xem là tác phẩm truyện thơ phiên âm sớm nhất về Quan Âm Diệu Thiện và ít người biết đến.
Bỗn kinh nầy, cồ tích của đức Quan-âm Diệu-Thiện, giáng trần cửu thế độ nhơn, mà tu luyện hồi thiên, xin chư quân tữ xem mà nghiệm xét, suy nghĩ, cho tột lý, phải thông trong tam giáo, mà hiểu rõ cho đặng cái cốt chĩ của Phật thánh tiên, thì mới rõ bổn kinh nay chơn giả, mà luận việc, thiên đàng địa ngục luân hồi quã báo, chớ việc đó cũng không hình không ảnh chi, mà có bóng dáng xin chư vị nghiệm xét hễ đông đứng trong tam tài, thì phải biết phân biệt chổ chơn dã đó, việc họa phước thiên đàng địa ngục, thiện ác, siêu đọa, khổ lạt, bần phú, chẵng đồng, vì cũng bởi cái tâm tánh.
Tác phẩm nhan đề Quan Âm Tế Độ, nơi bìa có ghi thêm đề phụ là: Chuyện tu hành khó khăn của Đức PhậtQuan Âm, gia tài văn học Phật Giáo Chữ Nôm. Do Nguyễn Văn Sâm phiên âm dịch chú giải, và Nguyễn Hiền Tâm đính chánh. Bìa trong ghi là: Truyện Nôm Quan Âm Diệu Thiện, từ nguyên tác Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca. Nhìn sơ khởi, thấy trước tiên, đây là một tác phẩm mang văn phong Nam Bộ. Khi người viết mở bất kỳ, thí dụ, ra nơi trang 175, thấy dòng thứ 3479 viết “Tay chưn buộc trói thiết tha” là thấy ngay giọng người miền Tây. Thứ nhì, đây là thơ lục bát, trong văn phong ưa thích ngâm nga của dân miền Tây, cho thấy cách hoằng pháp của cổ đức khi phiêu dạt từ miền Bắc hay Trung về khai phá miền Nam, đã viết lên truyện thơ chữ nôm này để hoằng pháp.
Cuộc đời của mỗi con người ngay từ khi hoài thai cho đến lúc phải đớn đau cài lên ngực bông hồng màu trắng tang thương, có lẽ, đều được ghi dấu bằng những lần đếm ngược của mẹ.
Cho con gánh mẹ một lần, Cả đời mẹ đã tảo tần gánh con. Cho con gánh mẹ đầu non, Cả lòng mẹ đã gánh con biển trời...
Theo Vietnamnet, có một cặp vợ chồng 2 con. Thu nhập khoảng 30 triệu đồng/tháng. Khi bà mẹ chồng dưới quê lên Sài Gòn chữa bệnh, anh chồng sợ nếu về quê, không ai lo cho bà nên đề nghị bà ở lại với vợ chồng anh. Cô vợ yêu cầu mẹ chồng đóng góp phí sinh hoạt 3 triệu đồng/tháng, vì cô tuyên bố việc bà đóng góp là “hợp lý”. Anh chồng không đồng ý, vì bà là người đã bán đất mua nhà cho vợ chồng anh, chưa kể công lao nuôi anh từ bé. Họ bất đồng và anh chồng lỡ tát vợ một cái nên gửi báo nhờ tư vấn cách xử lý tiếp theo tránh tan cửa nát nhà (!).
Cơ duyên đưa đẩy, tôi được gặp rồi quen thân với Bs Đỗ Hồng Ngọc hơn chục năm nay. Khi Phật học Từ Quang tục bản (số 1, 2012), đến nay tròn 10 năm, số nào cũng có bài viết của anh. Tôi mời anh và anh cũng hoan hỉ tham gia Ban Phật Học (Cố vấn), phụ trách Nhóm Học Phật và là người đồng hình thành lớp “Phật học và Đời sống”, đến nay vẫn hoạt động tốt.
Hôm nay, sao lòng con bồn chốn đến lạ khi nhìn những tấm lịch rơi. Ồ, mồng…tháng 7 âm lịch, mùa Vu Lan đã cận kề. Dẫu biết rằng – Tình mẫu tử, một chủ đề quá quen thuộc, không chỉ là mạch nguồn cảm hứng bất tận trong dòng chảy thi ca nhân loại, mà còn là một nguồn rung động sâu thẳm trong trái tim của bất kỳ ai khi nhắc đến Mẹ, con xin mạo muội đôi dòng gửi Mẹ bên kia thế giới - một tình yêu vô điều kiện, một tình yêu duy nhất Mẹ dành cho con.
