LEFT-TOP
(Xem: 1351)
Cho tới nay có ít nhất mười nhà dịch giả (thuật) bộ Qui Sơn Cảnh Sách sang Việt ngữ như trong sách Phật Tổ Tam Kinh (1950; của Vô Danh Thị), Hòa Thượng Thích Hành Trụ (1972), Tuệ Nhuận (1973); Chư Thượng Tọa, Đại Đức dạy chúng, tại các trường Phật học Báo Quốc, Linh Ứng (Non Nước), Nguyên Thiều (Bình Định), Ấn Quang (Sàigon), Lưỡng Xuyên (Trà Vinh), Phật Ân (Mỹ Tho), Huệ Nghiêm (Gia Định) v.v... đều giảng dạy tăng sinh bộ sách quý này. Tại sao chúng tôi vẫn tiếp tục dịch luận bản văn trên sang tiếng Việt làm gì?
(Xem: 1295)
Thanh tịnh đạo đã nói lên ý nghĩa căn bản con đường phạm hạnh, kim chỉ nam cho những ai tầm cầu đạo lộ chí thượng độc nhất thanh tịnh, vì ngoài nó ra không còn con đường nào khác hướng đến tuần tự tiến hóa. Và tầm quan trọng của nó được thể hiện phổ biến rộng rãi qua các xứ Quốc giáo khi nó là nền tảng cho các hành giả phát triển thiền quán.
(Xem: 886)
Chúng tôi vẫn hay nói, có những vị đến giới đàn là để “thọ giấy” hơn là “thọ giới”. Điều này có thể cho là ý kiến chủ quan, nhưng thực tế ngày nay chúng tôi và các vị tôn túc đều cảm thấy như vậy.
(Xem: 1909)
Nói đến giới luật là nói đến hệ thống các quy định về chuẩn mực trong đời sống phạm hạnh, quy tắc ứng xử, cũng như các hoạt động mang tính nội bộ, đặc thù của Tăng sĩ Phật giáo nói riêng và Tăng đoàn nói chung. Giới luật ấy chia làm hai phần, gồm giới và luật. Hai phần này có quan hệ khắng khít, mật thiết với nhau trong quá trình hành và trì giới luật của các vị thọ Đại giới: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni.
(Xem: 1707)
Bài Văn Cảnh Sách này là do Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu (năm 771-853) soạn viết để cảnh giác và sách tấn đồ chúng dưới tòa của ngài, vì vậy nên gọi là bài văn Cảnh Sách. Bởi vì ngài khai sơn và ở núi Quy giáo hóa đồ chúng nên gọi là Quy Sơn. Ngài là bậc triệt ngộ xuất chúng dưới tòa của Tổ Bá Trượng, là đời thứ tư của dòng Tào Khê, là người sáng lập ra tông Quy Ngưỡng cùng với đệ tử là Thiền Sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch.
(Xem: 1357)
So sánh Giới Luật Tỳ Khưu giữa các Trường phái chính Phật Giáo - A Comparative Study of The Bhikhhu Patimokkha of The Principal Buddhist Schools Ph.D. Thesis, Magadh University, Bodh-Gaya - India 2002
(Xem: 112855)
Đối với Phật giáo, các nguồn gốc của mọi hành vi tác hại, thí dụ như ham muốn, thù hận và cảm nhận sai lầm được coi như là cội rể cho mọi sự xung đột của con người.[i] Khi đã nghĩ như vậy, người ta luôn cho rằng „tôi có quyền và muốn có quyền“, để mà ngược đải người khác
(Xem: 1215)
Chúng ta dễ dàng nhận thấy một nghịch lý ở đây, trong khi các buổi lễ hành chánh của Phật giáo tỉnh đó, dù xa xôi như thế nào thì ở hàng ghế chứng minh vẫn trên 10 vị tôn túc, như vậy có nghĩa ở đó vẫn cầu thỉnh được Tăng từ trú xứ khác đến. Vậy thì sao trong việc truyền giới Cụ túc lại đưa lý do là trú xứ không đủ túc số 10 vị Tăng? Đây là một vấn đề cần được chư tôn đức và các giới tử quan tâm.
Kinh
(Xem: 882)
Đối với kinh Đại bát-niết-bàn, bản của ngài Đàm-vô-sấm 曇無讖 (385-433), mang số hiệu 0374 (Bắc bản) và cả 0375 (Nam bản) trong tạng Đại chánh, khi chuyển dịch sang tiếng Việt, đã có vài trường hợp người dịch tự tích hợp thêm Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần 大般涅槃經後分 vào nội dung, tức là phần sau của kinh Đại bát-niết-bàn, mang số hiệu 0377 cũng thuộc tạng Đại chánh . Vậy bản kinh được thêm vào này thực sự có liên quan đến bộ Kinh Đại bát-niết-bàn của ngài Đàm-vô-sấm nêu trên? Đây có phải là nội dung kinh quan trọng mà ngài Đàm-vô-sấm dám hy sinh cả tính mạng để nỗ lực tìm kiếm?
(Xem: 1350)
Kinh Đại Duyên trong Trường bộ kinh là bài kinh rất thâm thúy liên quan đến lý duyên khởi. Tuy nhiên từ lâu đã gây trở ngại rất nhiều cho giới nghiên cứu khi đối diện với những thuật ngữ và ý nghĩa trong đó. Qua dầy công nghiên cứu và thông suốt Pāli, đại sư Bodhi đã trao cho chúng ta chiếc chìa khóa để tiến vào kinh đại duyên một cách vững vàng. Ngay trong phần giới thiệu tác phẩm và cũng là tiểu luận về bản kinh, đại sư đã chứng tỏ sở học uyên thâm và phần này hỗ trợ cho chúng ta rất nhiều.
(Xem: 472)
Tôi nghe như vầy: Một thời đức Bạc già phạm ở thành Vương xá, trong đỉnh Thứu phong, cùng chúng đại tỳ kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị đều đến tụ tập. Lại có vô lượng vô biên chúng đại bồ tát, tám bộ thiên long, thảy đều đến tụ tập.
