Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
(Xem: 486)
Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam bao gồm các tuyển tập Tam tạng Phật giáo Thượng Tọa bộ (ảnh hưởng các nước Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia), Tam tạng Phật giáo Bộ phái, Tam tạng Phật giáo Đại thừa (ảnh hưởng Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Tây Tạng), Văn học Sớ giải, Văn học Tông phái Phật giáo và Văn học Phật giáo Việt Nam, v.v...
(Xem: 501)
Trong ấn bản Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam này, bản Luật tạng Pâli được chọn in là bản dịch của Thượng tọa Indacanda (Chánh Thân) được dịch Việt vào tháng 10-2003 và hiệu đính vào tháng 9-2004.
(Xem: 18691)
Trong nhiều năm qua người ta thấy có một số chùa trong nước cũng như ngoài nước tổ chức các buổi nhạc hội, các cư sĩ Phật tử và đôi khi có cả chư Tăng đàn hát các bài đạo ca trong các dịp lễ lớn và trong các khóa tu. Ngoài ra còn có một vài vị Tăng hát nhạc đời tại một số tụ điểm ngoài phạm vi nhà chùa. Dư luận cũng đã phản ánh khá gay gắt và một vị Hòa thượng lãnh đạo giáo hội đã lên tiếng về vấn đề này.
(Xem: 1572)
Với tuệ giác của bậc giác ngộ, Đức Phật đã quán sát thế gian, hình ảnh những hoa sen đang vươn mình lên trong bùn nhơ nước đục, gợi cho Ngài những ấn tượng sâu sắc về những khả năng tiềm ẩn trong mỗi chúng sanh.
(Xem: 2589)
Cho tới nay có ít nhất mười nhà dịch giả (thuật) bộ Qui Sơn Cảnh Sách sang Việt ngữ như trong sách Phật Tổ Tam Kinh (1950; của Vô Danh Thị), Hòa Thượng Thích Hành Trụ (1972), Tuệ Nhuận (1973); Chư Thượng Tọa, Đại Đức dạy chúng, tại các trường Phật học Báo Quốc, Linh Ứng (Non Nước), Nguyên Thiều (Bình Định), Ấn Quang (Sàigon), Lưỡng Xuyên (Trà Vinh), Phật Ân (Mỹ Tho), Huệ Nghiêm (Gia Định) v.v... đều giảng dạy tăng sinh bộ sách quý này. Tại sao chúng tôi vẫn tiếp tục dịch luận bản văn trên sang tiếng Việt làm gì?
(Xem: 2309)
Thanh tịnh đạo đã nói lên ý nghĩa căn bản con đường phạm hạnh, kim chỉ nam cho những ai tầm cầu đạo lộ chí thượng độc nhất thanh tịnh, vì ngoài nó ra không còn con đường nào khác hướng đến tuần tự tiến hóa. Và tầm quan trọng của nó được thể hiện phổ biến rộng rãi qua các xứ Quốc giáo khi nó là nền tảng cho các hành giả phát triển thiền quán.
(Xem: 1635)
Chúng tôi vẫn hay nói, có những vị đến giới đàn là để “thọ giấy” hơn là “thọ giới”. Điều này có thể cho là ý kiến chủ quan, nhưng thực tế ngày nay chúng tôi và các vị tôn túc đều cảm thấy như vậy.
Kinh
(Xem: 486)
Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam bao gồm các tuyển tập Tam tạng Phật giáo Thượng Tọa bộ (ảnh hưởng các nước Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia), Tam tạng Phật giáo Bộ phái, Tam tạng Phật giáo Đại thừa (ảnh hưởng Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Tây Tạng), Văn học Sớ giải, Văn học Tông phái Phật giáo và Văn học Phật giáo Việt Nam, v.v...
(Xem: 811)
“Kỉnh Tiểu bộ” dịch sát nghĩa là “Hợp tuyểncác tập kỉnh ngắn ” , là tuyển tập điển tịch thứ năm trong năm bộ kinh thuộc kho tàng kinh điển Pãli, của Phật giáo Thượng Tọa bộ còn gọi là Phật giáo Nam truyền hoặc Phật giáo Thượng Tọa bộ Nam truyền Bộ này gồm 16 tập kinh chứa đựng nhiều bài kinh lẻ, thi kệ, đoạn kinh ngắn về chân lý, lộ trình tu tập, đạo đức sống và tư liệu lịch sử, phần lớn do đức Phật giảng và một số do các Thánh Tăng A-la-hán giảng hay biên tập.
(Xem: 600)
Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya) là bộ kinh thứ tư trong năm bộ thuộc hệ thống Kinh tạng Nikāya của Phật giáo Thượng Tọa bộ (Theravāda). Theo tác phẩm Diệu pháp yếu lược (Saddhammasaṅgaha) của Ngài Dhammakitti Mahāsāmi, việc giữ gìn và truyền tụng Tăng chi bộ là do Tôn giả Anuruddha và Tăng chúng thuộc nhóm của Ngài thực hiện.
(Xem: 1144)
Thánh điển Phật giáo được xem là quốc bảo của nhiều quốc gia theo đạo Phật. Các quốc gia thuộc hai truyền thống Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền đều có Thánh điển Phật giáo bằng tiếng mẹ đẻ của họ từ lâu. Tại các nước Phật giáo Nam truyền như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, ngoài ấn bản Tam tạng Thánh điển Pāli, đều có bản dịch Thánh điển Phật giáo bằng quốc ngữ của họ.
(Xem: 1234)
Kinh Trung bộ (P. Majjhima Nikāya, H. 中部經) là bộ kinh quan trọng thứ hai trong 5 bộ kinh Pāli (Pāli Nikāya) của Phật giáo Thượng Tọa bộ (Theravāda); là tuyển tập 152 bài kinh có độ dài trung bình (The Collection of the Middle Length Sayings) trong Kinh tạng Pāli (Sutta Piṭaka), tương ứng với 222 bài kinh trong Trung A-hàm kinh (S. Madhyama Āgama, H. 中阿含經). Khái niệm “trung” (majjhima, 中) có nghĩa là “trung bình, vừa” về số lượng chữ của từng bài kinh trong bộ này.