Cứ mỗi độ Vu Lan về, những người con Phật lại nao nao lòng. Người người sắm sửa hương hoa, nhà nhà trang hoàng bàn thờ Phật, bàn thờ gia tiên, ông bà, cha mẹ. Các chùa cũng rộn ràng chăng cờ hoa, sắm sanh phẩm vật để cúng dường. Vu Lan là một ngày lễ lớn, một sự kiện quan trọng trong Phật giáo bắc truyền.
Mỗi đất nước đều mang một sắc thái văn hóa, phong tục tập quán riêng biệt, nhưng tất cả mọi người sinh ra trên thế gian này lại có cùng điểm giống nhau đó là tinh thần Hiếu đạo. Chữ Hiếu từ xưa cho đến nay mang giá trị vượt khỏi phạm trù không gianthời gianngôn ngữ khó diễn tả hết về giá trị cao đẹp đó. Hiếu đạo chính là bức thông điệp gửi đến những người con hãy hướng về hai đấng sinh thành để niệm ân giáo dưỡng thiêng liêng của cha và mẹ
NEW POSTING
Xin có lời tâm sự, rằng trong lòng tôi vẫn luôn luôn là một đứa trẻ rất mực ngây thơ, nghĩa là, chưa bao giờ lớn cả. Nói cho đúng, tôi đã lớn dậy giữa rừng văn học cổ tích quê nhà, đã say mê đọc truyện cổ về những vị Bụt bay tới khi có ai đó gặp nạn và ngồi than khóc, đã miệt mài với những thần thoại tuyệt vời trong Kinh Phật… Và rồi, tôi tin rằng Đức Phật không bao giờ rời bỏ chúng sinh.
Bàn về vấn đề giáo dục của đạo Phật đối với con người thì chúng ta thấy rằng trong bất cứ kinh điển nào đức Phật cũng giảng giải những bài học hữu ích và thiết thực. Những nội dung giáo dục từ phạm vi cá nhân đến gia đìnhxã hội, chúng ta luôn tìm thấy bàng bạc trong kinh điển.
Đức Phật dạy: Nhẫn-nại là đức-hạnh cao-thượng. Sự kiên nhẫn được coi là cao nhất, khó thực hành nhất, cũng là cao thượng nhất. Kiên Nhẫn còn bao hàm ý nghĩa của "sự chịu đựng, sự tha thứ và sự nhẫn nhịn". Kiên Nhẫn là một trong 10 Ba-La Mật mà tất cả chư Phật phải thành tựu. Cho nên, pháp nhẫn-nại là thiện-pháp cao thượng rất cần thiết đối với tất cả mọi người trong đời sống.
Ánh sáng từ tâmgiá trị Phật giáo cốt lõi soi sáng vào nội tâm mỗi người giữa cuộc đời đầy biến động vô thường. Ánh sáng đó giúp con người tỉnh thức, nhận diện và trải nghiệm các phương pháp thực tập đời sống hướng nội, chỉ cho mọi người biết sống với nhau bằng trái tim yêu thương và một khối óc được vận hành bởi trí tuệ hiểu biết.
Người học đạo, hành đạo, xem ba cõi như là quán trọ; xem hành tinh này chẳng nơi nào không phải là đất để hoa lá hay xác thân rụng rơi, nằm xuống; chẳng nơi nào thực sự là nơi sinh quán nguyên thủy trong vô số kiếp tái sinh; và nếu có một nguồn cội để trở về thì nguồn cội đó chính là bản tâm, chân tánh của mình.
New Posting Số mới nhất: Số 397 ngày 15 tháng 9 năm 2022 và số 398 ngày 1 tháng 10 năm 2022
Dép một vật dụng rất quen thuộc, giúp đôi chân sạch khi di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Chuyện chẳng có gì đáng bàn khi ai trong chúng ta cũng ý thức được việc này.và nhất là khi vào những nơi tôn nghiêm, chánh điện chắc chắn chúng ta phải cởi dép hoặc ít nhất thay dép bên trong.