(Xem: 83607)
Đức Phật ra đời suốt bốn mươi năm trời thuyết pháp, có đến hơn tám vạn bốn ngàn pháp môn. Pháp môn chính là phương pháp mở cửa tuệ giác tâm linh. Chúng sanh căn tánh bất đồng, thiên sai vạn biệt, nên đức Phật cũng theo đó mà có nhiều pháp môn để đáp ứng thích cơ hợp tánh chúng sanh. Tâm bịnh chúng sanh đa dạng, biến thái muôn ngàn, nên pháp dược trị liệu cũng có vạn thiên.
(Xem: 50332)
Câu nói rất nổi tiếng của cư sĩ Duy-ma-cật, biểu thị sự tương quan mật thiết giữa mình và người. Giáo lý đạo Phật đặt nền tảng trên con người, lấy hạnh phúc con người làm trung tâm điểm để phát huy lý tưởng Bồ-tát đạo. Kinh “Những điều được nói từ Duy Ma Cật” (Duy Ma Cật Sở Thuyết) thật ra là một buổi hội thảo thú vị, trong đó các vị Bồ-tát, Thanh văn đã nêu lên ý kiến của mình về sự nghiệp xây dựng con người, xây dựng cõi nước
(Xem: 32108)
Người ta thường nói môn Abhidhamma rất khó học, và lại không thực tế. Rất khó học vì nó phân tích rất chi li, vi tế những vận hành, diễn tiến của tâm. Không thực tế vì nó bàn đến những vấn đề ở ngoài sự hiểu biết bình thường của con người; ở ngoài chuyện áo cơm, tiền bạc, thế sự và thế tình...
(Xem: 2356)
Tổng hợp bài giảng của thầy Tuệ Sỹ về Nhập Trung Luận.
(Xem: 5579)
Ngài Thế Thân (Vasubandhu) tạo Luận Câu-xá vào khoảng năm 900 sau khi Phật nhập diệt, tức khoảng thế kỷ thứ tư hay thứ năm Tây lịch, làm căn bản cho tác phẩm nổi danh khác cũng do Ngài viết hơn 30 năm sau là Duy Thức Tam Thập Tụng. Luận Câu-xá gồm 600 bài tụng và trường hàng, chia làm 8 hoặc 9 phẩm, gồm 29 hoặc 30 quyển theo sự sắp xếp của các luận gia về sau.
(Xem: 2747)
Ám ảnh bức bách duy nhất của mọi sinh vật chính là sự chết. Các sợ hãi khác chỉ là biến thái của sợ chết. Thế giới bị chinh phục, bị khống chế, bị điều động bởi sự chết. Kinh Phật nhân cách hóa nó thành một loại Ma. Theo từ nguyên, trong tiếng Phạn, mara là danh từ phái sinh từ động từ √mṛ: mriyate, nó chết. Mọi hoạt động của chúng sinh, mọi thứ được kể là văn minh tiến bộ, thảy đều là những biện pháp mà các loài lựa chọn để bảo đảm sự sinh tồn của bản thân và đồng loại. Thế nhưng, do nhận thức sai lầm, điên đảo, kết quả của những lựa chọn đại phần, nếu không muốn nói tất cả, thảy đều tai hại. Đức Phật thành Chánh giác, được mô tả là sau khi chiến thắng quân đội Ma và những quyến rũ của Ma. Các vị luận giải A-tì-đạt-ma cho rằng sợ hãi là một biểu hiện của phiền não. Đây là khía cạnh tiêu cực của sợ hãi. Mặt tích cực được biểu hiện nơi các yếu tố tâm sở thiện.
(Xem: 15176)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 10236)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 7671)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 6759)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
CHUYÊN ĐỀ
Cách đây hơn 2.000 năm, Đức Phật đã thị hiện tại đất nước Ấn Độ. Giáo lý của Phật giáo đã phản ánh thực trạng xã hội lúc bấy giờ với những tệ đoan kỳ thị, phân biệt giai cấp, bất bình đẳng nam nữ. Ngài giảng phápnhấn mạnh khả năng giác ngộ, chứng đắc quả vị mà người nữ có thể đạt được. Theo thời gian, vị trí của người nữ được nâng lên hơn nữa bởi tư tưởng của Phật giáo Đại thừa, khi tạo dựng hình ảnh Bồ tát Quán Âm mang thân tướng người nữ, phá vỡ những định kiến bảo thủ của một xã hội trọng nam khinh nữ.
Vì trân quý lịch sửhiểu rõ tầm quan trọng của nó, tôi mong rằng những ngày Tết là dịp để tất cả hãy dành ít thời gian nghĩ về tầm quan trọng của lịch sử và từ đó hãy viết, hãy ghi âm lại những câu chuyện của mình hầu lưu truyền lại cho con cháu mai sau được cơ hội biết và hiểu hơn về mình cũng như nguồn gốc của chính các em. Những câu chuyện của từng cá nhân, dù là một vị tướng hay một phụ nữ nông dân, sẽ góp phần dựng lại bức màn lịch sử Việt Nam thêm đa dạng và đầy thú vị
Tín ngưỡng Phật giáo không phải là tôn thờ đấng siêu nhiên quyền uy nào, mà vì tưởng nhớ đến con người vĩ đại ấy đã hy sinhmọi người để có được bài học vô giá. Phật pháp chính là những ứng dụng cụ thể trong đời sống để mỗi người tự nhìn ra bản ngã của chính mình, hướng đến một cuộc sống chân thiện mỹ đích thực nơi mỗi người.
Vào thứ Tư, ngày 16-5 vừa qua, Nhà Trắng đã tổ chức lễ Vesak lần thứ hai để kỷ niệm sự kiện đản sinh, thành đạonhập diệt của Đức Phật. Năm ngoái là dấu mốc đầu tiên Đại lễ Vesak được đưa vào để tổ chức tại Nhà Trắng khi các đại diện từ ba truyền thống Phật giáo lớn tề tựu cùng nhau để thắp nến và cầu nguyện nhân ngày lễ đặc biệt này.
Có rất nhiều Kinh, nhiều tác phẩm viết về cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhưng thiết nghĩ có hai Kinh căn bản nhất mà mọi Tông Phái Phật Giáo đều công nhận, trân trọng và xem đó là tài liệu gốc, bậc nhất để tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi về sự nhập thai và đản sanh Đức Phật là:.......