(Xem: 921)
Trong Kỉnh Hoa Nghiêm có ghi: "Phật dĩ nhất nhất thân, xứ xứ chuyển pháp /沥〃"(佛以一一身,處處轉法輪),nghía là đức Phật luôn dùng tất cả hóa thân của mình, ở mọi nơi mọi chốn chuyển bánh xe pháp. Thật hoan hỷ, tinh thần chuyển bánh xe pháp của đức Phật đã và đang được chư Tôn đức Hội đồng Tri sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai một cách hiệu quả. Đặc biệt, trên phương diện hoăng truyên kinh điên, chư Tôn đức đã có những định hướng đúng đắn cho Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tiến hành phiên dịch, san định, ấn tống Kinh, Luật, Luận, Sớ giải có nguồn gốc từ tạng P互li, Sanskrit, Hán cổ và các ngôn ngữ khác...
(Xem: 1119)
Bài kinh Kevaṭṭa-Sutta là một bài kinh dài giảng cho một người thế tục trẻ tuổi tên là Kevaṭṭa khi người này đến xin Đức Phật chỉ định một vị tỳ-kheo trong Tăng đoàn thực thi các phép lạ để thu phục được nhiều người hơn. Thế nhưng Đức Phật khẳng định là Ngài không hề dạy các tỳ-kheo của mình làm phép lạ, mà chỉ giảng dạy họ phải làm thế nào để biến mình từ một con người bình dị trở thành một con người cao quý hơn, đưa mình đến sự Giải thoát cuối cùng và sự Giác ngộ tối thượng. Sự giảng và học hỏi đó tự nó cũng đã là một phép lạ. Đấy là nội dung của toàn bộ bài kinh, và cũng là "kim chỉ nam" giúp chúng ta theo dõi bài kinh rất phong phú, khúc triết, nhưng cũng rất phức tạp này.
(Xem: 812)
Theo bách khoa toàn thư (Wikipedia,) “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (zh. 妙法蓮華經, sa. saddharmapuṇḍarīka-sūtra,) cũng được gọi ngắn là kinh Pháp Hoa, là một trong những bộ kinh Đại Thừa quan trọng nhất, được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng và Việt Nam. Thiên Thai Tông lấy kinh này làm giáo pháp căn bản. Kinh này chứa đựng những quan điểm chủ yếu của Đại Thừa Phật Giáo, đó là giáo pháp về sự chuyển hóa của Phật Tính và khả năng giải thoát. Kinh này được Phật giảng vào lúc cuối đời, được kết tập trong khoảng năm 200.”
(Xem: 34213)
Người ta thường nói môn Abhidhamma rất khó học, và lại không thực tế. Rất khó học vì nó phân tích rất chi li, vi tế những vận hành, diễn tiến của tâm. Không thực tế vì nó bàn đến những vấn đề ở ngoài sự hiểu biết bình thường của con người; ở ngoài chuyện áo cơm, tiền bạc, thế sự và thế tình...
(Xem: 3154)
Tổng hợp bài giảng của thầy Tuệ Sỹ về Nhập Trung Luận.
(Xem: 7338)
Ngài Thế Thân (Vasubandhu) tạo Luận Câu-xá vào khoảng năm 900 sau khi Phật nhập diệt, tức khoảng thế kỷ thứ tư hay thứ năm Tây lịch, làm căn bản cho tác phẩm nổi danh khác cũng do Ngài viết hơn 30 năm sau là Duy Thức Tam Thập Tụng. Luận Câu-xá gồm 600 bài tụng và trường hàng, chia làm 8 hoặc 9 phẩm, gồm 29 hoặc 30 quyển theo sự sắp xếp của các luận gia về sau.
(Xem: 3426)
Ám ảnh bức bách duy nhất của mọi sinh vật chính là sự chết. Các sợ hãi khác chỉ là biến thái của sợ chết. Thế giới bị chinh phục, bị khống chế, bị điều động bởi sự chết. Kinh Phật nhân cách hóa nó thành một loại Ma. Theo từ nguyên, trong tiếng Phạn, mara là danh từ phái sinh từ động từ √mṛ: mriyate, nó chết. Mọi hoạt động của chúng sinh, mọi thứ được kể là văn minh tiến bộ, thảy đều là những biện pháp mà các loài lựa chọn để bảo đảm sự sinh tồn của bản thân và đồng loại. Thế nhưng, do nhận thức sai lầm, điên đảo, kết quả của những lựa chọn đại phần, nếu không muốn nói tất cả, thảy đều tai hại. Đức Phật thành Chánh giác, được mô tả là sau khi chiến thắng quân đội Ma và những quyến rũ của Ma. Các vị luận giải A-tì-đạt-ma cho rằng sợ hãi là một biểu hiện của phiền não. Đây là khía cạnh tiêu cực của sợ hãi. Mặt tích cực được biểu hiện nơi các yếu tố tâm sở thiện.
(Xem: 18003)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 11071)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 8375)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 7273)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
CHUYÊN ĐỀ
Con người vĩ đại đó, tấm lòng trí tuệ đó, phương pháp giáo dục siêu việt đó của đức Phật đã khiến muôn nghìn trái tim của nhân loại hướng về Ngài và tôn kính Ngài như một vị đạosiêu việt nhất trong lịch sử nhân loại.
Dù những vật hữu tình hay vô tình đều có cội nguồn hình thành, lá rụng về cội, nước chảy về nguồn. Ai có mặt trên cuộc đời này đều được cha mẹ sanh ra. Từ đó, chúng ta đều hiểu ai cũng đã nhận ơn rất lớn như trời biển của cha mẹ.
Viện Việt Học tại trụ sở Westminster, California, hôm 3/9/2022 đã có buổi Hội thảo giới thiệu công trình chú giải sách Nôm nhan đề Quan Âm Tế Độ -- do GS Nguyễn Văn Sâm phiên âm và chú giải dựa vào bản khắc hơn một thế kỉ trước. Bản gốc là Quan Âm Diệu Thiện (Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Kinh), theo bản khắc năm Mậu Thân 1908 năm thứ 34 niên hiệu Quang Tự (nhà Thanh). Do Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Hiền Tâm phiên âm từ chữ Nôm ra quốc ngữ.
Đức Quan Âm Nam Hải cư trú ở biển Nam Hải. Ngài thường thường có mặt ở miền duyên hải Việt Nam. Ngài xuất thân là một cô công chúa, tên là Diệu Thiện, nên cũng được gọi là Quam Âm Diệu Thiện. Công chúa không phải là người Việt Nam mà là người nước Hưng Lâm phía Đông Thiên Trúc.
Quan Âm Diệu Thiện” là truyện thơ Nôm khuyết danh do Nguyễn Văn Kinh phiên âm, được nhà in Nguyễn Văn Viết xuất bản ở Sài Gòn vào năm 1925. Đến nay, đây vẫn được xem là tác phẩm truyện thơ phiên âm sớm nhất về Quan Âm Diệu Thiện và ít người biết đến.
