Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
(Xem: 33825)
Bài viết này được biên soạn bởi có nhiều Tỳ khưu hỏi tôi về những giới luật sử dụng tiền bạc được tìm thấy trong vinaya (Tạng Luật). Bởi một tân Tỳ khưu ít có cơ hội được đọc những luận giảng mà tôi đã phiên dịch nhiều đề mục từ trong đó. Tôi hy vọng là trong bài viết này có đầy đủ kiến thức để giúp các Tỳ khưu hiểu rõ cách tuân thủ những giới luật này.
(Xem: 839)
Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam bao gồm các tuyển tập Tam tạng Phật giáo Thượng Tọa bộ (ảnh hưởng các nước Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia), Tam tạng Phật giáo Bộ phái, Tam tạng Phật giáo Đại thừa (ảnh hưởng Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Tây Tạng), Văn học Sớ giải, Văn học Tông phái Phật giáo và Văn học Phật giáo Việt Nam, v.v...
(Xem: 661)
Trong ấn bản Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam này, bản Luật tạng Pâli được chọn in là bản dịch của Thượng tọa Indacanda (Chánh Thân) được dịch Việt vào tháng 10-2003 và hiệu đính vào tháng 9-2004.
(Xem: 18824)
Trong nhiều năm qua người ta thấy có một số chùa trong nước cũng như ngoài nước tổ chức các buổi nhạc hội, các cư sĩ Phật tử và đôi khi có cả chư Tăng đàn hát các bài đạo ca trong các dịp lễ lớn và trong các khóa tu. Ngoài ra còn có một vài vị Tăng hát nhạc đời tại một số tụ điểm ngoài phạm vi nhà chùa. Dư luận cũng đã phản ánh khá gay gắt và một vị Hòa thượng lãnh đạo giáo hội đã lên tiếng về vấn đề này.
(Xem: 1644)
Với tuệ giác của bậc giác ngộ, Đức Phật đã quán sát thế gian, hình ảnh những hoa sen đang vươn mình lên trong bùn nhơ nước đục, gợi cho Ngài những ấn tượng sâu sắc về những khả năng tiềm ẩn trong mỗi chúng sanh.
(Xem: 2692)
Cho tới nay có ít nhất mười nhà dịch giả (thuật) bộ Qui Sơn Cảnh Sách sang Việt ngữ như trong sách Phật Tổ Tam Kinh (1950; của Vô Danh Thị), Hòa Thượng Thích Hành Trụ (1972), Tuệ Nhuận (1973); Chư Thượng Tọa, Đại Đức dạy chúng, tại các trường Phật học Báo Quốc, Linh Ứng (Non Nước), Nguyên Thiều (Bình Định), Ấn Quang (Sàigon), Lưỡng Xuyên (Trà Vinh), Phật Ân (Mỹ Tho), Huệ Nghiêm (Gia Định) v.v... đều giảng dạy tăng sinh bộ sách quý này. Tại sao chúng tôi vẫn tiếp tục dịch luận bản văn trên sang tiếng Việt làm gì?
(Xem: 2405)
Thanh tịnh đạo đã nói lên ý nghĩa căn bản con đường phạm hạnh, kim chỉ nam cho những ai tầm cầu đạo lộ chí thượng độc nhất thanh tịnh, vì ngoài nó ra không còn con đường nào khác hướng đến tuần tự tiến hóa. Và tầm quan trọng của nó được thể hiện phổ biến rộng rãi qua các xứ Quốc giáo khi nó là nền tảng cho các hành giả phát triển thiền quán.
Kinh
(Xem: 129)
Tác phẩm mà độc giả đang cầm trên tay chính là một phần quyển sổ tay của tôi, chuyên tra cứu những vấn đề trong “Kinh Trung A-hàm”. Có thể nói, đây là bản tóm tắt, đã lược bỏ những đoạn trùng lặp, phần còn lại là những vấn đề cốt yếu trong kinh này.
(Xem: 404)
Phật giáo Bắc truyền có 4 bộ A-hàm (Āgamma): “Kinh Trường A-hàm” (《長阿含經》), “Kinh Trung A-hàm” (《中阿含經》), “Kinh Tạp A-hàm” (《雜阿含經》), “Kinh Tăng Nhất A-hàm” (《增一阿含經》), tương đương với Kinh điển Nam truyền Pàli là “Kinh Trường Bộ” (Dīgha Nikāya), “Kinh Trung Bộ” (Majjhima Nikāya), “Kinh Tương Ưng Bộ” (Samyutta Nikāya), “Kinh Tăng Chi Bộ” (Anguttara Nikāya).
(Xem: 839)
Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam bao gồm các tuyển tập Tam tạng Phật giáo Thượng Tọa bộ (ảnh hưởng các nước Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia), Tam tạng Phật giáo Bộ phái, Tam tạng Phật giáo Đại thừa (ảnh hưởng Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Tây Tạng), Văn học Sớ giải, Văn học Tông phái Phật giáo và Văn học Phật giáo Việt Nam, v.v...
(Xem: 1171)
“Kỉnh Tiểu bộ” dịch sát nghĩa là “Hợp tuyểncác tập kỉnh ngắn ” , là tuyển tập điển tịch thứ năm trong năm bộ kinh thuộc kho tàng kinh điển Pãli, của Phật giáo Thượng Tọa bộ còn gọi là Phật giáo Nam truyền hoặc Phật giáo Thượng Tọa bộ Nam truyền Bộ này gồm 16 tập kinh chứa đựng nhiều bài kinh lẻ, thi kệ, đoạn kinh ngắn về chân lý, lộ trình tu tập, đạo đức sống và tư liệu lịch sử, phần lớn do đức Phật giảng và một số do các Thánh Tăng A-la-hán giảng hay biên tập.
(Xem: 999)
Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya) là bộ kinh thứ tư trong năm bộ thuộc hệ thống Kinh tạng Nikāya của Phật giáo Thượng Tọa bộ (Theravāda). Theo tác phẩm Diệu pháp yếu lược (Saddhammasaṅgaha) của Ngài Dhammakitti Mahāsāmi, việc giữ gìn và truyền tụng Tăng chi bộ là do Tôn giả Anuruddha và Tăng chúng thuộc nhóm của Ngài thực hiện.