Kinh Phổ diệu là một bộ kinh có nội dung đồ sộ, mô tả cuộc đời đức Phật với những thần thông biến hóa, là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của kinh điển Đại thừa, thuộc hệ Phương Đẳng.[1] Tuy nhiên, mở đầu kinh này mô tả cuộc đời đức Phật với nhiều điểm tương đồng với quan điểm của Nhất thiết hữu bộ (Sarvastivada); phái này thuộc phái Tiểu thừa.
Khi múc nước tưới lên vai phải của tượng Phật, cần tâm nguyện rằng dù gặp những chuyện hết sức vui mừng, đắc ý, tâm mình vẫn bình tĩnh thản nhiên. Khi tưới nước lên vai trái tượng Phật, cần tâm niệm rằng dù gặp nghịch cảnh, khổ đau, tâm mình vẫn bình an phẳng lặng.
Q: Chúng ta đang ở đây để kỷ niệm Đại lễ Vesak và theo con hiểu thì đó là ngày Đức Phật đản sinh, ngày ngài đạt được giác ngộ và ngày ngài nhập diệt. Vậy sự khác biệt giữa sự giác ngộ và sự “chấm dứt/dập tắt” (extinguishment) là gì và điều gì xảy ra với cái “thức” (conciousness)?
Lại một lần nữa, Hoa Ưu Đàm lại nở rộ vào tháng Tư âm lịch…! Hằng năm, truyền thống đã in sâu vào tâm khảm của người con Phật. Tưởng niệm đấng Từ Phụ, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, giáng trần. Năm nay đúng vào Phật lịch 2566 – 2022 cũng là một năm khói lửa ngút trời tại Âu Châu
Nếu khôngmặt trời, chúng ta sẽ chìm trong bóng đêm, không thể nhìn thấy gì nữa. Thế giới đã có sẵn trước mắt, nhưng chỉ khi ánh mặt trời bừng chiếu, chúng ta mới thấy trọn vẹn trước mắt. Tương tự, nếu Đức Phật không xuất hiện trong đời này, chúng ta sẽ chìm trong tà kiến, không biết tới khi nào mới nhìn thấy Pháp để tìm ra lối giải thoát. Do vậy, ngày Phật Đản cũng là ngày một thế giới giải thoát trọn vẹn được hiển lộ trước mắt cho chúng sinh trong cõi này.
“Thiên thượng thiên hạDuy ngã độc tôn Nhất thiết chúng sinh – Giai hữu Phật tính”. Tap chi Nghien cuu Phat hoc So thang 5.2022 Y nghia thien thuong thien ha duy nga doc ton 1 Đây là câu nói đầu tiên của Ngài khi chào đời, câu nói trên đã cho chúng ta hiểu rằng: “Trên trời dưới trời này, đời sống của con người là có giá trị tự mình định đoạt”!
Năm nay, Đại lễ Vesak diễn ra vào thời điểm mà các cuộc khủng hoảng ngày càng gia tăng - từ sự hồi phục không đồng đều từ đại dịch COVID-19 đến những hậu quả mang tính trừng phạt của sự biến đổi khí hậu, cho đến những cuộc xung đột, chia rẽ, và bạo động. Mỗi một cuộc khủng hoảng như thế nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta đã quá xa rời những lời dạy vượt thời gian của Đức Phật.
Bài phát biểu của ngài Abdulla Shahid, Chủ tịch kỳ họp lần thứ 76 của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc (Việt ngữ và Anh ngữ)
Mùa Phật đản là khoảng thời gian cát tường để mỗi người con Phật nhớ nghĩ, tu trì, thiền quán về công hạnh, từ bi tâm, trí tuệân đức của đức Phật Thế tôn đối với nhân loại và hết thảy chúng sinh.
Bảy bước đi của Bồ-tát Tất-đạt-đa trong ngày thị hiện đản sanh là tiêu biểu cho bảy yếu tố giác ngộ, hay nói theo thuật ngữ chuyên môn của Phật họcThất giác chi hoặc Thất bồ-đề phần. Hễ bất cứ ai thực tập thành tựu được bảy yếu tố giác ngộ này thì vị đó có cơ hội trở thành bậc Giác ngộ hay trở thành một vị Phật.
NEW POSTING
Quán thân bất tịnhtác ý về những yếu tố không trong sạch (paṭikkūlamanasikāra) trong thân. Theo Đức Phật, đây là một pháp hành dẫn đến nhiều thành tựu to lớn, được ghi nhận trong kinh Tăng chi bộ (A.1.576/582-I.44):
Tác giả luận này là một giáo sư từng đến Tây Tạng để tìm hiểu về Mật giáoPhật giáo Tây Tạng. Tuy nhiên thầy chỉ nhận mình là du khách cỡi ngựa xem hoa và từ chối viết về Mật tông ngoài những chú thích ngắn gọn đó đây trong các sách khác. Trong khi đó, thầy luôn luôn khuyến khích chúng tôi phải viết về đề tài này vì cho rằng chúng tôiưu điểm được học tập chính qui trong cả hai truyền thống đại học Tây phươngTây Tạng. Nhưng chỉ là những người còn trẻ trong đạo, quả thật chúng tôi chưa có đủ khả năng về đại sự này. Một sự nghiệp đang được nhiều học giả uy tín thế giới liên tục nghiên cứugiới thiệu trong những năm vừa qua.
"Bất tịnh" nghĩa là không sạch sẽ, trong lành. Quán bất tịnh tức là quán sát một cách tỉ mỉ, cùng tột thân con người để nhận thấy biết rõ ràng nó là không trong sạch.
Chúng ta đã thấy nguồn gốc của kinh tạng Phật giáo phát khởi từ ba kỳ kết tập kinh điển (saṅgīti).[1] Tuy nhiên chúng ta cũng khẳng định không phải các kỳ kết tập này đã gồm tất cả kinh điển Phật giáo.
Những người học Phật đều hiểu biết về Tam vô lậu học hay còn gọi là Giới-Định-Tuệ. Đây là ba sự học về giải thoát sinh tử. Đức Tổ sư Minh Đăng Quang cũng đã từng nhấn mạnh: “Người Khất sĩ chỉ có ba pháp tu học vắn tắt là: Giới – Định – Huệ” [1], vì thế tu tập Giới – Định – Tuệ chính là việc làm cần thiết và mang lại lợi ích cho chúng sinh, là sự giải thoát để chúng sinh không bị trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi.