Bỗn kinh nầy, cồ tích của đức Quan-âm Diệu-Thiện, giáng trần cửu thế độ nhơn, mà tu luyện hồi thiên, xin chư quân tữ xem mà nghiệm xét, suy nghĩ, cho tột lý, phải thông trong tam giáo, mà hiểu rõ cho đặng cái cốt chĩ của Phật thánh tiên, thì mới rõ bổn kinh nay chơn giả, mà luận việc, thiên đàng địa ngục luân hồi quã báo, chớ việc đó cũng không hình không ảnh chi, mà có bóng dáng xin chư vị nghiệm xét hễ đông đứng trong tam tài, thì phải biết phân biệt chổ chơn dã đó, việc họa phước thiên đàng địa ngục, thiện ác, siêu đọa, khổ lạt, bần phú, chẵng đồng, vì cũng bởi cái tâm tánh.
Tác phẩm nhan đề Quan Âm Tế Độ, nơi bìa có ghi thêm đề phụ là: Chuyện tu hành khó khăn của Đức PhậtQuan Âm, gia tài văn học Phật Giáo Chữ Nôm. Do Nguyễn Văn Sâm phiên âm dịch chú giải, và Nguyễn Hiền Tâm đính chánh. Bìa trong ghi là: Truyện Nôm Quan Âm Diệu Thiện, từ nguyên tác Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca. Nhìn sơ khởi, thấy trước tiên, đây là một tác phẩm mang văn phong Nam Bộ. Khi người viết mở bất kỳ, thí dụ, ra nơi trang 175, thấy dòng thứ 3479 viết “Tay chưn buộc trói thiết tha” là thấy ngay giọng người miền Tây. Thứ nhì, đây là thơ lục bát, trong văn phong ưa thích ngâm nga của dân miền Tây, cho thấy cách hoằng pháp của cổ đức khi phiêu dạt từ miền Bắc hay Trung về khai phá miền Nam, đã viết lên truyện thơ chữ nôm này để hoằng pháp.
Cuộc đời của mỗi con người ngay từ khi hoài thai cho đến lúc phải đớn đau cài lên ngực bông hồng màu trắng tang thương, có lẽ, đều được ghi dấu bằng những lần đếm ngược của mẹ.
Cho con gánh mẹ một lần, Cả đời mẹ đã tảo tần gánh con. Cho con gánh mẹ đầu non, Cả lòng mẹ đã gánh con biển trời...
Theo Vietnamnet, có một cặp vợ chồng 2 con. Thu nhập khoảng 30 triệu đồng/tháng. Khi bà mẹ chồng dưới quê lên Sài Gòn chữa bệnh, anh chồng sợ nếu về quê, không ai lo cho bà nên đề nghị bà ở lại với vợ chồng anh. Cô vợ yêu cầu mẹ chồng đóng góp phí sinh hoạt 3 triệu đồng/tháng, vì cô tuyên bố việc bà đóng góp là “hợp lý”. Anh chồng không đồng ý, vì bà là người đã bán đất mua nhà cho vợ chồng anh, chưa kể công lao nuôi anh từ bé. Họ bất đồng và anh chồng lỡ tát vợ một cái nên gửi báo nhờ tư vấn cách xử lý tiếp theo tránh tan cửa nát nhà (!).
Cơ duyên đưa đẩy, tôi được gặp rồi quen thân với Bs Đỗ Hồng Ngọc hơn chục năm nay. Khi Phật học Từ Quang tục bản (số 1, 2012), đến nay tròn 10 năm, số nào cũng có bài viết của anh. Tôi mời anh và anh cũng hoan hỉ tham gia Ban Phật Học (Cố vấn), phụ trách Nhóm Học Phật và là người đồng hình thành lớp “Phật học và Đời sống”, đến nay vẫn hoạt động tốt.
Hôm nay, sao lòng con bồn chốn đến lạ khi nhìn những tấm lịch rơi. Ồ, mồng…tháng 7 âm lịch, mùa Vu Lan đã cận kề. Dẫu biết rằng – Tình mẫu tử, một chủ đề quá quen thuộc, không chỉ là mạch nguồn cảm hứng bất tận trong dòng chảy thi ca nhân loại, mà còn là một nguồn rung động sâu thẳm trong trái tim của bất kỳ ai khi nhắc đến Mẹ, con xin mạo muội đôi dòng gửi Mẹ bên kia thế giới - một tình yêu vô điều kiện, một tình yêu duy nhất Mẹ dành cho con.
Cứ mỗi độ Vu Lan về, những người con Phật lại nao nao lòng. Người người sắm sửa hương hoa, nhà nhà trang hoàng bàn thờ Phật, bàn thờ gia tiên, ông bà, cha mẹ. Các chùa cũng rộn ràng chăng cờ hoa, sắm sanh phẩm vật để cúng dường. Vu Lan là một ngày lễ lớn, một sự kiện quan trọng trong Phật giáo bắc truyền.
Mỗi đất nước đều mang một sắc thái văn hóa, phong tục tập quán riêng biệt, nhưng tất cả mọi người sinh ra trên thế gian này lại có cùng điểm giống nhau đó là tinh thần Hiếu đạo. Chữ Hiếu từ xưa cho đến nay mang giá trị vượt khỏi phạm trù không gianthời gianngôn ngữ khó diễn tả hết về giá trị cao đẹp đó. Hiếu đạo chính là bức thông điệp gửi đến những người con hãy hướng về hai đấng sinh thành để niệm ân giáo dưỡng thiêng liêng của cha và mẹ
NEW POSTING
Phật tử chúng ta được biết rằng, đã quy y Tam bảothọ trì năm giới (không sát sinh, không trộm cướp, không tà hạnh, không nói dối, không say nghiện) thì sẽ đảm bảo không đọa vào đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) , được tái sinh làm người.
Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX sẽ diễn ra trong hai ngày 28-29/11 năm nay ở Hà Nội và dự kiến sẽ bàn cả về tài sản của tăng ni.
Nhân mùa Tạ Ơn, tác giả bài viết ngắn này mạn phép trình bày vài điểm về lòng biết ơn và cách biểu lộ lòng biết ơn của người và thú.