(Xem: 1412)
Thánh điển Phật giáo được xem là quốc bảo của nhiều quốc gia theo đạo Phật. Các quốc gia thuộc hai truyền thống Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền đều có Thánh điển Phật giáo bằng tiếng mẹ đẻ của họ từ lâu. Tại các nước Phật giáo Nam truyền như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, ngoài ấn bản Tam tạng Thánh điển Pāli, đều có bản dịch Thánh điển Phật giáo bằng quốc ngữ của họ.
(Xem: 1686)
Kinh Trung bộ (P. Majjhima Nikāya, H. 中部經) là bộ kinh quan trọng thứ hai trong 5 bộ kinh Pāli (Pāli Nikāya) của Phật giáo Thượng Tọa bộ (Theravāda); là tuyển tập 152 bài kinh có độ dài trung bình (The Collection of the Middle Length Sayings) trong Kinh tạng Pāli (Sutta Piṭaka), tương ứng với 222 bài kinh trong Trung A-hàm kinh (S. Madhyama Āgama, H. 中阿含經). Khái niệm “trung” (majjhima, 中) có nghĩa là “trung bình, vừa” về số lượng chữ của từng bài kinh trong bộ này.
(Xem: 1276)
Trong Kỉnh Hoa Nghiêm có ghi: "Phật dĩ nhất nhất thân, xứ xứ chuyển pháp /沥〃"(佛以一一身,處處轉法輪),nghía là đức Phật luôn dùng tất cả hóa thân của mình, ở mọi nơi mọi chốn chuyển bánh xe pháp. Thật hoan hỷ, tinh thần chuyển bánh xe pháp của đức Phật đã và đang được chư Tôn đức Hội đồng Tri sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai một cách hiệu quả. Đặc biệt, trên phương diện hoăng truyên kinh điên, chư Tôn đức đã có những định hướng đúng đắn cho Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tiến hành phiên dịch, san định, ấn tống Kinh, Luật, Luận, Sớ giải có nguồn gốc từ tạng P互li, Sanskrit, Hán cổ và các ngôn ngữ khác...
(Xem: 34383)
Người ta thường nói môn Abhidhamma rất khó học, và lại không thực tế. Rất khó học vì nó phân tích rất chi li, vi tế những vận hành, diễn tiến của tâm. Không thực tế vì nó bàn đến những vấn đề ở ngoài sự hiểu biết bình thường của con người; ở ngoài chuyện áo cơm, tiền bạc, thế sự và thế tình...
(Xem: 3213)
Tổng hợp bài giảng của thầy Tuệ Sỹ về Nhập Trung Luận.
(Xem: 7456)
Ngài Thế Thân (Vasubandhu) tạo Luận Câu-xá vào khoảng năm 900 sau khi Phật nhập diệt, tức khoảng thế kỷ thứ tư hay thứ năm Tây lịch, làm căn bản cho tác phẩm nổi danh khác cũng do Ngài viết hơn 30 năm sau là Duy Thức Tam Thập Tụng. Luận Câu-xá gồm 600 bài tụng và trường hàng, chia làm 8 hoặc 9 phẩm, gồm 29 hoặc 30 quyển theo sự sắp xếp của các luận gia về sau.
(Xem: 3471)
Ám ảnh bức bách duy nhất của mọi sinh vật chính là sự chết. Các sợ hãi khác chỉ là biến thái của sợ chết. Thế giới bị chinh phục, bị khống chế, bị điều động bởi sự chết. Kinh Phật nhân cách hóa nó thành một loại Ma. Theo từ nguyên, trong tiếng Phạn, mara là danh từ phái sinh từ động từ √mṛ: mriyate, nó chết. Mọi hoạt động của chúng sinh, mọi thứ được kể là văn minh tiến bộ, thảy đều là những biện pháp mà các loài lựa chọn để bảo đảm sự sinh tồn của bản thân và đồng loại. Thế nhưng, do nhận thức sai lầm, điên đảo, kết quả của những lựa chọn đại phần, nếu không muốn nói tất cả, thảy đều tai hại. Đức Phật thành Chánh giác, được mô tả là sau khi chiến thắng quân đội Ma và những quyến rũ của Ma. Các vị luận giải A-tì-đạt-ma cho rằng sợ hãi là một biểu hiện của phiền não. Đây là khía cạnh tiêu cực của sợ hãi. Mặt tích cực được biểu hiện nơi các yếu tố tâm sở thiện.
(Xem: 18256)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 11129)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 8430)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 7305)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
CHUYÊN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, thông thường Phật giáo được biết như là một tôn giáo phiếm thần, nhưng trong quá trình nghiên cứu Phật học nói chung, và giáo lý Bồ Tát nói riêng, hầu hết các nhà nghiên cứu thường áp đặt vào giáo lý Phật giáo khái niệm thánh thần. Việc làm ấy đưa đến hệ quả nghiêm trọng là các ngôn ngữhình tượng rất là biểu tượngtrừu tượng được trình bày trong kinh điển Phật giáo, đặt biệt là kinh tạng của Phật giáo Phát Triển (Bắc Truyền) đều trở nên thánh thần, hoặc những thứ tương tựngã tính, linh hồn hay thực thể riêng biệt. Cũng từ đây, giáo lý Phật giáo được giải thíchbình luận theo quan điểm triết lý của các tôn giáo hữu thần.
Con người vĩ đại đó, tấm lòng trí tuệ đó, phương pháp giáo dục siêu việt đó của đức Phật đã khiến muôn nghìn trái tim của nhân loại hướng về Ngài và tôn kính Ngài như một vị đạosiêu việt nhất trong lịch sử nhân loại.
Dù những vật hữu tình hay vô tình đều có cội nguồn hình thành, lá rụng về cội, nước chảy về nguồn. Ai có mặt trên cuộc đời này đều được cha mẹ sanh ra. Từ đó, chúng ta đều hiểu ai cũng đã nhận ơn rất lớn như trời biển của cha mẹ.
Viện Việt Học tại trụ sở Westminster, California, hôm 3/9/2022 đã có buổi Hội thảo giới thiệu công trình chú giải sách Nôm nhan đề Quan Âm Tế Độ -- do GS Nguyễn Văn Sâm phiên âm và chú giải dựa vào bản khắc hơn một thế kỉ trước. Bản gốc là Quan Âm Diệu Thiện (Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Kinh), theo bản khắc năm Mậu Thân 1908 năm thứ 34 niên hiệu Quang Tự (nhà Thanh). Do Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Hiền Tâm phiên âm từ chữ Nôm ra quốc ngữ.