Diễn đàn Quốc tế Phật giáo Kim cương thừa lần thứ tư được tổ chức tại thủ đô Thimphu, vương quốc Bhutan, từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 10 năm 2022. Trung tâm Nghiên cứu Bhutan và Chỉ số hạnh phúc quốc gia (CBS) cùng Trung ương Giáo hội Phật giáo Bhutan, Liên đoàn Phật giáo Quốc tế (IBC) cùng tổ chức diễn đàn này.
Ajahn Lee Dhammadaro (1907-1961), là Thiền sư theo truyền thống tu trong rừng của Phật giáo Thái Lan (Thai Forest Tradition).
New Posting: Tập san Chánh Pháp số 131 tháng 10 năm 2022: Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dươnglưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoátgiác ngộ cho những ai học hỏithực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc.
Vụ “đi kiện Thầy chùa” xẩy ra gần đây nhất là trường hợp chùa Tam Bảo ở Baton Rouge. Thầy trú trì chùa Tam Bảo, Thích Đạo Quảng (TĐQ) đã bị bốn trong số hơn vài trăm thành viên trong đạo tràng chùa Tam Bảo đứng đơn kiện. Nguyên đơn, gồm bốn nữ thí chủ chùa Tam Bảo, đã mướn luật sư nộp đơn kiện, buộc tội thầy Đạo Quảng có dính líu vào quan hệ tình dục và sai phạm việc quản nhiệm chùa (sexual misconduct and mismanagement of the temple). Mục đích sau cùng của vụ kiện là xin phán quyết tòa án để đuổi (sic) Thầy ra khỏi chùa và thay thế các “candidate Thầy” khác mới toanh, hợp khẩu vị đang xếp hàng chời đợi
Ngày nay, Tùng Lâm đông chúng nhưng ít người liễu Đạo là vì phần lớn khuất thân giữ lễ chờ thời, xu nịnh quyền thế, gian trá bề trên, lừa dối kẻ dưới. Vì sao vậy? Vì tâm ban đầu mai một, hạt giống Bồ đề chẳng được ươm trồng, tưới tẩm đúng thời.
Trong khi cư trú tại tu viện Kỳ Đà Tinh Xá (Jetavana), Đức Phật đã thốt ra bài kệ Pháp Cú (43) của cuốn sách này có liên quan đến Soreyya, con trai của một người đàn ông giàu có từ thành phố Soreyya.
Thông thường chúng ta hiểu thế giớiquả Địa cầu còn gọi là Trái đất. Nó là một hành tinh trong Thái dương hệ gồm có 8 hành tinh chính thức
Có lần khi nói về tám thức tâm vương trong Duy thức học, một người hỏi rằng “con người lo sợ là do thức nào?”. Trước đó tôi chưa nghĩ tới chuyện này, nhưng cũng thông minh đột xuất mà trả lời rằng “là do thức thức mạt-na thứ 7, vì nó chấp ngã cho nên mới có lo sợ”.
Đã xuất gia thì không ai là người ác cả, ác Tỷ kheo dùng để chỉ cho những người xuất gia tiến bộ chậm, chưa chuyển hóa các tập khí xấu ác của chính mình.
Nói một cách tổng quát, Phật giáo không chấp nhận chiến tranh dưới bất cứ hình thức nào, dù đó là chiến tranh dưới danh nghĩa gì. Vì chiến tranh là đồng nghĩa với tội ác, là gieo rắc sự nghèo nàn, tật bệnh, đói khát cho cả hai: chủ chiến và bị chiến.
Ôi thời gian. Trước khi ta sinh ra thì thời gian đã có đấy rồi. Ngay cả với các bậc tiền nhân tiên tổ cũng đã cảm nhận nó rồi. Nó đã là một loại "bản lai diện mục" không thể dùng ngôn ngữ nào để bàn tán được. Nó vô hình vô ảnh, không nắm bắt được nhưng nó có tác động cực kỳ to lớn trong đời sống sinh vật, ít ra là trên địa cầu. Nó là vậy, dù ta có muốn diễn tả trăm nghìn cách nào đi nữa nó vẫn là vậy từ ngàn xưa đến ngàn sau.
Quốc gia nào cũng vậy, bên cạnh những cái đẹp vẫn có cái xấu. Nếu cái tốt nhiều, cái xấu ít thì không đáng lo ngại. Nhưng nếu cái xấu mỗi lúc mỗi gia tăng thì chắc chắn xã hội đó có vấn đề.
Tin sâu nhân quả là một cơ duyên lớn. Nếu để ý, trong khi chúng ta giao tiếp trong xã hội, sẽ thấy nhiều bạn khác tôn giáo ưa nói về phép lạ. Thậm chí, ngay như trong giới Phật tử chúng ta, trong thời con nít cũng ưa nói về phép lạ, ưa tìm phép lạ, nghe đồn chỗ nào linh ứng là tới cầu xin, kể cả vô nghĩa địa thắp nhang, cầu cơ…
Buông xả là một sự thực tập quan trọng trong cuộc sống hằng ngày, cũng như trên con đường giải thoát của chúng ta.
Trong cuộc sống thường ngày có nhiều người rất dễ rơi vào tình trạng đau khổ, bởi vì có quá nhiều áp lực, nhiều gánh nặng, nhiều ưu tư, nỗi buồn trong lòng. Cuối cùng họ cảm thấy bế tắc, gục ngã và thậm chí không ít người tìm cách kết thúc cuộc đời mình như những phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin hàng ngày.
Giác ngộ cũng tức là giải thoát. Giải thoát cái gì ? Giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, điên đảo mộng tưởng, giống như người đang nằm mơ chợt tỉnh dậy, hành giả biết là giấc mơ không có thật, những vui, buồn, giận ghét, hạnh phúc, đau khổ trong giấc mơ chỉ là ảo tưởng, là tưởng tượng chứ không phải thật.
“Con người bị kết án phải tự do”, đây là một câu nói nổi tiếng của Triết gia Hiện sinh Pháp thế kỷ 20 Jean Paul Sartre. Vì sao bị kết án phải tự do? Bởi vì tự do có nghĩa là tự do chọn lựa, và chọn lựa là mất mát, được một cái và phải mất những cái khác. Con người không bao giờ có thể được cái toàn thể, cái tất cả, mà hễ chọn một phần tử này thì phải mất các phần tử khác. Thế nên chọn lựa là khổ đau, là mất mát.
Câu hỏi tưởng chừng đơn giản. Một dòng suối chảy, nó chảy hoài không ngừng, đâu có gì khó hiểu. Thời gian trôi, nó trôi mãi không thể ngừng. Trái đất chuyển động chung quanh Mặt trời, vừa tự xoay quanh trục của nó vừa di chuyển trên quỹ đạo; xoay một vòng mất 24 giờ, di chuyển giáp một vòng quỹ đạo mất 365 ngày không ngừng nghỉ. Những biểu hiện đó không có gì khó hiểu song ý nghĩa triết học của nó mới là điều quan trọng đáng cho chúng nắm bắt. Kinh điển Phật pháp cũng có đề cập vấn đề này.
Không khổ thì không có đạo Phật. Nếu đời người mãi là mùa Xuânhạnh phúc thì chỉ có thái tử Tất Đạt Đa mà không có đức Phật Thích Ca; nghĩa là chỉ có người hưởng thụ lạc thú giữa cuộc đời mà chẳng ai cần cứu khổ…
Thế là được ba năm theo nghề, An bây giờ đã là một thợ leo giỏi có tiếng của công ty. Ngày mới vào nghề, ai cũng cười An, chê nó không thể leo được. Anh Bàn, người giới thiệu dẫn dắt nó vào nghề nhiều lúc cũng gắt:
Khi khí nhà kính bao phủ Trái Đất, chúng sẽ giữ lại nhiệt của mặt trời. Hiện tượng này sẽ dẫn đến tình trạng nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. Thế giới đang nóng lên với tốc độ nhanh hơn mọi thời điểm từng ghi nhận trong lịch sử.
Rồi có một chiều khi nắng phai Vui, buồn, thương, ghét.. những bi ai.. Ta cười thả gió nghìn tâm sự Luẩn quẩn niềm riêng.. sống mệt nhoài! Rồi bỗng một ngày ta liễu tri Niềm chân hạnh phúc, biết cho đi. Ngày mai nhỡ tiếng vô thường gọi Ta có mang theo được những gì ?
Những thành bại, được mất, hơn thua, tranh đoạt, tham vọng và thù hận v.v… sẽ chẳng có giá trị gì nếu như gần kề với cái chết. Mặt khác, nhận thức được án tử đang lững lơ quanh mình nên con người nỗ lực làm ngay những việc cần làm, sống sao cho đáng sống.
Tập sách này nguyên là phần giới thiệu tổng quát cho phẩm IV "Phân biệt nghiệp" luận A-tì-đạt-ma Câu-xá, bản dịch Việt, Hương tích đã ấn hành nhiều lần, lần đầu 2015 và gần đây vào 2019; nay tách thành một tác phẩm riêng biệt. Tiên khởi, vì chỉ là phần giới thiệu tổng quát cho phẩm Nghiệp của Câu-xá nên các vấn đề cũng chỉ giới hạn trong các biện luận của các bộ phái A-tì-đàm.
Câu hỏi số 1: Kính bạch quý Thầy! Con dự tính, sau khi thân hoại mạng chung, con sẽ nhờ gia đình của con đưa xác đi hỏa táng và sau đó đem tro cốt của con rải xuống sông. Như vậy việc làm của con sau khi chết có ảnh hưởng gì đến cuộc sống mưu sinh của các con của con hay không? Kính thỉnh quý Thầy hoan hỷ giải đáp để cho con được rõ biết về dự tính của mình có nên làm hay không nên làm? Con xin tri ân quý Thầy!
Vấn: Gần đây con thấy có rất nhiều đám cưới được tổ chức ở chùa được gọi là lễ Hằng Thuận, thậm chí là có nhiều ca sĩ, nghệ sĩ nổi tiếng tổ chức lễ hằng thuận ở chùa. Con là một Phật tử chỉ vừa biết đạo và con thấy đây là một điều rất tốt đẹp.
Phật Pháp, có thể được chia thành hai Thừa, Tiểu thừa (Nguyên thủy) và Đại Thừa. Bản thân Nguyên thủy lại có thể được chia thành Thanh Văn ThừaDuyên Giác Thừa. Thanh VănDuyên Giác có thể được phân biệt theo tính hạn chế hay ưu việt đối với khả năng và kết quả mà họ đạt được, nhưng các đặc tính giáo lý của phương pháp tu tập mà họ hành theo là cơ bản giống nhau
Bài kinh này cũng khá nổi tiếng liên quan đến việc giúp đỡ những ai bị bệnh. Ở Myanmar, bài kinh này rất thường được tụng đọc cho việc điều trị các bệnh tật.
Tôi sinh ra trước thềm trận đói khủng khiếp và thê thảm nhất chưa từng xảy ra trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam. Trận đói bắt đầu vào khoảng tháng 8 năm 1944 khi tôi tròn một tuổi, kéo dài đến cuối năm 1945, mà cao điểm là tháng 3, được gọi là “Trận Đói Tháng Ba Năm Ất Dậu”.
Theo lời Phật dạy, giữa người với người luôn tồn tại một mối nhân duyên từ kiếp trước, vì vậy, trong cuộc sống này, khi ta gặp và yêu thương một ai đó đều có nguyên do. Không ai là vô duyên vô cớ xuất hiện trong cuộc đời của bạn cả, sự xuất hiện của mỗi người đều có nguyên do, đều đáng được cảm kích.
Đã lên kế hoạch công việc nhưng công việc đó không hoàn thành được gọi là chưa đủ duyên. Thực hiện một dự án không hoàn thành trọn vẹn, được gọi là chưa đủ duyên. Sắp đặt một hành trình trở về nhưng do nguyên nhân chủ quan và khách quan, không hoàn thành cũng được gọi là chưa đủ duyên.
Trong thời buổi ngày nay, đọc một tờ báo, lên một trang net, chúng ta thấy tội ác dẫy đầy, tàn nhẫn, kinh hãi đến mức báo động. Tất cả đều do con người không tin nhân quả. Vì không tin nên không biết sợ nên chẳng cẩn trọng giữ gìn. Đến nỗi một nhà nghiên cứu giáo dục đã phải than rằng: Đây là thời “cái ác lên ngôi”!
Bài kinh này cũng khá nổi tiếng liên quan đến việc giúp đỡ những ai bị bệnh. Ở Myanmar, bài kinh này rất thường được tụng đọc cho việc điều trị các bệnh tật.
Đức Phật khẳng định, dù cho người tu có thành tựu phước báo, tài vật sung mãn, danh dự đủ đầy, trong Thánh pháp vẫn thực sự bần cùng, thậm chí còn bất thiện. Thế nên, người tu cũng cần vượt khó, thoát nghèo bằng cách tin vào thiện pháp, giữ giới, nghe nhiều, bố thítrí tuệ. Ngay đây có thể xác quyết rằng, tín, giới, văn, thí, tuệ là căn bản của mọi pháp lành, thông cả tại gia lẫn xuất gia, giúp người tu ngày càng thành đạt, thịnh vượng trong Thánh pháp.
Một tối mùa hè nóng bức, trong Pháp hội Drupchen [Đại Thành Tựu] Phổ Ba Kim Cương tại Lerab Ling, Orgyen Tobgyal Rinpoche đã nói về cả Phổ Ba Kim Cương và cách áp dụng những nguyên tắc căn bản của Kyerim cho thực hành Phổ Ba Kim Cương. Sogyal Rinpoche cũng có mặt và Chokyi Nyima (Richard Barron) cung cấp phần chuyển dịch trực tiếp ngay tại chỗ thật xuất sắc. Giáo lý này tiếp tục trở thành một phần không thể thiếu trong cách mà Kyerim hiện nay được giảng dạy cho tất cả học trò Kim Cương thừa của [trung tâm] Rigpa.
Giáo lý Bốn thánh đếgiáo pháp quan trọng nhất của những người học và tu tập theo lời dạy của Đức Phật. Cho dù chúng ta thuộc truyền thống Nguyên Thuỷ hay truyền thống Đại Thừa cũng đều tu học từ nền tảng giáo pháp này.
Ngôn ngữ là một phương tiện để diễn tả đạo lý, nhưng thể thật của đạo thì vượt ra ngoài ngôn ngữ và tất cả ý niệm. Vì vậy, một khi chúng ta liễu tri được nghĩa chân thật của đạo thì lúc đó sẽ thấu tỏ được sự diệu dụng của phương tiện ngôn ngữ. Nếu xét về nghĩa thật của đạo, đó chính là chân tâm không sinh diệt hay chánh kiến vô lậu.
Hôm nay, tôi sẽ nói về cách làm thế nào để có được tâm thức hạnh phúc, khi chúng ta thực hiện điều này bằng cách áp dụng các phương pháp thế tục.
“Con đường thánh tám ngành” vốn được xem là độc lộ an vui và giải thoát. Khái niệm độc lộ không chỉ được hiểu theo nghĩa đencon đường duy nhất, con đườnghiệu quả nhất mà còn phải hiểu ở mức hành giả đi trên nó nếu cósựthực hành, ứng dụng, sẽ đạt được phước đức hữu lậu, cóđược sựgiải thoát, trở thành thánh.
Nguyên tử giải phóng trở thành nguyên tử năng là đánh dấu thời đại đại phát minh của nhân loại. Là họa hay là phước tạm thời không bàn luận đến. Hôm nay ở đây chỉ thảo luận Chất Năng(vật chấtnăng lực)là loại lẫn nhau chuyển biến có quan hệ mật thiết với Tương Đối Luận, và đem chỗ khác nhau và giống nhau của Phật Pháp so cùng với Tương Đối Luận.
Thiền có nghĩa là yên lặng, tĩnh lặng, trầm lặng, thanh lặng, chánh niệm, tỉnh thức, định tĩnh, quán chiếu, và nhất tâm, nó là một môn thực tập rất sống động, an lạc, và hữu ích cho thân và cho tâm. Thiền có khả năng đưa chúng ta tới chánh niệm và tĩnh giác, và giúp chúng taý thức được những gì đang xảy ra ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại, như trời xanh, mây trắng, chim hót, thông reo, hoa nở, tiếng suối chảy… Thiền tập có khả năng giúp chúng ta dừng lại, nhận diện, và chuyển hóa các phiền não bất hạnh và khổ đau thành an vui và hạnh phúc.
Vấn đề nêu ra không chỉ để trả lời rằng có hay không, mà mục đích là nhằm bàn thêm về một vấn đề mang tính xã hội.
Qua bài viết này mong rằng những học sinh của tôi, sau nhiều năm đèn sách, hãy là những công dân hữu ích, đóng góp sức mình xây dựng quê hương. Nếu trở thành người nắm quyền hành một số công việc hãy làm bằng lương tâm, bằng tình người, bằng sự cảm thông, linh hoạt. Tuân theo nguyên tắc nhưng không cứng nhắc để giải quyết những vụ việc nhanh, gọn, tránh gây phiền hà. Hãy đem cái tâm, cái tình để phục vụ nhân dân, làm việc với thiện chí.
Sau thời công phu sáng, hành giả không đi kinh hành quanh khu chung cư như vẫn thường, mà lại pha một bình trà nhỏ, cầm cuốn tập ghi chú bài học và ngồi ngoài hàng hiên tịnh thất.
Trong cuộc sống với muôn vàn sai khác, chúng ta ai cũng ước mơ, mong muốn mình có được việc làm ổn định, sự nghiệp vinh hiển, công thành danh toại, có gia đình và sống hạnh phúc lâu dài nên khi được thì ta thích thú, vui mừng, đến khi mất thì ta bất an, lo lắng, buồn rầu, đau khổ. Ta cho “được” là may mắn, là hên, là hạnh phúc nên ta vui vẻ, mừng rỡ. Ta cho “mất” là thất bại, xui rủi nên cảm thấy phiền muộn, khổ đau.
Biến đổi khí hậu là tình trạng thay đổi nhiệt độ và các kiểu thời tiết trong thời gian dài. Những thay đổi này có thể là tự nhiên, chẳng hạn như thông qua các biến thể của chu kỳ mặt trời. Nhưng kể từ những năm 1800, hoạt động của con ngườinguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu, chủ yếu do đốt nhiên liệu hoá thạch như than, dầu và khí đốt.
Đức Thế Tôn dạy: Cõi đời này khi mê thấy toàn sương mù giăng lối. Không biết đâu là lối về, đâu là cố hương muôn thuở! Nhưng khi tỉnh ra như mặt trời chiếu soi vạn tượng, tức khắc sương mù tan biến hiện rõ lối đi. Nên Tổ Bá Trượng nói: “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu”, nghĩa là đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ liền xuất hiện.
.....Trường hợp của Sư không phải là cá biệt. Có rất nhiều trường hợp giống như thế. Tức là cả đời đi tu ở chùa nhưng khi già yếu hay bịnh đau thì phải về nhà cho người thân nuôi. Đây thật sự là điều đáng buồn trong Phật Pháp. Phật giáo hàng năm tổng kết làm từ thiện hàng chục tỷ đồng, nhưng không ít những người đồng phạm hạnh của mình sống trong thiếu thốn, bệnh tật không ai quan tâm... Tôi nghĩ rằng Giáo HộiTrụ trì các chùa cần nên có những quy định và chính sách chăm lo, nuôi dưỡng tăng, ni khi họ về già. Chứ còn tu cả đời ở chùa mà khi về già thì phải trở về nhà để nương náo gia đình thì… buồn quá.
Muốn đạt được tâm không động hay tâm vô phân biệt thì phải trải qua vô lượng kiếp tu hành. Cho nên phàm phu như chúng ta vẫn tiếp tục sống với tâm phân biệt và thương ghét. Thế nhưng Đức Phật dạy rằng chúng ta phải hy vọngchúng ta đều có Phật tánh. Điều đó có nghĩa là trong cuộc sống mỗi lúc mỗi khó khăn, phức tạp, kỳ thị và chia rẽ như ngày hôm nay, chúng ta cố gắng huân tập để bớt khinh chê kẻ ngu si ít học, bớt khinh chê quốc gia kém văn minh hơn mình và bớt thù ghét kẻ không đồng chính kiến hay không tôn thờ những giá trị mà mình tôn thờ trong tinh thần “Giới Hòa Đồng Trụ” (**). Giới Hòa Đồng Trụ có nghĩa là phân biệt mà không phân biệt đúng như lời dạy trong Kinh Đại Nhật nói ở trên. Giống như hoa cúc, hoa lan, hoa hồng, hoa huệ cắm chung với nhau trong một bình nhưng hoa nào vẫn là hoa đó, hòa mà không đồng.
Thiền không phải là đạt được một thứ gì đó. Chúng ta thực hành thiền không phải để có được bất kỳ điều gì. Gần đây, tôi thường nói rằng chúng ta thực hành thiền là để buông bỏ. Vì vậy, một người hành thiền tuyệt vời là người có khả năng buông bỏ tuyệt vời.
Tuy khẩu nghiệp là thứ không nhìn thấy được nhưng lại có thể sát thương, xúc phạm người khác, thậm chí nguy hiểm ảnh hưởng đến uy tín của cả quốc gia dân tộc! Khi người ta tạo “khẩu nghiệp” tức sẽ có “quả báo khẩu nghiệp” ứng lại với mình.
Khi có một điều không may mắn, bất như ý xảy đến thì đa phần chúng ta đều nghĩ và thậm chí đổ lỗi là do nghiệp. Nói về nghiệp, mọi người đều cho đó là chủ trương của đạo Phật.
Tắm rửa là việc làm cần thiết để giữ gìn vệ sinh thân thể. Những người làm việc ở văn phòng có máy điều hòa không khí, hay những người làm việc lao động ngoài trời, hoặc những người suốt ngày không làm gì cả. Dù là ai, thì người đó cũng có nhu cầu tắm rửa ít nhất là một hoặc hai lần trong ngày.
Diễn đàn Quốc tế Phật giáo Kim cương thừa lần thứ tư được tổ chức tại thủ đô Thimphu, vương quốc Bhutan, từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 10 năm 2022. Trung tâm Nghiên cứu Bhutan và Chỉ số hạnh phúc quốc gia (CBS) cùng Trung ương Giáo hội Phật giáo Bhutan, Liên đoàn Phật giáo Quốc tế (IBC) cùng tổ chức diễn đàn này.
Vụ “đi kiện Thầy chùa” xẩy ra gần đây nhất là trường hợp chùa Tam Bảo ở Baton Rouge. Thầy trú trì chùa Tam Bảo, Thích Đạo Quảng (TĐQ) đã bị bốn trong số hơn vài trăm thành viên trong đạo tràng chùa Tam Bảo đứng đơn kiện. Nguyên đơn, gồm bốn nữ thí chủ chùa Tam Bảo, đã mướn luật sư nộp đơn kiện, buộc tội thầy Đạo Quảng có dính líu vào quan hệ tình dục và sai phạm việc quản nhiệm chùa (sexual misconduct and mismanagement of the temple). Mục đích sau cùng của vụ kiện là xin phán quyết tòa án để đuổi (sic) Thầy ra khỏi chùa và thay thế các “candidate Thầy” khác mới toanh, hợp khẩu vị đang xếp hàng chời đợi
Một cờ hiệu Phật giáo đã xuất hiện trên một tàu Hải quân Hoa Kỳ vào đầu tuần này, lần đầu tiên trong lịch sử hoạt động trên biển, theo Hải quân Hoa Kỳ thông báo. Bản tin của phóng viên Jonathan Lehrfeld trên báo Navy Times hôm 15/9/2022 ghi nhận.
Không khổ thì không có đạo Phật. Nếu đời người mãi là mùa Xuânhạnh phúc thì chỉ có thái tử Tất Đạt Đa mà không có đức Phật Thích Ca; nghĩa là chỉ có người hưởng thụ lạc thú giữa cuộc đời mà chẳng ai cần cứu khổ…
Thông Báo của Hội Phật Học Đuốc Tuệ về buổi thuyết pháp của Hòa thượng Sakya Minh Quang về đề tài "Con Đường Phát Triển Tuệ Giác" vào ngày Chủ Nhật 25 tháng 9 năm 2022 từ 2 giờ chiều đến 6 giờ chiều tại Tu Viện Đại Bi
Như thông lệ hàng năm với 4 khóa tu Xuân - Hạ - Thu - Đông, Khóa Tu Mùa Thu năm nay được chùa Sắc Tứ Kim Sơn tổ chức vào các ngày 08-11/9/2022 (04 ngày). Đặc biệt Khóa Tu Mùa Thu này sẽ đưa quý vị trở về tuổi thơ với Đêm Vui Trung Thu đầy ắp tiếng cười.
Như thông lệ hàng năm với 4 khóa tu Xuân - Hạ - Thu - Đông, Khóa Tu Mùa Hạ năm nay được chùa Sắc Tứ Kim Sơn tổ chức vào các ngày 21-24/7/2022 (04 ngày).