Tai nạn xảy ra vào một buổi chiều Thứ Sáu khi tôi đang lái xe về nhà. Xe cộ đang di chuyển nhanh trên xa lộ Santa Teresa và chiếc Volkswagen nhỏ của tôi tuy đã 15 tuổi vẫn còn chạy tốt. Lòng tôi cảm thấy vui. Vừa giải quyết xong một “ca” khó, tôi có tấm séc bốn ngàn đô trong túi xách. Đó là số tiền hậu hỹ đối với một nữ thám tử tư như tôi.
Giữa những xôn xao và bất an, cuộc sống vẫn có những sự bình lặng và an ổn tự nhiên. Đôi khi muốn tiếp xúc với những điều tốt lành ấy, ta cần bước chậm, hay ngồi yên lại, để nhìn ngắm một vẻ đẹp đang sẵn có chung quanh mình.
Từ khi đứa con trai đầu lòng ra đời, cuộc sống của cô bắt đầu thay đổi, cô được mọi người bên chồng đối xử tốt đẹpquý mến hơn. Nhưng bất hạnh thay, chẳng bao lâu, con của cô qua đời vì cơn bạo bệnh. Đứa con chết làm người con gái ấy gần như điên loạn; dù đau khổ đến tột cùng.
Xa lìa tà hạnh (không tà dâm) có nghĩa chính yếu là nguyện chung thủy với người bạn đời của mình. Người Phật tử đã có gia đình thì không quan hệ tình ái với người khác ngoài vợ hoặc chồng của mình (kể cả các loài phi nhânsúc sanh).
Đối với tất cả chúng ta, bao gồm cả Đức Phật, chúng ta phải đối mặt với sự hiện diện không thể tránh khỏi của sự không hài lòng và khó chịu về thể chất. Lúc nào cũng có mặt mối nguy hiểm của đau đớn và bệnh tật, bởi vì chúng ta được sinh ra. Bởi vì có sinh ra thể xác, ắt có sự tan hoại thể xác, hai thứ phải đi đôi với nhau, chúng cùng một lẽ.
Ngày đầu tuần, tháng này, năm nay Buổi sáng vào hãng, sau khi chào hỏi và cụng ngực với những người làm chung. Mình bị tay đốc công gọi vào văn phòng giũa:”
Người đệ tử Phật thực hành pháp thứ hai một cách hoàn hảo là không trộm cướp, chính xácxa lìa việc lấy của không cho. Trộm là lén lấy, cướp là đoạt lấy. Cướp thì hầu hết chúng ta không làm nhưng trộm thì ít người tránh khỏihành vi này núp bóng dưới nhiều hình thức và có mặt trong mọi ngõ ngách cuộc đời.
Hàng năm tại nước Mỹ, hàng chục triệu con gà tây bị giết nhân ngày lễ Tạ ơn. Lama Zopa Rinpoche đã đưa ra lời khuyên trong một buổi thuyết giảng năm 2018 để giúp ích cho những con gà tây bị giết và cách chúng ta nên khởi tâm như thế nào trong những kỳ nghỉ lễ.
Hàng năm người Hoa Kỳ dành ngày Thứ Năm trong tuần lễ cuối của tháng Mười Một để cử hành lễ Tạ Ơn. Ngày lễ Tạ Ơn cũng còn được gọi là "Ngày Gà Tây" và theo thống kê cho biết mỗi năm có hơn 270 triệu con gà tây bị giết làm thức ăn, trong đó có 78 triệu con lên bàn ăn vào ngày lễ Tạ Ơn. Trong dịp lễ này, ngoài món gà tây nướng, còn có các món khoai lang, bắp ngô và bí đỏ.
Ngày Lễ Tạ Ơn là ngày mà Hiệp Chủng Quốc ăn mừng sự kiện là những người Anh đầu tiên ở thuộc địa Plymouth thoát được nạn đói qua mùa Đông 1620-21. Nhưng theo quan điểm của người thổ dân Mỹ, các người muốn chúng tôi phải tạ ơn cái gì? Có người nào thực sự mong muốn chúng tôi phải tạ ơn sự kiện là, ngay sau khi những người da trắng đầu tiên đến Plymouth hồi phục được sức lực, họ bắt đầu tận diệt chính những người thổ dân đã nuôi sống họ trong mùa Đông đầu tiên này?
Sau khi phát tâm quy y Tam bảo, người Phật tử được khuyến khích giữ giới (thực hành năm pháp), giới thứ nhất là xa lìa sát sinh.
Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam bao gồm các tuyển tập Tam tạng Phật giáo Thượng Tọa bộ (ảnh hưởng các nước Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia), Tam tạng Phật giáo Bộ phái, Tam tạng Phật giáo Đại thừa (ảnh hưởng Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Tây Tạng), Văn học Sớ giải, Văn học Tông phái Phật giáo và Văn học Phật giáo Việt Nam, v.v...
Tôi yêu Lễ tạ ơn. Hầu hết người Hoa Kỳ cũng vậy, xếp hạng đây là ngày lễ yêu thích thứ hai của họ trong năm sau ngày lễ Giáng sinh. Có rất nhiều điều để yêu thích về Lễ Tạ ơn. Có khái niệm về lòng biết ơn - điều mà chúng ta vĩnh viễn quên đi trong cuộc sống hàng ngày bận rộn của mình. Đó là sự ấm áp của gia đình - quây quần bên bàn ăn để nói cười với những người thân yêu của chúng ta. Và có một sức hấp dẫn thế tục - người Mỹ thuộc mọi tín ngưỡng ngày nay tổ chức Lễ Tạ ơn với sự nhiệt tình bình đẳng không phân biệt tôn giáo, sắc tộc. Nhưng có một thứ mà chúng ta, với tư cách là một xã hội anh em nên xem xét lại về Lễ Tạ ơn: con gà tây.
Trong kinh Thừa tự pháp, đức Phật dạy hàng đệ tử nên thừa tự giáo pháp của Ngài chứ không nên thừa tự tài vật của Ngài. Không chỉ đối với đức Phật mà đối với các vị thầy trong hiện tại cũng vậy, ta nên thừa tự gia tài chánh pháp, các giá trị tinh thần của thầy mình chứ không nên chỉ thừa tự chùa chiền, tài sản vật chất.
Phải nói rằng Tăng đoàn là sự đóng góp rất lớn cho hạnh nguyện độ sanh của Đức PhậtTăng đoàn đã thay Phật để truyền bá Đạo mầu lám cho chân lý của Ngài còn mãi trường tồn cho đến hôm nay. Ngày nay Tăng đoàn đã phát triển mạnh mẽ không những chỉ hạnh hẹp trong một quốc gia mà đã có mặt trên toàn thế giới.