Đức Quan Âm Nam Hải cư trú ở biển Nam Hải. Ngài thường thường có mặt ở miền duyên hải Việt Nam. Ngài xuất thân là một cô công chúa, tên là Diệu Thiện, nên cũng được gọi là Quam Âm Diệu Thiện. Công chúa không phải là người Việt Nam mà là người nước Hưng Lâm phía Đông Thiên Trúc.
Quan Âm Diệu Thiện” là truyện thơ Nôm khuyết danh do Nguyễn Văn Kinh phiên âm, được nhà in Nguyễn Văn Viết xuất bản ở Sài Gòn vào năm 1925. Đến nay, đây vẫn được xem là tác phẩm truyện thơ phiên âm sớm nhất về Quan Âm Diệu Thiện và ít người biết đến.
Bỗn kinh nầy, cồ tích của đức Quan-âm Diệu-Thiện, giáng trần cửu thế độ nhơn, mà tu luyện hồi thiên, xin chư quân tữ xem mà nghiệm xét, suy nghĩ, cho tột lý, phải thông trong tam giáo, mà hiểu rõ cho đặng cái cốt chĩ của Phật thánh tiên, thì mới rõ bổn kinh nay chơn giả, mà luận việc, thiên đàng địa ngục luân hồi quã báo, chớ việc đó cũng không hình không ảnh chi, mà có bóng dáng xin chư vị nghiệm xét hễ đông đứng trong tam tài, thì phải biết phân biệt chổ chơn dã đó, việc họa phước thiên đàng địa ngục, thiện ác, siêu đọa, khổ lạt, bần phú, chẵng đồng, vì cũng bởi cái tâm tánh.
Tác phẩm nhan đề Quan Âm Tế Độ, nơi bìa có ghi thêm đề phụ là: Chuyện tu hành khó khăn của Đức PhậtQuan Âm, gia tài văn học Phật Giáo Chữ Nôm. Do Nguyễn Văn Sâm phiên âm dịch chú giải, và Nguyễn Hiền Tâm đính chánh. Bìa trong ghi là: Truyện Nôm Quan Âm Diệu Thiện, từ nguyên tác Quan Âm Tế Độ Diễn Nghĩa Ca. Nhìn sơ khởi, thấy trước tiên, đây là một tác phẩm mang văn phong Nam Bộ. Khi người viết mở bất kỳ, thí dụ, ra nơi trang 175, thấy dòng thứ 3479 viết “Tay chưn buộc trói thiết tha” là thấy ngay giọng người miền Tây. Thứ nhì, đây là thơ lục bát, trong văn phong ưa thích ngâm nga của dân miền Tây, cho thấy cách hoằng pháp của cổ đức khi phiêu dạt từ miền Bắc hay Trung về khai phá miền Nam, đã viết lên truyện thơ chữ nôm này để hoằng pháp.
Cuộc đời của mỗi con người ngay từ khi hoài thai cho đến lúc phải đớn đau cài lên ngực bông hồng màu trắng tang thương, có lẽ, đều được ghi dấu bằng những lần đếm ngược của mẹ.
Cho con gánh mẹ một lần, Cả đời mẹ đã tảo tần gánh con. Cho con gánh mẹ đầu non, Cả lòng mẹ đã gánh con biển trời...
Theo Vietnamnet, có một cặp vợ chồng 2 con. Thu nhập khoảng 30 triệu đồng/tháng. Khi bà mẹ chồng dưới quê lên Sài Gòn chữa bệnh, anh chồng sợ nếu về quê, không ai lo cho bà nên đề nghị bà ở lại với vợ chồng anh. Cô vợ yêu cầu mẹ chồng đóng góp phí sinh hoạt 3 triệu đồng/tháng, vì cô tuyên bố việc bà đóng góp là “hợp lý”. Anh chồng không đồng ý, vì bà là người đã bán đất mua nhà cho vợ chồng anh, chưa kể công lao nuôi anh từ bé. Họ bất đồng và anh chồng lỡ tát vợ một cái nên gửi báo nhờ tư vấn cách xử lý tiếp theo tránh tan cửa nát nhà (!).
Cơ duyên đưa đẩy, tôi được gặp rồi quen thân với Bs Đỗ Hồng Ngọc hơn chục năm nay. Khi Phật học Từ Quang tục bản (số 1, 2012), đến nay tròn 10 năm, số nào cũng có bài viết của anh. Tôi mời anh và anh cũng hoan hỉ tham gia Ban Phật Học (Cố vấn), phụ trách Nhóm Học Phật và là người đồng hình thành lớp “Phật học và Đời sống”, đến nay vẫn hoạt động tốt.
Hôm nay, sao lòng con bồn chốn đến lạ khi nhìn những tấm lịch rơi. Ồ, mồng…tháng 7 âm lịch, mùa Vu Lan đã cận kề. Dẫu biết rằng – Tình mẫu tử, một chủ đề quá quen thuộc, không chỉ là mạch nguồn cảm hứng bất tận trong dòng chảy thi ca nhân loại, mà còn là một nguồn rung động sâu thẳm trong trái tim của bất kỳ ai khi nhắc đến Mẹ, con xin mạo muội đôi dòng gửi Mẹ bên kia thế giới - một tình yêu vô điều kiện, một tình yêu duy nhất Mẹ dành cho con.
Cứ mỗi độ Vu Lan về, những người con Phật lại nao nao lòng. Người người sắm sửa hương hoa, nhà nhà trang hoàng bàn thờ Phật, bàn thờ gia tiên, ông bà, cha mẹ. Các chùa cũng rộn ràng chăng cờ hoa, sắm sanh phẩm vật để cúng dường. Vu Lan là một ngày lễ lớn, một sự kiện quan trọng trong Phật giáo bắc truyền.
NEW POSTING
Tác phẩm mà độc giả đang cầm trên tay chính là một phần quyển sổ tay của tôi, chuyên tra cứu những vấn đề trong “Kinh Trung A-hàm”. Có thể nói, đây là bản tóm tắt, đã lược bỏ những đoạn trùng lặp, phần còn lại là những vấn đề cốt yếu trong kinh này.