Phương châm của sư là, 'Hãy tự mình tốt nhất có thể, và mọi thứ khác sẽ tốt theo.' Nếu bạn không quên mình vì lợi ích của những thứ bên ngoài, bạn phải tốt thôi. Vì vậy, bạn không nên quên mình. Hãy phát triển giá trị nội tâm cho đến khi bạn thấy vừa lòng. Người thế gian thường nói: "Đừng lo lắng về việc bạn tốt hay xấu, miễn là bạn có tiền". Điều này hoàn toàn trái ngược với Pháp: "Đừng lo lắng về việc bạn giàu hay nghèo, miễn bạn là người tốt."
Nếu nói thanh thiếu niên là nền tảng của Tổ quốc thì phải nói thiếu nữ là giềng mối của gia đình. Hai bên đều có trọng tráchgiá trị phải được đặt ngang nhau. Vì vậy, muốn xây dựng một xã hội lành mạnh, dĩ nhiên phải song song đề cập đến vấn đề giáo dục cả hai. Các bài nói chung cho thanh niên thiếu nữ đã có và nhiều. Ở đây, tôi chỉ nêu lên những điểm cần thiết mà bổn phận của người thiếu nữ phải biết để áp dụng vào đời sống hàng ngày.
Bóng dángtư tưởng Bồ Đề Đạt Ma từ lâu đã có ảnh hưởng và là nguồn cảm hứng của các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật thế giới - từ văn chương triết học cho đến các sinh hoạt đời thường như uống trà đánh võ cắm hoa. Nhưng các kinh luận gọi là của Bồ Đề Đạt Ma hầu như đều là các ngụy tác của người đời sau. Tuy nhiên nếu chọn một tác phẩm đại diện chân chính cho tư tưởng Bồ Đề Đạt Ma thì chỉ có thể là tác phẩm Tuyệt Quán Luận.
Bao nhiêu năm hoạt động cho Giáo Hội tại quê nhà và trên ba mươi năm bôn ba nơi hải ngoại, Hòa Thượng Thích Thắng Hoan luôn hướng dòng đời mình theo con đường duy nhất là hoằng pháp độ sanh, cố đem giáo lý Phật Đà chia xẻ với đồng bào Phật Tử cả đến những thành phố xa xôi của các tiểu bang bé nhỏ. Cả cuộc đời của Ngài hiến thân cho đạo pháp với hạnh Bồ Tát: “ Đạo cần ta đến chúng sanh cần ta đi không nệ gian lao không từ khó nhọc”. Một ngày nào đó, Ngài tuy không còn với chúng ta , nhưng những sự giáo huấn của Ngài thì luôn luôn bất diệt.
Thế nào là chánh pháp? - là pháp còn đúng y như tinh thần người khai sanh ra nó (Ông Phật) Thế nào là tượng pháp? – là bề ngoài th ấy còn hình như giông giống, nhưng kỳ thật đã sai với chánh pháp nhiều rồi. Thế nào là mạt pháp? – là pháp đã mất gốc, không còn ra gì nữa. Nhưng tại sao pháp Phật mà lại có mạt? Tại sao mạt-pháp lại là bây giờ?
Phật Giáo sau hai mươi sáu thế kỷ truyền bá và phát triển đã trở thành một tôn giáo lớn và quan trọng có nhiều trăm triệu tín đồ có mặt trên khắp địa cầu. Kinh luận Phật giáo xưa nay vẫn được lưu hành khắp nơi. Tuy nhiên thắc mắc về nguồn gốc và phát triển kinh Phật vẫn là một vấn nạn của nhiều người. Đó là những câu hỏi cụ thể như Đức Phật giảng Pháp bằng tiếng gì? Kinh Phật đầu tiên được viết bằng văn tự nào? Các kinh luận nguyên thủy gồm các kinh nào? Các kinh xuất hiện về sau như kinh Phật giáo Đại thừaMật tông xuất xứ từ đâu? Có chăng những kinh gọi là kinh giả do người đời sau viết và làm giả với mục đích gì? Những câu hỏi tương tự vẫn tiếp tục là những thắc mắc của nhiều thế hệ tu sĩ cũng như trí thức trong và ngoài Phật giáo.
“Tất cả là vô thường” là một trong ba nguyên lý căn bản của Phật giáo (vô thường, vô ngã và niết-bàn tịch tịnh). Ba nguyên lý[1] này dựa trên toàn bộ cấu trúc của đạo Phật: Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Tiểu thừaPhật giáo Đại thừa.
- Đối trị với cơn giận - Thiết lập niệm, sự hiểu biết rõ ràng (sati và sampajañña) - Các cách chống lại sự lười biếng
Giống như lửa cháy trên đầu, cần phải nhanh chóng dập tắt. Lấy gì để dập lửa? Nước, đất, vải bạt, hóa chất v.v… có thể dập tắt lửa. Cũng vậy, với lửa phiền não, người tu cần tinh tấn tu tập chánh niệm, chánh trí và nhẫn để dập tắt. Ngay đây, hành giả nhận ra chánh niệm, tỉnh giác chính là chìa khóa để vào đạo, để thanh lọc và làm chủ thân tâm.
Với đặc tính từ bi, dung hợp, Phật giáo đã từng bước hòa vào tâm thức con người, từng quốc gia một cách uyển chuyển, phù hợp với phong tục, tập quán từng vùng miền mà vẫn giữ cốt lõi tinh hoa Phật giáo.
Có những dòng tư tưởng đẹp thường tiềm tàng trong lòng nhân loại - Thật thế, nếu ai bảo: nhân loại cũng nhiều hạng, những kẻ hại người cướp của, bất hiếu bất mục, khinh khi cả Phật Thánh v.v...thì làm gì còn có tư tưởng tốt đẹp được?
Thể cách nhà sư buộc phật tử chắp tay nghinh đón thế quyền như nghinh đón chư Tăng rất khó coi. Quan chức vui gì khi có những nhà sư xu nịnh trắng trợn
Không có kinh sách nào, Đức Phật dạy: Phải cầu nguyện, hay nương tựa vào 1 ai đó, ngay cả việc nương nhờ vào chính Ngài. Mà Ngài dạy: hãy tự làm hòn đảo cho chính mình, tự cứu lấy mình, tự mình thực hành và lấy Giáo Pháp làm thầy.