Trong ấn bản Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam này, bản Luật tạng Pâli được chọn in là bản dịch của Thượng tọa Indacanda (Chánh Thân) được dịch Việt vào tháng 10-2003 và hiệu đính vào tháng 9-2004.
“Kỉnh Tiểu bộ” dịch sát nghĩa là “Hợp tuyểncác tập kỉnh ngắn ” , là tuyển tập điển tịch thứ năm trong năm bộ kinh thuộc kho tàng kinh điển Pãli, của Phật giáo Thượng Tọa bộ còn gọi là Phật giáo Nam truyền hoặc Phật giáo Thượng Tọa bộ Nam truyền Bộ này gồm 16 tập kinh chứa đựng nhiều bài kinh lẻ, thi kệ, đoạn kinh ngắn về chân lý, lộ trình tu tập, đạo đức sống và tư liệu lịch sử, phần lớn do đức Phật giảng và một số do các Thánh Tăng A-la-hán giảng hay biên tập.
Trong các kinh Bát nhã ba la mật giảng nói nhiều về tánh Không với những phẩm tính như vô tự tánh, vô sở hữu, bất khả đắc, vô sanh, như huyễn… Điều đó khiến người học dễ tưởng rằng tánh Không chỉ hoàn toàn là phủ định.
Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya) là bộ kinh thứ tư trong năm bộ thuộc hệ thống Kinh tạng Nikāya của Phật giáo Thượng Tọa bộ (Theravāda). Theo tác phẩm Diệu pháp yếu lược (Saddhammasaṅgaha) của Ngài Dhammakitti Mahāsāmi, việc giữ gìn và truyền tụng Tăng chi bộ là do Tôn giả Anuruddha và Tăng chúng thuộc nhóm của Ngài thực hiện.
Phật phápgiáo lý của Đức Phật. Gọi là giáo lý tức là nhằm chỉ đến giáo dục với tất cả các phạm trù của giáo dục : Nội dung, mục đích, phương pháp, đối tượng, tổ chức, thực hiện … Có thể nói, kinh điển xưa nay của Phật giáo ghi lại lời Phật dạy chiếm số lượng lớn nhất và lâu đời nhất so với các điển tịch nào ghi lại nội dung tư tưởng giáo dục của bất cứ nhà giáo dục nào trên thế giới. Do đó, sẽ rất hợp lý khi bảo rằng Đức Phậtnhà Giáo dục vĩ đại.
Con người vĩ đại đó, tấm lòng trí tuệ đó, phương pháp giáo dục siêu việt đó của đức Phật đã khiến muôn nghìn trái tim của nhân loại hướng về Ngài và tôn kính Ngài như một vị đạosiêu việt nhất trong lịch sử nhân loại.
Chùa Phú Hải ở nơi đó sau bao năm dâu bể thăng trầm, kể từ khi được khai lập vào những năm 196s của thế kỷ trước, trải qua hai đời trụ trì, đến năm 2008 thầy Nguyên Sanh được bổ nhiệm, đã là chốn tâm linh thiêng liêng cho phật-tử trong khu vực Đường Đệ và các vùng lân cận về nương tựa tu học, tu tậpthực hành những điều Phật dạy để cuộc sống vơi đi bớt khổ đau phiền não, hướng về ngày mai thanh thản an vui.
Tập sách nầy gồm 20 bài Pháp do Đại đức Sumedho giảng cho các Phật tử tại Anh và được chia làm 3 phần. Phần I gồm 7 bài về Pháp học hay những giáo lý cơ bản của đạo Phật như Tứ Điệu Đế, Tam Bảo, Nghiệp và Tái Sinh, Niết Bàn v.v.. Phần II gồm 6 bài về Pháp hành hay những pháp thanh lọc tâm như Quán hơi thở, Ghi nhận không gian, Sống trong hiện tại v.v... Phần III gồm 7 bài về cách tiếp cận của đạo Phật với những vấn đề hiện đại như Tự do, Gia đình, Giáo dục, Sự sống và sự chết, Xã hội toàn hảo, Tương lai của con người v.v...
Thánh điển Phật giáo được xem là quốc bảo của nhiều quốc gia theo đạo Phật. Các quốc gia thuộc hai truyền thống Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền đều có Thánh điển Phật giáo bằng tiếng mẹ đẻ của họ từ lâu. Tại các nước Phật giáo Nam truyền như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, ngoài ấn bản Tam tạng Thánh điển Pāli, đều có bản dịch Thánh điển Phật giáo bằng quốc ngữ của họ.
Kinh Trung bộ (P. Majjhima Nikāya, H. 中部經) là bộ kinh quan trọng thứ hai trong 5 bộ kinh Pāli (Pāli Nikāya) của Phật giáo Thượng Tọa bộ (Theravāda); là tuyển tập 152 bài kinh có độ dài trung bình (The Collection of the Middle Length Sayings) trong Kinh tạng Pāli (Sutta Piṭaka), tương ứng với 222 bài kinh trong Trung A-hàm kinh (S. Madhyama Āgama, H. 中阿含經). Khái niệm “trung” (majjhima, 中) có nghĩa là “trung bình, vừa” về số lượng chữ của từng bài kinh trong bộ này.
Trong Kỉnh Hoa Nghiêm có ghi: "Phật dĩ nhất nhất thân, xứ xứ chuyển pháp /沥〃"(佛以一一身,處處轉法輪),nghía là đức Phật luôn dùng tất cả hóa thân của mình, ở mọi nơi mọi chốn chuyển bánh xe pháp. Thật hoan hỷ, tinh thần chuyển bánh xe pháp của đức Phật đã và đang được chư Tôn đức Hội đồng Tri sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai một cách hiệu quả. Đặc biệt, trên phương diện hoăng truyên kinh điên, chư Tôn đức đã có những định hướng đúng đắn cho Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tiến hành phiên dịch, san định, ấn tống Kinh, Luật, Luận, Sớ giải có nguồn gốc từ tạng P互li, Sanskrit, Hán cổ và các ngôn ngữ khác...
Định hướng tư tưởng là một vấn đề vô cùng quan trọng trong đời sống sinh hoạt của con người. Tư tưởng không những chi phối hành vilời nói mà còn ảnh hưởng đến nếp sống, phong thái, văn hóa, của con người trong đời sống hằng ngày. Mỗi tôn giáo, hay một triết thuyết nào cũng đều có một hệ thống tư tưởng chủ đạo. Dựa trên nền tảng tư tưởng chủ đạo này họ bắt đầu triển khai công việc xoay quanh trục tư tưởng đó. Trong một thể chế, tư tưởng làm ổn định lòng người, tạo sức mạnh niềm tincủng cố khối đại đoàn kết.
Từ nguyên lý Duyên khởi của vạn phápĐức Phật thuyết giảng nguyên do hình thành mọi thứ trên thế gian. Từ nền tảng đó, Phật thuyết 12 nhân duyên, nói về sự hình thành một chúng sanh hữu tìnhnguyên nhân dẫn đến khổ đau.
Con người sinh ra đời, sống và lớn lên trong gia đình được ấp ủ bởi tình thương của cha mẹ, tình anh chị em, tình bà con dòng họ. Xa hơn nữa là tình yêu đôi lứa đó là thứ tình cột chặt hai tâm hồn, hai trái tim nam nữ xa lạ lại với nhau. Và còn một thứ tình cảm rất bình dị và cao quý, đó là tình bạn. Bạn bè cũng giống như người yêu, phải có duyên mình mới gặp và gắn kết với người đó, nhưng tình bạn khác với tình yêu. Tình yêu thông thường chỉ có giữa hai người nam và nữ. Còn tình bạn thì khác. Bình thường một người có thể làm bạn với nhiều người. Tình yêu có thể thay đổi nhưng tình bạn tri kỷ thì ở lại với mình cho đến hết cuộc đời!
Chữ “Tăng đoàn” là một thuật ngữ tiếng Phạn, có nghĩa là “cộng đồng” và được sử dụng chủ yếu để chỉ những tín đồ đã xuất gia của Đức Phật, những người được gọi là tỳ kheo (bhikshus) và tỳ kheo ni (bhikshunis), hay chư Tăng Ni. Ngày nay, khi Phật giáo đã lan rộng khắp thế giới phương Tây, thì việc cộng đồng Phật tử nói chung, hoặc thậm chí chỉ một nhóm nhỏ của các cư sĩ tại gia trong một trung tâm Phật pháp được xem là Tăng đoàn, là điều khá phổ biến.
Đứng trước biến động khó khăn của cuộc đời, Phật giáo với tinh thần từ bitrí tuệ, lấy tôn chỉ Phật pháp bất ly thế gian pháp đã luôn đồng hành cùng những thăng trầm của cuộc sống con người. Điều đó thể hiện qua việc Phật giáo truyền tải nguồn năng lượng yêu thương, giáo hóa chúng sanh bằng con đường đạo đức trí tuệ, tự tìm lại chân tâm Phật tánh nơi mỗi người. Và dù ở thời đại nào, Phật giáo vẫn luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng nền tảng đạo đức con người thông qua ngũ giới căn bản nhằm giúp hàng Phật tử thọ trì.
Đạo đức học Phật giáo là một bộ môn, một chủ đề còn khá mới mẻ ở đất nước Việt Nam ta. Nhận định như thế vì mãi cho đến năm 1995, cuốn sách đầu tiên về Đạo đức học Phật giáo mới được nghiên cứuấn hành. Đạo đức học Phật giáo – một chủ đề có nội hàm rất lớn, vì lẽ đó, mỗi người, dưới góc nhìn của mình sẽ có những chia sẻ, cảm nhận khác nhau. Đây chính là điểm dị biệt trong cái chung nhất... (HT. Thích Chơn Thành)
Giáo pháp của đức Phật phải có đủ 5 tính chất sau: 1. Thiết thực hiện tại 2. Đến để mà thấy 3. Không bị chi phối bởi thời gian 4. Có tính chất hướng thượng 5. Cho người trí tự mình giác hiểu
Chúng ta biết rằng hơn 400 năm sau khi Bụt nhập diệt, kinh điển mới được chép thành văn. Trước đó kinh điển chỉ được truyền tụng bằng miệng, từ thế hệ này sang thế hệ khác, do các vị gọi là kinh sư. Các vị kinh sư ngày xưa thuộc hết các kinh điển và có nhiệm vụ tụng đọc lại cho đại chúng nghe.
Trong bài Kinh Devadaha, Đức Phật đã luận giải chi tiết về nghiệp. Trái ngược với quan điểm cho rằng nghiệp là định mệnh luận, chỉ có thể khổ hạnh để tiêu trừ, Ngài phê bình những quan điểm không đúng đắn về nghiệp như thế và dạy con đường ưu thắng dẫn đến sự giải thoát thực sự.
Chánh niệm về hơi thở là khi thở vào, ta để tâm bám sát hơi thở vào cho đến lúc thở ra. Khi thở ra, ta cũng để tâm bám sát hơi thở ra cho đến lúc thở vào. Bám sát hơi thở vào và hơi thở ra như vậy sẽ tạo nên sự hoà hợp giữa thân thể, hơi thở và tâm.
New Posting Số mới nhất: 400 ngày 1 tháng 11 năm 2022 và số 401 ngày 15 tháng 11 năm 2022
Trong kinh điển tiểu thừa có một điểm khác biệt rất rõ nét so với kinh điển đại thừa, đó là bối cảnh thuyết pháp của Đức Phật. Trong các bộ Trường Bộ Kinh hay Trung Bộ Kinh, v.v. sau câu mở đầu “Tôi nghe như vầy” là gần như ta thấy hiện ra hình ảnh Đức Thế Tôn ngồi một cách bình dị nơi khu vườn xoài của Kỳ-bà (Jīvaka) tại thành Vương-xá (Rājagaha), để thuyết giảng cho chúng Tỳ-kheo bằng những pháp thoại cũng bình dịdễ hiểu.
“Chúng ta hãy cố gắng đạt được cả hai điều này” là câu trả lời mà hầu hết các Phật tử có khả năng đưa ra cho câu hỏi trên. Rõ ràng rằng thông điệp của Phật giáothông điệp của hòa bình. Trước hết, mục đích tối hậu của Phật giáo là chứng đạt Niết-bàn (nirvāna), một thành tựu siêu thế, một sự an bình tối thượng. Để đạt được điều đó bằng nỗ lực bước đi trên con đường tâm linh thì việc tránh xa xung độtđiều kiện tiên quyết.
Trong thời buổi bon chen vật chất nặng hơn tinh thần, tình cảm nặng hơn lý trí, tìm thầy tìm bạn là việc rất khó. Kinh sách có nhiều loại, tìm loại sách thích ứng với trình độ căn cơ của mình lại càng không dễ. Vả lại thầy hay bạn tốt nếu có cũng không thường xuyên với mình được. Duy có kinh sách nào thích hợp với tâm lýđời sống của mình thì là người bạn đồng hành tốt cho ta nên chọn.
