(Xem: 1100)
Theo Tứ phần luật thì nguyên nhân Phật chế định sự an cư là do nhóm sáu người gọi là lục quần Tỳ kheo thường du hành trong nhân gian, bất cứ mùa nào, nhất là vào mùa mưa, họ dẫm đạp chết vô số côn trùng. Các cư sĩ thấy thế than phiền. Đức Phật hay biết việc ấy, Ngài khiển trách nhóm lục quần Tỳ kheo và chế định từ đó trở đi, hằng năm các Tỳ kheo phải an cư ba tháng vào mùa mưa, để tránh tình trạng đi ra đạp chết cỏ, trùng và để yên tĩnh tu dưỡng thân tâm.
(Xem: 766)
Ngày nay, cả hai hệ Phật giáo phương Nam và phương Bắc đều tự tứ theo truyền thống sau mùa an cư giải hạ. Chỉ có thời gian tổ chức không đồng bộ do sự dị biệt tính phái và ảnh hưởng bản sắc dân tộc vùng miền khi Phật giáo du nhập.
(Xem: 1206)
Giới luật Phật giáo không dành riêng cho đối tượng nào nhưng hàng xuất gia là đối tượng bắt buộc phải học giới luật Phật giáo.
(Xem: 1201)
Tôi nhận được bản thảo của quyển “Giới bổn Thức-xoa của Luật Tứ phần” do Thượng tọa Nhật Từ dịch và chú thích từ bản chữ Hán “Thức-xoa-ma-na-ni giới bổn” (式义摩那尼戒本) do Sa-môn Hoằng Tán (沙門弘贊) biên tập. Giới bổn này đã được Trưởng lão Thích Trí Quang dịch và xuất bản từ năm 1993. Tuy nhiên, việc dịch mới một tác phẩm thích ứng với điều kiện tu học của hành giả trong thời điểm hiện tại cũng là điều hết sức cần thiết. Bản dịch của Thượng tọa Nhật Từ có nhiều chú thích về thuật ngữ, giúp các Thức-xoa-ma-na, các Ni sinh đang ngồi trên ghế các trường Trung cấp Phật học, Trường Cao đẳng Phật học, hoặc đang tu học tại các tòng lâm tự viện, hiểu rõ hơn về các điều khoản giới luật một cách chi tiết, nhận thức rõ tầm quan trọng của Giới bổn và ứng dụng hành trì trong bối cảnh tu học của tự thân.
(Xem: 2003)
Giới Bồ-tát tại gia được đức Phật quy định trong “Kinh Ưu-bà-tắc giới”, đang khi giới Bồ-tát xuất gia được ghi chép trong “Kinh Phạm võng Bồ-tát giới”. Đây là hai bản kinh quan trọng về quy phạm hành vi của người tu học theo Phật giáo Đại thừa nhằm hoàn thiện đạo đức trọn vẹn, một trong ba trụ cột tâm linh cốt lõi của Phật giáo. Hai trụ cột tâm linh còn lại là trí tuệ và thiền định.
(Xem: 1327)
Giới Bồ-tát xuất gia được quy định trong “Kinh Phạm võng Bồ-tát giới”, đang khi giới Bồ-tát tại gia được ghi chép trong “Kinh Ưu-bà-tắc giới”. Đây là hai bản kinh quan trọng về quy phạm hành vi của người tu học theo Phật giáo Đại thừa nhằm hoàn thiện đạo đức trọn vẹn, một trong ba trụ cột tâm linh cốt lõi của Phật giáo. Hai trụ cột tâm linh còn lại là trí tuệ và thiền định.
(Xem: 1735)
Những năm gần đây tôi có công bố một số bài viết về mối liên hệ giữa Thiền tông sơ kỳ và giới luật, cả giới Thanh văn thuộc Luật tạng truyền thống lẫn giới Bồ-tát. Ban đầu tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu vấn đề này là quan trọng bởi vì nó liên quan đến việc phát triển các luật lệ của Thiền tông được gọi là “thanh quy” (清規).
(Xem: 2350)
Quyển “Giải thích giới luật và oai nghi của Sa-di” được Thượng tọa Nhật Từ dịch từ nguyên tác chữ Hán: “Sa-di luật nghi yếu lược tập chú” (沙彌律儀要略集註) của Hòa thượng Luật sư Quảng Hóa, là tác phẩm có giá trị đối với sự tu học của các Sa-di và người xuất gia trẻ tuổi.
Kinh
(Xem: 1076)
Từ khi vào chùa với tuổi để chỏm, Bổn sư thế độ đã trao cho tôi bản kinh "Phật thuyết A-di-đà" bằng chữ Hán, bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập và dạy phải học thuộc lòng, rồi theo đại chúng đi thực tập tụng kinh vào mỗi buổi chiều. Học và tụng thuộc lòng ngâm nga vào mỗi buổi chiều, mà chẳng hiểu gì, nhưng tôi lại rất thích.
(Xem: 1123)
Sau đây là những điều tôi được nghe lúc đức Thế Tôn còn lưu trú ở tịnh xá Kỳ Viên trong vườn Kỳ Đà tại thành Xá Vệ; Ngài gọi các vị khất sĩ và bảo: – Này quý thầy. Các vị khất sĩ đáp: – Có chúng con đây. Đức Thế Tôn dạy: – Tôi sẽ nói cho quý thầy nghe thế nào là người biết sống một mình. Trước hết tôi nói đại cương, sau đó tôi sẽ giải thích. Quý thầy hãy lắng nghe.
(Xem: 208)
PHẬT NÓI KINH DIÊN /DUYÊN MỆNH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT Hán dịch: Không rõ tên người dịch [PN: Ngài Bất-Không Tam-Tạng phụng chiếu dịch] Việt dịch: HUYỀN THANH Pram Nguyễn chú giải { gạch bỏ thay vào, hay chú thích bằng [ ] } 12/15/2018
(Xem: 1962)
Bản dịch Việt này dựa vào phiên bản Pãli-Anh của nhà sư Tỳ Kheo Bồ-Đề (Bhikkhu Bodhỉ). Có nhiều chỗ tham chiếu với các phiên bản của nhà sư Ajahn Sujato và PTS. Bộ kinh gồm 4 quyển: Quyển 2 - Quyển Nhân-Duyên | Quyển 3 - Quyển Năm Uẩn | Quyển 4 - Quyển Sáu Cơ-Sở Cảm-Nhận Quyển 5 - Quyển Lớn (Saṃyutta Nikāya)
(Xem: 2431)
Bản dịch Việt này dựa vào phiên bản Pāli-Anh của nhà sư Tỳ Kheo BồĐề (Bhikkhu Bodhi, đại trưởng lão, học giả, dịch giả uyên thâm, nhà từ thiện). Có những chỗ tham chiếu với các bản dịch của nhà sư Ajahn Sujato và của PTS. – Để quý vị hình dung nhanh: Bộ Kinh MN này có 03 QUYỂN (PHẦN) được gọi là QUYỂN 1 [Năm Mươi Kinh Đầu], QUYỂN 2 [Năm Mươi Kinh Giữa], và QUYỂN 3 [Năm Mươi Kinh Cuối]. Mỗi Quyển có 05 Chương, mỗi chương có 10 bài kinh (riêng Chương 5 của QUYỂN 3 có 12 bài kinh). Do vậy toàn Bộ Kinh MN có 152 bài kinh, với QUYỂN 3 có 52 bài kinh.
(Xem: 3377)
Chánh kiến (Sammā diṭṭhi) có nghĩa là hiểu biết các pháp như chúng thực sự là, chứ không như chúng dường như là. Điều quan trọng, chúng ta phải nhận thức được rằng Chánh kiến trong đạo Phật có một nội hàm đặc biệt, khác hẳn với những gì thường được mọi người gán cho. Trong Phật giáo, Tuệ giác Chánh kiến có khả năng soi chiếu để thấy rõ năm thủ uẩn và hiểu được bản chất thực của nó, điều này có nghĩa là phải hiểu được chính thân và tâm con người. Để hiểu rõ hơn về Chánh kiến, chúng ta cần điểm qua lời dạy của Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) trong Kinh Chánh Tri Kiến:
(Xem: 4540)
của tác giả Nhuận Tâm Nguyễn Kim Cương với lời giới thiệu của Hòa thượng Thích Như Điển
(Xem: 2597)
Chân lý mà rỗng không và vi diệu, thì ý niệm tu tập bị dẹp bỏ, năm mắt hết soi, bốn trí mờ biết. Làm sao nằm bệnh mà gửi gắm sự biểu huyền của ‘vô thuyết’, báo chết mà tuyệt hẳn sự chương diệu của ‘vô ngôn’? Thế nhưng, chân tục tuy khác mà vô tướng không khác, động tịnh đổi khác mà ly ngôn ấy đồng.
(Xem: 742)
Tổng hợp bài giảng của thầy Tuệ Sỹ về Nhập Trung Luận.
(Xem: 2396)
Ngài Thế Thân (Vasubandhu) tạo Luận Câu-xá vào khoảng năm 900 sau khi Phật nhập diệt, tức khoảng thế kỷ thứ tư hay thứ năm Tây lịch, làm căn bản cho tác phẩm nổi danh khác cũng do Ngài viết hơn 30 năm sau là Duy Thức Tam Thập Tụng. Luận Câu-xá gồm 600 bài tụng và trường hàng, chia làm 8 hoặc 9 phẩm, gồm 29 hoặc 30 quyển theo sự sắp xếp của các luận gia về sau.
(Xem: 1244)
Ám ảnh bức bách duy nhất của mọi sinh vật chính là sự chết. Các sợ hãi khác chỉ là biến thái của sợ chết. Thế giới bị chinh phục, bị khống chế, bị điều động bởi sự chết. Kinh Phật nhân cách hóa nó thành một loại Ma. Theo từ nguyên, trong tiếng Phạn, mara là danh từ phái sinh từ động từ √mṛ: mriyate, nó chết. Mọi hoạt động của chúng sinh, mọi thứ được kể là văn minh tiến bộ, thảy đều là những biện pháp mà các loài lựa chọn để bảo đảm sự sinh tồn của bản thân và đồng loại. Thế nhưng, do nhận thức sai lầm, điên đảo, kết quả của những lựa chọn đại phần, nếu không muốn nói tất cả, thảy đều tai hại. Đức Phật thành Chánh giác, được mô tả là sau khi chiến thắng quân đội Ma và những quyến rũ của Ma. Các vị luận giải A-tì-đạt-ma cho rằng sợ hãi là một biểu hiện của phiền não. Đây là khía cạnh tiêu cực của sợ hãi. Mặt tích cực được biểu hiện nơi các yếu tố tâm sở thiện.
(Xem: 10722)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 8384)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 6292)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 5641)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
(Xem: 6268)
“Thân tác chứng thành tựu và an trú tịnh giải thoát”: Thế nào là gia hành của tịnh giải thoát này? Tu quán hành giả do phương gì nhập tịnh giải thoát định? Khi người mới bắt đầu sự nghiệp tu quán, trước hết cần phải nắm lấy hình thái thanh thọ, như thanh hành, thanh chi, thanh diệp, thanh hoa, thanh quả, hoặc nắm lấy hình thái thanh y, thanh nghiêm cụ tướng, hoặc nắm lấy đa dạng thanh tướng nào khác. Khi đã nắm lấy các thanh tướng như thế rồi, do lực thắng giải, tư duy tưởng niệm, quan sát an lập, tín giải sắc này là thanh tướng ấy.
CHUYÊN ĐỀ
Thưa mẹ, Suối vàng có rêu xanh? Dòng nào thuyền mẹ thả? Có bến bờ an vui? Nghì thu miền chín suối, Mẹ mang theo được gì? Dư vị một kiếp người? Hay ngày xưa chua xót? Giọng ngâm: Hồng Vân - Phổ nhạc Võ Tá Hân - Ca sĩ Xuân Phú và Hồ Quốc Việt
Trước nhất cha mẹ là những người ân cần nhất đã cho ta thân người Sau đó, đạo sư ân cần nhất trong việc trình bày giáo thiêng liêng. Cuối cùng con phải tự biểu lộ lòng ân cần to lớn nhất, Luôn luôn thành tâm với thân thể, lời nói và tâm ý với giáo pháp
Từ khi nào rằm tháng Bảy và lễ hội xá tội vong nhân đã đi vào tâm thứcvăn hóa Việt nam? Chúng ta không biết chính xác niên đai và xuất xứ của lễ này cùng với câu chuyên của Mục Kiền Liên cứu mẹ trong Tự Tứ – ngày chư Tăng mãn Hạ theo truyền thống Đạo Phật phát triển.
Sáng nay tình cờ xem một clip thấy hình ảnh một người cha ốm yếu đứng sau chiếc xe cứu thương chở hai quan tài của con đi hỏa táng, chiếc xe đậu trước nhà trên một đường phố vắng vẻ, người cha bước khấp khểnh tiễn đưa người con xấu số rồi quỳ xuống lạy mấy lạy.
Theo cái nhìn của nhà Phật, việc đốt vàng mã chẳng có một chút lợi ích nào cả cho người đã khuất và cho cả người sống (nếu có, thì rất hạn chếxuất phát từ ý niệm thiện lành nhưng chưa đúng chính pháp của người thực hiện). Như vậy, ‘Làm thế nào để có lợi ích thật sự cho người mất, cho ông bà tổ tiên và cho cả người thực hiện (người sống)?” là vấn đề bài kết tập này tập trung mổ xẻ trên nền tảng giáo điển Nikàya (Pali tạng) trong sự liên hệ tương ưng với giáo pháp Đại Thừa của Phật Tổ, ngỏ hầu giúp quý Phật tử (bất bộ phái) có cái nhìn khách quan và đúng đắn, qua đó hành giả có thể tùy duyên ứng dụng hoặc thực hành, mang lại lợi ích cho người mất, ông bà tổ tiên vv, cho cả chính người thực hiện, và hơn thế nữa.
Mùa Vu Lan năm nay bên cạnh bông hồng đỏ, trắng của những đứa con ngoan còn mẹ hay mất mẹ cài lên áo; ước mong rồi đến một năm nào đó rất gần như sang năm, sẽ có đóa hoa xanh, hoa tím… thêm màu nở từ những cõi lòng thấm nước mắt của những đứa con chưa ngoan biết hối cải, ăn năn trở về với Mẹ.
Hôm nay là ngày 15/8 dương lịch nhằm ngày mồng Tám tháng Bảy, Tân Sửu. Chỉ còn một tuần nữa là tới Rằm tháng Bảy. Rằm tháng Bảy âm lịch là ngày mà các chùa theo đạo Phật khắp nơi trên thế giới đều tổ chức Lễ Vu-Lan rất trọng thể. Lễ Vu-Lan từ lâu đã được xem như là ngày Lễ Báo Hiếu của những người con dành cho bậc cha mẹ. Hòa cùng nhịp tim của những người con thảo luôn nghĩ nhớ đến công ơn dưỡng dục sanh thành của cha mẹ nhất là vào mùa Vu-Lan báo hiếu này. Hôm nay chúng tôi muốn cùng quý vị tìm hiểu ý nghĩa bài kinh quan trọng luôn được tụng đọc trong ngày đại lễ Vu-Lan tổ chức tại các chùa Phật giáo Bắc tông. Đó là “Kinh Vu-Lan-Bồn” hay “Phật thuyết Vu-Lan-Bồn kinh” .
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina). Nếu an cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền an cư (Purimikavassà), còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An Cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An Cư (Pacchimikāvassā). Truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi là ‘An cư kiết hạ’, tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Sau rằm tháng tư âm lịch Chư Tăng theo truyền thống Đại thừa bắt đầu kiết túc an cư, cho đến hết ngày mười bốn tháng bảy âm lịch, làm lễ tự tứgiải hạ kết thúc mùa an cư.
Mùa thu hiền dịu và thân thương lại trở về với muôn loài cỏ cây vạn vật, mùa thu hắt hiu gợi cho hồn thi nhân nguồn cảm hứng dạt dào bởi những chiếc lá úa vàng rơi, mặt nước hồ thu trong veo, yên bình dễ phản chiếu một bầu trời ảm đạm. Nhưng đối với người con Phật, thì mùa thu là mùa Vu Lan, là mùa báo hiếu.
Con là Phật tử, hiện đang là sinh viên. Gia đình con thờ Bồ-tát Quán Thế Âm. Trong quá trình tu học, con thường trì chú Đại bi, niệm danh hiệu Bồ-tát và nhận được nhiều sự nhiệm mầu linh ứng không thể nghĩ bàn. Con chỉ thắc mắc một điều là, theo luật nhân quả, những gì xảy đến với con người trong hiện tại là do nhân duyên đã gieo trồng trong quá khứ. Nhưng khi trì niệm thần chú Đại bi, nhờ thành tâm trì chú, thiết tha nguyện cầu, được Bồ-tát cảm ứnggia hộ nên được thành tựu như nguyện (ví dụ như đau bệnh được lành, không con được con…) thì việc tu tập linh ứngluật nhân quả đang vận hành có gì mâu thuẫn không?
Thời gian trôi qua như nước chảy gầm cầu, thấm thoát mới đó mà đã là tháng bảy âm lịch rồi. Tháng bảy đối với người Việt chúng ta là tháng dành cho tâm linh. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ bao đời xem tháng bảy là tháng mà cửa ngục được mở ra để cho linh hồn những người đang bị giam giữ trở về thăm gia đình trên dương thế. Vì thế tháng bảy người Việt chúng ta thường làm những điều thiện lành để tích lũy phước đức hồi hướng cho ông bà tổ tiên ông bà cha mẹ đã khuất được siêu thoát.
Theo thói quen, người ta thường gọi phụ nữ là ‘phái yếu’ mặc dù thực tế không hẵn như thế. Trong nhà, vị trí của người mẹ là không thể thay thế, đó là chỗ dựa vững chắc, là thành trì đạo đứctâm linh của cả gia đình. Ngoài xã hội, người phụ nữ cũng chưa từng đòi hỏi một đặc quyền nào trong công việc. Từ những phẩm đức đáng trân quý như dịu dàng ôn hoà, nhẫn nhịn khiêm cung, vị tha và khoan hậu đã tạo nên một hình tượng tiêu biểu của nữ giới được tôn vinh là ‘phái đẹp’.
Cuốn sách Nguồn gốc hình thành và phát triển tín ngưỡng Quán Âm của tác giả Lý Lợi An, được nhóm dịch giả Thích Nguyên TúThích Nữ Chơn Thủy – Trần Huỳnh Thông làm việc tại Trung tâm Biên phiên dịch Tư liệu Phật giáo Quốc tế Vĩnh Nghiêm Tùng Thư thực hiện, với độ dày hơn 700 trang.
....Bản tin AP hôm 1/8/2021 kể về một vị lạt ma tái sinh, bây giờ đang còn là một học sinh trung học ở Minnesota, Hoa Kỳ. Đó là cậu bé có tên là Jalue Dorje, một em vị thành niên rất mực Hoa Kỳ, trưởng thành ở một khu ngoại ô thành phố Minneapolis. Và cũng như vô lượng thiếu niên trên đời này, cậu Dorje, bây giờ mới 14 tuổi, rất mực ưa thích môn thể thao bóng bầu dục, trò chơi Pokémon, và nhạc rap.
Muốn ít và biết đủ tiếng Hán gọi là “Thiểu dục-Tri túc”. Đây là hai khái niệm Phật học được đề cập nhiều trong Kinh tạng, Luật tạng cũng như trong Tạng vi diệu pháp. Bất cứ ai nếu muốn có an lạchạnh phúc thì phải sống với tâm muốn ít và biết đủ. Muốn ít nghĩa lòng tham dục được chế ngự, được điều tiết và khéo điều phục. Biết đủ nghĩa là bằng lòng với những gì mình hiện có. Từ bỏ lấy của không cho, không vì lòng tham mà não hại người khác. Biết đủ dù gặp hoàn cảnh nào cũng an phận tùy duyên và muốn ít thì không khổ não bản thân và không gây phương hại người khác. Cổ nhân thường nói: “Tri túc tâm thường lạc, vô cầu phẩm tự cao.”
NEW POSTING
“Cánh cửa bất tử đã mở ra cho tất cả những ai muốn nghe”, đây là câu nói của Đức Phật sau khi Ngài giác ngộ.
Thông thường, một lời ác khẩu của một người trong đời sống thực có thể gây phiền toái, liên lụy, xúc phạm đến một hay vài ba người khác; nhưng mỗi cư dân mạng chỉ cần “like”, “share”, “comment” trên mạng xã hội thì một lời ác khẩu có thể nhân lên, biến thành hàng vạn, thậm chí hàng triệu lời ác khẩu thì lúc đó, hệ lụy kéo theo vô cùng lớn. Và như vậy, cái khẩu nghiệp của một người có thể cuốn vô số người khác bị khẩu nghiệp theo.
Từ thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành, có thể ai cũng từng được nghe những câu nói đại loại như: “Nếu không nói được gì tốt đẹp thì tốt nhất nên im lặng”.
Đại đức Pháp Cẩn sẽ mở lớp Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca. Lớp sẽ học những tài liệu tiếng Việt và những tài liệu tiếng Anh do một số bạn thuyết trình. Tuy tài liệu một phần bằng tiếng Anh nhưng những người không biết tiếng Anh vẫn có thể học được vì thuyết trình bằng tiếng Việt.
Lòng từ bi và vấn đề công lý là đề tài rất quan trọng và thiết thực trong cuộc sống mà mỗi người chúng ta đều có suy nghĩ. Nếu áp dụng lòng từ bi theo đạo Phật đôi khi ngược lại với công lý.
Bình tâm mà xét, lời nói bất thiện là những ác nghiệp dễ gây tạo nhất trong đời sống hàng ngày. Đáng nói là nhiều người tạo khẩu nghiệp bất thiện mà không hề hay biết, cứ vô tư nghĩ rằng “lời nói gió bay” nhưng kỳ thật trong rất nhiều kinh Thế Tôn xác định đó là “binh khí miệng lưỡi”. Đã là binh khí thì chắc chắn lời nói ác sẽ gây sát thương cho mình và người, tàn hại lẫn nhau để lại hậu quả nghiêm trọng.
Một người bạn hỏi chúng tôi rằng “Đức Phật có thể cứu rỗi chúng ta thoát khỏi nạn đại dịch Covid-19 không?” và chúng tôi đã trả lời “không”. Nghe câu trả lời “không” làm cho người bạn nản lòng, vì họ nghĩ rằng: Đức Phật không cứu rỗi họ được.
Sống trong một nền văn hóa dựa trên sợ hãi, điều đó chắc chắn ảnh hưởng đến trạng thái tâm của bạn và những quyết định bạn đưa ra.
Hơn hai ngàn năm trăm năm trước đây, khi đức Phật truyền dạy những tư tưởng của ngài, có rất nhiều người lãnh hội được ngay. Họ hiểu đức Phật thông suốt đến độ khi vừa nghe ngài nói xong, họ lập tức đạt được một sự an lạc đời đời. Và những người chưa hiểu đức Phật ngay lúc ấy, họ về thực tập thiền quán và rồi cũng hiểu
Trong Kinh Như Thị Ngữ (Itivutthaka), Phật nói: Tất cả những công đức mà ta thực hiện ở trên đời góp lại cũng không bằng công đức của sự thực tập Từ Quán. Làm chùa, đúc chuông, hay làm việc xã hội... tất cả những công đức đó chỉ bằng một phần mười sáu của công đức thực tập lòng Từ. Cũng như nhìn lên trời chúng ta thấy trăng và sao, và nếu ánh sáng của tất cả các ngôi sao họp lại không bằng ánh sáng của mặt trăng, thì tất cả các công đức khác góp lại cũng không bằng ánh sáng của Từ Quán.
Đức Phật khuyên ta mỗi ngày cần quán tưởng đến năm điều. Tất cả chúng ta đều biết những điều ấy, nhưng ta thường dễ quên. Ta thường tự dối rằng chúng không hiện hữu. Để rồi khi chúng xảy ra, như một định luật, ta lại cho đó là tai nạn, dầu chúng chỉ là những định luật tự nhiên. Đây là quán tưởng, không phải thiền quán, ta cần phân biệt hai thứ nầy.
Dấu chân toàn cầu của McDonald’s cho thấy cơ hội lớn cho công ty Beyond Meat trở thành nhà cung cấp ưu tiên cho các loại burger làm từ thực vật của hãng. Hai công ty (McDonald’s và Beyond Meat) đã công bố mối quan hệ đối tác kéo dài ba năm vào tháng Hai vừa qua. Gã khổng lồ thức ăn nhanh đã bắt đầu bán burger chay McPlant tại một số thị trường quốc tế, bao gồm Thụy Điển, Đan Mạch, Áo, Hà Lan và Vương quốc Anh.
Con có một thắc mắc. Xin thầy hoan hỷ chỉ dạy Vì sao có người hiền lại chết sớm, cụ thể như ca sĩ Phi Nhung. Và vì sao người ác lại sống lâu như Thành Cát Tư Hãn....
Chủ đề khá nhạy cảm đã dẫn dắt vô số người trong quá khứ cũng như hiện tại; Phật tử cũng như tín đồ các Tôn giáo hiện nay mang trong tâm tưởng một ấn tượng để khi phát ngôn gặp phải nhiều đụng chạm không nên có.
Kính Pháp Sư Sướng Hoài, tôi tu sĩ Thích Thắng Hoan đọc qua tác phẩm PHẬT HỌC VĂN TẬP của ngài viết nhận thấy ngài một nhà bác học uyên thâm Phật giáo nắm vững mọi tư tưởng cao siêu của cácphái, các tông giáo cả trong đạo lẫn ngoài đời. Toàn bộ tác phẩm của ngài đều xây dựng vững chắc trên lãnh vực biện chứng pháp của Nhân Minh Luận. Nội dung tác phẩm trong đó, mỗi một chủ đề ngài biện chứng bằng những lãnh vực mặt phải mặt trái, chiều sâu chiều cạn, mặt phủ định, mặt xác định,cuối cùng để làm sáng tỏ vấn đề bằng kết luận. Tôi vô cùng kính nể kiến thức của ngài. Tôi rất tiếc nội dung tác phẩm tàng trử những tư tưởng cao thâm như thế lại nằm yên trong thư viện Hán Học không được phổ biến sâu rộng ra tiếng ngoại quốc. Hôm nay xin ngài cho phép tôi chuyển ra tiếng nước tôi là Việt Ngữ để phổ biến. Vì mục đích hoằng pháp, phát huy quang đại tư tưởng giá trị này, việc làm này của tôi không có tánh cách buôn bán xin ngài mở rộng lòng tha thứ.
Mấy ngày nay dư luận lại rộ lên chuyện nghệ sĩ chưa minh bạch trong việc làm từ thiện. Không ít người đòi hỏi một số nghệ sĩ phải sao kê đầy đủ các tài khoản ngân hàng trong thời gian kêu gọi quyên góp.
Người Trung Quốc thường dùng từ “nhân duyên”, người Nhật dùng từ “nhân khí” để nói về mối quan hệ giữa người với người. Ví dụ một diễn viên tuy nhập vai diễn không xuất sắc lắm nhưng do người đó có điều gì đó khác người, thì điểm khác người đó trở nên thu hút người xem, ngược lại một diễn viên không được mọi người hoan nghênh nhưng nhập vai xuất sắc, diễn xuất hay vẫn sẽ được nhiều người mến mộ tài năng, đấy chính là hai cách “làm quen” với người khác của hai kiểu người vừa nêu, cuối cùng họ đều được lòng người.
Khi tâm đã tham thiền khá đủ, nó có thể tương ưng với nghĩa của bài kệ, tức là thực tại của viên ngọc tâm. Mỗi câu của bài kệ này đều có thể giúp thiền giả thấy và sống được trong viên ngọc tâm, tức là cảnh giới chứng ngộ.
Hình ảnh những bà mẹ mang thai hay địu đứa con nhỏ mới mấy tháng sau lưng, quyết một hành trình vạn dặm đi bộ từ Sài Gòn về tận Hà Giang-con đường hơn 2.000 km. Hình ảnh đoàn người nam phụ lão ấu lếch thếch rã rời trong đêm đen gió mưa rời bỏ miền Nam… đều đã bước vào lịch sử, ghi dấu một giai đoạn tang thương của đất nước, đặc biệt chứng nhận tình trạng quan liêu, vô trách nhiệm tận cùng của một bộ máy chính quyền thời điểm này.
Bạn hãy để ý thử xem có bắt gặp mình đang phàn nàn - trong cách mình suy nghĩ hoặc qua lời nói - về một tình huống nào mình đã gặp phải, về những gì người khác nói hoặc làm, về những gì xung quanh, về hoàn cảnh sống của bạn, hay ngay cả trong chuyện thời tiết? Than phiền luôn luôn là trạng thái không chấp nhận hiện hữu.
Thiền Bất Sanh còn gọi là Tâm Bất Sanh hay Tâm Phật Bất Sanh của Thiền sư Bankei Yotaku, người Nhật Bản. Pháp thiền của ngài Bankei cũng được xem như một sự kỳ lạ bất thường vào thời đại của ngài, thế kỷ 17, vì nó không giống bất cứ giáo lý nào, người ta đã từng biết đến, vì nó đăc biệt, rõ ràng, giản dị và dễ hiểu. Không cần phải là người uyên bác, sống trong tu viện, ngay cả không cần phải là Phật tử mới có thể thực hành hữu hiệu pháp thiền Bankei.
Tuệ Trí của Đức Đạt Lai Lạt Ma là một phần trích từ xuất bản trước đó của quyển Năng lực của Từ bi - những lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma phát hành vào tháng 5 năm 1993 tại Luân Đôn. Hy vọng rằng phần trích xuất này - Tuệ Trí của Đức Đạt Lai Lạt Ma - sẽ mang lại Thông điệp của Đức Đạt Lai Lạt Ma về tầm quan trọng của từ ái và bi mẫn và sự tha thứ cho nhiều đối tượng hơn.
Quán niệm vô thường là một trong những nội dung tu tập căn bản của người Phật tử. Mọi sự mọi vật quanh ta luôn vận động, biến đổi từng phút, từng giây. Thấy rõ như vậy để biết rằng những gì mà mình hay nhận lầm là ta và của ta, là vĩnh hằng bất biến, thực ra không có gì bền chắc cả.
Trong Nguồn thiền, Tổ Khuê Phong Tông Mật nói: “Người ngộ ngã pháp đều không, hiện bày chân lý mà tu là thiền Đại thừa”.
Tin tức Shanti - cô bé chuyển sinh, hội ngộ cùng người chồng trước, đã mau chóng được các phương tiện truyền thông lan truyền khắp Ấn Độ. Sau này được Gandhi - Quốc phụ của Ấn Độ biết tin, đã đích thân tiếp kiến Shanti, còn để cô ở mấy ngày trong nơi tu hành của ông. Sau đó, ông đã chỉ định một ủy ban gồm 15 chuyên gia phụ trách điều tra việc này...
Trước tình hình đại dịch Covid-19 vẫn chưa có hồi kết, cuộc sống con người càng trở nên khó khăn hơn. Trẻ em không được đến trường để học tập; người lớn thì nghỉ việc hoặc hạn chế đi làm; sản xuất tại các công ty, công sở bị giảm thiểu số lượng; các địa điểm buôn bán bị cấm tụ tập đông đúc; người thân xa cách không gặp mặt, nguy cơ bệnh chết không chừa một ai… Trong bối cảnh dịch bệnh lan tràn khắp nơi, nếp sống thiểu dục tri túc theo lời Phật dạy trở nên rất cần thiết cho mọi người. Có như thế, chúng ta mới đủ chia sẻ, nâng đỡ để cùng nhau vượt qua cơn đại dịch
Qua truyền thông báo chí, chúng ta được biết trong thời gian đại dịch Covid-19 vừa qua, có những trường hợp người sống rất tốt, rất đạo đức, chuyên làm công việc từ thiện giúp đời nhưng lại bị chết sớm, thậm chí có người còn bị chết rất đau đớn và đột ngột. Và thêm nữa có những kẻ sống bằng việc lừa đảo, gian tham, bất chính mà vẫn giàu có, sống yên ổn tới cuối đời. Vậy thử hỏi nhân quảcông bằng không?
Từ khi vào chùa với tuổi để chỏm, Bổn sư thế độ đã trao cho tôi bản kinh "Phật thuyết A-di-đà" bằng chữ Hán, bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập và dạy phải học thuộc lòng, rồi theo đại chúng đi thực tập tụng kinh vào mỗi buổi chiều. Học và tụng thuộc lòng ngâm nga vào mỗi buổi chiều, mà chẳng hiểu gì, nhưng tôi lại rất thích.
Theo nhà văn Phan Việt, đại dịch xảy đến với nhân loại cũng thuận theo đúng quy luật của tự nhiên. Nó đến rồi nó sẽ phải đi. Hiện nay nó đang xảy ra nghĩa là nó đang đi qua rồi.
Xung quanh các hiện tượng mê tín dị đoan “có tổ chức” diễn ra gần đây, đã có nhiều ý kiến trái chiều về “con đường tu tập” với những thực hành tâm linh như: chăm lên chùa xin Phật, cúng vong, trục vong… để giải nghiệp báo. Chúng tôi xin trích đăng kiến giải dưới góc nhìn Phật giáo của Hòa thượng Viên Minh (trụ trì chùa Bửu Long) về những “niềm tin” này.
Tôi không có bí quyết gì. Tuổi thọ không phải là thước đo giá trị của đời người. Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho Đời, cho Đạo. Ngài Trần Nhân Tông chỉ ở đời có 51 năm, ngài Pháp Loa có 47 năm mà công nghiệp thì bất khả tư nghì. Tôi trụ thế đến nay 99 năm, ở chùa 94 năm, thụ Đại giới được 78 năm, nghiệp là tu hành, nuôi thân thể chủ yếu bằng nghề làm ruộng, chưa từng dám lạm dụng một bát gạo, một đồng tiền của tín thí thập phương, khi nào chư Phật, chư Tổ cho gọi thì về thôi.
Bài phát biểu của Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc António Guterres tại phiên khai mạc Kỳ họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khóa 76.
Nếu giáo pháp chân chính không được thực hành nhằm mục đích giải thoát giác ngộ mà chỉ để giao lưu xã hội hay quan hệ phù phiếm thì điều đó chẳng có ý nghĩa
Phàm làm người, hễ có thân là có khổ thân, và hễ còn phiền não là còn khổ tâm. Khổ thân và khổ tâm này thuộc về phần thọ uẩn, nhưng tóm lại ngũ uẩn đều là khổ. Khổ là sự thật chân lý của tất cả chúng sinh nói chung, con người nói riêng, tất cả mọi người đều phải chịu đựng khổ, song sự khổ ít hoặc nhiều của mỗi người có phần không giống nhau. Cho nên, sự giải thoát khổ của mỗi người cũng không giống nhau.
Sau đây là những điều tôi được nghe lúc đức Thế Tôn còn lưu trú ở tịnh xá Kỳ Viên trong vườn Kỳ Đà tại thành Xá Vệ; Ngài gọi các vị khất sĩ và bảo: – Này quý thầy. Các vị khất sĩ đáp: – Có chúng con đây. Đức Thế Tôn dạy: – Tôi sẽ nói cho quý thầy nghe thế nào là người biết sống một mình. Trước hết tôi nói đại cương, sau đó tôi sẽ giải thích. Quý thầy hãy lắng nghe.
Bụt đã từng sống với hàng ngàn vị khất sĩ túc trực xung quanh. Bụt cũng đi, cũng ngồi, cũng ăn cơm với những vị nam và nữ khất sĩ khác nhưng Ngài luôn an trú trong sự tĩnh lặng.
..../...Riêng tôi cuộc sống nơi núi đồi hoang vắng, càng cao thì tâm hồn càng thoáng hơn, có nhiều lúc tôi còn tưởng rằng mình không còn sống trên thế gian này nữa. Bởi vì, nhiều khi mấy tháng hoặc gần cả năm trời chưa gặp một bóng người nào cả! Lắm lúc cứ thiết tưởng mình đã quyện cùng mây gió lơ lững bàng bạc khắp nơi nơi.
Trong Kinh Văn Thù quyển hạ có chép: Ngài Văn Thù thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn thì đệ tử của Ngài phân hóa bộ phái như thế nào? Bộ phái căn bản là gì?” Đức Thế Tôn dạy: “Văn Thù, sau này đệ tử của Như Lai có 20 bộ phái, sự kiện này giúp cho sự tồn tại của pháp. Tất cả 20 bộ phái cùng được 4 đạo quả, 3 tạng của họ bình đẳng, không ai hơn kém, như nước biển cả toàn một mùi vị, như người có 20 đứa con.”
Mưa trên mái chùa rêu, Rơi rơi từng giọt đều. Vị sư già nhìn mưa, Mưa đã từ nghìn xưa. Chú tiểu nhỏ quét mưa, Xào xạc tiếng chổi khua. Mưa ngập cả sân chùa, Chống chổi chú nhìn mưa.
New Posting: Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 375 ngày 1-10-2021 với chủ đề: Vượt Sóng Cả, Vững Tay Chèo
Các câu trích dẫn giáo huấn của Đức Đạt-lai Lạt-ma dưới đây được ghi lại từ một tư liệu trên trang mạng tiếng Pháp Evolution-101 https://www.evolution-101.com/citations-du-dalai-Lama/. Các câu này được xếp theo các chủ đề:
Bên cửa sổ, tia nắng chiều thu len vào. Gió mơn man rung nhẹ lá cây vườn ngoài. Lá vàng lá xanh cùng phơi mình quanh cội cây già. Mùi cỏ thơm dìu dịu gây nỗi nhớ bâng quơ. Tiếng vĩ cầm du dương đâu đó dìu dặt đưa hồn về cảnh cũ quê xưa.
“Hòa bình thế giới thực sự bắt nguồn từ việc tìm thấy được sự an lạc nội tâm. Sự giận dữ, ganh tị và thất vọng sẽ dễ dàng trở thành nguồn gốc của bạo lực, do đó chúng ta cần phải củng cố lòng từ bi vốn là bản chất cơ bản của con người chúng ta.
Trước khi Sài Gòn sụp đổ, tôi đã có một thời gian dài sống tại Lăng Cha Cả, gần nhà thờ Tân Sa Châu. Để đến được trung tâm Sài Gòn, từ Lăng Cha Cả phải đi qua những con đường Trương Minh Ký – Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ). Ở đoạn chân cầu Trương Minh Giảng có một cái chợ mang cùng tên và sau này, ở bên kia đường, Đại học Vạn Hạnh của Phật giáo được xây dựng. Có một thời, đây là nơi nhà thơ Bùi Giáng thường xuất hiện.
“Căn bản đời sống của chúng ta là đi tìm sự hạnh phúc và tránh né sự khổ đau, tuy nhiên điều tốt nhất mà ta có thể làm cho chính bản thân chúng ta và cho cả hành tinh này là lật ngược lại toàn bộ suy nghĩ ấy. Pema Chodron đã chỉ cho chúng ta thấy mặt cấp tiến của đạo Phật”
New Posting: Tập san Chánh Pháp số 119 tháng 10 năm 2021: Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dươnglưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoátgiác ngộ cho những ai học hỏithực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc.
Trong những gì tôi được đọc và được nghe kể, hình như nhà thơ Bùi Giáng không còn tham sân si, hay nếu còn, thì rất là ít. Không rõ có ai chứng kiến lúc nào Bùi Giáng khởi tâm tham sân si hay không. Rất nhiều người đã thân cận, đã chứng kiến đời thường của nhà thơ họ Bùi và đều nhận thấy nhà thơ như là người của cõi khác, người bay trên mây, người lạc tới thế gian này, như dường không còn chút nào tham sân si; hay chỉ còn, nếu có, thì rất ít. Nếu đúng như thế, hẳn Bùi Giáng phải là một bậc thánh.
Đức Phật một đời độ sinh chỉ nói đến hai chuyện: Mọi hiện hữu là khổ và nhận thức được sự thật đó để chấm dứt mọi hiện hữu. Nói vậy, con đường giải thoát chỉ là khả năng nhận thức sự thật ở đời. Tùy theo căn cơ của chúng sinh, Thế Tôn có lúc trình bày sự thật đó qua những khái niệm thường thức, đó là cách thuyết giảng những pháp thoại trong Kinh Tạng (một trong ba tạng giáo lý). Nhưng cũng có khi, Ngài theo trình độ của người nghe pháp mà trực tiếp nói thẳng vào bản chất rốt ráo của vạn hữu bằng thứ ngôn từ trừu tượng hơn, không thông qua những khái niệm trung gian, vay mượn từ đời thực. Đó chính là trường hợp của tạng Thắng Pháp mà cuốn sách này là chiếc chìa khóa cho người sơ cơ tìm vào học hỏi.
Nhân sinh tham ái, Dong ruổi mong cầu. Nghiệp nơi tâm thức, Luân hồi khổ đau.
Văn Phòng Thủ Hiến Tiểu Bang Niedersachsen vừa gửi thư đề ngày 14.09.21 báo tin Tổng Thống CHLB Đức Frank-Walter Steinmeier đã ký quyết định trao Huân Chương Quốc Gia Hạng Nhất (Verdienstkreuz 1. Klasse des Verdienstordens der Bundesrepublik Deutschland) đến Hòa Thượng Thích Như Điển, Chánh Thư Ký Hội Đồng Hoằng Pháp GHPGVNTN, Phương Trượng Chùa Viên Giác (Hannover, Đức Quốc).
Chừng nào còn bám chấp vào thế giới này thì chừng đó chúng ta không thể giải thoát. Chúng ta bám chấp vào những vật đẹp đẽ hay xấu xí, vào kẻ thù hay bằng hữu. Bất kỳ hoạt động nào của chúng ta trong đời sống đều bắt nguồn từ sự chấp thủ mạnh mẽ.
PHẬT NÓI KINH DIÊN /DUYÊN MỆNH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT Hán dịch: Không rõ tên người dịch [PN: Ngài Bất-Không Tam-Tạng phụng chiếu dịch] Việt dịch: HUYỀN THANH Pram Nguyễn chú giải { gạch bỏ thay vào, hay chú thích bằng [ ] } 12/15/2018
Con đƣờng thực nghiệm tâm linh dẫn đến đời sống giải thoátgiác ngộ đã đƣợc đức Phật giảng dạy ở trong các kinh điển, từ cô đọng đến khai triển, từ hẹp đến rộng, từ cạn đến sâu, từ phƣơng tiện đến cứu cánh, qua các văn hệ kinh điển từ A hàm đến Đại thừa với nhiều thính chúng và nhiều căn cơ khác nha
Đức Thế Tôn dạy: Cõi đời này khi mê thấy toàn sương mù giăng lối. Không biết đâu là lối về, đâu là cố hương muôn thuở! Nhưng khi tỉnh ra như mặt trời chiếu soi vạn tượng, tức khắc sương mù tan biến hiện rõ lối đi. Nên Tổ Bá Trượng nói: “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu”, nghĩa là đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ liền xuất hiện.
Ngài Jamyang Khyentse nói rằng Ngài biên soạn bài ca thẳng thắn tự khuyên răn này trong tháng Giêng năm Tỵ khi Ngài cảm thấy vui – buồn đan xen.
Thoạt nhìn thì tánh Khôngtừ bi có vẻ ngược hướng nhau, vì tánh Không nhắm đến một thực tại tuyệt đối còn từ bi thì lại hướng về một thế giới và chúng sanh vô thường, tương đối. Nhưng trong Kinh Đại Bát Nhã, mỗi khi nhắc đến Phật đều có đức tính đại từ đại bi, chẳng hạn ngay phẩm đầu tiên, phẩm Tựa: “Này Xá Lợi Phất! Đại Bồ tát muốn biết khắp cả công đức của Phật như mười trí lực, bốn vô sở uý, bốn trí vô ngại, mười tám pháp bất cộng, đại từ đại bi, thì phải tu tập Bát nhã ba la mật” (Kinh Đại Bát nhã, ngài Cưu Ma La Thập dịch) Trong bài này chúng ta tìm hiểu mối tương quan và hợp nhất của tánh Khôngtừ bi như thế nào trên con đường Bồ tát.
Một người bạn hỏi chúng tôi rằng “Đức Phật có thể cứu rỗi chúng ta thoát khỏi nạn đại dịch Covid-19 không?” và chúng tôi đã trả lời “không”. Nghe câu trả lời “không” làm cho người bạn nản lòng, vì họ nghĩ rằng: Đức Phật không cứu rỗi họ được.
Dấu chân toàn cầu của McDonald’s cho thấy cơ hội lớn cho công ty Beyond Meat trở thành nhà cung cấp ưu tiên cho các loại burger làm từ thực vật của hãng. Hai công ty (McDonald’s và Beyond Meat) đã công bố mối quan hệ đối tác kéo dài ba năm vào tháng Hai vừa qua. Gã khổng lồ thức ăn nhanh đã bắt đầu bán burger chay McPlant tại một số thị trường quốc tế, bao gồm Thụy Điển, Đan Mạch, Áo, Hà Lan và Vương quốc Anh.
Hình ảnh những bà mẹ mang thai hay địu đứa con nhỏ mới mấy tháng sau lưng, quyết một hành trình vạn dặm đi bộ từ Sài Gòn về tận Hà Giang-con đường hơn 2.000 km. Hình ảnh đoàn người nam phụ lão ấu lếch thếch rã rời trong đêm đen gió mưa rời bỏ miền Nam… đều đã bước vào lịch sử, ghi dấu một giai đoạn tang thương của đất nước, đặc biệt chứng nhận tình trạng quan liêu, vô trách nhiệm tận cùng của một bộ máy chính quyền thời điểm này.
Theo nhà văn Phan Việt, đại dịch xảy đến với nhân loại cũng thuận theo đúng quy luật của tự nhiên. Nó đến rồi nó sẽ phải đi. Hiện nay nó đang xảy ra nghĩa là nó đang đi qua rồi.
Đại đức Pháp Cẩn sẽ mở lớp Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca. Lớp sẽ học những tài liệu tiếng Việt và những tài liệu tiếng Anh do một số bạn thuyết trình. Tuy tài liệu một phần bằng tiếng Anh nhưng những người không biết tiếng Anh vẫn có thể học được vì thuyết trình bằng tiếng Việt.
Kính chia sẻ cùng chư Tôn đức, Pháp hữu và qúy Phật Tử Lịch Pháp thoại và khóa tu tại Hoa Kỳ trong tháng 9, 10, 11 & 12 2021 với sự chia sẻ của Thầy Thích Tánh Tụê.
Chương trình đào tạo Cổ ngữ Sanskrit cơ bản lần đầu tiên được tổ chức học online theo tiêu chuẩn Châu Âu, do TS. ĐỖ QUỐC BẢO (Đại học Heidelberg, Đức quốc) phụ trách.