Việc Nhà sư lập gia đình để truyền thừa Phật pháp tại một ngôi chùa, gọi là Nhà Sư tu hành theo học phái “Tân Tăng”, một bộ phận nhỏ và là việc bình thường của Phật giáo Nhật Bản.
Nhà văn Huỳnh Kim Quang vừa mới ấn hành tuyển tập "Cỡi Tâm Vào Cõi Lời" -- với hai chủ đề lớn là Phật học, và văn học nghệ thuật --- tất cả là các bài viết tuyển chọn từ các năm gần đây. Tác giả đã có buổi gặp gỡ thân tình tại tòa soạn Việt Báo với một số bạn văn xem như thủ tục chúc mừng sách mới.
Liệt kê Các Tạp Chí Phật Giáo hiện đang lưu hành tại Việt Nam cũng như hải ngoại
Bản tâm, tự tâm, bản tánh, tự tánh là những danh từ được Lục Tổ Huệ Năng sử dụng trong những lời thuyết pháp của ngài để chỉ bản tánh của tâm, tự tánh của tâm; nhưng danh từ tự tánh được ngài dùng nhiều nhất. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, ngài Huệ Năng nói bản tâmtánh Không và ánh sáng (hay tánh sáng). Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết hơn về hai tính cách chính của bản tâmtánh Không và ánh sáng.
Hiện nay cũng như từ nghìn xưa, hoa sen, chiếm một phần quan trọng trong nhà Phật. Giáo lý Đại thừa, Đức Phật cũng lấy hoa sen làm ví dụ như kinh “Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa”v.v… Hơn nữa chính kim thân của Đức Phật cũng ngự tọa trên đài sen báu. Một hôm sau buổi giảng, tôi hỏi các đạo hữu: “Vì sao đức Phật lại ngồi trên hoa sen, trong khi có nhiều người quan niệm còn nhiều thứ hoa đẹp hơn, thơm hơn hoa sen?”
Có bao giờ chúng ta tự hỏi: Vì sao sau hơn ba mươi năm vắng bóng chiến tranh, vẫn thấy trên đất nước ta hôm nay, hầu như bất kỳ ngày nào, ở bất kỳ nơi nào cũng có những tranh chấp, xung đột; thậm chí án mạng, chẳng những trong gia đình, ngoài đường phố, mà còn tại trường học, hoặc ngay cả giữa chốn uy nghiêm như nơi công đường….?
Ngày nay, bàn bạc trên các phương tiện truyền thông, thường thấy phản ánh hiện tượng phi đạo đức như: sát sanh, trộm cắp, cường bạo, lường gạt lẫn nhau, khiến cho xã hội không thể an định. Trước một xã hội như vậy rất cần đến những người đức hạnh để làm khuôn mẫu cho xã hội nương tựa. Và thật không ngoa khi nói rằng, một người xuất gia hành trì giới luật nghiêm khắc, đỉnh đạc trong oai nghi luôn những người mẫu mực để làm chỗ dựa tinh thần xứng đáng cho tín đồ, làm gương sáng cho đời, làm lợi ích cho xã hội hiện tại cũng như trong tương lai.
Các bậc chân tu thường ẩn cư để giữ tròn giới hạnh; trong xã hội ngày nay, chư Tăng phải nhập thế để hoằng truyền giáo pháp, hoặc hành sự cá thể hoặc gia nhập giáo đòan, giáo hội vì một nhiệm vụ cao cả chứ không vì lợi vì danh.
Con người từ khi ra đời đã tồn tại “cá nhân” hay “cái tôi”. Thế nên, rất cần phân biệt “cá nhân hay cái tôi là thực kiện” và “cá nhân hay cái tôi do suy tưởng”
Nơi đây tập hợp một số sách xưa và tạp chí xưa Phật Giáo, bắt đầu từ năm 1913 đến năm 1975 xuất bản tại Đông Dương trước năm 1954 và Việt Nam trước năm 1975
Phật giáo, một con đường lý tưởng đi vào lòng dân tộc Việt từ ngàn xưa, trở thành một nếp sống tâm linh thuần thiện và tịnh khiết, dẫn con người ra khỏi vũng lầy nhơ nhuốc của tội ác và những mặt tiêu cực trong đời sống. Không những thế, Phật giáo còn khẳng định sự lợi ích của mình ở khắp mọi nơi trên thế giới bằng năng lượng yêu thươngchuyển hóa những khổ đau đang trói buộc, dày vò từng giây từng phút trong tâm khảm của những mảnh đời khốn khổ, thiết lập cho họ một “hải đảo” bình yên.
Cách đây hơn 2.000 năm, Đức Phật đã thị hiện tại đất nước Ấn Độ. Giáo lý của Phật giáo đã phản ánh thực trạng xã hội lúc bấy giờ với những tệ đoan kỳ thị, phân biệt giai cấp, bất bình đẳng nam nữ. Ngài giảng phápnhấn mạnh khả năng giác ngộ, chứng đắc quả vị mà người nữ có thể đạt được. Theo thời gian, vị trí của người nữ được nâng lên hơn nữa bởi tư tưởng của Phật giáo Đại thừa, khi tạo dựng hình ảnh Bồ tát Quán Âm mang thân tướng người nữ, phá vỡ những định kiến bảo thủ của một xã hội trọng nam khinh nữ.
Chúng ta đang sống trong cõi dục, sinh ra từ tham ái nên mọi người, mọi loài trên thế gian này đều chịu kiềm tỏachi phối của dục vọng. Sự khác nhau giữa các chúng sanhdục vọng nhiều hay ít tùy theo biệt nghiệp của mỗi người. Có không ít trường hợpnghiệp lực, dục vọng quá nặng nề đã che lấp tâm trí biến họ thành loại chẳng phải người, mất hết lương trinhân tính.