Bà là một họa sĩ độc đáo. Nói độc đáo bởi vì, bà nổi bật trong kiểu rất riêng, với tài năngđời sống không hề giống ai hết. Họa sĩ Bernice Bing (1936-1998) là một họa sĩ người Mỹ gốc Hoa, đồng tính nữ, hoạt động trong làng nghệ thuật Vùng Vịnh San Francisco Bay trong thập niên 1960s, có ảnh hưởng từ nền văn hóa Beats – kiểu phóng khoáng hippies có chất phản kháng xã hội – trong khi bản thân họa sĩ Bing chịu ảnh hưởng Thiền Tông, và đưa ảnh hưởng Thiền vào nét vẽ trừu tượng thư pháp mà Bing ảnh hưởng sau khi học với họa sĩ Nhật Bản Saburo Hasegawa. Làm thế nào trong một họa sĩ lại có rất nhiều yếu tố thiểu số như thế: gốc Á châu, đồng tính nữ, văn hóa Beats, và nét vẽ Thiền Tông?
Đức Phật dạy về nhân quả thật rõ ràng. Ai gây nhân tạo mười loại nghiệp bất thiện thì chịu quả đi đến ác xứ, không thể đổi khác được.
Gọi kêu tâm thức ngủ vùi Bất nhị giải thoát đất trời sáng choang Lối này ruộng phước bỏ hoang Lông rùa, sừng thỏ, trăng vàng hội duyên!
Bài ‘Bát Nhã Tâm Kinh’ được xướng lên đầu tiên bởi Chư Tăng Ni Việt Nam với tốc độ đều đặn vững chãi theo nhịp điệu của chiếc mõ có hình con cá gỗ. Tiếp theo, Tâm Kinh được tụng lại bởi một nhóm đến từ Indonesia. Trước đám đông thính chúng ước tính lên tới 6100 người đến từ 57 quốc gia, bao gồm cả những người bảo trợ cụ thể của Pháp Hội, 650 Phật tử đến từ Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam, Đức Ngài nhận xét rằng đây là ngày thứ hai của Pháp Hội.
Bài kinh Kevaṭṭa-Sutta là một bài kinh dài giảng cho một người thế tục trẻ tuổi tên là Kevaṭṭa khi người này đến xin Đức Phật chỉ định một vị tỳ-kheo trong Tăng đoàn thực thi các phép lạ để thu phục được nhiều người hơn. Thế nhưng Đức Phật khẳng định là Ngài không hề dạy các tỳ-kheo của mình làm phép lạ, mà chỉ giảng dạy họ phải làm thế nào để biến mình từ một con người bình dị trở thành một con người cao quý hơn, đưa mình đến sự Giải thoát cuối cùng và sự Giác ngộ tối thượng. Sự giảng và học hỏi đó tự nó cũng đã là một phép lạ. Đấy là nội dung của toàn bộ bài kinh, và cũng là "kim chỉ nam" giúp chúng ta theo dõi bài kinh rất phong phú, khúc triết, nhưng cũng rất phức tạp này.
Lịch sử tư tưởngtôn giáo của nhân loại có lẽ sẽ đánh dấu một bước ngoặt vào ngày đức Phật, theo truyền thuyết, khi vừa đản sinh đã bước đi bảy bước trên tòa sen để tuyên bố “Thiên thượng thiên hạ duy Ngã độc tôn.” Chúng ta không cần phải thắc mắc về tính hợp lý của sự kiện và câu nói đó, vì chúng chỉ mang tính biểu tượng, như nhiều sự kiện trong mọi tôn giáo khác, mà chỉ nên lưu ý rằng trong suốt 49 năm thuyết pháp của đức Phật, nội dung câu nói đó được thể hiện trong tất cả những trang kinh.
Quá cảnh trần gian lạc bến tình / Tình vui phơi phới buổi bình minh/ Thuyền lòng thả nổi không người lái/ Đâu ngờ, trôi dạt chốn điêu linh.../
Nhà thơ, nhà văn nổi tiếng người Đức Hermann Hesse có lần viết trong tác phẩm “Siddhartha” rằng: “Cả hai đều lắng nghe dòng nước, đối với họ đó không chỉ là dòng nước, mà còn là âm ba của cuộc sống, tiếng nói của cái đang là, tiếng nói của cái sắp là.”
“Nếu quý vị chỉ nghĩ đến bản thân, thì quý vị chỉ quan tâm đến một người. Đây là một góc nhìn nhỏ hẹp trong bối cảnh tất cả chúng sinh khác cũng giống như quý vị; cũng muốn tìm kiếm hạnh phúc và tránh né khổ đau. Một phương pháp thông minh hơn đối với tư lợi là nghĩ đến những chúng sinh khác, nghĩ rằng không làm hại người khác và giúp đỡ họ càng nhiều càng tốt.
Nhân chuyến về thăm ba má bệnh, tôi ghé thăm ngôi chùa xưa ở chốn làng quê ngày trước. Dân quanh vùng xưa nay quen gọi tên thông dụng là Bàu Lương, chẳng có mấy ai gọi tên chữ Khánh Lâm.
Theo bách khoa toàn thư (Wikipedia,) “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (zh. 妙法蓮華經, sa. saddharmapuṇḍarīka-sūtra,) cũng được gọi ngắn là kinh Pháp Hoa, là một trong những bộ kinh Đại Thừa quan trọng nhất, được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng và Việt Nam. Thiên Thai Tông lấy kinh này làm giáo pháp căn bản. Kinh này chứa đựng những quan điểm chủ yếu của Đại Thừa Phật Giáo, đó là giáo pháp về sự chuyển hóa của Phật Tính và khả năng giải thoát. Kinh này được Phật giảng vào lúc cuối đời, được kết tập trong khoảng năm 200.”
“Như Lai chỉ là người chỉ đường”, bậc trí tuệ bậc nhất trên thế gian đã nói như thế trong kinh Ganakamoggallana Sutta (Majjhima Nikāya 107). Vậy chúng ta không thể ngồi đây cầu xin ai hạnh phúc. Chúng ta phải tự đi, đi theo con đường Ngài đã chỉ, con đườngvô số chư Phật và các bậc Thánh nhân đã đi qua. Và chắc chắn chúng ta sẽ an vui khi khởi hành, an vui trên suốt con đường, cho đến khi tự mình chiêm nghiệm chân lý cao thượng.
Thế gian là nơi nguy hiểm, khó khăn, đầy dẫy thách thức và cơ hội cho mọi người thực hành hạnh Bồ tát, vì chính nơi ấy mà người ấy chuyển hóa được cái thấy bất tịnh của mình thành cái thấy thanh tịnh, những phiền não trùng điệp của mình thành ánh sáng giác ngộ.
"Bỏ quá, hiện, vị lai Đến bờ kia cuộc đời Ý giải thoát tất cả Chớ vướng lại sanh già” Câu chuyện về Uggasena Trong khi cư trú tại Kỳ Đà Tinh Xá (Jetavana) Đức Phật đã thốt ra bài kệ 348 của cuốn sách này, có liên quan đến Uggasena, con trai của một người giàu có, lụy tình một vũ nữ.
Mạng xã hội có nhiều điểm tích cực trong việc kết nối con người với nhau nhưng mặt trái của nó phá hỏng tâm tính thiện của con người, đặc biệt là giới trẻ. Việc ai cũng có thể chửi rủa, phán xét một cách tàn nhẫn, hùa theo, không suy nghĩ và thiếu bao dung, đã làm khẩu nghiệp của chúng ta nặng thêm.
Trong các nghiệp của chúng sanh, khẩu nghiệp rất quan trọng, hành giả phải rất cẩn thận từng lời nói để tránh xa các quả báo không tốt do khẩu nghiệp gây ra. Trong các bệnh của khẩu nghiệp, bệnh hí luận chúng ta thường hay mắc phải.
Tạp chí Phật Học Từ Quang từ năm 2012,cho đến năm 2022 do Ban Phật Học chùa Xá Lợi (trước năm 1975 là Hội Phật Học Nam Việt) chủ trương, nhà xuất bản Phương Đông ấn hành. Sách phổ biến dạng Eboook PDF. Quý độc gỉa ở Việt Nam có thể liên lạc với phòng phát hành kinh sách chùa Xá Lợi đển thỉnh bản in trên giấy. (Cảm tạ TT. Thích Đồng Bổn, Trụ trì chùa Xá Lợi) Hình bìa số mới nhất 42 ra tháng 10 năm 2022
Hôm nay chúng ta cùng nhau lật lại trang cổ sử tìm hiểu về cuộc đời vô cùng thú vị và xuất chúng của vị Tỳ-khưu-ni lỗi lạc, vang danh bậc nhất về Đại Trí Tuệ trong Ni giới. Đó là nữ tôn giả Khema. Đặc biệt là Khema đã chứng quả Thánh cao thượng, chỉ sau một thời pháp của đức Phật, ngay khi bà còn là một hoàng phi cao sang quyền quý, chưa hề xuất gia, chưa hề quy y Tam Bảo, chưa phải là đệ tử của đức Phật Gotama.
Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX sẽ diễn ra trong hai ngày 28-29/11 năm nay ở Hà Nội và dự kiến sẽ bàn cả về tài sản của tăng ni.
Hàng năm tại nước Mỹ, hàng chục triệu con gà tây bị giết nhân ngày lễ Tạ ơn. Lama Zopa Rinpoche đã đưa ra lời khuyên trong một buổi thuyết giảng năm 2018 để giúp ích cho những con gà tây bị giết và cách chúng ta nên khởi tâm như thế nào trong những kỳ nghỉ lễ.
Sau khi bị chỉ trích vì dự lễ cải đạo tập thể từ Ấn giáo sang Phật giáo, Bộ Trưởng Gautam từ chức và nói: "Hôm nay tôi đã được giải thoát khỏi nhiều gông cùm và hôm nay tôi đã được sinh ra một lần nữa." Nhật Báo India Today đăng một video tiếng Anh hôm 7/10/2022 nhan đề "Bộ trưởng AAP Rajendra Gautam tham gia sự kiện cải đạo hàng loạt sang Phật Giáo, thề không cầu nguyện các vị thần Ấn Độ Giáo."
Vụ “đi kiện Thầy chùa” xẩy ra gần đây nhất là trường hợp chùa Tam Bảo ở Baton Rouge. Thầy trú trì chùa Tam Bảo, Thích Đạo Quảng (TĐQ) đã bị bốn trong số hơn vài trăm thành viên trong đạo tràng chùa Tam Bảo đứng đơn kiện. Nguyên đơn, gồm bốn nữ thí chủ chùa Tam Bảo, đã mướn luật sư nộp đơn kiện, buộc tội thầy Đạo Quảng có dính líu vào quan hệ tình dục và sai phạm việc quản nhiệm chùa (sexual misconduct and mismanagement of the temple). Mục đích sau cùng của vụ kiện là xin phán quyết tòa án để đuổi (sic) Thầy ra khỏi chùa và thay thế các “candidate Thầy” khác mới toanh, hợp khẩu vị đang xếp hàng chời đợi
Thông Báo của Hội Phật Học Đuốc Tuệ về buổi thuyết pháp của Đại Đức Thích Đăng Huy về đề tài "Ứng dụng Thiền trong Đời Sống Hằng Ngày" vào ngày Chủ Nhật 13 tháng11 năm 2022 từ 2 giờ chiều đến 6 giờ chiều tại Tu Viện Đại Bi
Bài Pháp "Mục Đích Cuộc Sống" là bài thứ hai trong các khóa Thiền Tứ Niệm Xứ. Khi học, thiền sinh sẽ trả lời được câu hỏi: Mục đích của cuộc sống là gì? Ý nghĩa thực sự của cuộc sống này là gì?
Tại buổi trả lời câu hỏi của Thiền sinh khóa Thiền Tứ Niệm Xứ online 9 ngày miên mật K01, Thiền sư Nguyên Tuệ có chia sẻ về Hành trình tìm ra phương pháp an trú Chánh Niệm - Tỉnh Giác. Từ những năm 1991, Thiền Sư đã tiếp cận với Phật giáo để trả lời câu hỏi "Mục đích cuộc sống là gì?". Tiếp cận và thực hành Thiền, có những trải nghiệm về Tỉnh Giác mà chưa an trú được. Mãi sau này mới tìm ra được phương pháp và giảng dạy cho thiền sinh như hiện tại.
Anh chị em thiền sinh thân mến, Chào đón anh chị tham gia khóa thiền Tứ niệm xứ. Đây là con đường Phật đã đi và hàng triệu người trên thế giới đang hàng ngày thực theo phương pháp này. Trong khóa tu học Thiền Tứ Niệm Xứ online. Chương trình học Bắt đầu ngày mới với việc kết nối với thực tại và Tái Tạo nguồn năng lượng như sau: