(Xem: 292)
Giới hạnh của người tu liên quan đến sự thịnh suy của Phật pháp một cách mật thiết. Như vậy, chỉ có giới luật mới tạo nên đức hạnh của người tu, đồng thời cũng góp phần xây dựng cho chúng ta thành những chiến sĩ trên mặt trận đạo đức, tạo nền tảng cho Phật pháp hưng thịnh.
(Xem: 2192)
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Chẳng những thân không phạm, luôn cả cái “không phạm” cũng không còn", tức thân tâm đều dứt, luôn cả cái dứt cũng không có, như thế đối với vô thượng bồ đề mới có hy vọng.
(Xem: 3516)
Ngôi trường Vạn Hạnh, giờ đây vắng bóng thêm một bậc thầy giáo thọ kính yêu... Chúng con từ phương xa kính hướng về Vạn Hạnh, thành kính đảnh lễ nguyện cầu Giác linh Hòa Thượng tân viên tịch thượng phẩm thượng sanh, cao đăng Phật quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta bà, để tiếp tục công cuộc giáo dục hoằng Pháp lợi sanh.
(Xem: 1909)
Các tiêu chuẩn đạo đức và các hành vi đạo đức nhằm mục đích đem đến cho con người và xã hội một cuộc sống hạnh phúc. Ban zeladze, một tư tưởng gia phương Tây, viết: "Vấn đề lý tưởng tối cao và ý nghĩa của cuộc sống thực chất là vấn đề hạnh phúc. Con người là giá trị cao nhất, là cơ sở, là ngọn nguồn của mọi giá trị, mọi thứ đều là phương tiện cho con người và cuộc sống của con người
(Xem: 3755)
Giới là một trong ba môn học vô lậu của Giới, Định và Tuệ chỉ có trong giáo pháp của Đức Phật thường được hiểu là Giới hạnh và vị trí của nó đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo lý Phật giáo. Sự học tu tập về Giới là một việc rất đương nhiên đối với những ai khát khao sự thanh tịnh. Ở đây, thanh tịnh nên hiểu là Niết-bàn1
(Xem: 3094)
Quyển Tỳ-ni mà quý vị đang có đây, được tôi mở đầu bằng trọn bản Việt dịch ‚Phật Thuyết Hy Hữu Giảo Lượng Công Đức Kinh‛, đây là Kinh văn Đức Phật giảng giải về công đức thọ trì Giới pháp. Phần sau là Tỳ-ni và Giới bổn, do tôi biên dịch từ nguyên bản Hán văn ‚Tỳ-Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu‛ đã nói ở trên, đồng thời soạn lại bố cục, nội dung và lấy tựa đề là ‚Pháp Kệ Tỳ-Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu‛
(Xem: 3153)
Những quy tắc đạo đức có một vị trí rất quan trọng trong hầu hết các tôn giáo. Pháp luật hay các quy ước là đều cần thiết đối với bất cứ thành viên nào trong xã hội.Trong mỗi gia đình nếu không có quy tắc, gia đình đó sẽ xảy ra bất đồng; một quốc gia, nếu không có phép nước, thì quốc gia đó sẽ nổi loạn. Trong Phật giáo cũng vậy, giới luật đóng một vai trò vô cùng đặc biệt. Giới được xem là mạng mạch của đời sống Tăng già. Vì vậy, trong đời sống sinh họat của Tăng đoàn hầu hết các quy tắc đặt ra là để phòng hộ, ngăn chặn các hành vi, lời nói bất thiện của vị Tỳ kheo do tham lam, sân hận hay si mê chi phối. Giới là để chế ngự các bất thiện pháp, phụng hành các thiện sự, và thanh tịnh các tâm hành.
(Xem: 3061)
Đức Phật của chúng ta sau khi trải qua vô số kiếp thực hành các pháp toàn hảo và lần lượt tiếp nhận sự thọ ký của hai mươi bốn vị Phật tiền nhiệm rồi đã chứng quả Toàn Giác vào năm 623 trước Tây Lịch.
Kinh
(Xem: 169)
Đây giải về 38 điều Hạnh Phúc mà Đức Thế Tôn là đấng thượng sư tự thuyết ra có ý nghĩa như vầy
(Xem: 279)
Tôi hân hạnh đọc bộ Kinh Thơ Hoa Nghiêm của Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng pháp danh Như Ninh thực hiện ròng rã trong nhiều năm, với khoảng gần bốn ngàn câu song thất lục bát thi hóa hết sức chuẩn mực, đúng âm vận đã diễn tả được hình ảnh của hành giả thực hiện Bồ tát đạo giữa dòng đời nhân thế theo tinh thần Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.
(Xem: 542)
Mangala có nghĩa la “hạnh phúc” – “Phúc đức” - “ Điềm lành” – “Phước lành”. Hay nói một cách bao quát hơn, rộng nghĩa hơn Mangala là những nguyên tắc tạo cho con người thực hành đưa đến một đời sống an lạc, hạnh phúc, lợi mình, lợi người; một nền tảng xây dựng xã hội an lành, đạo đức. Một đạo đức nhân thân đưa đến thành công trong đời sống. Vì thế, không phải là bản kinh chỉ để tụng đọc mà là để hành trì. Đây là bài kinh quan trọng đến độ, một chú tiểu vào chùa tại Miến điện, đầu tiên được dạy bản kinh này; thậm chí một số sư thuộc lòng, xem đó là bản kinh gối đầu giường và là bản đồ dẫn đạo suốt lộ trình tu tập.
(Xem: 522)
Bây giờ chúng ta hãy đi sang phẩm thứ 25, Phẩm Phổ Môn. Phổ môn là cánh cửa phổ biến, cánh cửa mở ra cho mọi loài đi vào. Cánh cửa này không chỉ mở ra cho một hay hai, ba hạng người, mà tất cả mọi loài đều có thể đi qua cánh cửa đó để vào Phật Pháp. Tiếng Anh là Universal Door. Đây là một Phẩm được tụng đọc nhiều nhất của kinh Pháp Hoa, và được gọi là kinh Phổ Môn (Samantamukha) hay là kinh Quán Âm.
(Xem: 601)
"Quán" là xem xét, "Thế Âm" là âm thanh của thế gian. Quán Thế Âm là xem xét âm thanh thế gian, tiêu biểu cho lòng từ bi của Bồ-tát. Ngài lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh, khởi lòng thương xót đến cứu độ cho hết khổ. "Phổ Môn" là cái cửa thông suốt khắp tất cả. Bồ-tát Quán Thế Âm tu hạnh từ bi, hay lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh mà hiện thân để hóa độ.
(Xem: 3035)
Thiền sư Đại Điên Bảo Thông (732 - 824) là tăng sĩ đời Đường, tác giả Bát nhã tâm kinh chú giải. Minh Châu Hương Hải (1628 - 1715), thiền sư Việt Nam thời Hậu Lệ, có viết tác phẩm Giải Tâm kinh Đại Điên, bằng chữ Nôm, tức là dịch Việt bản Tâm kinh chú giải của Đại Điên; bản dịch ấy mang ký hiệu AB. 530 của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm. Các bản Tâm kinh chú sớ từ Trung Hoa được chư Tổ VN thỉnh về từ thế kỷ 15 trở về sau, gồm có: Tâm kinh Thiêm túc của sa môn Hoằng Tán, Tâm kinh trực thuyết của đại sư Hám Sơn và Tâm kinh chú giải của hòa thượng Đại Điên.
(Xem: 3428)
- Dhammapada là tập hợp 423 bài kệ do đức Phật thuyết ra trong nhiều dịp khác nhau, được sắp xếp trong 26 phẩm. Mỗi bài kệ chứa đựng một nội dung tu học rất sâu sắc và phong phú, không thể nào chỉ đọc một lần mà hiểu hết được. Cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần, tra cứu các bản chú giải, và suy nghiệm từ các tu chứng tự thân thì mới mong thông ngộ và thấu đạt ý nghĩa của các lời dạy cao quý đó. Vì thế, bộ Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā) do đức Cố Trưởng lão Hòa Thượng Pháp Minh dịch trọn vẹn chia thành bốn bộ xem như là bộ Chú giải căn bản nhất được hoàn thiện tại Việt Nam. Nếu đọc qua bài kệ, chúng ta chưa hiểu được hết ý nghĩa sâu xa thì chắc chắn đọc qua bộ Chú giải này, chúng ta sẽ hiểu thêm được duyên sự câu kệ và cả ý nghĩa mà đức Phật muốn nói đến. Mỗi một bài kệ, mỗi một duyên sự là một đề tài tu tập, một hướng đi mới cho mỗi người con Phật trên con đường tu học để tiến đến đạo quả giải thoát.
(Xem: 3799)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 5630)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 4031)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 3890)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
(Xem: 3922)
“Thân tác chứng thành tựu và an trú tịnh giải thoát”: Thế nào là gia hành của tịnh giải thoát này? Tu quán hành giả do phương gì nhập tịnh giải thoát định? Khi người mới bắt đầu sự nghiệp tu quán, trước hết cần phải nắm lấy hình thái thanh thọ, như thanh hành, thanh chi, thanh diệp, thanh hoa, thanh quả, hoặc nắm lấy hình thái thanh y, thanh nghiêm cụ tướng, hoặc nắm lấy đa dạng thanh tướng nào khác. Khi đã nắm lấy các thanh tướng như thế rồi, do lực thắng giải, tư duy tưởng niệm, quan sát an lập, tín giải sắc này là thanh tướng ấy.
(Xem: 3207)
Bí-sô nên biết! ở đây, vị Thánh đệ tử, bằng đặc điểm như vậy tùy niệm chư Phật, nghĩa là vị Thế Tôn ấy là bậc Như Lai, A-la-hán, nói chi tiết cho đến: Phật Bạc-già-phạm”. Hoặc có vị Thánh đệ tử nào bằng đặc điểm như thế tùy niệm chư Phật, những gì là niệm tương ưng với kinh nghiệm nhận thức, mà kiến là căn bản: tùy niệm, chuyên niệm, ức niệm, không quên, không mất, không rơi sót, không rò rỉ, không mất trạng thái của Pháp, trạng thái ghi nhớ sáng suốt của tâm. Đó gọi là tùy niệm Phật.
(Xem: 4036)
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi Tử lại nói với đại chúng: Cụ thọ nên biết! Đức Phật đối với mười pháp sau khi đã tự mình khéo thông đạt, hiện đẳng giác, liền tuyên thuyết khai thị cho các đệ tử. Hôm nay chúng ta nên hòa hợp kết tập, để ngăn ngừa sau khi đức Phật diệt độ xảy ra sự tranh cãi, khiến cho pháp luật tùy thuận phạm hạnh được an trụ lâu dài mang lại lợi lạc cho vô lượng hữu tình; lại vì thương xót thế gian, chúng chư thiên và nhân loại, khiến cho họ có được nghĩa lợi an lạc thù thắng. Những gì là mười pháp? Ở đây khái lược có hai loại mười pháp, đó là mười biến xứ và mười pháp vô học.
(Xem: 4094)
Theo nghiên cứu của các học giả Abhidharma hiện đại, đại biểu như Đại sư Ấn Thuận, sáu túc luận A-tì-đạt-ma lấy Phát trí luận làm bản luận[1]. Việc nhóm tập sáu túc luận thành một tổ hợp hay nhóm mục, sớm nhất phải kể đến luận Đại trí độ, trong đây khi Long Thọ đề cập đến “lục phần A-tì-đàm”[2], đồng thời nói đến “thân nghĩa tì-đàm”[3]. Thân: ở đây chỉ cho Phát trí luận[4], nghĩa này Đại Tì-bà-sa luận nói rằng, thời đại của ngài Long Thọ đã thường gọi Phát trí luận là thân, sáu túc luận kia là chi phần. ....
CHUYÊN ĐỀ
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina). Nếu an cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền an cư (Purimikavassà), còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An Cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An Cư (Pacchimikāvassā). Truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi là ‘An cư kiết hạ’, tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Sau rằm tháng tư âm lịch Chư Tăng theo truyền thống Đại thừa bắt đầu kiết túc an cư, cho đến hết ngày mười bốn tháng bảy âm lịch, làm lễ tự tứgiải hạ kết thúc mùa an cư.
Hôm ấy là Mùa Vu Lan, các Chùa cứ thay phiên nhau làm lễ bông hồng cài áo. Tôi ngồi buồn thỉu, buồn thiu nhìn bông hoa hồng trắng cài trên áo. Nhớ ngày tôi mất mẹ mới thật thê thảm, vì chưa ngộ được lý vô thường nên tôi không chấp nhận được việc khi đi làm về vào phòng chào mẹ chẳng thấy bóng bà. Tôi vật vã, thương nhớ khôn nguôi.