Phật giáo Bắc truyền có 4 bộ A-hàm (Āgamma): “Kinh Trường A-hàm” (《長阿含經》), “Kinh Trung A-hàm” (《中阿含經》), “Kinh Tạp A-hàm” (《雜阿含經》), “Kinh Tăng Nhất A-hàm” (《增一阿含經》), tương đương với Kinh điển Nam truyền Pàli là “Kinh Trường Bộ” (Dīgha Nikāya), “Kinh Trung Bộ” (Majjhima Nikāya), “Kinh Tương Ưng Bộ” (Samyutta Nikāya), “Kinh Tăng Chi Bộ” (Anguttara Nikāya).
Tác phẩm “Phân Tích Duyên Khởi Theo Duyên Hệ” này là bản dịch từ nguyên tác tiếng Anh “The Analytical Study of Dependent Origination (Paṭicca samuppāda) in the Perspective of Conditional Relations (Paṭṭhāna)”, vốn đã được chuyển ngữbiên tập từ những Pháp thoại bằng tiếng Miến do Sayadaw Tiến sĩ Nandamālābhivaṃsa thuyết giảng.
Về cơ bản, lý duyên khởi giải thoát mô tả tâm lý của thiền, nghĩa là, những gì xẩy ra trong tiến trình thiền định được hành giả kinh nghiệm từ lúc đầu cho đến lúc cuối. Lý Duyên Khởi Giải Thoátliên hệ chặt chẽ với giáo lý duyên khởi trong đạo Phật .
Trong bài này sẽ trích vài đoạn kinh của Kinh Ma ha Bát nhã ba la mật, phẩm Đại Như thứ 54, do Pháp sư Cu Ma La Thập dịch để tìm hiểu về Chân Như. Quá trình học và hành được đi theo thứ tự trong các kinh là như sau. Trước tiên, nghe, đọc, học, nghiên cứu gọi là Văn. Tiếp theosuy nghĩ, tư duy, biện luận là Tư. Và cuối cùng đưa vào thực hành gọi là Tu. Chính trong quá trình thực hành (Tu) này, người ta có những bước nhảy vượt khỏi ý thức lý luận vào Thật tướng Bát nhã.
Vô ngã không có nghĩa là phủ bác Ngã, mà là thấy biết đúng đắn về tính không thực hay tính tương đối của Ngã, để cái thấy không là cái thấy bám víu. Đó là giải thoát, là không tự trói buộc vào Ngã.
Bài kinh “Bốn Hạng Người Hiện Hữu Ở Đời” được ghi lại trong Tăng Chi Bộ Kinh I, chương 4, phẩm Bhandagàma, phần Thuận Dòng. Bài pháp này đức Thế Tôn giảng dạy cho các vị Tỷ-kheo, khi Ngài đang trú tại làng Ghanda, nơi dân Vajji cư ngụ. Nội dung bài pháp ngắn này, đức Thế Tôn cho biết ở đời có bốn hạng người hiện hữu. Đó là hạng người đi thuận dòng, hạng người đi ngược dòng, hạng người tự đứng lại và hạng người khác là vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia, đứng trên đất liền.
Khi tôi còn ở Sagaing, một hiệu trưởng của một trường đại học dạy âm nhạc có đến hầu chuyện tôi. Sau đó, ông có hỏi: “Bạch ngài! Đức Phật có cấm chơi âm nhạc và ca hát không ạ?” Ông ta hỏi như vậy vì những người thọ bát quan trai giới thì không được phép ‘múa hát, thổi kèn đờn, xem múa hát, nghe đờn kèn’ (nacca- gīta-vādita-visuka-dassana)
Bài viết này được biên soạn bởi có nhiều Tỳ khưu hỏi tôi về những giới luật sử dụng tiền bạc được tìm thấy trong vinaya (Tạng Luật). Bởi một tân Tỳ khưu ít có cơ hội được đọc những luận giảng mà tôi đã phiên dịch nhiều đề mục từ trong đó. Tôi hy vọng là trong bài viết này có đầy đủ kiến thức để giúp các Tỳ khưu hiểu rõ cách tuân thủ những giới luật này.
Tam Bất Năng là ba việc mà Đức Phật không thể làm được. Đây là lời giảng của Thiền sư Nguyên Khuê ở đời Đường bên Trung Hoa dựa theo giáo lý giảng dạy của Đức Phật, nhưng Thiền sư cho rằng Tam Bất Năng là nói theo Ứng Thân Phật của Phật Giáo Nam Truyền (Theravada), chứ nói theo Pháp Thân Phật của Phật Giáo Bắc Truyền (Đại thừa) thì không có Tam Bất Năng.
Tháng Bảy về, mưa phủi bụi trên nền trời nắng trong. Mưa rất lạ, đến rất nhanh, đi rất vội, có khi lại dịu dàng từ tốn, lượn nhiều vòng trên không trung, cuối cùng ngủ quên trên bầu trời đen kịt, dày đặc hơi nước chứ chẳng chịu rơi xuống.
Một ngày làm việc bình thường như mọi ngày, công việc quen thuộc nằm lòng, thấy dễ đến độ có thể nhắm mắt làm cũng được. Từ bấy lâu nay mình vẫn có thói quen vừa làm vừa thầm niệm Phật, nghĩ Phật, tuy nhiên những lúc bận rộn hay giao tiếp thì tạm ngưng.
Còn gọi là Quy Luật Duyên Khởi, vì đó là lý thuyết về quy luật tự nhiên, quy luật không thuộc về của riêng ai. Còn gọi là “Lý Thuyết Tùy Thuộc Phát Sinh” (tiếng Anh dịch: Dependent Origination), có nghĩa là mỗi một sự vật hay hiện tượng khởi sinh đều có nhân gây ra, tạo duyên hay điều kiện.
Vua Trần Nhân Tông được dân tộc ta tôn vinh, sử sách đánh giá là vị vua anh minh, vị anh hùng dân tộc hai lần đánh tan quân Nguyên Mông, làm sống dậy hào khí Đông – A đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc , đồng thời Ngài cũng là vị Thiền sư đắc đạo khai sáng ra Thiền phái Trúc Lâm.
