(Xem: 836)
Vì Giới bổn Tỳ-kheo-ni là sách gối đầu giường của tất cả Tỳ-kheo-ni nên việc đọc tụng Giới kinh mỗi nửa tháng một lần là quy định thiêng liêng mà các thành viên Ni đoàn không nên bỏ qua. Ngày xưa, do quá trình thực hiện và xuất bản một quyển sách rất khó khăn và tốn kém, không nhiều người có được bản in của Giới bổn. (Hạ tải bản PDF ở phần đính kèm bên phải)
(Xem: 955)
Vì Giới bổn Tỳ-kheo là sách gối đầu giường của tất cả Tỳ-kheo nên việc đọc tụng giới kinh mỗi nửa tháng một lần là quy định thiêng liêng mà các thành viên Tăng đoàn không nên bỏ qua. Ngày xưa, do quá trình thực hiện và xuất bản một quyển sách rất khó khăn và tốn kém, không có nhiều người có được bản in của Giới bổn.
(Xem: 978)
Phải thừa nhận rằng đây là tác phẩm nghiên cứu công phu, tỉ mỉ và có độ chính xác cao về giới luật của Thượng tọa bộ và các phái luật Phật giáo. Thượng tọa Nhật Từ dành thời gian dịch tác phẩm này và bổ sung các chú thích (đối với trường hợp cần thiết), góp phần làm cho công trình càng thêm giá trị.
(Xem: 746)
Mặc dù số lượng các oai nghi, cách đặt tựa đề, vị trí các quy định giữa Luật Sa-di-ni trong Thượng tọa bộ và Pháp tạng bộ có khác nhau nhưng trên tổng thể, nội dung phù hợp nhau, đề cao văn hóa ứng xử của người xuất gia trở nên lịch sự, trang nghiêm, thanh thoát, chứ không đơn thuần là những điều không được làm.
(Xem: 761)
Dịch phẩm “Giới Sa-di, Oai nghi, Luật nghi và Lời khuyến tu của Tổ Quy Sơn” là bản dịch mang tính học thuật, giúp cho các vị mới tập tu và Sa-di hiểu rõ hơn về những nguyên tắc đạo đức mà mình thọ trì, những oai nghi và điều luật mà mình cần phải thực hành. Đặc biệt là Lời khuyến tu của Tổ Quy Sơn được Thượng tọa Nhật Từ dịch bằng thể thơ song thất lục bát cùng phần giải thích rất cặn kẽ, rất cần thiết đối với người xuất gia mới bước chân vào đạo.
(Xem: 1539)
Đạo Phật ra đời cách đây đã hơn 25 thế kỷ và trải qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử, vẫn phát triển rực rỡ đến ngày nay. Như thế, Đạo Phật phải tiềm tàng những chân lý vượt cả thời gian lẫn không gian. Hơn nữa, những chân lý ấy cũng phải phù hợp với căn cơ của chúng sanh, đáp ứng mọi nhu cầu thiết thực của thời đại. Tất cả những yếu tố đó được bao gồm trong ba tạng kinh điển. Trong đó, luật tạng được xem là bậc thầy cao cả nhất của chúng ta. Như kinh Bồ Tát Giới viết:
(Xem: 1655)
Trì giới đề cập trong kinh Sa môn quả được chia làm ba hạng mục: tiểu giới, trung giới và đại giới, vốn là những giải thích của Đức Phật về một vị Tỳ kheo giới hạnh cụ túc.17 Nội dung của việc trì giới của người xuất gia liên quan đến việc sống cẩn trọng với “sự chế ngự của giới bốn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh”.18 Với sự tóm tắt như vậy, các khía cạnh về giới, thân nghiệp, ngữ nghiệp được triển khai chi tiết hơn trong các phần sau.
(Xem: 3695)
Chiều hôm qua, một Phật tử đến gặp thầy và trình bầy là bà có người thân hiện đang tu học với một vị thầy ở Bà Rịa – Vũng Tầu. Bà nói – cí một điều lạ là trước khi hướng dẫn tu tập, thầy này bắt đệ tử phải thề không được chỉ lại cho người khác. Thầy hỏi bà: ...
Kinh
(Xem: 2407)
Chánh kiến (Sammā diṭṭhi) có nghĩa là hiểu biết các pháp như chúng thực sự là, chứ không như chúng dường như là. Điều quan trọng, chúng ta phải nhận thức được rằng Chánh kiến trong đạo Phật có một nội hàm đặc biệt, khác hẳn với những gì thường được mọi người gán cho. Trong Phật giáo, Tuệ giác Chánh kiến có khả năng soi chiếu để thấy rõ năm thủ uẩn và hiểu được bản chất thực của nó, điều này có nghĩa là phải hiểu được chính thân và tâm con người. Để hiểu rõ hơn về Chánh kiến, chúng ta cần điểm qua lời dạy của Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) trong Kinh Chánh Tri Kiến:
(Xem: 2879)
của tác giả Nhuận Tâm Nguyễn Kim Cương với lời giới thiệu của Hòa thượng Thích Như Điển
(Xem: 1602)
Chân lý mà rỗng không và vi diệu, thì ý niệm tu tập bị dẹp bỏ, năm mắt hết soi, bốn trí mờ biết. Làm sao nằm bệnh mà gửi gắm sự biểu huyền của ‘vô thuyết’, báo chết mà tuyệt hẳn sự chương diệu của ‘vô ngôn’? Thế nhưng, chân tục tuy khác mà vô tướng không khác, động tịnh đổi khác mà ly ngôn ấy đồng.
(Xem: 2220)
.../...Thí như trong biển cả, nếu thuyền chở nhiều trân bảo, chắc sẽ nhanh chóng bị đắm chìm. Chánh pháp Như Lai không như vậy, mà sẽ bị tiêu diệt từ từ. Chánh pháp của Như Lai không bị đất làm hoại, không bị nước, lửa, gió làm hoại đi. Cho đến lúc chúng sanh ác xuất hiện ở thế gian, thích làm các điều ác, muốn làm các điều ác, thành tựu các điều ác; phi pháp nói là pháp, pháp nói là phi pháp; phi luật nói là luật; bằng pháp tương tợ mà cú vị thịnh hành. Bấy giờ Chánh pháp Như Lai mới chìm mất....
(Xem: 2403)
Tháng 10/2020 vừa qua, sách Cú Pháp Phạn Ngữ đã được ra mắt cùng độc giả quan tâm tới lĩnh vực Phạn học. Sách dày 464 trang, tác giả Jacob Samuel Speyer, biên dịch Việt bởi Đỗ Quốc Bảo (PhD.). Đây là công trình thuộc dự án Phạn học tiếp theo sau cùng các tác phẩm đã được phát hành trước đây: Giáo Trình Phạn Văn và Ngữ Pháp Phạn Ngữ.
(Xem: 3734)
New Posting: Kinh Pháp Cú Giảng Giải: Phẩm 3: Phẩm Tâm Ý do quý giảng sư Thích Trí Siêu, Thích Giác Đẳng, Thích Bửu Chánh và Pháp Đăng thuyết giảng - từ kệ ngôn 33 đến kệ ngôn thứ 43.
(Xem: 1175)
Ngài Thế Thân (Vasubandhu) tạo Luận Câu-xá vào khoảng năm 900 sau khi Phật nhập diệt, tức khoảng thế kỷ thứ tư hay thứ năm Tây lịch, làm căn bản cho tác phẩm nổi danh khác cũng do Ngài viết hơn 30 năm sau là Duy Thức Tam Thập Tụng. Luận Câu-xá gồm 600 bài tụng và trường hàng, chia làm 8 hoặc 9 phẩm, gồm 29 hoặc 30 quyển theo sự sắp xếp của các luận gia về sau.
(Xem: 569)
Ám ảnh bức bách duy nhất của mọi sinh vật chính là sự chết. Các sợ hãi khác chỉ là biến thái của sợ chết. Thế giới bị chinh phục, bị khống chế, bị điều động bởi sự chết. Kinh Phật nhân cách hóa nó thành một loại Ma. Theo từ nguyên, trong tiếng Phạn, mara là danh từ phái sinh từ động từ √mṛ: mriyate, nó chết. Mọi hoạt động của chúng sinh, mọi thứ được kể là văn minh tiến bộ, thảy đều là những biện pháp mà các loài lựa chọn để bảo đảm sự sinh tồn của bản thân và đồng loại. Thế nhưng, do nhận thức sai lầm, điên đảo, kết quả của những lựa chọn đại phần, nếu không muốn nói tất cả, thảy đều tai hại. Đức Phật thành Chánh giác, được mô tả là sau khi chiến thắng quân đội Ma và những quyến rũ của Ma. Các vị luận giải A-tì-đạt-ma cho rằng sợ hãi là một biểu hiện của phiền não. Đây là khía cạnh tiêu cực của sợ hãi. Mặt tích cực được biểu hiện nơi các yếu tố tâm sở thiện.
(Xem: 8287)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 7408)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 5640)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 5087)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
(Xem: 5528)
“Thân tác chứng thành tựu và an trú tịnh giải thoát”: Thế nào là gia hành của tịnh giải thoát này? Tu quán hành giả do phương gì nhập tịnh giải thoát định? Khi người mới bắt đầu sự nghiệp tu quán, trước hết cần phải nắm lấy hình thái thanh thọ, như thanh hành, thanh chi, thanh diệp, thanh hoa, thanh quả, hoặc nắm lấy hình thái thanh y, thanh nghiêm cụ tướng, hoặc nắm lấy đa dạng thanh tướng nào khác. Khi đã nắm lấy các thanh tướng như thế rồi, do lực thắng giải, tư duy tưởng niệm, quan sát an lập, tín giải sắc này là thanh tướng ấy.
(Xem: 4341)
Bí-sô nên biết! ở đây, vị Thánh đệ tử, bằng đặc điểm như vậy tùy niệm chư Phật, nghĩa là vị Thế Tôn ấy là bậc Như Lai, A-la-hán, nói chi tiết cho đến: Phật Bạc-già-phạm”. Hoặc có vị Thánh đệ tử nào bằng đặc điểm như thế tùy niệm chư Phật, những gì là niệm tương ưng với kinh nghiệm nhận thức, mà kiến là căn bản: tùy niệm, chuyên niệm, ức niệm, không quên, không mất, không rơi sót, không rò rỉ, không mất trạng thái của Pháp, trạng thái ghi nhớ sáng suốt của tâm. Đó gọi là tùy niệm Phật.
CHUYÊN ĐỀ
Nói đến hiếu hạnh, trong thâm tâm chúng ta ai ai cũng đều liên tưởng đến mẹ cha, đến việc đền trả những thâm ân mà mẹ đã mang nặng đẻ đau, cha đã cù lao dưỡng dục. Nghe hai chữ “hiếu hạnh” thấy nó đơn giản, nhưng khi đem ra thực hành thì quả là thiên nan vạn nan, chứ không đơn giản và dễ dàng như mình tưởng. Vì nói đến “hiếu hạnh” là nói đến một triết lý sống cao tột, mà không một học đường nào có khả năng đứng ra giảng giải được, vì “hiếu hạnh” bao gồm cả đạo đức lẫn triết lý sống, cũng như hoàn cảnh xã hội bên ngoài.
Hội thảo Phật giáo quốc tế với chủ đề “Cách tiếp cận của Phật giáo về sự lãnh đạo toàn cầu và trách nhiệm cùng chia sẻ vì xã hội bền vững” (Buddhist Approach to Global Leadership and Shared Responsibilities for Sustainable Societies) trong suốt thời gian đại lễ Vesak LHQ 2019 không chỉ mang tính thích ứng mà còn tính hợp thời. Tác phẩm này và kết quả một trong năm diễn đàn được thuyết trình trong hội thảo quốc tế. Các phương diện khác của hội thảo bao gồm:
Sự ra đời của Đức Phật Thích Ca theo Thông Bạch Phật Đản Phật Lịch 2565- 2021 có đoạn ghi Bản nguyện của ngài là gì khi hóa thân đến trần gian này? Một câu hỏi mang đầy ý nghĩa nhất cần phải khai triển. Sự hóa thân xuống trần này với mục đích mở một kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên cho đến ngày nay chưa từng có của loài người, đó là một kỷ nguyên trí tuệ và từ bi. Trước khi đi sâu vào trí tuệtừ bi, trước hết ta quán chiếu đầu tiên sự xuất hiện bằng cách hóa thân của ngài xuống trần gian này.
Ngày 26 tháng 5 năm 2021 nhằm vào ngày Rằm Tháng Tư âm lịch, mà theo truyền thống Phật Giáo Bắc Truyền là ngày Đại Lễ Đản Sinh lần thứ 2,645 của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là Người đã khai sáng ra Đạo Phật.
Hạnh phúc thay Đức Phật giáng sinh | Hạnh phúc thay giáo pháp cao minh | Hạnh phúc thay tăng già hòa hợp | Hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu
Lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, lễ kỷ niệm ngày sinh, thành đạonhập Niết bàn của Đức Phật (Vesak), đã được tổ chức tại Tòa Bạch Ốc ngày hôm nay. Để tôn vinh Đại lễ Vesak, một tuyên bố chính thức từ Nhà Trắng đã được Tổng thống Biden công bố:
Theo lệ thường thì Elite Nguyen thức giấc lúc bảy giờ sáng vào mỗi cuối tuần, riêng tuần này thì dậy sớm hơn, sau khi vệ sinh cá nhân thì Elite công phu buổi sáng. Mỗi thời công phu của Elite chỉ chừng hơn một tiếng đồng hồ, có khi thì niệm Phật, tụng kinh hoặc ngồi quán hơi thở.
Lắng nghe và thấu hiểu là hai chất liệu vô cùng cần thiết để hiến dâng cho đời, có khả năng xóa đi những nỗi khổ niềm đau, nội kết và thù hận, mang lại an lạc hạnh phúc cho mọi người. Nỗi đau khổ của con người cần phải được xoa dịu bằng tình thương, chỉ có chất liệu yêu thương mới xóa hết hận thù.
Tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nồng nàn đến tất cả quý Phật tử đang cử hành ngày Đại lễ Vesak, một sự kiện thiêng liêng đối với hàng triệu người Phật tử trên thế giới. Khi chúng ta tôn kính ngày Đản sinh, Thành đạo, và Niết bàn của Đức Thế Tôn, thì giáo lý của ngài có thể truyền cảm hứng cho tất cả chúng ta.
Người ta có nhiều cách phân kỳ lịch sử Phật giáo trên thế giới. Theo Edward Conze trong “A short history of Buddhism” thì có thể tạm chia lịch sử Phật giáo làm bốn giai đoạn: Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, phần lớn trùng khớp với giai đoạn sau này được gọi là Tiểu thừa (Hinayana); thời kỳ thứ hai đánh dấu bởi sự phát triển của giáo lý Đại thừa (Mahayana); thời kỳ thứ ba là sự phát triển của Mật tông (Tantra) và Thiền tông (Ch’an hay Zen), thời kỳ này kéo dài đến thế kỷ XI [1]. Khoảng 1000 năm gần đây có thể được xem là thời kỳ thứ tư.
Từ đầu năm 2020 dịch Corona bùng phát khắp thế giới, một loại dịch nguy hiểm chết người, dễ lây lan, không thuốc chữa. Đã có vô số người chết và nhiễm bịnh. Con số kể ra thật chóng mặt, đau lòng. Chỉ riêng Thụy Sĩ thôi, nước nhỏ, dân số 10 triệu người, mà hằng ngày cả ngàn ca nhiễm, hằng trăm người chết. Chao ôi, cứ đà này là hết dân số!
Trong không khí hân hoan kính mừng ngày Đức Phật đản sinh, tất cả người con Phật trên hành tinh này hãy cùng nhau thực hiện lý tưởng và lời dạy của Đức Phật, tinh tấn tu tập Giới Định Tuệ thông qua con đường Bát Chánh đạo, luôn tôn trọng sự sống và môi trường sống của muôn loài
Nhân dịp lễ Vesak 2020, TT. Ajahn Brahmali giảng pháp qua zoom cho Hội Ái Hữu Phật Giáo Singapore. - Video với phụ đề tiếng Việt
Đức Phật không bao giờ tự xưng rằng Ngài là một thần linh, là con của thần linh, hay là sứ giả của thần linh. Ngài chỉ là một con người đã tự cải thiện để trở nên toàn hảo, và Ngài dạy rằng nếu chúng ta noi theo gương lành ấy chính ta cũng có thể trở nên toàn hảo như Ngài. Ngài không bao giờ bảo đệ tử của Ngài thờ phượng Ngài như một thần linh. Kỳ thật Ngài cấm chỉ đệ tử Ngài làm như vậy. Ngài bảo đệ tử là Ngài không ban phước cho những ai thờ phượng Ngài hay giáng họa cho ai không thờ phượng Ngài. Ngài bảo Phật tử nên kính trọng Ngài như một vị Thầy.
NEW POSTING
Đây là cuốn sách thứ hai của tác giả Ni sư Thích Nữ Hằng Như, sau tác phầm đầu “Trên Đường Về Nhà”. Trong quyển đầu tác giả đã trao cho chúng ta một tập tài liệu mang tính cách giáo khoa giúp chúng ta sửa soạn hành trang và định hướng cho một cuộc hành trình như trao tấm bản đồ hướng dẫn con đường thích hợp để chúng ta về nhà. Tác giả cho rằng thật không dễ dàng lắm vì tâm chúng ta vẫn còn dong duổi dính mắc với cảnh bên đường nên chúng ta vẫn chưa thể về đến được mái nhà xưa. Và vì thế cuốn sách thứ hai “Ứng Dụng Lời Phật Dạy” được ra đời.
“Mười con nhạn trắng về tha | Như lai thường trụ trên tà áo xuân | Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền | Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm…| Bạn hỏi mình tại sao nhạn trắng, tại sao mười con mà không phải tám chín con hay trăm con? Tại sao “về tha”? Tha ai? Tha cái gì? Tại sao tha? Rồi “Như lai thường trụ” là sao? Vô thường, vô ngã, “vô sở trụ” mà sao còn trụ?”
Hồ Quỳnh Hương là một người nghệ sĩ tài hoa, bản lĩnh với vẻ đẹp sắc sảo, quyến rũ. Tuy nhiên đằng sau hình ảnh rực rỡ trên sân khấu ấy, Hồ Quỳnh Hương còn là một người phụ nữtâm hồn đẹp đẽ với lối sống thuần chay kiên định.
Đức Phật đã là một bậc Vô thượng chánh đẳng giác, nhưng Ngài cũng là một con người như bao nhiêu người khác nên không tránh khỏi nạn sanh lão bệnh tử trong đời này. Là một vị Sa-môn khiêm tốn, Đức Phật đã chọn nơi nhập diệt của mình ở một làng mạc xa xôi hẻo lánh, đó là làng Kushinagar, nơi có liên hệ mật thiết đến cuộc đời tu hành của Ngài trong một kiếp xa xưa.
Đài xưa đất vắng hoang vu, Phải chăng chốn cũ sa mù là đây. Xuân qua xuân lại chốn này, Rượu xuân chuốc lấy hơi cay chửa nồng.
Hỏi: Các vị Cao Tăng Đại đức là những bậc đại tu hành còn có rơi vào vòng chi phối của nhân quả hay không?
Nhân quả về thọ mạng rất rõ ràngminh bạch, không một đấng quyền năng hoặc siêu nhiên nào có quyền chi phốiquyết định sự sống con người. Chính con người tự quyết định lấy số phận của họ thông qua nghiệp lực do chính họ tác tạo.
Đức Phật dạy: "Những người tin ta, thương ta, họ sẽ được phước báu nhưng không đủ điều kiện giải thoát. Nhưng những người thực hành giáo pháp, họ sẽ giác ngộ giải thoát". (Vậy muốn được hưởng phước báu hay muốn giải thoát? Quyền nơi bạn.)
Những năm trước, hình ảnh Đức Phật in trên đồ lót, trên bồn cầu, trên giày dép…cộng đồng Phật tử phản ứng mạnh, những vật dụng đó được thu hồi.Vài người nghĩ rằng đó là những hành động xúc phạm từ cá nhân khác tín ngưỡng hoặc đố kỵ Phật giáo. Ngày nay, hàng loạt hình ảnh cờ của nhiều quốc gia in trên cuộn giấy vệ sinh, Chúa Phật đều xuất hiện trên giày dép, thảm chùi chân…
Phi hành gia Edgar Mitchell là một nhà khoa học lỗi lạc với nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về không gian tại Đại học Harvard và Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Ông là một trong sáu người đã đặt chân lên mặt trăng bằng phi thuyền Apollo 14 vào ngày 31 tháng 1 năm 1971. Ông đã đến Đài Loan năm 2008 tham dự một hội thảo Khoa học và có dịp gặp gỡ và đối thoại cùng Hoà thượng Thánh Nghiêm. Đoạn trích này trong cuốn Muôn kiếp nhân sinh của tác giả Nguyên Phong.
Cái mà ta chứng kiến là những vị Đại sư có khả năng thiên phú lại còn khiêm nhường thu mình; trong khi có những người thuyết giáo giả mạo, không cảm thấy hổ thẹn, tham lam vô đáy và nói dối trắng trợn, táo tợn đeo mặt nạ tôn giáo, thực hiện các hoạt động tôn giáo; và do đó mang lại tai tiếng cho Đạo và đức tin Phật giáo. Trên quan điểm này, mọi người nên hết sức cẩn trọng để đạt được quyết tâm. Điều đặc biệt quan trọng là các vị Đại sư có khả năng thiên phú nên có trách nhiệm phụng sự cho tôn giáonhân loại.
Thời gian như đến rồi đi, như trồi rồi hụp, thiên thu bất tận, không đợi chờ ai và cũng chẳng nghĩ đến ai. Cứ thế, nó đẩy lùi mọi sự vật về quá khứ và luôn vươn bắt mọi sự vật ở tương lai, mà hiện tại nó không bao giờ đứng yên một chỗ. Chuyển động. Dị thường. Thiên lưu. Thiên biến. Từ đó, con người cho nó như vô tình, như lãng quên, để rồi mất mát tất cả… Đến hôm nay, bỗng nghe tiếng nói của các bạn hữu, các nhà tri thức hữu tâm, có cái nhìn đích thực rằng: “Đạo Phật và Tuổi Trẻ.” “Phật Việt Trong Lòng Tộc Việt.” “Dòng Chảy của Phật Giáo Việt Nam” hay “Khởi Đi Từ Hôm Nay.” Tiếng vang từ những lời nói ấy, đánh động nhóm người chủ trương, đặt bút viết tâm tình này.
Tính không viết chuyện này, viết rồi lại cất đâu đó trong máy tính từ năm ngoái, nhưng nay đổi ý, xin được chia sẻ tí ti với bạn về chuyện một con châu chấu mà tôi đã kết bạn. Đúng ra thì tôi xem con châu chấu là bạn, chứ nó có bao giờ tuyên bố muốn làm bạn với tôi đâu. Thế nên bảo là chuyện “đôi bạn” thì cũng không chính xác; duyên kỳ ngộ này xảy ra đã gần một năm rồi.
Giáo dục là gì? Giáo dục có từ hồi nào và bao giờ thì chấm dứt? Chúng ta không ai là không hấp thụ một nền giáo dục hoặc ít ra một hình thức giáo dục. Tuy nhiên chúng ta không khỏi lúng túng trước những câu hỏi trên vì khó có thể trả lời một cách trôi chảy, vắn tắttrọn vẹn ý nghĩa. Chúng ta hãy xem chim mẹ tập chim con chuyền cành, khỉ mẹ tập khỉ con lội qua con suối và gà mẹ trình diễn cách tìm kiếm thức ăn bên đống rác trước mặt đàn con. Rồi chim biết bay, khỉ biết lội và đàn gà đã biết mưu sinh không còn phải theo mẹ. Đó là lối giáo dục của loài động vật.
Chuyển nghiệp (Vikāra kamma, 轉業) được hiểu là làm những việc thiện đối lập với nghiệp ác đã tạo. Quan điểm này thể hiện rõ nét qua trường hợp: “Như tướng cướp Angulimàla là tay khét tiếng giết người, sau vào tu trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, chứng ngộ đạo quả. Đáng ra, tội giết người kinh khiếp của Angulimàla sẽ bị ác báo nặng nề! Nhưng không, Angulimàla nhờ chứng ngộ đạo quả cao siêu, pháp xuất thế gian, là tối thượng thiện pháp – nhờ năng lực ấy nâng đỡ nên trả quả rất nhẹ”
Nói đến hiếu hạnh, trong thâm tâm chúng ta ai ai cũng đều liên tưởng đến mẹ cha, đến việc đền trả những thâm ân mà mẹ đã mang nặng đẻ đau, cha đã cù lao dưỡng dục. Nghe hai chữ “hiếu hạnh” thấy nó đơn giản, nhưng khi đem ra thực hành thì quả là thiên nan vạn nan, chứ không đơn giản và dễ dàng như mình tưởng. Vì nói đến “hiếu hạnh” là nói đến một triết lý sống cao tột, mà không một học đường nào có khả năng đứng ra giảng giải được, vì “hiếu hạnh” bao gồm cả đạo đức lẫn triết lý sống, cũng như hoàn cảnh xã hội bên ngoài.
Giáo pháp của Đức Phật đã được truyền đến khắp năm châu bốn bể và tại mỗi địa phương ngày nay, giáo lý ấy được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhằm phổ biến đến những người tin Phật có cơ hội hiểu rõ và đúng với chân tinh thần của đạo Phật.
Người ta có nhiều cách phân kỳ lịch sử Phật giáo trên thế giới. Theo Edward Conze trong “A short history of Buddhism” thì có thể tạm chia lịch sử Phật giáo làm bốn giai đoạn: Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, phần lớn trùng khớp với giai đoạn sau này được gọi là Tiểu thừa (Hinayana); thời kỳ thứ hai đánh dấu bởi sự phát triển của giáo lý Đại thừa (Mahayana); thời kỳ thứ ba là sự phát triển của Mật tông (Tantra) và Thiền tông (Ch’an hay Zen), thời kỳ này kéo dài đến thế kỷ XI [1]. Khoảng 1000 năm gần đây có thể được xem là thời kỳ thứ tư.
Hội thảo Phật giáo quốc tế với chủ đề “Cách tiếp cận của Phật giáo về sự lãnh đạo toàn cầu và trách nhiệm cùng chia sẻ vì xã hội bền vững” (Buddhist Approach to Global Leadership and Shared Responsibilities for Sustainable Societies) trong suốt thời gian đại lễ Vesak LHQ 2019 không chỉ mang tính thích ứng mà còn tính hợp thời. Tác phẩm này và kết quả một trong năm diễn đàn được thuyết trình trong hội thảo quốc tế. Các phương diện khác của hội thảo bao gồm:
Đã gần 2 năm trôi qua vì nạn Covid 19, thế giới chìm trong bóng tối không lối thoát. Nhiều triệu người chết; hơn mấy chục triệu người bị lây nhiễm. Nhiều người đã được chích ngừa lần thứ nhất, rồi lần thứ hai; nhưng rất nhiều người vẫn tiếp tục bị lây nhiễm và chết chóc khiến cho thế giới y học rất lo toan. Những chính khách vẫn đang thảo luận trên diễn đàn của các chính phủ sở tại về các biện pháp phòng chống bệnh dịch này. Có nước đề nghị cứ mỗi năm phải tái chích chủng ngừa Covid lại một lần và cũng có những nơi chưa đưa ra biện pháp nào khác. Biện pháp duy nhất mà các nhà chức trách khuyên chúng ta là phải rửa tay thường xuyên, tránh tiếp xúc nhiều và đeo khẩu trang để phòng ngừa v.v…
Một hôm Ngài A Nan hỏi Đức Phật ? Bạch Đức Thế Tôn, sau khi một chúng sanh qua đời họ sẽ tái sanh về đâu? Đức Phật ôn tồn trả lời; Này A Nan, cũng như một cái cây, nếu nghiêng về phía nào, thì khi người ta đốn ngã nó sẽ đỗ về phía đó (trọng lực), một chúng sanh sau khi chết cũng sẽ theo nghiệp mà đi như thế ấy.
Tạp Chí Của Kiều Bào & Phật Tử Việt Nam Tỵ Nạn Tại Cộng Hòa Liên Bang Đức các năm 2017, 2018, 2019 , 2020 & 2021. Số mới nhất 243 tháng 5 năm 2021
Thới gian vẫn không ngừng trôi, hết xuân lại hạ, ngày tháng dần qua như nước chảy mây bay, sóng sau đè sóng trước, từng thế hệ lần lượt nối tiếp nhau. Ba chẳng mấy chốc giờ đã lên nội, ngoại. Tóc ba đã bạc trắng mái đầu, mỏi gối chồn chân… Thương ba nhưng đành chịu thôi, quy luật sinh – lão – bệnh – tử có chừa ai đâu!
Sự giới thiệu ngắn gọn này về cuộc đời và các tác phẩm của Kharlek Tulku Pema Kunzang Rangdrol (1916-1984) vốn được viết như là lời giới thiệu cho tác phẩm của đạo sư về lịch sử Giáo Pháp bất bộ phái.
Chùa Từ Ân tọa lạc trên một vùng đất rộng khoảng 6 sào Trung Bộ (3.000 m2), nằm bên bờ Bắc sông Hương, cách ngôi quốc tự Thiên Mụ khoảng 400 mét về hướng Đông. Vùng đất này, (theo nhà Bác học Lê Quý Đôn, trong sách Phủ Biên tạp lục) thì từ nhiều năm về trước có tên là xã Hà khê (đối diện là xã Thọ Khang bên bờ Nam Sông Hương), thuộc huyện Kim Trà. Trải qua một thời gian sau đó lại đổi là xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, rồi lại đổi là làng Xuân Hòa, xã Hương Long, huyện Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên. Năm Bính Dần, 1986, lại đổi là thôn Xuân Hòa, Xã Hương Long Thành Phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện này chùa được gắn biển số nhà 108 đường Nguyễn Phúc Nguyên, Thành phố Huế.
Một đạo Phật chỉ có giá trị cho các triều đại cầm quyền khi tôn giáo là chỗ dựa tinh thần hay là đối tượng tham khảo, tham vấn của thế lực lãnh đạo. Ngược lại, lịch sử Đông Tây kim cổ đã chứng minh rằng đạo Phật sẽ bị thoái trào và trở thành “con nợ tâm linh – kinh tế” cho bất cứ thế lực lãnh đạo đất nước nào muốn biến đạo Phật thành phương tiện thế tục phục vụ nằm trong tay hay dưới trướng của guồng máy lãnh đạo chính trị. Bởi vậy, vấn đề cần có sự phân định rạch ròi giữa Tôn Giáo và Nhà Nước đã thường xuyên đặt ra những vấn nạn toàn cầu. Câu trả lời đã được minh thị rõ ràngdứt khoát rằng cả Nhà Nước và Tôn Giáo đều có lợi khi hai bên có sự sinh hoạt độc lập nhưng tương kính và thường xuyên hỗ trợ cho nhau.
Nhân Duyên là gì? Là không có thể tánh. Sự sanh khởi, tồn tại, cho đến diệt vong của tất cả pháp đều là do các điều kiện quan hệ hoà hợp hoặc phân tán: điều kiện chủ yếu thân cận gọi là Nhân; điều kiện thứ yếu quan hệ xa gọi là Duyên. Khi nhân duyên hoà hợp thì các thứ pháp sanh, khi nhân duyên phân ly thì các thứ pháp diệt.
New Posting: Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 368 ngày 15-5-2021 và số 369 ngày 15 tháng 6 năm 2021
Thiền quán hay thiền minh sát (Vipassanā bhāvanā) còn được gọi là thiền tuệ (vipassanāñāṇa). Giá trị của thiền quán là mang lại trí tuệ cho người thực tập thiền. Minh sát (vipassanā) là nhìn thẩm thấu bằng tâm, nhìn mọi sự vật một cách sâu sắc “như chúng đang là”, hạn chế tối đa sự can thiệp ý thức chủ quan vào sự vật được quan sát, khi các giác quan tiếp xúc với đối tượng trần cảnh. Khi các suy luận dù là diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, phân tích… thoát ra khỏi ý thức về chấp ngã chủ quanchấp ngã khách quan, lúc đó ta có thể nhìn sự vật đúng với bản chất của chúng.
HỎI: Trong các năm gần đây có một số nhà sư Phật giáo tự xưng và ký tên trên các văn bản là Sa Môn mà trước đây chúng tôi chỉ được biết quý Sư thường ký tên là Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni. Vậy xin hỏi ý nghĩa của danh xưng Sa Môn là gì và làm sao để đạt được Sa Môn quả?
Dưới dạng một bài nói chuyện với bản thân, Ngài Jamyang Khyentse Chokyi Lodro gửi đến vài lời khuyên khẩn cấp và không thỏa hiệp, sau đấy dâng một lời cầu nguyện chân thành đến đạo sư và những lời nguyện hoàn mãn.
Môi trường sinh thái là bao gồm tất cả những điều kiện xung quanhliên quan tới sự sống con người. Nó là tập hợp các sinh vật, cùng với các mối quan hệ khác nhau giữa các sinh vật đó và các mối tác động tương hỗ giữa chúng với môi trường. Môi trường sinh thái có mối quan hệ mật thiết đối với sức khỏe của con người. Nếu môi trường sinh thái trong lành, thì cuộc sống con người khỏe mạnh; còn nếu môi trường ô nhiễm thì cuộc sống con người dễ ốm đau, bệnh tật.
Đây là lần đầu tiên hội thảo quốc tế về Phật giáo trong vùng Mê-kông được tổ chức tại Việt Nam. Đứng trước các thách thức về những hiểm họa về môi trường tại khu vực Mê-kông, các nhà nghiên cứu Phật học và các học giả thể hiện sự quan tâm đến các mục tiêu xây dựng môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực, định hướng sự phát triển kinh tế vững chắc, đồng thời đảm bảo sự hài hòa và cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế của các quốc gia tiểu vùng Mê-kông và bảo vệ môi trường của toàn khu vực.
Trong một chuyến công du hiếm hoi dưới sự giám sát chặt chẽ của chính phủ tới khu vực này vào tuần trước, một nhà báo của Reuters đã nhìn thấy những bức chân dung trong lớp học, đường phố, cơ sở tôn giáo, nhà ở và phòng ngủ của một nhà sư Phật giáo.
Những đoạn kệ lời khuyên phổ quát về cách thực hành con đường từ các quán chiếu sơ khởi cho đến những thực hành cao cấp hơn của giai đoạn phát triểnhoàn thiện, được viết cho một học trò không nêu tên.
Kinh điển là lời và ý của phật dạy cho chúng ta biết hiểu để tu tập thân tâm, nhờ vào sự tu tập thân và tâm thì chúng ta mới có giác ngộgiải thoát. Kinh điển chỉ là phương tiện để cho chúng ta biết con đường tu tập cho đúng cách tạo công đức cho mình, vì vậy đọc tụng hiểu được nghĩa của kinh để thực hành tu tập thân và tâm thì khi đó mới có công đức. Còn người tụng đọc kinh mà không tu tập (không thực hành) thì chẳng có công đức gì cả dù hàng ngày chúng ta có tụng đọc bao nhiêu thời kinh thì cũng chẳng có công đức gì.
Tìm Phật ở đâu? Phật ở khắp mọi nơi, hãy lắng nghe bài thơ sau và nghe video nói về Phật Cái thiền, cái đẹp, cả lời ca, Đều từ tay mắt Phật mà ra Cả vũ trụ này đâu cũng Phật Sao lầm, cứ tưởng Phật đâu xa?
Gần đây, Dzongsar Khyentse Rinpoche và Orgyen Tobgyal Rinpoche[1] đã yêu cầu càng nhiều hành giả càng tốt dâng thực hành Sur để trả các món nợ nghiệp, một nguyên nhân quan trọng của sự hoành hành đáng báo động của COVID ở Ấn Độ và ở nhiều vùng khác trên thế giới. Năm 2010, Orgyen Tobgyal Rinpoche đã giải thích rất đơn giản cách tiến hành cúng dường Sur, điều không phải là một thực hành phức tạp.
Quyển sách nhỏ có tựa đề “Phàm Tâm-Thánh Tâm” này không phải là một chuyên đề nghiên cứu thâm sâu về tâm hay giáo lý nhà Phật, mà nó chỉ đơn thuần vạch ra chức năng và sự hoạt động của tâm theo quan điểm Phật giáo, những lời dạy của Đức Phật về tâm, cũng như vai trò của nó trong tu tập hằng ngày. Phật tử chân thuần nên luôn nhớ rằng tu tập chỉ có hiệu quả khi chúng ta chịu áp dụng những lời Phật dạy vào việc thực tập những bài tập có lợi ích được liên kết với những mẫu mực đã được thiết lập trong cuộc sống hằng ngày của mình, làm cho đời sống của chúng ta trở nên yên bình, tỉnh thứchạnh phúc hơn. Phật tử thuần thành nên luôn nhớ rằng mục đích của người tu Phậttự giác, nghĩa là tự quán sát bằng cái trí của chính mình chứ không dựa vào kẻ khác; giác tha (sau khi tự mình đã giác ngộ lại thuyết pháp để giác ngộ cho người khác, khiến họ được khai ngộ và giúp họ rời bỏ mọi mê lầmkhổ não trong vòng luân hồi) rồi cuối cùng mới đi đến giác ngộgiải thoát ngay trong kiếp này.
Biên cương thế giới ngày nay bị thu hẹp với nền viễn thông liên mạng tân tiến, trong khi nhận thức của các thế hệ trẻ lại được mở rộng và sớm sủa hơn, khiến niềm tinlẽ sống chân thiện dễ bị lung lay, lạc hướng. Thông tin đa chiều với sự cố ý lạc dẫn từ những thế lực hoặc cá nhân vị kỷ, hám lợi, thúc đẩy giới trẻ vào lối sống hời hợt, hiểu nhanh sống vội, ham vui nhất thời, tạo nên hỗn loạn, bất an trên toàn cầu. Trước viễn ảnh đen tối như thế, con đường hoằng pháp của đạo Phật rất cần phải bắt nhịp với đà tiến của nền văn minh hiện đại, nhằm tiếp cận với từng cá nhân, quân bình đời sống xã hội, giới thiệu và hướng dẫn con đường mang lại an vui hạnh phúc cho mình, cho người.
NỘI DUNG: - Bước Khởi Đầu Công Cuộc Vận Động Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam - Sự Ra Đời Của Ban Liên Lạc Phật Giáo Yêu Nước Tp. Hcm - Sự Ra Đời Của Ban Vận Động Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam - Hội Nghị Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam
Trước khi bị Taliban phá hủy, hai bức tượng Phật Bamiyan, Afghanistan - di tích này từng được coi là hai pho tượng Phật đứng lớn nhất trên thế giới, một bức cao 53m, một bức cao 38m, được khắc sâu vào vách sa thạch ở Bamiyan (Afghanistan) vào thế kỷ thứ 5.
Bài này được viết để hồi hướng các thiện hạnh có được để nguyện xin bình angiải thoát cho tất cả đồng bào nơi quê nhà, vá cho chúng sanh khắp ba cõi sáu đường. Trong bài là một số ghi chú trong khi đọc Kinh luận, không nhất thiết theo một thứ tự nào. Các đề tài phần lớn ít được nhắc tới, nhưng đa dạng, có thể là quan tâm của nhiều người, từ thắc mắc rằng có khi nào Đức Phật đã dạy về ăn chay, cho tới câu hỏi có cần tu đầy đủ tứ thiền bát định hay không, và vân vân. Nơi đây sẽ tránh các lý luận phức tạp, chủ yếu ghi các lời dạy thực dụng từ Kinh luận để tu tập. Bản thân người viết không có thẩm quyền nào, do vậy phần lớn sẽ là trích dẫn Kinh luận.
Trải qua gần 2.000 năm lịch sử, mặc mưa gió, bão táp sa mạc, bất chấp các rung địa chấn diễn ra liên miên trong lòng Trái Đất, hai bức tượng Phật khổng lồ được chạm khắc vào vách đá Bamiyan (Afghanistan) vẫn vô sự uy nghiêm trước trời đất.
Từ xưa đến nay người ta vẫn thường nhắc đến chữ Tâm trong đời sống, coi đó như một phẩm chất đạo đức, một yếu tố nhân văn rất cần thiếttốt đẹp trong mối quan hệ giữa người và người với nhau. Trong xã hội đã vậy, đối với người tu thì càng phải vậy, vì người tu lấy từ bitrí tuệ làm phương châm sống của mình. Tuy nhiên thực tế cũng có không ít tăng ni tâm lượng hẹp hòi, đối xử với nhau không có tâm cho lắm.
Kính Lạy Mười Phương Chư Phật đã để lại cho Phật tử hậu thế chúng con một tài sản quí báu không thể nghĩ bàn, tài sản không bao giờ mất cho cuộc sống an lạc, tỉnh thứchạnh phúc. Khi nói đến tài sản, ở đây chúng ta muốn nói đến tài sản tinh thầnđức Phật đã để lại cho nhân loại nói chung, và cho những người con Phật nói riêng.
...Ngày sau và ngày sau nữa, ở đâu đó trong thư viện của Phật học viện hay ở chốn tùng lâm, người đọc sẽ tìm thấy những cuốn sách của tác giả Thích Phước Sơn. Hay thay, ngôn từ chuyên chở tư tưởng trong sách ấy có thể giúp cho ai đó cải tà qui chánh, trở thành người lương thiện giúp ích cho tự thân, gia đình, và xã hội trở nên thánh thiện. Quí lắm thay! Mong Ngài còn có cơ duyên với trần thế nầy hãy hội nhập Ta bà để hóa độ quần sanh.
....Mới hay, có những việc mà người xuất gia nghĩ rằng mình đang làm là thiện sự, là Phật sự phước báo vô lượng, đơn cử như giữ gìn ngôi chùa của mình thật tốt, thật chắc chẳng hạn. Ấy thế mà không chừng, Thế Tôn chẳng những không khen việc ấy mà lại rầy đó là phi pháp. Nghĩ cũng lạ, phi pháp làm sao được: Chùa mình mới xây rất đẹp, trong chùa có nhiều pháp khí quý giá nên phải ở nhà trông coi. Chỗ mình tiện nghi rất đầy đủ, đi xa sẽ thiếu thốn, tù túng. Mọi người nơi trú xứ của mình đều đã thân quen, các Phật tử đang rất cần mình nên đi an cư không đành. Những việc này hoàn toàn chính đáng sao Thế Tôn gọi là phi pháp?
Cuộc sống là phiền não, mang thân chúng sanh luôn gặp nhiều khổ đau; thế gian là vậy; đời hay Đạo không tránh khỏi nhiễu nhương trong cuộc sống. Cho dù quyền cao chức trọng ở thế gian hay quyền uy đạo cả trong Tôn giáo không thể bảo là sung sướng hạnh phúc trọn vẹn, vì đời là bể khổ. Thế nhưng, gặp phải thời vượng, quên lúc gian nan, dùng quyền lực áp đảo kẻ sa cơ để mưu lợi hoặc vì hận thù, và nhiều lý do hành xử phát xuất từ Tham-sân-si.
Như lời giới thiệu của Arthur Zajonc, cuộc gặp gỡ Tâm thứcĐời Sống lần thứ mười đã đưa chúng ta vào một hành trình dài, từ những thành phần đơn giản nhất của vật chất đến sự phức tạp của ý thức con người. Cuốn sách này theo dõi hành trình đó diễn ra trong suốt một tuần trong một căn phòng chật cứng tại tư dinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma trên ngưỡng cửa của dãy Himalaya.
Một hướng dẫn chi tiết để thực hành nghi quỹ Đạo Sư Du Già nổi tiếng của Mipham Rinpoche dựa trên Lời Cầu Nguyện Bảy Dòng Đến Guru Rinpoche – Cơn Mưa Gia Trì.
Xuất thân trong một gia đình có truyền thống theo đạo Phật, ngay từ nhỏ Sư Cô Giác Lệ Hiếu đã ấp ủ ý định trở thành một tu sĩ Phật giáo. Sau khi tốt nghiệp loại giỏi hệ Cử nhân tài năng chuyên ngành Hàn Quốc học, trường Đại học KHXH&NV TP. HCM, năm 2010 Cô sang Hàn Quốc du học và tốt nghiệp Thạc sĩ với luận án xuất sắc.
Ni Sư Thích Nữ Diệu Hiếu, là vị Tiến Sĩ đầu tiên tốt nghiệp Thiền Vipassana tại Myanmar vào đầu năm 2016. Suốt 14 năm tu học tại Miến Điện. Tháng 07/2016 Ni Sư về lại Việt Nam, Ni Sư là giảng viên Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. HCM đến nay. Hội đủ duyên lành, được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất tại TP. HCM. Với tâm nguyện hoằng Pháp lợi sanh, Ni Sư xây dựng NI XÁ tại Tu Viện để có chỗ Ni Chúng Đệ Tử có nơi ở an tâm tu học.
...Năm nay tôi chọn đề tài “Tư tưởng Phật giáo trong thi ca Nguyễn Du”, bởi lẽ tuy đã có nhiều người viết về Truyện Kiều và Nguyễn Du, khen có, chê có..., nhưng đối với một tăng sĩ như tôi thì sự quan tâm đến chủ đề này là cần thiết. Có nhiều học giả, văn nhân, thi nhân và cả tu sĩ, đã viết và giới thiệu Nguyễn Du với Truyện Kiều hay những bài thơ chữ Hán của ông. Chẳng hạn như Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã viết về Truyện Kiều qua tác phẩm “Thả một bè lau”, lấy ý từ 2 câu Kiều: “Giác Duyên dầu nhớ nghĩa nhau, Tiền Đường thả một bè lau rước người.” Gần đây thì có tác giả Đại Lãn, tức Hòa thượng Thích Đức Thắng, viết về Nguyễn Du và Phân Kinh Thạch Đài rất đặc biệt.
Vì Giới bổn Tỳ-kheo-ni là sách gối đầu giường của tất cả Tỳ-kheo-ni nên việc đọc tụng Giới kinh mỗi nửa tháng một lần là quy định thiêng liêng mà các thành viên Ni đoàn không nên bỏ qua. Ngày xưa, do quá trình thực hiện và xuất bản một quyển sách rất khó khăn và tốn kém, không nhiều người có được bản in của Giới bổn. (Hạ tải bản PDF ở phần đính kèm bên phải)
Vì Giới bổn Tỳ-kheo là sách gối đầu giường của tất cả Tỳ-kheo nên việc đọc tụng giới kinh mỗi nửa tháng một lần là quy định thiêng liêng mà các thành viên Tăng đoàn không nên bỏ qua. Ngày xưa, do quá trình thực hiện và xuất bản một quyển sách rất khó khăn và tốn kém, không có nhiều người có được bản in của Giới bổn.
Trong những năm vừa qua, tôi đã viết các tác phẩm về nước Nhật, nước Úc, Hoa Kỳ và nay tôi viết về Âu Châu. Vì nơi đó tôi đã được dưỡng nuôi hình hàitâm thức này suốt trong thời gian hơn 42 năm qua (1977-2018) thì không lý do gì mà tôi không ghi lại bằng chữ nghĩa qua những tấm đạo tình của chư Tăng Ni cũng như Phật tử người Việt cũng như người Đức đã bảo bọc tôi suốt chừng ấy thời gian. Quả là điều không thể khước từ được. Mặc dầu không ai giao cho tôi một trách nhiệm như thế, nhưng tôi tự giao cho mình và từ đó phát nguyện dấn thân.
Lịch sử Phật giáo Việt Nam thời kỳ Đại Việt ghi nhận Phật giáo thời Trần phát triển đến đỉnh cao. Thời Trần xuất hiện những trung tâm chùa, tháp lớn như: Trúc Lâm Yên Tử (Quảng Ninh). Chùa tháp Phổ Minh (thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định). Chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều, Quảng Ninh). Chùa Vĩnh Nghiêm (còn gọi là chùa Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, Bắc Giang).
Từ thiện là từ Hán-Việt, Theo từ điển Hán Việt Thiều Chửu, từ thiện (慈善) là kết hợp giữa hai từ Từ (thương yêu, như là nhân từ (thương người), từ tâm (lòng thương)) và Thiện (tốt lành). Vậy từ thiện có nghĩa là làm việc tốt từ lòng yêu thương (người). Những hành vi, việc làm tốt mà không xuất phát từ lòng thương thì không được gọi là 'Từ Thiện”.
Chúng ta hãy ngược dòng thời gian nhìn lại những trang sử hào hùng của lịch sử dân tộc Đại Việt hay những triều ĐạiPhật giáo nước nhà phát triển mạnh, nhất là thời đại nhà Trần. Trong quá trình phát triển lịch sử Phật giáo Việt Nam, dưới triều Đại nhà Trần đã thể hiện rõ sức sống tự lực, tự cường với tinh thần độc lập của dân tộc, không giùn chân, không khiếp sợ trước uy quyền hay một thế lực ngoại bang nào cả, mà thể hiện rõ tính dân tộc của người Việt.
Bình tâm mà xét, lời nói bất thiện là những ác nghiệp dễ gây tạo nhất trong đời sống hàng ngày. Đáng nói là nhiều người tạo khẩu nghiệp bất thiện mà không hề hay biết, cứ vô tư nghĩ rằng “lời nói gió bay” nhưng kỳ thật trong rất nhiều kinh Thế Tôn xác định đó là “binh khí miệng lưỡi”. Đã là binh khí thì chắc chắn lời nói ác sẽ gây sát thương cho mình và người, tàn hại lẫn nhau để lại hậu quả nghiêm trọng.
Đây là cuốn sách thứ hai của tác giả Ni sư Thích Nữ Hằng Như, sau tác phầm đầu “Trên Đường Về Nhà”. Trong quyển đầu tác giả đã trao cho chúng ta một tập tài liệu mang tính cách giáo khoa giúp chúng ta sửa soạn hành trang và định hướng cho một cuộc hành trình như trao tấm bản đồ hướng dẫn con đường thích hợp để chúng ta về nhà. Tác giả cho rằng thật không dễ dàng lắm vì tâm chúng ta vẫn còn dong duổi dính mắc với cảnh bên đường nên chúng ta vẫn chưa thể về đến được mái nhà xưa. Và vì thế cuốn sách thứ hai “Ứng Dụng Lời Phật Dạy” được ra đời.
Hồ Quỳnh Hương là một người nghệ sĩ tài hoa, bản lĩnh với vẻ đẹp sắc sảo, quyến rũ. Tuy nhiên đằng sau hình ảnh rực rỡ trên sân khấu ấy, Hồ Quỳnh Hương còn là một người phụ nữtâm hồn đẹp đẽ với lối sống thuần chay kiên định.
Những năm trước, hình ảnh Đức Phật in trên đồ lót, trên bồn cầu, trên giày dép…cộng đồng Phật tử phản ứng mạnh, những vật dụng đó được thu hồi.Vài người nghĩ rằng đó là những hành động xúc phạm từ cá nhân khác tín ngưỡng hoặc đố kỵ Phật giáo. Ngày nay, hàng loạt hình ảnh cờ của nhiều quốc gia in trên cuộn giấy vệ sinh, Chúa Phật đều xuất hiện trên giày dép, thảm chùi chân…
Chùa Từ Ân tọa lạc trên một vùng đất rộng khoảng 6 sào Trung Bộ (3.000 m2), nằm bên bờ Bắc sông Hương, cách ngôi quốc tự Thiên Mụ khoảng 400 mét về hướng Đông. Vùng đất này, (theo nhà Bác học Lê Quý Đôn, trong sách Phủ Biên tạp lục) thì từ nhiều năm về trước có tên là xã Hà khê (đối diện là xã Thọ Khang bên bờ Nam Sông Hương), thuộc huyện Kim Trà. Trải qua một thời gian sau đó lại đổi là xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, rồi lại đổi là làng Xuân Hòa, xã Hương Long, huyện Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên. Năm Bính Dần, 1986, lại đổi là thôn Xuân Hòa, Xã Hương Long Thành Phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện này chùa được gắn biển số nhà 108 đường Nguyễn Phúc Nguyên, Thành phố Huế.
Tôi đã chia xẽ trên Thư viên Hoa sen những kinh nghiệm thiền quán thực chiến của mình chứ không phải là lý thuyết với mục đích cung cấp nguồn thưc ăn tinh thần và là một động lực, truyền cảm hứng cho các nhà đồng tu hoặc anh chị em đi trên con đường đạo.
Tiến sĩ Lancaster với cái nhìn sâu sắc sẽ nói về cách chúng ta có thể áp dụng kiến thức Phật giáo vào cuộc sống hiện đại. Mời quí vị ghi danh qua link: www.ishb-uwest.org/lancaster-lecture-series Lớp giảng sẽ là 7PM Thứ Ba ngày 20/4/2021 tức 10AM sáng Thứ Tư 21/4/2021 Việt Nam
GHI DANH Khóa BÁT NHÃ - lớp TRUNG CẤP 1 Do Ni sư Triệt Như trực tiếp hướng dẩn Học trên ZOOM - Miễn phí NGÀY KHAI GIẢNG: Thứ bảy 1 tháng 5, 2021 và kéo dài 6 kỳ học. Từ 2 pm đến 4pm (giờ Cali) vào mỗi Thứ Bảy tuần lể đầu tiên và tuần lể thứ 3 của tháng. Ngày Bế giảng 17 tháng 7- 2021.
Chương Trình Tu Học Phật Pháp Liên Châu Online Lần Thứ 4 Thời gian: Từ ngày 22/03/2021 đến 10/05/2021 Vào lúc: Tối Thứ Hai từ 8:30 pm đến 10:00 pm (New York Time) Meeting ID: 825 0640 9380 Passcode: 9625247070