Có phải bất công lắm không khi hằng năm vào dịp Vu Lan, trên thế gian này không biết bao nhiêu Văn nhân, Thi sĩ, Nhạc sĩ múa bút tán tụng tình Mẹ: Huyền thoại mẹ, Phật giáo tôn vinh giá trị những bà mẹ, lạm bàn về mẹ, tản mạn về mẹ..v.v..và..v.v... bên cạnh đó, dường như mọi người vô tình đã bỏ quên một thứ tình cũng nồng nàn không kém, đôi khi còn thắm thiết hơn, đó là tình cha. Vâng, tôi có một người cha như thế.
Chúng ta phải tập tánh nghe từ ngay trong chính mình. Tóm lại, xã hội chúng ta đang không biết lắng nghe. Chúng ta phóng tâm theo những chuyện bên ngoài nhiều quá, không lắng nghe quanh mình còn bao nhiêu tiếng thở than, bao nhiêu nỗi băn khoăn, bao nhiêu oan khuất, bao nhiêu trăn trở. Liệu có bao nhiêu người trong chúng ta về nhà hỏi han cha mẹ một lời, nghe các cụ tâm sự về nỗi đời riêng cần chia sẻ. Phần đông chúng ta sống thờ ơ, hững hờ.
Sau khi đắc quả A-la-hán, Tôn giả Mục-kiền-liên vận thần thông đi khắp các cõi tìm người mẹ đã khuất. Thấy mẹ đang chịu đói khát khổ sở trong kiếp ngạ quỷ, Ngài đau lòng vô cùng, vội dâng lên mẹ bát cơm. Lòng bỏn sẻn tham lam chưa dứt, bà sợ chúng ma cướp giật nên đưa tay che bát cơm. Nhưng cơm đã hóa thành lửa đỏ!
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.
Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật! Kính bạch Chư Tôn Đức Tăng Ni! Kính thưa quý vị Phật tử! Nhân mùa Vu-lan năm 2020, con xin đảnh lễ, kính chúc chư Tôn đức Tăng Ni thêm một tuổi đạo, thành công hơn nữa trong các Phật sự, nhằm mang lại lợi íchphúc lạc cho nhân sinh. Con kính chúc các bậc làm cha mẹ thêm một tuổi đời, làm nền tảng đạo đứchạnh phúc cho con cháu trong gia đình và họ tộc. Con kính chúc tất cả các anh chị, các cháu thanh thiếu niên, đề cao đạo lý hiếu kính cha mẹ ông bà, thể hiện tinh thần tự lập, xa lánh các thói hư tật xấu, các thói quen nghiện ngập, hưởng thụ ăn chơi, để sống một cuộc đời hữu ích, và làm cho cha mẹ được hạnh phúc hiện tiền. Nhờ đó, có một tương lai tươi sáng.
Lễ báo hiếu cha mẹvăn hóa ứng xử của những người con thảo, cháu hiền trên giáo lý tri ân, báo ân. Năm 2020, đại dịch COVID-19 2 lần xuất hiện tại Việt Nam buộc toàn thể Giáo hội Phật giáo Việt Nam bất đắc dĩ triển khai các công tác tổ chức Đại lễ Phật đảnĐại lễ Vu-lan ONLINE – một điều chưa từng có trong suốt 2.564 Phật lịch
Mẹ thân mến, mẹ âu yếm bảo vệ khi con còn nhỏ, Mẹ dạy dỗ bằng tình yêu thương và nói với con những lời dịu ngọt, Mong con dẫn dắt mẹ trên con đường của Quán Thế Âm. OM MANI PADME HUM HRIH
Nhân mùa Hiếu hạnh tôi xin kể mọi người câu chuyện về một bà Mẹ ở Miền Trung, vùng sông Hương núi Ngự. - Chồng mất sớm, bà ở vậy nuôi con được 25 năm, lúc con gái khôn lớn sang Mỹ sống và thành công ở Mỹ, tháng nào cũng gởi về cho bà một lá thư và vài trăm usd để bà tiêu xài. Thời gian cứ mãi trôi đi, hết Xuân nầy đến Xuân kia. Cô con gái luôn viện cớ nầy cớ nọ, không một lần về thăm người Mẹ ở quê nhà.
Vu Lan về… Vu Lan cũng như Giáng Sinh, không còn là ngày lễ riêng tôn giáo. Đó là những dấu son thời gian của nhân văn ghi đậm nét cảm xúc của con người. Nếu Giáng Sinh là ngày lễ của Ân Tình thì Vu Lan là ngày lễ Nhớ Mẹ.
Tháng 7 là mùa Vu Lan báo hiếu. Đó là câu chuyện về một đại đệ tử của Đức Phật: Tôn Giả Mục Kiền Liên đã cứu thoát mẹ mình là bà Thanh Đề thoát ra khỏi ngục tối. Câu chuyện của người con chí hiếu Mục Kiền Liên đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận suốt mấy nghìn năm qua, để rồi, Phật Giáo truyền đến đâu thì cùng với tinh thần từ bi, hỉ xả, vô ngã, vị tha, những người con của Đức Phật noi theo tấm gương hiếu hạnh của Mục Kiền Liên để đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục.
Mỗi độ tháng bảy âm lịch về, người con phật laị nao nức chuẩn bị cho mùa hiếu hội. Vu Lan báo hiếu đã trở thành một lễ hội quan trọng trong đạo Phật cũng như truyền thống văn hoá của dân tộc. Một năm có nhiều ngày lễ nhưng với với con Phật có lẽ ngày tết, ngày lễ Phật đản sanh và lễ Vu Lan là quan trọng nhất
Thời nay mà còn nói đến chữ “hiếu” sẽ có người cho là cổ hủ, lỗi thời. Kỳ thực, đạo hiếu, đạo làm con (1) thời xưa đã bị chê là lỗi thời theo sự xuống trào, mất ảnh hưởng của Việt-Nho từ giữa thế kỷ 19 rồi, không phải đợi đến ngày nay.
NEW POSTING
“Đức Phật dạy chúng ta đừng bao giờ nói dối, cho dù vì lợi ích của bản thân, hay lợi ích của ai đó, hay vì bất cứ sự lợi ích gì.”(6) Nói đúng sự thật để tạo uy tín cho người phát ngôn, tránh được sự hiểu lầm, để giá trị của sự thật được hiển bày. Đức Phật đã đưa ra những tình huống mà Ngài nói hay không nói.
Gồm có: Bài tập 1 - Các bước sửa soạn | Bài tập 2 - Quán cảm thọ | Bài tập 3 - Thiền hành & thiền trong đời sống | Bài tập 4 - Thiền tâm Từ
Vài năm trước, dân tình xôn xao khi xuất hiện website lễ chùa online thì nay việc đi chùa đã được đưa lên... App. Khi cài ứng dụng này, mọi người có thể đến viếng, thắp nhang rất nhiều ngôi chùa trên cả nước. Đặc biệt, người dùng có thể nạp tiền vào App để... được phù hộ. Với mức nạp 20 ngàn đồng, "thí chủ" sẽ được phù hộ trong 1 ngày, nạp 50 ngàn đồng sẽ được bình an trong 1 tháng. Mua gói càng lớn thì ưu đãi càng cao! Hiện App này có hơn 5.000 lượt tải về và hàng trăm đánh giá trên Google Play.
Không thể phủ định rằng giáo dục Phật giáo dựa trên ba phương diện minh triết Phật dạy bao gồm giáo dục đạo đức (giới), giáo dục chuyển hóa (thiền) và giáo dục tri thức giải quyết vấn nạn (tuệ). Người được đào tạo trong trường Phật học, ngoài kiến thức thông thường còn thực tập chuyển hóa, mang tính ứng dụng thực tiễn và có khả năng giải quyết các nỗi khổ niềm đau của bản thântha nhân.
Đây giải về 38 điều Hạnh Phúc mà Đức Thế Tôn là đấng thượng sư tự thuyết ra có ý nghĩa như vầy
Chiều thu man mác gió lay | Ngoài hiên cảnh tĩnh ai hay cõi lòng | Hoài mong những thứ phiêu bồng | Nghĩ đời thêm ấm, cho sầu cạn vơi.
Thế là thu sang, thiên hạ vẫn rộn ràng, vẫn bận bịu tíu tít, vẫn quay cuồng trong cuộc sống. Kẻ thì vất vả lo cơm áo gạo tiền. Người thì mưu sự công danh cái thế. Bao nhiêu người nữa thì mê đắm trong việc hưởng thụ sắc dục và vật thực của thế gian này. Gã du tử và những người như gã vẫn lơ mơ ngẩn ngơ giữa cuộc đời, không tiến tới mà cũng không hẳn thoái lui, không biết tự bao giờ và đã bao đời rồi vẫn cứ ngẩn ngơ giữa con đường như một vết trầm.
Nhà văn Mỹ Elbert Hubbard từng nói: Bạn có thể là người làm nên kỳ tích. Là người thông minh ai cũng hiểu được chân lý này: Cách duy nhất để giúp đỡ mình chính là giúp đỡ người khác.
Tôi là Phật tử, ăn chay, nhưng tôi có ý định muốn bán bánh mì thịt làm kế sinh nhai. Vậy cho tôi hỏi, làm nghề bán bánh mì thịt có gây tạo nghiệp sát sinh không?
Tôi ngồi đây lắng nghe quý thầy cô tụng bài kinh Bát Nhã thật hay. Ví như ngài Huyền Trang ngày xưa tuyển dịch nhiều bài Tâm kinh như thế này để đại chúng tụng thì mình chỉ cần ngồi nghe thôi đã đủ hạnh phúc rồi. Đôi khi, sự truyền đạt của pháp không cần đến ngôn ngữ. Chúng ta lắng nghe một bài kinh, lắng nghe không gian của núi rừng tĩnh lặng, tiếng chim hót ngoài vườn cây cũng đủ làm tâm thức ta lắng dịu.
Trong đêm giác ngộ hoàn toàn, Đức Phật thấy được nhiều kiếp trước của Ngài và sự chết cùng tái sinh trên khắp vũ trụ. Đức Phật cũng nói đến sự liên quan về tái sinh và nghiệp báo. Mọi người đều có thức từ kiếp trước, gặp phôi thai mới, hình thành để nối kết giữa cơ thể và quá trình nhận thức của người cũ với người mới… On his awakening night, Buddha depicted both his many previous lives and the general pattern of death and rebirth throughout the cosmos. Buddha also correlated rebirth and karma. Everybody has a consciousness from a previous life, which meets the newly formed embryo to marry the body and cognitive process of the old to the new
Thế giới đang trở nên đông đúc, vội vã bất an và sôi nổi hơn bao giờ hết. trong những điều kiện đó, con người có khuynh hướng giảm bớt lòng từ bi và tăng thêm tâm gây gổ, kiêu căng. Tôi nghĩ việc rèn luyện tâm bình an là cách duy nhất để loài người có thể sống còn.
Bậc thầy Phật Giáo Ấn Độ vĩ đại Nagarjuna (Long Thọ) đã viết bài thơ nổi tiếng Bức Thư Gởi Người Bạn như là một món quà khuyên bảo vị vua phía Nam Ấn Độtrở thành bài viết rất quan trọng trong truyền thống shastra (kinh điển) của Ấn Độ. Mặc dù dài ngắn của nó (chỉ 123 câu thơ), nó bao hàm toàn bộ con đường Đại Thừa (Mahayana), kết hợp tiếp cận thực hành hạnh kiểm hàng ngày với sự giải thích lý thuyết các giai đoạn khác nhau đưa đến giác ngộ.
Trong chương cuối, Kinh Bốn Mươi Hai Chương, có giai thoại về Quốc-sư Huệ Trung. Ngài từ bỏ mọi lợi lộc triều đình ban cho, một mình lên núi Bạch Nhai ẩn tu ngót bốn mươi năm. Một lần, Vua cho người lên rước về thăm. Vua hỏi: - Thưa Quốc-sư, bốn mươi năm trên núi, Ngài đã chứng được những quả vị gì?
Tôi hân hạnh đọc bộ Kinh Thơ Hoa Nghiêm của Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng pháp danh Như Ninh thực hiện ròng rã trong nhiều năm, với khoảng gần bốn ngàn câu song thất lục bát thi hóa hết sức chuẩn mực, đúng âm vận đã diễn tả được hình ảnh của hành giả thực hiện Bồ tát đạo giữa dòng đời nhân thế theo tinh thần Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.
Một cách tổng quát, sự sinh hoạt của con người được thúc đẩy bởi ba thứ bản năng: sinh tồn, sợ chết và truyền giống. Bản năng sinh tồnbản năng mạnh nhất, gây ra các tác động sớm nhất. Một đứa hài nhi khi mới lọt lòng đã biết tìm vú mẹ, đói thì khóc. Lớn lên bản năng sinh tồn tạo ra các xung năng và thúc đẩy ích kỷ, tham lam, thèm khát, tranh giành miếng ăn, của cải, đưa đến hận thu, xung đột và cả chiến tranh.
Mangala có nghĩa la “hạnh phúc” – “Phúc đức” - “ Điềm lành” – “Phước lành”. Hay nói một cách bao quát hơn, rộng nghĩa hơn Mangala là những nguyên tắc tạo cho con người thực hành đưa đến một đời sống an lạc, hạnh phúc, lợi mình, lợi người; một nền tảng xây dựng xã hội an lành, đạo đức. Một đạo đức nhân thân đưa đến thành công trong đời sống. Vì thế, không phải là bản kinh chỉ để tụng đọc mà là để hành trì. Đây là bài kinh quan trọng đến độ, một chú tiểu vào chùa tại Miến điện, đầu tiên được dạy bản kinh này; thậm chí một số sư thuộc lòng, xem đó là bản kinh gối đầu giường và là bản đồ dẫn đạo suốt lộ trình tu tập.
New Posting: Bài 17 Mười đại nguyện của người bồ-tát Kinh Dasabhumika (tiếng Hán là Thập địa kinh) nêu lên mười chặng trên con đường tu tập của người bồ-tát, tương quan với "mười đại nguyện" như sau:
Thế giới hữu hình luôn luôn biến đổi, từ một hạt nguyên tử cho tới một sinh vật nhỏ xíu như con virus SARS-CoV-2, một con côn trùng như châu chấu, một con người, một dân tộc một quốc gia, một hành tinh, một hệ mặt trời, một thiên hà, cho tới toàn vũ trụ, tất cả đều đang biến đổi. Tất cả đều là do tâm tạo. Kinh Kim Cang nói Tâm quá khứ bất khả đắc, Tâm hiện tại bất khả đắc, Tâm vị lai bất khả đắc. Ý muốn nói rằng Tâm như hư không vô sở hữu (tâm giống như hư không không có thật) vì vậy bất khả đắc. Cho nên con người nên ngộ Vô sinh pháp nhẫn, sống an tâm hài hòa với thiên nhiênxã hội, vượt lên trên cái hạn chế của hoàn cảnh.
Ngày lẽ lao động năm nay, Smocky Mountain lặng lẽ lắm, núi rừng dường như được trở laị sự tĩnh mịch vủa muôn đời. Cơn dịch Coronavirus đã khiến cho dòng người đổ về đây vơi hẳn đi, cơn dịch có haị cho loài người nhưng mang laị lợi ích lớn cho thiên nhiên, nhờ dịch mà những tác động tai haị lớn của con người đối với thiên nhiên giảm đi rất nhiều
Giới hạnh của người tu liên quan đến sự thịnh suy của Phật pháp một cách mật thiết. Như vậy, chỉ có giới luật mới tạo nên đức hạnh của người tu, đồng thời cũng góp phần xây dựng cho chúng ta thành những chiến sĩ trên mặt trận đạo đức, tạo nền tảng cho Phật pháp hưng thịnh.
Nằm ẩn mình trong dãy Himalayas hùng vĩ, “Vương quốc Bhutan” lại càng trở nên khép mình hơn khi lọt thỏm giữa những lãnh thổ to lớn như Trung Quốc hay Ấn Độ… Đất nước này có một bề dày tín ngưỡng Phật Giáo (được quy địnhQuốc giáo) trải dài gần 14 thế kỷ. Chính vì thế, từ Chính phủ hay các thành viên trong Hoàng gia cho tới người dân, đều thấm nhuần Giáo lý nhà Phật. Họ sống ôn hòa, hài lòng, không sát sinh và chủ yếu trồng trọt nông nghiệp.
Thế kỷ 16, sau khi chấm dứt cuộc chiến tranh nhiều năm khổ nạn giữa các thủ lãnh, sự xuất hiện của Shabdrung- Ngawang- Namgyal (1594- 1651) đã khiến Bhutan thực hiện công cuộc thống nhất toàn quốc. Trong ba mươi lăm năm trị nước của ông, khắp nơi trên cả nước đã xây dựng thành trì lô cốt và chùa chiền. Ông phụ trách kiến lập tổ chức cơ cấu hành chính có tính toàn quốc, còn chế định rất nhiều truyền thống tập tục.
F.W. Robertson cho rằng khát vọng sâu xa nhất của con người không phải là hạnh phúc (happiness) mà chính là hòa bình (peace) hay an ổn nội tâm. Theo ông, hòa bình hay an ổn nội tâm đối lập với dục vọng, khổ đau… một trạng thái trong đó không có các tham vọng, không có khổ đau, hối tiếc hay ray rứt1.
....Tôi đã từng được đọc thơ Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, nhưng bằng chữ Hán thì đây là lần đầu. Vốn chữ Hán của tôi, học được 3 chữ thì vì lười, đã rớt mất 2, làm sao tôi dịch nổi ra lục bát cho bạn tôi thấy được cả thân và tâm nhà tu hành khả kính đó! Nhưng vì có cơ duyên được đọc thi tập Giấc Mơ Trường Sơn của Thầy, nên tôi đã thấp thoáng “thấy” Thầy đôi lần qua những bài thơ chứa chan ý Đạo, tình Người.
Om Ah Hung. Một số đạo hữu đã yêu cầu thầy giải thích ý nghĩa của đai thiền định. Nói chung, đai thiền định được sử dụng bởi Tổ Milarepa khi thực hành Sáu Du Già Của Naropa.
Nền tảng thực tập giáo lý đạo Bụt không dựa trên niềm tin về luân hồi, về nghiệp và quả báo. Trái tim của đạo Bụt dựa trên một cái thấy rất sáng về Bốn sự thật, cái thấy đó là chánh kiến. Cái thấy đó rất sâu, ta phải đạt được bằng thiền quán. Niệm và định càng vững chãi thì cái thấy càng sáng.
Nói và viết cũng như ca tụng Thầy Tuệ Sỹ thì lâu nay đã có quá nhiều bài viết về nhiều thể loại khác nhau như: Văn Hóa Phật Giáo, Văn Chương, Thi Ca, Âm Nhạc v.v… nhưng để hiểu về tư tưởng của Thầy Tuệ Sỹ thì cần phải đọc hết tuyển tập nầy, chúng ta sẽ có được nhiều nhận xét hơn. Đã là “Viên Ngọc Quý” như cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ nhận xét về Thầy Tuệ Sỹ, Thầy Trí Siêu Lê Mạnh Thát và Cố Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải, thì còn gì quý hơn ngọc trên đời nầy nữa mà chúng ta phải viết về những vị Danh Tăng, Danh Ni nầy; nhưng hôm nay Đạo Hữu Nguyên Tánh Nguyễn Hiền Đức muốn tôi viết lời giới thiệu tuyển tập nầy về Thầy Tuệ Sỹ thì tôi xin có vài lời trang trọng giới thiệu như sau.
Bhutan nằm giữa Ấn ĐộTrung Quốc, là một trong những quốc gia biệt lập nhất thế giới. Ẩn mình trên dãy Himalaya, có nền kinh tế được xếp vào danh sách những nước kém phát triển; thậm chí con số nghèo đóimù chữ thuộc loại đáng báo động, nhưng Bhutan lại là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới.
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáođơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.
Chi tiết chương trình tu học tại các tự viện Phật giáo của vương quốc Bhutan được thống nhất trên toàn quốc và được thiết kế kỹ càng từ thế kỷ XVII. Nội dung chương trìnhphương pháp tu học tương đối ổn định cho tới tận ngày nay. Bắt đầu từ các bài học về nghi thức, cách trì tụng mật chú, kinh điển và thiền, dần kết hợp triết học…
Pháp hành thiền không phải là một pháp môn mới có từ hôm nay hay hôm qua. Từ lâu lắm rồi đã có người hành thiền bằng nhiều cách khác nhau. Các vị Du già, các vị Thánh và các bậc giác ngộ trong các thời đại đều phải trải qua con đường hành thiền, và các ngài đã chứng đắcthành tựu đạo quả nhờ tu tập thiền định. Chưa hề có và sẽ không bao giờ có sự phát triển và thanh tịnh tâm trí mà không qua thiền định.
Lửa. Lửa lại bùng cháy trên những cánh rừng bạt ngàn miền tây. Khói cuồn cuộn, lan xa hàng nghìn dặm, kéo qua tận miền đông. Tro bụi mịt mù, bao phủ hết bầu trời, làm cho nền trời lúc giữa trưa mà ửng lên màu vàng cam, có khi đỏ ối như ráng chiều hoàng hôn. Hai vầng nhật nguyệt dường như bị che khuất suốt những ngày cuối hạ. Tro tàn theo gió cuốn đi thật xa, rời bỏ núi rừng, rồi rơi lả tả trên những cánh đồng, sông suối, cỏ cây, nhà cửa, xe cộ... khắp các vùng. Không khí như bị đặc quánh lại với mùi khét lẹt của khói. Lệnh giãn cách xã hội và mang khẩu trang chưa được cởi mở hoàn toàn, lại càng cần thiết hơn trong lúc này, khi con người mong tìm nơi trú ẩn an toàn để thở được không khí trong lành.
Như Lai ngài đã du hành / Đạo lộ tối thắng vượt trên các ca tụng / Nhưng với tâm tôn kínhhoan hỷ / Tôi sẽ ca tụng Đấng vượt trên ca tụng.
Trong thời gian qua có đôi lần, thiền sinh yêu cầu chúng tôi giải thích cụm từ “Tam Tự Quy Y Là Gì? ”. Nay thuận duyên chúng tôi gửi đến các bạn bài viết về đề tài quy y nầy. Muốn hiểu ý nghĩa của “Tam Tự Quy Y ” trước hết chúng ta cần biết rõ “Tam Quy Y ” là gì?
Trước khi qua đời, một Thiền Sư dạy chúng đệ tử rằng: “Con à, có những điều thầy mong con ghi nhớ: Đừng biến chùa thành nghĩa trang và cả đời con chỉ loanh quanh trong việc độ đám. Đạo Phật là để giác ngộ và đem lại hạnh phúc cho chúng ta ngay trong thực tại. Hãy dạy cho Phật tử thấy rõ lý vô thường, vô ngã để buông xả bám chấp. Riêng con đừng lấy phương tiện làm cứu cánh.
Tôi vốn không ưa thích biển vì biển đơn điệu và u buồn quá. Phong cảnh của biển mở toạc nhanh như lật một trang giấy, chẳng chút giấu diếm, chẳng chút thẹn thùng; Nhất là tiếng nói của nó. Tiếng sóng vỗ rì rào không ngừng nghỉ ấy luôn gợi trong tôi những nỗi buồn xa vắng.
Kể từ vô thỉ, chúng con đã lang thang trong đại dương khổ não của 3 cõi luân hồi, ấy là vì chúng con không nhận ra chính bản tâm mình. Chúng con không nhận ra chính bản tâm mình vì những sự che khuất. Những che chướng đến từ việc không biết đến tích lũy công đức. Không biết tích lũy vì thiếu niềm tin, chúng con thiếu niềm tin vì không nhớ về cái chết.
Tu viện Mộc Lan nằm ở vùng Red Hill thuộc thành phố Batesville Mississippi. Vào trung tuần tháng 3 năm 2010, tôi được Thầy dạy về đó để xây dựng chúng xuất sĩ thường trú. .../...Thầy tôi thường dạy rằng, một truyền thống tâm linh muốn được tồn tại và giữ được bản sắc riêng của nó, thì phải hội nhập và học hỏi văn hóa bản địa. Đó cũng là một nhân duyên khiến thiền đường Hải Triều Lên không thiết trí tượng Bụt như những ngôi chùa, tu viện theo truyền thống Á đông. Có những vị Phật tử Á đông trong thời gian đầu đã nhận xét: “Sao giống Chúa quá”, hoặc hỏi: “Sao thiền đường không có tượng Bụt. Bụt đâu để con lạy?”. Tôi từ tốn chia sẻ cho các vị ấy hiểu. May mắn thay, các vị mở lòng lắng nghe, đón nhận và cảm thấy thoải mái hơn. Tâm các vị an bình, nhẹ nhàng có được giây phút lắng yên khi được ngồi, được thở, được bước đi những bước chân đã về đã tới nơi mảnh đất Mộc Lan.
Từ xưa đến nay, hàng xuất gia (Sa-môn, Bà-la-môn) tu hành không trực tiếp lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất nên đời sống phụ thuộc vào sự bố thí, cung cấp, cúng dường của hàng tín đồ tại gia. Dĩ nhiên, sự phát tâm cao thượng, cho đi một phần tài sản của mình với lòng tin trong sạch sẽ mang đến cho các tín chủ tại gia quả phước vô lượng.
Pháp Sư Đạo Chứng (1956 - 2003), từng là bác sĩ Tây y với thế danh Quách Huệ Trân, được sinh ra tại Đài Trung, Đài Loan trong một gia đìnhtruyền thống y học. Năm 1987, sau khi mắc bệnh nan y, nhờ lòng tín tâm với Tam Bảo, bà rũ sạch vạn duyên xuất gia với pháp danh Đạo Chứng. Sau khi xuất gia, Pháp Sư đã chuyên tâm tu tập, nghiên cứu Phật pháp, thực hành lạy Phật đồng thời tìm phương pháp hoá giải bệnh tật để cứu giúp chính mình và nhân sinh.
Chúng ta đang trong giai đoạn “dầu sôi lửa bỏng” khi dịch bệnh hoành hành, gây nên vô số hệ lụy trong đời sống. Trên khắp thế giới và cả trong nước, các mặt kinh tế - xã hội đều ngổn ngang những vấn đề..../...Trong bài pháp cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển, Đức Phật đã nói về Chánh ngữ như sau: “Chỉ được nói thật, không nên bịa đặt, không nên nói xấu người khác, phải kiềm chế sự vu khống, không nên buông những lời giận dữthóa mạ đến người khác, ...
Bây giờ chúng ta hãy đi sang phẩm thứ 25, Phẩm Phổ Môn. Phổ môn là cánh cửa phổ biến, cánh cửa mở ra cho mọi loài đi vào. Cánh cửa này không chỉ mở ra cho một hay hai, ba hạng người, mà tất cả mọi loài đều có thể đi qua cánh cửa đó để vào Phật Pháp. Tiếng Anh là Universal Door. Đây là một Phẩm được tụng đọc nhiều nhất của kinh Pháp Hoa, và được gọi là kinh Phổ Môn (Samantamukha) hay là kinh Quán Âm.
"Quán" là xem xét, "Thế Âm" là âm thanh của thế gian. Quán Thế Âm là xem xét âm thanh thế gian, tiêu biểu cho lòng từ bi của Bồ-tát. Ngài lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh, khởi lòng thương xót đến cứu độ cho hết khổ. "Phổ Môn" là cái cửa thông suốt khắp tất cả. Bồ-tát Quán Thế Âm tu hạnh từ bi, hay lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh mà hiện thân để hóa độ.
Nắng hạn cũng qua đi, mưa bão cũng chấm dứt, lũ lụt tẩy xóa mọi ô trược trong cuộc sống cũng phải có thời gian nhất định theo chu kỳ của tạo hóa; Nhưng riêng năm Canh Tý, 2020 mọi sự đảo lộn mà khoa học cũng không thể giải thích những hiện tượng thời tiết ví sao thất thường.
Đọc qua là nghe không thuận tai? Nhưng tác giả vẫn phải cứ viết, biết đâu chừng trong nội dung bài viết này sẽ ẩn dụ thứ gì đó mà chúng ta nghe là (nghịch nhĩ) trái tai quá. Thuở đời này, học theo giáo lý Phật đà nghĩa là: chúng ta phải xả thân cứu người khi gặp hoạn nạn hay là từ bihỷ xả, “cứu người như cứu lửa…” Chớ đâu có mà ích kỹ chỉ lo cho mình trước cái đã, rồi mới giúp người khác sau…Thật là vô lý, vô cùng như thế mà cũng nói lên cho bằng được!
Bài pháp thoại đầu tiên sẽ đánh thức quý vị khỏi giấc ngủ dài lâu trong căn phòng của sự vô minh – nơi không biết gì đến các sự khác biệt giữa điều thật sự thiện và điều thật sự bất thiện. Bài pháp thoại cũng sẽ làm sáng tỏ cho quý vị thấy rằng thật khó để được tái sanh làm người sau khi đã sống và chết như một con người. Hy vọng nó sẽ giúp cho quý vị có được chánh tríchánh tư duy về những việc mà quý vị đang làm và có thể gợi cho quý vị câu hỏi sâu sắc về những việc mà quý vị cần phải làm.
Do không thỏa mãn với các Thánh điển Veda và cảm nhận sự phiền toái của việc tế tự hình thức, ở Ấn Độ vào thế kỷ VI (tr.TL) đã xuất hiện một phong trào tôn giáo nằm ngoài truyền thống Bà-la-môn, đó là phong trào Sa-môn; giáo đoàn của Đức Phật cũng thuộc về phong trào này.
Nếu có một địa ngục trên trần gian thì người ta sẽ tìm ra nó trong trái tim của một người ưu phiền đau khổ
Ngày tôi hay tin V. - con cô Thanh (một bạn đạo lớn tuổi của mình) mất, tôi không tin, vì cậu ấy còn trẻ quá, mới 27 tuổi. Điều tôi lo hơn nữa, V. là con trai duy nhất của cô, được đầu tư cho đi học ở nước ngoài. V. mất khi khóa học còn vài năm, với bao dự định xa hơn, như học lên tiến sĩ. Làm sao cô Thanh có thể chịu nổi nỗi đau mất mát này...
Thân tứ đại là đất, nước, lửa, gió, khi đã trút hơi thở cuối cùng thì cũng trở về với tứ đại, chẳng còn gì để suy viễn ở tương lai. Chỉ có chú trọng vào nghiệp thức, để khuyến cáo người đời lánh xa các điều ác, thực hiện các việc lành, tái sinh vào cõi thánh thiện. Nên lúc nào cũng khuyến khích các gia đình thiêu xác chết, quan trọng là chỗ phụng thờ, nhưng vì thời điểm chưa phù hợp nên người phật tử chưa thực hiện đó thôi. Thật ra việc thiêu xác chết không ảnh hưởng gì đến gia đình, con cháu hiện tại cũng như kiếp lai sinh.
Giữa rừng người từ khi chu du nhiều nơi đây đó rồi về San Diego tạo dựng Dharma Mountain ẩn dật vui thú vui nơi thôn dã cũng đà sắp xỉ ngót mười năm. Người người say mê tạo dựng, nhưng tôi về ẩn tại chốn Non cao, ngày ngày làm vườn nấu nước pha Trà, khép mình trong cái tĩnh. Ban ngày ra vườn, ban tối đọc sách viết vài đoạn, rồi buông thư ngồi tĩnh tọa hít thở, rảnh rỗi thì hái rau vui với Suối Rừng Hoa lá,
Bất cứ thành viên Tăng đoàn nào có cơ hội thực hành nhập thất đều vô cùng may mắn. Có nhiều kiểu nhập thất trên thế giới này, nhưng trong bối cảnh của Giáo Pháp, thuật ngữ “nhập thất” rất ý nghĩa. Một đời người với các tự dothuận duyên thì cực kỳ quý báu và nếu con sử dụng thân người chỉ cho đời này, bị xao lãng bởi những mối bận tâm của đời này, đời người quý báu sẽ trở nên vô nghĩa. Con sẽ tay trắng từ giã thế giới này, chẳng hoàn thành được điều gì. Sau đấy, theo nghiệp và khí nghiệp của con, con sẽ chỉ tiếp tục trải qua các kiểu hạnh phúc và khổ đau khác nhau.
Đó là nơi quyền lực Trung Quốc bị lu mờ trước sức mạnh chính nghĩa của những người tỵ nạn Tây Tạng tay không tấc sắt: các đại hội phim ảnh quốc tế. Dù vậy, dòng phim của người Tây Tạng lưu vong hoàn toàn không phải là những lời sách động trần gian – đây chính là các thước phim xuất thế gian từ những người bị rượt đuổi ra khỏi quê nhà đang đưa lên thật cao những lý tưởng của từ bi, thương yêu, tha thứ và hòa bình.
Sau 6 tuần chiến đấu với một kẻ thù vô hình trong thầm lặng và đau đớn để được sống còn, người anh họ của tôi, Thông Nguyễn mà chúng tôi đã gọi một cách thân thương là Toutou, cha của 2 đứa con và là một cán sự y tế (préposé aux bénéficiaires) tại BV Jean Talon từ 17 năm qua, đã phải bỏ mạng vì Covid-19 vào ngày 11/06/2020 lúc 11:55, giờ mà các máy móc để hỗ trợ sự sống cho anh đã bị tháo gỡ ra…
Như chúng ta thấy, sự tức giận là sức mạnh tinh thần bất thiện dẫn con người vào những hoàn cảnh khó chịu và đau khổ khác nhau. Suy thoái xã hội, kinh tế, thể chấttinh thần gây ra bởi sự tức giận. Xu hướng tự hủy diệt (attantapa) và hủy diệt xã hội (parantapa) được hiểu là phản ứng của cá nhân thù hận (dosa carita) đối với những thất bại của mình.
Vài năm trước, dân tình xôn xao khi xuất hiện website lễ chùa online thì nay việc đi chùa đã được đưa lên... App. Khi cài ứng dụng này, mọi người có thể đến viếng, thắp nhang rất nhiều ngôi chùa trên cả nước. Đặc biệt, người dùng có thể nạp tiền vào App để... được phù hộ. Với mức nạp 20 ngàn đồng, "thí chủ" sẽ được phù hộ trong 1 ngày, nạp 50 ngàn đồng sẽ được bình an trong 1 tháng. Mua gói càng lớn thì ưu đãi càng cao! Hiện App này có hơn 5.000 lượt tải về và hàng trăm đánh giá trên Google Play.
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáođơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.
Tu viện Mộc Lan nằm ở vùng Red Hill thuộc thành phố Batesville Mississippi. Vào trung tuần tháng 3 năm 2010, tôi được Thầy dạy về đó để xây dựng chúng xuất sĩ thường trú. .../...Thầy tôi thường dạy rằng, một truyền thống tâm linh muốn được tồn tại và giữ được bản sắc riêng của nó, thì phải hội nhập và học hỏi văn hóa bản địa. Đó cũng là một nhân duyên khiến thiền đường Hải Triều Lên không thiết trí tượng Bụt như những ngôi chùa, tu viện theo truyền thống Á đông. Có những vị Phật tử Á đông trong thời gian đầu đã nhận xét: “Sao giống Chúa quá”, hoặc hỏi: “Sao thiền đường không có tượng Bụt. Bụt đâu để con lạy?”. Tôi từ tốn chia sẻ cho các vị ấy hiểu. May mắn thay, các vị mở lòng lắng nghe, đón nhận và cảm thấy thoải mái hơn. Tâm các vị an bình, nhẹ nhàng có được giây phút lắng yên khi được ngồi, được thở, được bước đi những bước chân đã về đã tới nơi mảnh đất Mộc Lan.
Giữa rừng người từ khi chu du nhiều nơi đây đó rồi về San Diego tạo dựng Dharma Mountain ẩn dật vui thú vui nơi thôn dã cũng đà sắp xỉ ngót mười năm. Người người say mê tạo dựng, nhưng tôi về ẩn tại chốn Non cao, ngày ngày làm vườn nấu nước pha Trà, khép mình trong cái tĩnh. Ban ngày ra vườn, ban tối đọc sách viết vài đoạn, rồi buông thư ngồi tĩnh tọa hít thở, rảnh rỗi thì hái rau vui với Suối Rừng Hoa lá,
Lớp học 15 tuần (1 semester), bắt đầu 24/8 – 13/12/2020 - Tài liệu : Song Ngữ - Mỗi tuần 2 giờ qua zoom: Hỏi đáp - Giảng sư: Tiến sĩ Lancaster, nghiên cứu Phật Giáo 60 năm, và dạy Phật Học 36 năm tại University of California, Berkeley – Gồm 2 phụ Giảng: Tiến Sĩ Thích Thiện TâmTiến Sĩ Nguyễn Thúy Loan
Chúng tôi – Chúng con đã trực tiếp liên lạc với Hiệp hội văn bản Pali, trong phạm vi công cộng được sự đồng ý của Hiệp hội văn bản Pali Nhà xuất bản - Dharma Mountain Publishing với mục đích xuất bản bộ Đại Tạng hoàn toàn phi lợi nhuận - phi thương mại với Giấy phép – Licence: Attribution-NonCommercial 3.0 (CC BY-NC 3.0). Tham gia với chúng tôi – chúng con để trở thành người hỗ trợ trong các dự án dưới đây: 1). Dự án xuất bản Tam tạng Kinh điển tiếng Anh hỗ trợ sự truyền bá Phật giáo tại Hoa Kỳ 2). Xuất bản Tam Tạng tiếng Việt, do Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pali 3). Xuất bản Bộ Chơn Lý do Sư Tổ Minh Đăng Quang trước tác 4). Xuất bản Kinh điển đọc tụng hàng ngày 5). Xuất bản sách ứng dụng Thiền chánh niệm