Bài này sẽ phân tích về một số ý chỉ trong hai hội đầu trong Cư Trần Lạc Đạo Phú của Vua Trần Nhân Tông (1258-1308), người sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm. Bài phú này có 10 phần, chữ xưa gọi là 10 hội, chỉ ra đường lối của Thiền Trúc Lâm.
Hằng năm, cứ đến tháng 11 âm lịch, người Phật tử nói riêng và toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung đều hướng tâm thành kính tưởng nhớ và kỷ niệm ngày mất của Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Ngài là một vị vua có công lớn đối với dân tộc, đồng thời là vị tổ khai sáng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam. Để tưởng nhớ đến công ơn của Ngài đối với đất nước và đạo pháp, hôm nay, tôi sẽ chia sẻ về cuộc đờiđạo nghiệp của Ngài để chúng ta lấy đó làm tấm gương noi theo tu học.
New Posting: Tập san Chánh Pháp số 133 tháng 12 năm 2022: Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dươnglưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoátgiác ngộ cho những ai học hỏithực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc.
New Posting Số mới nhất: 402 ngày 1 tháng 12 năm 2022 - Chủ đề: Ánh Sáng Vô Lượng
Như chúng ta đã biết, thông thường Phật giáo được biết như là một tôn giáo phiếm thần, nhưng trong quá trình nghiên cứu Phật học nói chung, và giáo lý Bồ Tát nói riêng, hầu hết các nhà nghiên cứu thường áp đặt vào giáo lý Phật giáo khái niệm thánh thần. Việc làm ấy đưa đến hệ quả nghiêm trọng là các ngôn ngữhình tượng rất là biểu tượngtrừu tượng được trình bày trong kinh điển Phật giáo, đặt biệt là kinh tạng của Phật giáo Phát Triển (Bắc Truyền) đều trở nên thánh thần, hoặc những thứ tương tựngã tính, linh hồn hay thực thể riêng biệt. Cũng từ đây, giáo lý Phật giáo được giải thíchbình luận theo quan điểm triết lý của các tôn giáo hữu thần.
Tinh thần dung hợp Thiền và niệm Phật bắt đầu khá sớm tại Việt Nam cũng như Trung Quốc. Tại Việt Nam, ngay từ những thế kỷ đầu Phật giáo mới du nhập đã manh nha tính dung hợp với văn hóa xã hội đáp ứng cho việc hoằng pháp lợi sanh. Chư vị Tổ sư tuy liễu đạt pháp Thiền, nhưng các Ngài cũng giảng dạy phương pháp Tịnh độ
Hình thành tại Ấn Độ từ thế kỷ VI trước Công nguyên, Phật giáo đã phát triển việc truyền bá chánh pháp khắp xứ Ấn Độ và nhiều quốc gia trên thế giới nhằm hướng mọi người tu tập để chuyển hoá khổ đau giữa cuộc đời này.
Trước đây, một số sách cho rằng Phật giáo du nhập vào Việt Nam vào đầu kỷ nguyên Dương lịch nhưng qua sự tích “Chử Đồng Tửcông chúa Tiên Dung”, chúng ta thấy rằng có thể Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam ngay từ thời Hùng Vương. Sau đó Phật giáo bắt đầu phát triển vào thế kỷ đầu kỷ nguyên Dương lịch với sự tích “Công chúa Bát Nàn” đi tu ở chùa Tiên La vào thời Trưng Vương (năm 40-43), truyện “Man Nương” với Tăng sĩ Khâu Đà Lachùa Dâu (chùa Pháp Vân) vào thời Sĩ Nhiếp cai trị Giao Châu (năm 187-226)
Phần lớn chúng ta đều cầu nguyện. Dù tin vào hiệu lực của cầu nguyện hay không, khi đối mặt với những tình huống khó khăn vượt ngoài khả năng của mình, chúng ta cứ lâm râm cầu nguyện.
Đạo Phật có phải là một tôn giáo không là một câu hỏi không mới nhưng không cũ đối với những ai đến với đạo Phật chỉ bằng con đường tín ngưỡng đơn thuần. Nếu tôn giáo được hiểu theo nghĩa là những quan niệm dựa trên cơ sở niềm tinsùng bái những lực lượng siêu nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu nhiên định đoạt tất cả, con người phải phục tùng và tôn thờ, thì đạo Phật không phải là một tôn giáo, vì Đức Phật không phải một đấng siêu nhiên, Thượng đế, con của Thượng đế hay khải thị của Thượng đế.
Bốn giờ sáng, trời lạnh căm căm, sương mù dày đặc. Mình phải dậy sớm để đi cày kiếm cơm, đường vắng hoe không một bóng người, thỉnh thoảng vài chiếc xe vút qua, có lẽ cũng là những người đi làm sớm như mình. Thường thường mình lái xe ngang qua một nghĩa địa nhỏ giữa lòng thị trấn, mình nhiều khi sanh nghịch nhìn quanh quất thử xem có thấy ma chăng, chẳng hạn như một bóng áo choàng trắng hay áo choàng đen,
Trước khi phân tích và đi sâu vào chủ đề "Lý tưởng của người bồ-tát", thiết nghĩ chúng ta cũng nên tìm hiểu xem Phật giáo là gì, có phải là một tôn giáo hay không? Chữ "tôn giáo" (religion) là một thuật ngữ của người Tây phương, xoay quanh ý niệm về một Vị Trời Sáng Tạo ra thế giới và cả con người. Do đó con người phải chấp thủ quy luật do vị Sáng Tạo an bài, và điều đó cũng có nghĩa là nếu muốn được "cứu rỗi" thì phải chấp hành các phán lệnh của Vị ấy. Dhamma - tiếng Phạn là Dharma - hay Đạo Pháp do Đức Phật đưa ra hoàn toàn ngược hẳn với ý niệm đó.
Khi hiểu được việc lành dữ đều có quả báo tương ứng, chỉ khác nhau ở chỗ đến sớm hay muộn mà thôi, thì việc trả quả không còn là vấn đề phải suy nghĩ nữa. Có vay thì phải trả, không trả với hình thức này thì cũng phải trả với hình thức khác.
Đi chùa lễ Phật, cầu gia hộ. Trước buổi học Phật pháp, hay lễ hội Phật sự, nghi thức đầu tiên đều là “niệm Phật cầu gia hộ”. Bắt đầu niệm hương trước thời khóa tụng cũng đều đọc câu “Cầu Phật từ gia hộ…”. Xuân về cũng thường chúc tụng nhau bằng câu đầu là “Cầu Phật gia hộ”, v.v… Nó trở thành câu cửa miệng quen thuộc của người con Phật. Vậy, Phật là vị Thần bảo hộ cho mọi người ư? Là Đấng quyền năng có thể ban cho mọi người sự an lành hạnh phúc chăng? Hay chỉ là vị Thầy dẫn đường cho chúng sanh?
Tư tưởng chủ đạo của Thuyết nhất thiết Hữu Bộ là: “các pháp ba đời luôn thật có, bản thể luôn thường còn”,1 điều này có trái ngược với thuyết Duyên Khởi được đức Phật đã chứng ngộ dưới cội Bồ Đề hay không? Lại cũng có thuyết quan niệm rằng “Tất cả pháp đều không”2 thì có rơi vào thuyết “đoạn diệt” của ngoại đạo không? Tại sao lại có sự mâu thuẫn trong Phật giáo như thế?
“Muốn bảo vệ đạo Phật một cách hữu hiệu, mỗi người Phật tử phải xây một ngôi chùa cho chính bản thân mình… Chùa đây đích thực là ngôi đại hùng bửu điện trong đó người Phật tử trở về tìm thấy nội tâm mình… Đó là ngôi chùa vững chắc có thể che chở cho ta không bị những ngọn cuồng phong của thế cuộc xô đẩy và lôi cuốn…
Nguyễn Khắc Viện là một bác sĩ, sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học Đại học Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ Nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phổi nặng, điều trị ở bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble. Thời đó bệnh lao chưa có thuốc chữa như bây giờ. Từ năm 1943 đến năm 1948 ông phải chịu mổ 7 lần, cắt bỏ 8 cái xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái. Các bác sĩ Pháp bảo ông chỉ có thể sống chừng hai năm nữa thôi. Trong thời gian nằm chờ chết, ông đã tìm ra một phương pháp… thở để tự chữa bệnh cho mình, và kết quả là ông đã sống đến tuổi 84 mới chết (1997), nghĩa là sống thêm được 50 năm nữa, họat động tích cực, năng nổ trong nhiều lãnh vực! Chuyện khó tin nhưng có thật!
Phật tử chúng ta được biết rằng, đã quy y Tam bảothọ trì năm giới (không sát sinh, không trộm cướp, không tà hạnh, không nói dối, không say nghiện) thì sẽ đảm bảo không đọa vào đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) , được tái sinh làm người.
Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX sẽ diễn ra trong hai ngày 28-29/11 năm nay ở Hà Nội và dự kiến sẽ bàn cả về tài sản của tăng ni.
Toàn bộ quy luật vận hành của vũ trụ nhân sinh được đức Phật tóm lại trong một chân lý ngắn gọn:“Nếu cái này có, cái kia có; do cái này sinh, cái kia sinh. Nếu cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt.” Đó là giáo lý duyên khởi.
Nhân mùa Tạ Ơn, tác giả bài viết ngắn này mạn phép trình bày vài điểm về lòng biết ơn và cách biểu lộ lòng biết ơn của người và thú.
Tai nạn xảy ra vào một buổi chiều Thứ Sáu khi tôi đang lái xe về nhà. Xe cộ đang di chuyển nhanh trên xa lộ Santa Teresa và chiếc Volkswagen nhỏ của tôi tuy đã 15 tuổi vẫn còn chạy tốt. Lòng tôi cảm thấy vui. Vừa giải quyết xong một “ca” khó, tôi có tấm séc bốn ngàn đô trong túi xách. Đó là số tiền hậu hỹ đối với một nữ thám tử tư như tôi.
Giữa những xôn xao và bất an, cuộc sống vẫn có những sự bình lặng và an ổn tự nhiên. Đôi khi muốn tiếp xúc với những điều tốt lành ấy, ta cần bước chậm, hay ngồi yên lại, để nhìn ngắm một vẻ đẹp đang sẵn có chung quanh mình.
Từ khi đứa con trai đầu lòng ra đời, cuộc sống của cô bắt đầu thay đổi, cô được mọi người bên chồng đối xử tốt đẹpquý mến hơn. Nhưng bất hạnh thay, chẳng bao lâu, con của cô qua đời vì cơn bạo bệnh. Đứa con chết làm người con gái ấy gần như điên loạn; dù đau khổ đến tột cùng.
Xa lìa tà hạnh (không tà dâm) có nghĩa chính yếu là nguyện chung thủy với người bạn đời của mình. Người Phật tử đã có gia đình thì không quan hệ tình ái với người khác ngoài vợ hoặc chồng của mình (kể cả các loài phi nhânsúc sanh).
Đối với tất cả chúng ta, bao gồm cả Đức Phật, chúng ta phải đối mặt với sự hiện diện không thể tránh khỏi của sự không hài lòng và khó chịu về thể chất. Lúc nào cũng có mặt mối nguy hiểm của đau đớn và bệnh tật, bởi vì chúng ta được sinh ra. Bởi vì có sinh ra thể xác, ắt có sự tan hoại thể xác, hai thứ phải đi đôi với nhau, chúng cùng một lẽ.
Ngày đầu tuần, tháng này, năm nay Buổi sáng vào hãng, sau khi chào hỏi và cụng ngực với những người làm chung. Mình bị tay đốc công gọi vào văn phòng giũa:”
Người đệ tử Phật thực hành pháp thứ hai một cách hoàn hảo là không trộm cướp, chính xácxa lìa việc lấy của không cho. Trộm là lén lấy, cướp là đoạt lấy. Cướp thì hầu hết chúng ta không làm nhưng trộm thì ít người tránh khỏihành vi này núp bóng dưới nhiều hình thức và có mặt trong mọi ngõ ngách cuộc đời.
Hàng năm tại nước Mỹ, hàng chục triệu con gà tây bị giết nhân ngày lễ Tạ ơn. Lama Zopa Rinpoche đã đưa ra lời khuyên trong một buổi thuyết giảng năm 2018 để giúp ích cho những con gà tây bị giết và cách chúng ta nên khởi tâm như thế nào trong những kỳ nghỉ lễ.
Hàng năm người Hoa Kỳ dành ngày Thứ Năm trong tuần lễ cuối của tháng Mười Một để cử hành lễ Tạ Ơn. Ngày lễ Tạ Ơn cũng còn được gọi là "Ngày Gà Tây" và theo thống kê cho biết mỗi năm có hơn 270 triệu con gà tây bị giết làm thức ăn, trong đó có 78 triệu con lên bàn ăn vào ngày lễ Tạ Ơn. Trong dịp lễ này, ngoài món gà tây nướng, còn có các món khoai lang, bắp ngô và bí đỏ.
Ngày Lễ Tạ Ơn là ngày mà Hiệp Chủng Quốc ăn mừng sự kiện là những người Anh đầu tiên ở thuộc địa Plymouth thoát được nạn đói qua mùa Đông 1620-21. Nhưng theo quan điểm của người thổ dân Mỹ, các người muốn chúng tôi phải tạ ơn cái gì? Có người nào thực sự mong muốn chúng tôi phải tạ ơn sự kiện là, ngay sau khi những người da trắng đầu tiên đến Plymouth hồi phục được sức lực, họ bắt đầu tận diệt chính những người thổ dân đã nuôi sống họ trong mùa Đông đầu tiên này?
Sau khi phát tâm quy y Tam bảo, người Phật tử được khuyến khích giữ giới (thực hành năm pháp), giới thứ nhất là xa lìa sát sinh.
Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam bao gồm các tuyển tập Tam tạng Phật giáo Thượng Tọa bộ (ảnh hưởng các nước Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia), Tam tạng Phật giáo Bộ phái, Tam tạng Phật giáo Đại thừa (ảnh hưởng Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Tây Tạng), Văn học Sớ giải, Văn học Tông phái Phật giáo và Văn học Phật giáo Việt Nam, v.v...
Tôi yêu Lễ tạ ơn. Hầu hết người Hoa Kỳ cũng vậy, xếp hạng đây là ngày lễ yêu thích thứ hai của họ trong năm sau ngày lễ Giáng sinh. Có rất nhiều điều để yêu thích về Lễ Tạ ơn. Có khái niệm về lòng biết ơn - điều mà chúng ta vĩnh viễn quên đi trong cuộc sống hàng ngày bận rộn của mình. Đó là sự ấm áp của gia đình - quây quần bên bàn ăn để nói cười với những người thân yêu của chúng ta. Và có một sức hấp dẫn thế tục - người Mỹ thuộc mọi tín ngưỡng ngày nay tổ chức Lễ Tạ ơn với sự nhiệt tình bình đẳng không phân biệt tôn giáo, sắc tộc. Nhưng có một thứ mà chúng ta, với tư cách là một xã hội anh em nên xem xét lại về Lễ Tạ ơn: con gà tây.
Trong kinh Thừa tự pháp, đức Phật dạy hàng đệ tử nên thừa tự giáo pháp của Ngài chứ không nên thừa tự tài vật của Ngài. Không chỉ đối với đức Phật mà đối với các vị thầy trong hiện tại cũng vậy, ta nên thừa tự gia tài chánh pháp, các giá trị tinh thần của thầy mình chứ không nên chỉ thừa tự chùa chiền, tài sản vật chất.
Phải nói rằng Tăng đoàn là sự đóng góp rất lớn cho hạnh nguyện độ sanh của Đức PhậtTăng đoàn đã thay Phật để truyền bá Đạo mầu lám cho chân lý của Ngài còn mãi trường tồn cho đến hôm nay. Ngày nay Tăng đoàn đã phát triển mạnh mẽ không những chỉ hạnh hẹp trong một quốc gia mà đã có mặt trên toàn thế giới.
Trong ấn bản Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam này, bản Luật tạng Pâli được chọn in là bản dịch của Thượng tọa Indacanda (Chánh Thân) được dịch Việt vào tháng 10-2003 và hiệu đính vào tháng 9-2004.
“Kỉnh Tiểu bộ” dịch sát nghĩa là “Hợp tuyểncác tập kỉnh ngắn ” , là tuyển tập điển tịch thứ năm trong năm bộ kinh thuộc kho tàng kinh điển Pãli, của Phật giáo Thượng Tọa bộ còn gọi là Phật giáo Nam truyền hoặc Phật giáo Thượng Tọa bộ Nam truyền Bộ này gồm 16 tập kinh chứa đựng nhiều bài kinh lẻ, thi kệ, đoạn kinh ngắn về chân lý, lộ trình tu tập, đạo đức sống và tư liệu lịch sử, phần lớn do đức Phật giảng và một số do các Thánh Tăng A-la-hán giảng hay biên tập.
Trong các kinh Bát nhã ba la mật giảng nói nhiều về tánh Không với những phẩm tính như vô tự tánh, vô sở hữu, bất khả đắc, vô sanh, như huyễn… Điều đó khiến người học dễ tưởng rằng tánh Không chỉ hoàn toàn là phủ định.
Tăng chi bộ (Aṅguttara Nikāya) là bộ kinh thứ tư trong năm bộ thuộc hệ thống Kinh tạng Nikāya của Phật giáo Thượng Tọa bộ (Theravāda). Theo tác phẩm Diệu pháp yếu lược (Saddhammasaṅgaha) của Ngài Dhammakitti Mahāsāmi, việc giữ gìn và truyền tụng Tăng chi bộ là do Tôn giả Anuruddha và Tăng chúng thuộc nhóm của Ngài thực hiện.
Phật phápgiáo lý của Đức Phật. Gọi là giáo lý tức là nhằm chỉ đến giáo dục với tất cả các phạm trù của giáo dục : Nội dung, mục đích, phương pháp, đối tượng, tổ chức, thực hiện … Có thể nói, kinh điển xưa nay của Phật giáo ghi lại lời Phật dạy chiếm số lượng lớn nhất và lâu đời nhất so với các điển tịch nào ghi lại nội dung tư tưởng giáo dục của bất cứ nhà giáo dục nào trên thế giới. Do đó, sẽ rất hợp lý khi bảo rằng Đức Phậtnhà Giáo dục vĩ đại.
Con người vĩ đại đó, tấm lòng trí tuệ đó, phương pháp giáo dục siêu việt đó của đức Phật đã khiến muôn nghìn trái tim của nhân loại hướng về Ngài và tôn kính Ngài như một vị đạosiêu việt nhất trong lịch sử nhân loại.