Theo thiền sư Thích Nhất Hạnh, mạt-na thức là thức sinh khởi, chuyển hiện từ tàng thức, cho nên được gọi là chuyển thức (paravṛtti-vijñāna). Mạt-na thức (ý căn) là căn của ý thức, giống như mắt là cơ sở của thị giác, nói một cách đơn giản hơn, mạt-na thức là cơ sở để hình thành ý thức. Đối tượng của mạt-na thức không đến từ bên ngoài (như sắc, thanh, hương, vị, xúc) mà từ bên trong, do tác dụng của mạt-na thức với các hạt giống chứa trong tàng thức. Nếu không có đối tượng của ý căn thì sẽ không có ý thức, cũng giống như nếu không có sắc là đối tượng của nhãn căn thì không có nhãn thức
Trong hàng đệ tử của Đức Phật, có một vị tăng hình dung xấu xí, lùn thấp, không chút nào hảo tướng, nên người mới gặp tự nhiên khó tôn kính. Đó là Trưởng lão Bhaddiya. Cũng chính vì nhận ra nhiều vị tăng đã khởi tâm bất kính khi thấy nhà sư lùn thấp Bhaddiya, Đức Phật đã nói lên hai bài kệ làm giựt mình đại chúng, rằng chính nhà sư Bhaddiya đã giết cha, giết mẹ, giết vua, giết cả triều đình… Bài này sẽ nhìn về cách Đức Phật nói lên các ẩn dụ như thế. Để rồi dẫn tới ý nghĩa về hạnh sống một mình. Các sai sót có thể có, người viết xin được sám hối.
Trà một thứ uống rất quen thuộc, gần gũi mộc mạc, xuất hiệnmọi nơi và không có sự phân biệt tầng lớp, giai cấp. Trà có những vị đắng, chát nhưng tận cùng nó vẫn đọng lại vị ngọt dịu nơi cổ họng. Cũng vậy, cuộc đời của bất kỳ ai cũng có những cung bậc đắng, chát, chua, cay nhưng đâu đó vẫn còn lại niềm hạnh phúc ngọt ngào nếu bất cứ ai trong chúng ta biết tỉnh thức, buông bỏ. Vậy hãy cùng nhau khám phá xem cuộc đời có như cách pha trà?
“ Buddho là một cái gì đó thật tĩnh lặng và mát lành. Nó chính là con đường đưa đến an lạcbình ancon đường duy nhất sẽ giải phóng chúng ta ra khỏi mọi đau khổ trên thế gian này.” Cuốn sách này là một hướng dẫn thiền đơn giảnthiết thực theo trường phái thiền chỉ quán do Thiền sư Ajahn Thate giảng dạy, sử dụng đề mục niệm Buddho làm cho tâm trở nên định tĩnh, vắng lặng đến mức cần thiết khiến cho tuệ giác sanh khởi.
Trì danh niệm Phật nghĩa là xưng danh và nắm giữ câu Phật hiệu. Đây là pháp tu dễ thực hành nhất của Tịnh Độ tông [1]. Cụm từ tuy chỉ có 4 chữ nhưng lại hàm chứa đa dạng phương pháp, nó được thể hiện qua các bậc Cao đức truyền thừa Tịnh Độ tông Trung Hoa. Ngày nay, các phương pháp này đang được thực hành đầy đủ tại Việt Nam. Vậy đó là phương pháp gì, do ai khởi xướng? Bài viết sẽ đề cập các nhân vật tiêu biểu.
Vị trí của mạt-na thức khá nổi bật trong hệ thống lý luận đại thừa, đặc biệtDuy thức học và Kinh Lăng-già; theo đó, nếu toàn bộ thế giới nằm trong 8 thức, thì mạt-na thức là thức thứ 7. Về mặt Triết học thì thức thứ tám chiếm vị trí quan trọng nhất, nhưng về mặt Tâm lý học thì thức thứ bảy (tức mạt-na thức) chiếm vị trí quan trọng nhất. Vì mạt-na thức được xem là nguồn gốc của cái tôi – một loại phiền não vô minh gây đau khổ cần phải chuyển hóa hay giải thoát thông qua lý tưởng vô ngã – nên việc cá nhân hay cộng đồng hiểu rõ và hiểu đúng mạt-na thứcý nghĩa phương pháp luận để đạt đến vô ngã, giải thoát hay giác ngộPhật giáo cho là hạnh phúc nội tâm đích thực hơn so với các giá trị hạnh phúc bên ngoài khác.
Có lần tôi được nghe một bài hát của Trịnh Công Sơn với những ý lạ, "Biển sóng đừng xô nhau, ta xô biển lại sóng về đâu? Biển sóng đừng xô ta, ta xô biển lại sóng nằm đâu!" Ông kể, ông viết bài đó do cảm hứng khi nghe tụng câu kinh Bát Nhã "Gate, Gate, Paragate, Parasamgate, Bodhi Svaha." Ông giải thích ý mình, "Tuy là do cảm hứng bắt nguồn từ câu kinh, nhưng nó không nương tựa gì câu kinh cả. Tôi muốn nói, sống trong cuộc đời, ta đừng nuôi thù hận, đừng có ác ý trong cuộc tình. Đừng để trong tình thươngbóng dáng thù địch, của lòng sân hận. Sóng xô ta, ta xô lại sóng. Biết bao giờ mới đến được bờ bên kia của tịch lặng, của bình an!" Ông nói về những cuộc tình, mà cuộc đời cũng thế, bạn có nghĩ vậy không? Vì cuộc đời cũng được làm bằng những mối liên hệ giữa ta với người chung quanh. Mà nếu mỗi lần "sóng xô ta" rồi "ta xô lại sóng", thì biết bao giờ biển khổ này mới được yên, tâm hồn này mới được tĩnh lặng phải không bạn!
Kinh Pháp Cú dạy rằng: “Hương các loài hoa, bay theo chiều gió. Hương người đức hạnh tỏa khắp muôn phương”. Việc vua Trần Thái Tông lên ngôi vua, khai sáng triều đại nhà Trần vào năm 1225 là đáp ứng nhu cầu cấp thiết của đất nước lúc bấy giờ. Một là thâu giang sơn về một mối, thống nhất từ trong ý chí thể hiện qua hành động. Hai là trên dưới đồng lòng, cùng nhau xây dựng phát triển đất nước thịnh vượng.
Niệm tưởng về sự chết là để vun bồi niệm, giống như niệm tưởng về Đức Phật được thiết lập bằng cách trì danh hiệu “Buddho”. Tuy nhiên, niệm tưởng về sự chết có hai lợi thế: thiết lập niệm và đồng thời vun bồi tuệ. Niệm tưởng về Đức Phật chỉ giúp vun bồi niệm, chứ không trau dồi tuệ. Tuy nhiên, niệm tưởng về sự chết — liên tục nhận thức về sự chết có thể xảy ra — cho phép quý vị lập cả niệm và tuệ cùng một lúc. Nếu điều này phù hợp với quý vị, những người thực hành niệm tưởng về sự chết có thể tiến bộ rất nhanh về Pháp (Dhamma).
New Posting Số mới nhất: Số 391 ngày 15 tháng 6 năm 2022 chủ đê Hương Giới Bay Xa
Tôi xin được đọc cho quý vị nghe một bức thông điệp nhân áiẤn Độ gởi cho thế gian. Được khắc trên đá 2300 năm trước, bức thông diệp này là những lời nhắn nhủ của Đại Đế Asoka (A-Dục), một nhà cai trị lý tưởng, giải thích cách cai trị của ông. Ông nói với chúng ta, “Ta không nên chỉ biết tôn vinh tôn giáo của mình và miệt thị tín ngưỡng của người khác”. Đây là một bức thông điệp quan trọng cho thời đại chúng ta.
Muốn thực hiện một đời sống đạo đức, mang lại hạnh phúc cho bản thân cũng như tha nhân thì trước hết con người ấy phải được giáo dục. Chỉ nhờ giáo dụccon người mới biết cách sử dụng lý tính, lý trí của mình. Đây là điều mà các bậc cổ nhân ngày xưa đã rất chú trọng. Văn học Phạn ngữ ra đời trong hoàn cảnh ấy
Phật tử thường có truyền thống tôn Phật kính Tăng, và bày tỏ lòng tôn kính với xá lợi Phật, những biểu tượng tôn giáo như hình ảnh, tịnh xá hay tự viện. Tuy nhiên, Phật tử chẳng bao giờ thờ ngẩu tượng. Thờ cúng Phật, tổ tiên, và cha mẹ quá vãng đáng được khuyến khích. Tuy nhiên, chữ “thờ cúng” tự nó đã không thích đáng theo quan điểm của đạo Phật.
Đức Phật của chúng ta đã vào niết bàn tính đến năm nay 2022 là 2565 năm rồi, nhưng Kim ngôn của Ngài đã giải đáp cho chúng ta “Một câu hỏi lớn” và Ngài cũng cặn kẽ dạy rằng: “Các người hãy làm việc của các người. Như Lai chỉ dạy con đường”, nghĩa là đức Phật không “can thiệp” vào nghiệp quả của mỗi chúng sinh được. Chân thật biết bao.
Vì trân quý lịch sửhiểu rõ tầm quan trọng của nó, tôi mong rằng những ngày Tết là dịp để tất cả hãy dành ít thời gian nghĩ về tầm quan trọng của lịch sử và từ đó hãy viết, hãy ghi âm lại những câu chuyện của mình hầu lưu truyền lại cho con cháu mai sau được cơ hội biết và hiểu hơn về mình cũng như nguồn gốc của chính các em. Những câu chuyện của từng cá nhân, dù là một vị tướng hay một phụ nữ nông dân, sẽ góp phần dựng lại bức màn lịch sử Việt Nam thêm đa dạng và đầy thú vị
Cái chết của những người thân yêunghiệp chướng của tôi hay của họ? Cuộc sống của chúng ta luôn tương tác và phụ thuộc lẫn nhau, và nghiệp của chúng ta cũng vậy. Khi hiền mẫu tôi và lương phu tôi mất chỉ cách nhau 5 ngày, có một số người bảo với tôi rằng bởi do tôi có một số nghiệp xấu ác, vì vậy mới xảy ra chuyện cả hai người thân yêu nhất của tôi đã từ giã trần gian cách nhau chưa đầy một tuần.
Sách này là một tác phẩm hay, không chỉ viết về đời sống sinh viên du học Nhật Bản thuần túy, hay chỉ nói về đất nước con người xứ này, mà còn nói thêm về cuộc sống trong một ngôi chùa truyền thống Nhật Bản; nơi mà những người trách nhiệm điều hành ngôi chùa lại là một gia đình có vợ chồng con cái. Người chồng chính là thầy Trụ trì và người vợ là tri sự của ngôi chùa. Điều ấy rất xa lạ với các tuyền thống Phật Giáo ở những quốc gia khác. Xin trân trọng giới thiệu.
Điều thiện có nghĩa là điều thuận lý, và ác có nghĩa là nghịch lý. Xưa nay chúng ta tạo nghiệp thiện ác lẫn lộn, không rõ ràng. Vì vậy mà có lúc chúng ta sanh tâm lành, lúc lại khởi niệm ác. Khi niệm thiện khởi lên thì tâm niệm “Không làm điều ác chỉ làm điều lành,” nhưng khi niệm ác khởi lên thì chúng ta hăng hái nghĩ đến việc “làm tất cả điều ác, không làm điều lành.
Tất cả các bạn đã cùng nhau tụ hội ở đây tối hôm nay để tìm hiểu tính phổ quát của lời dạy, hay giáo pháp của Đức Phật. Một vị Phật luôn luôn giảng dạy Pháp (Dhamma), không có gì khác ngoài Pháp. Và Pháp thì có nghĩa là sự thực, là quy luật của thiên nhiên hay quy luật tự nhiên, quy luật vốn có tính phổ quát.
Sám hối là một thực hành tu tập quan trọng và phổ biến trong Phật giáo. Sám hốiquán chiếu lại bản thân, xem mình đã phạm phải những lỗi lầm gì qua thân, khẩu và ý, từ đó thể hiện tâm ăn năn hối cải, và nguyện không để những hành vi sai trái như vậy xảy ra lại trong tương lai. Sám hối, cũng được cho là để “tỏ bày lỗi lầm của mình trước Phật, Bồ-tát, Sư trưởng hay đại chúng với mục đích mong được diệt tội”2. Vậy sám hối có thật sự diệt được tội hay không?
Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao thiền định của Phật giáo lại tập trung nhiều vào việc quan sát tâm trí trong giây phút hiện tại? Đó là do cách Đức Phật dạy về nghiệp hay hành động (tiếng Pali, kamma).
Hiểu rõ thuốc có hiệu quả như thế nào cũng là điều lợi ích nếu nó khích lệ bạn uống thuốc. Nhưng nếu không thực sự uống thuốc, bạn không thể nào chữa được bệnh. Bạn phải tự mình uống thuốc mới mong hết bệnh. Chỉ niềm tin không giúp được bạn, bạn phải tự trải nghiệm mới giúp được chính mình.
Một người đàn ông ngã bệnh và tìm đến bác sĩ. Vị bác sĩ khám cho bệnh nhân này và sau đó viết cho anh ta một toa thuốc trên một mảnh giấy. Rất hạnh phúc, bệnh nhân này trở về nhà.
Thiền sư G.N.GOENKA có nhiều kinh nghiệm về thiền định tuệ, nhất là trên lãnh vực niệm thọ. Những bài giảng, bài diễn thuyết hay những hướng dẫn thiền của thiền sư đi đôi với thực nghiệm hơn là lý thuyết suông cho nên rất bổ ích cho những ai muốn tìm hiểu về pháp hành định tuệ.
Có lúc nào bạn bực bội bởi sự vô lý của ai đó không? Có lúc nào bạn nghĩ nếu sự bất công lên ngôi, thì xã hội sẽ ra sao không? Vâng, đây là câu chuyện của tôi hôm nay.
Sám nghĩa là sám trừ cái lỗi lầm xưa, cảm thấy hổ thẹn với những lỗi lầm đã phạm phải trong quá khứ. Hối là cải sửa, quyết tâm sửa đổi để không còn tái phạm nữa. Sám hối hay Sám ma có nghĩa là thân nên kiên trì nhẫn nại nói ra những lỗi lầm của mình, và thỉnh cầu tiền nhân tha thứ.
Trong nhiều loại thiền trên thế giới ngày nay, phương pháp Vipassana do Thiền sư S. N. Goenka dạy là độc nhất vô nhị. Kỹ thuật đơn giảnhợp lý này dẫn tới sự bình an thật sự cho tâm hồnmột đời sống hạnh phúc, hữu ích. Đã được giữ gìn từ lâu trong cộng đồng Phật giáo Miến Điện, Vipassana không có tính chất giáo phái, bất cứ người nào cũng có thể chấp nhậnáp dụng.
...đừng bao giờ tin vào quan niệm Bồ Tát độ mình cả, nếu Bồ Tát đến độ mình tức là Bồ Tát can thiệp vào việc mình cần phải làm là để thoát ra khỏi cái kén (thoát khỏi vô minh) chính mình là người cần phải mở ra mọi cái mà mình đã trói buộc vào, không có Bồ Tát nào làm thay cho mình…
Thể cách nhà sư buộc phật tử chắp tay nghinh đón thế quyền như nghinh đón chư Tăng rất khó coi. Quan chức vui gì khi có những nhà sư xu nịnh trắng trợn
Chùa Bảo Quang, Santa Ana, vừa tổ chức Lễ Đại Tường, nhân ngày giỗ mãn tang cố Hòa Thượng Thích Quảng Thanh, hôm Thứ Năm, 9 Tháng Sáu, với sự hiện diện của hàng trăm chư tôn đức tăng ni và Phật tử.
Vào thứ Tư, ngày 16-5 vừa qua, Nhà Trắng đã tổ chức lễ Vesak lần thứ hai để kỷ niệm sự kiện đản sinh, thành đạonhập diệt của Đức Phật. Năm ngoái là dấu mốc đầu tiên Đại lễ Vesak được đưa vào để tổ chức tại Nhà Trắng khi các đại diện từ ba truyền thống Phật giáo lớn tề tựu cùng nhau để thắp nến và cầu nguyện nhân ngày lễ đặc biệt này.
Kính mời quý Phật Tử vùng Little Saigon, Orange County đến tham dự buổi giảng pháp của Thượng tọa Thích Tánh Tuệ tại Chùa Đại Bi vào ngày Chủ Nhật 12 tháng 6 năm 2022 từ 2 giờ đến 6 PM
HỎI: Hiện nay có quá nhiều kinh sách, báo mạng về Phật giáo, với lượng thông tin, kiến thức đồ sộ như thế thật khó cho người mới học Phật. Xin quý Báo giới thiệu cho tôi biết một số tác phẩm căn bản, đáng tin cậy để tìm hiểu về Phật pháp. Về báo mạng, nên tìm hiểu, nghiên cứu Phật họcvăn hóa Phật giáo trên những trang mạng nào? (HẠNH QUYÊN, hanhquyen206@gmail.com)
Theo Đạo Phật, cách tốt nhất để ngăn chặn các pháp bất thiện, những điều xấu xa là Phát Triển Tâm (citta Bhāvanā), làm thành căn cứ địa, mạnh mẽ từ bên trong thì chúng ta mới có thể đối diện tốt hơn với các hiện tượng bất tường trong đời sống. Một trong những nhóm pháp tu mà đức Phật thường dạy các hàng Phật tửTứ Vô Lượng Tâm, bắt đầu bằng tâm Từ - tình thươngđiều kiện. Trong khóa tu học này, NS sẽ hướng dẫn và cùng với quí vị Phật tử phát triển Tâm Từ vô lượng (Mettā Bhāvanā) kết hợp với thiền quán.
... Tất cả các hiện tượng nào có sinh khởi, có tồn tại, có tác dụng trên các hiện tượng khác, nói khác hơn là tất cả các pháp hữu vi, đều phải theo luật vô thường để đi đến hoại diệt. Muốn cho chúng còn mãi còn hoài mà không hoại diệt, đó là một chuyện không thể xảy ra. Tôi đã từng nhắc nhở quý vị nhiều lần rằng tất cả những gì ta trân quý hôm nay ngày mai thế nào ta cũng phải buông bỏxa lìa. Chính tôi chẳng bao lâu nữa cũng sẽ ra đi. Vì vậy quý vị phải thực tập làm hải đảo tự thân, biết nương tựa nơi chính mình mà đừng nương tựa vào một kẻ nào khác, phải thực tập nương tựa vào hải đảo chánh pháp, biết nương tựa nơi chánh pháp chứ đừng nương tựa vào một hải đảo nào khác hay một ai khác..