Chùa Phú Hải ở nơi đó sau bao năm dâu bể thăng trầm, kể từ khi được khai lập vào những năm 196s của thế kỷ trước, trải qua hai đời trụ trì, đến năm 2008 thầy Nguyên Sanh được bổ nhiệm, đã là chốn tâm linh thiêng liêng cho phật-tử trong khu vực Đường Đệ và các vùng lân cận về nương tựa tu học, tu tậpthực hành những điều Phật dạy để cuộc sống vơi đi bớt khổ đau phiền não, hướng về ngày mai thanh thản an vui.
Tập sách nầy gồm 20 bài Pháp do Đại đức Sumedho giảng cho các Phật tử tại Anh và được chia làm 3 phần. Phần I gồm 7 bài về Pháp học hay những giáo lý cơ bản của đạo Phật như Tứ Điệu Đế, Tam Bảo, Nghiệp và Tái Sinh, Niết Bàn v.v.. Phần II gồm 6 bài về Pháp hành hay những pháp thanh lọc tâm như Quán hơi thở, Ghi nhận không gian, Sống trong hiện tại v.v... Phần III gồm 7 bài về cách tiếp cận của đạo Phật với những vấn đề hiện đại như Tự do, Gia đình, Giáo dục, Sự sống và sự chết, Xã hội toàn hảo, Tương lai của con người v.v...
Thánh điển Phật giáo được xem là quốc bảo của nhiều quốc gia theo đạo Phật. Các quốc gia thuộc hai truyền thống Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền đều có Thánh điển Phật giáo bằng tiếng mẹ đẻ của họ từ lâu. Tại các nước Phật giáo Nam truyền như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, ngoài ấn bản Tam tạng Thánh điển Pāli, đều có bản dịch Thánh điển Phật giáo bằng quốc ngữ của họ.
Kinh Trung bộ (P. Majjhima Nikāya, H. 中部經) là bộ kinh quan trọng thứ hai trong 5 bộ kinh Pāli (Pāli Nikāya) của Phật giáo Thượng Tọa bộ (Theravāda); là tuyển tập 152 bài kinh có độ dài trung bình (The Collection of the Middle Length Sayings) trong Kinh tạng Pāli (Sutta Piṭaka), tương ứng với 222 bài kinh trong Trung A-hàm kinh (S. Madhyama Āgama, H. 中阿含經). Khái niệm “trung” (majjhima, 中) có nghĩa là “trung bình, vừa” về số lượng chữ của từng bài kinh trong bộ này.
Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IX sẽ diễn ra trong hai ngày 28-29/11 năm nay ở Hà Nội và dự kiến sẽ bàn cả về tài sản của tăng ni.
Hàng năm tại nước Mỹ, hàng chục triệu con gà tây bị giết nhân ngày lễ Tạ ơn. Lama Zopa Rinpoche đã đưa ra lời khuyên trong một buổi thuyết giảng năm 2018 để giúp ích cho những con gà tây bị giết và cách chúng ta nên khởi tâm như thế nào trong những kỳ nghỉ lễ.
Sau khi bị chỉ trích vì dự lễ cải đạo tập thể từ Ấn giáo sang Phật giáo, Bộ Trưởng Gautam từ chức và nói: "Hôm nay tôi đã được giải thoát khỏi nhiều gông cùm và hôm nay tôi đã được sinh ra một lần nữa." Nhật Báo India Today đăng một video tiếng Anh hôm 7/10/2022 nhan đề "Bộ trưởng AAP Rajendra Gautam tham gia sự kiện cải đạo hàng loạt sang Phật Giáo, thề không cầu nguyện các vị thần Ấn Độ Giáo."
Vụ “đi kiện Thầy chùa” xẩy ra gần đây nhất là trường hợp chùa Tam Bảo ở Baton Rouge. Thầy trú trì chùa Tam Bảo, Thích Đạo Quảng (TĐQ) đã bị bốn trong số hơn vài trăm thành viên trong đạo tràng chùa Tam Bảo đứng đơn kiện. Nguyên đơn, gồm bốn nữ thí chủ chùa Tam Bảo, đã mướn luật sư nộp đơn kiện, buộc tội thầy Đạo Quảng có dính líu vào quan hệ tình dục và sai phạm việc quản nhiệm chùa (sexual misconduct and mismanagement of the temple). Mục đích sau cùng của vụ kiện là xin phán quyết tòa án để đuổi (sic) Thầy ra khỏi chùa và thay thế các “candidate Thầy” khác mới toanh, hợp khẩu vị đang xếp hàng chời đợi
Thông Báo của Hội Phật Học Đuốc Tuệ về buổi thuyết pháp của Đại Đức Thích Đăng Huy về đề tài "Ứng dụng Thiền trong Đời Sống Hằng Ngày" vào ngày Chủ Nhật 13 tháng11 năm 2022 từ 2 giờ chiều đến 6 giờ chiều tại Tu Viện Đại Bi
Bài Pháp "Mục Đích Cuộc Sống" là bài thứ hai trong các khóa Thiền Tứ Niệm Xứ. Khi học, thiền sinh sẽ trả lời được câu hỏi: Mục đích của cuộc sống là gì? Ý nghĩa thực sự của cuộc sống này là gì?
Tại buổi trả lời câu hỏi của Thiền sinh khóa Thiền Tứ Niệm Xứ online 9 ngày miên mật K01, Thiền sư Nguyên Tuệ có chia sẻ về Hành trình tìm ra phương pháp an trú Chánh Niệm - Tỉnh Giác. Từ những năm 1991, Thiền Sư đã tiếp cận với Phật giáo để trả lời câu hỏi "Mục đích cuộc sống là gì?". Tiếp cận và thực hành Thiền, có những trải nghiệm về Tỉnh Giác mà chưa an trú được. Mãi sau này mới tìm ra được phương pháp và giảng dạy cho thiền sinh như hiện tại.
Anh chị em thiền sinh thân mến, Chào đón anh chị tham gia khóa thiền Tứ niệm xứ. Đây là con đường Phật đã đi và hàng triệu người trên thế giới đang hàng ngày thực theo phương pháp này. Trong khóa tu học Thiền Tứ Niệm Xứ online. Chương trình học Bắt đầu ngày mới với việc kết nối với thực tại và Tái Tạo nguồn năng lượng như sau: