2. Quy y

29/08/20142:57 CH(Xem: 7091)
2. Quy y
MẬT TÔNG TÂY TẠNG
Nguyên tác TANTRA IN TIBET của Tenzin Gyatso, Đạt-lại Lat-ma 14
Jeffrey Hopkins dịch sang Anh ngữ và biên tập
Thích Nhuận Châu dịch Việt ngữ
Nhà xuất bản Phương Đông 2014

Phần I.
CỐT TUỶ CỦA MẬT TÔNG
Tenzin Gyatso, Đạt-lại Lat-ma 14
Jeffrey Hopkins dịch sang Anh ngữ và biên tập
Phụ tá biên tập: Lati Rinpochay và Barbara Frye


2. Quy y


Chúng ta đang sống trong biển luân hồi sinh tử mà độ sâu và mênh mông của nó không thể đo lường được. Chúng ta bị quấy nhiễu liên tục bởi những phiền não từ tham lam sân hận như thể bị cá mập tấn công dồn dập.

Tâm và thân chúng ta bị vây hãm trong những nghiệp xấu và phiền não trong đời trước và đáp lại như một cơ sở cho những khổ đau hiện thời cũng như trong tương lai. Khi trải qua cảnh luân hồi sinh tử ấy, chúng ta có những suy nghĩ thú vịbất an khác nhau: ‘Nếu tôi sống như vậy, thì mọi người nghĩ như thế nào? Nếu tôi không làm như thế, sẽ muộn mất; chẳng làm được điều gì lợi ích cả.’ Khi chúng ta có được điều gì hài lòng, chúng ta nghĩ: ‘Ồ, ước gì chỉ mình ta có được điều nầy!’ Chúng ta thấy người khác giàu có, lòng đố kỵ phát sinh trong tâm ta, không chịu nổi sự giàu có của họ. Khi chúng ta thấy một người con trai hay con gái hấp dẫn, chúng ta liền muốn quan hệ với họ ngay. Chúng ta không thoả mãn với sự quen biết thoáng qua mà thích được kéo dài mãi mãi. Và do thế, khi ta ở bên cạnh người nầy, thì ta mong muốn có được người khác. Khi ta gặp người mình không thích, ta trở nên cáu giận và cãi nhau chỉ sau vài lời; chúng ta cảm thấy không thể ở bên cạnh người ta ghét nầy dù chỉ trong một giờ mà muốn bỏ đi ngay. Ngày này qua ngày khác, chúng ta để đời mình trôi qua trong phiền não nối kết, lớn mạnh lòng tham đối với những gì ưa thíchsân hận đối với những gì không thích, còn để cho những điều ấy tiếp diễn cả trong giấc mơ, không thể nào phóng xả ra được, tâm ta hoàn toàn bị xáo trộn bởi những suy nghĩ yêu ghét không ngừng nghỉ.

Thế thì chúng ta nên nương tựa vào đâu? Cội nguồn nương tựa phải tuyệt đối vĩnh viễn không một thiếu sót nào cả, ở đó phải không có một sai lầm nào. Ở đó cũng phải có đầy đủ lòng từ bi – có được những điều ấy rất cần thiết để thành tựu lợi lạc cho mọi người. Vì thật đáng nghi ngờ khi bất kỳ ai thiếu hai điều kiện tiên quyết nầy mà làm nơi nương tựa cho người khác. Cũng như khi bạn bị rơi xuống hố rồi cầu xin người cũng đang ở dưới đó giúp bạn thoát ra. Bạn phải nhờ người nào đó đang ở trên hố mới giúp bạn được. Thật là vô ích khi cầu khẩn người đang gặp tình thế khó khăn. Một nơi nương tựa là phải có khả năng che chở sự sợ hãi từ vô vàn nỗi khổ, cũng không thể bị trói buộc trong nỗi khổ nầy mà phải được tự do và không một sai lầm. Hơn nữa, sự thành tựu viên mãn là điều thiết yếu, vì nếu bạn bị rơi xuống hố, thật là vô ích khi nhờ người bên ngoài giúp đỡ mà người ấy không muốn giúp, hoặc muốn giúp mà không có phương tiện để làm.

Chỉ có Đức Phật mới sạch hết mọi lỗi lầmđạt đến viên mãn. Do vậy, về mặt tinh thần, chúng ta nên quy y với Đức Phật, xưng tán ngài bằng lời, và cung kính ngài bằng cả thân mạng. Chúng ta nên thâm nhập vào giáo pháp của một bậc Đạo sư như vậy.

Sự xả ly mọi nhiễm ô của Đức Phật viên mãn trên cả 3 phương diện: thiện, thành tựukhông sinh khởi trở lại. Thiện xả ly là vượt thắng những chướng ngại thông qua chất giải độc trong chính nó. Thành tựu xả ly là không xem thường, bỏ qua một vài phiền não hay chỉ những phiền não biểu hiện ra, mà xa rời tất cả mọi chướng ngại. Xả ly không sinh khởi trở lạichuyển hoá mọi hạt giống phiền não và những chướng ngại khác theo cách mà các nhiễm ô ấy không phát sinh lại, ngay cả khi có hoàn cảnh thuận lợi với chúng.

Ý nguyện xưng tán Đức Phật của Ngài Tông-khách-ba không phải là khước từ tất cả các bậc Đạo sư khác như các vị trong phái Số luận sư (Kapila).[1] Ngài Tông-khách-ba bày tỏ sự lớn lao của Phật pháp là để phát huy nhất tâm trong tu tập, một khi đã có khả năng tu tập Phật pháp thì phải phát khởi tinh tấn làm cho được điều ấy.

Hành giả rất cần thiết phải có niềm tin vào giáo lý Phật pháp phát xuất từ quỹ đạo của trái tim mình. Ngạn ngữ Tây Tạng có nói rằng, người ta không thể nào khâu vá với 2 cây kim hoặc không thể nào đạt được mục đích nếu không nhất tâm. Tương tự, nếu hành giả do dự, anh ta sẽ không đặt năng lực mạnh mẽ vào việc tu tập chỉ một hệ thống. Ngài Tông-khách-ba xác định rằng đạo Phật là tốt nhất cho dành những người cần được giúp đỡ thông qua vịêc tu tập Phật đạo hơn là qua những hệ thống khác lẽ ra không phải chuyển sang đạo khác.

Chỉ tin vào cội nguồn quy y thôi thì chưa vững chắc lắm, trừ phinhận thức chính xác, là bạn đang đi đến điều xác quyết đạo Phật là tốt. Quy y không phải là theo phe phái. Để có được trạng thái nhất tâm khi thực hành công phu, cần phải xác quyết niềm tin chỉ có đạo Phậttoàn thiện và có khả năng dẫn đến cảnh giới hoàn toàn tự do, thoát khỏi mọi nhần lẫn và có được mọi điều lành. Hành giả nên thực hành bằng sự thẩm sát trung thực, tránh xa những yêu ghét rồi tìm kiếm những giáo lý phương tiện nhằm thoả mãn mục đích tu tập.

Kết quả tu tậpđạt được hai mục đích: cảnh giới tâm thức cao trong kết quả nhất thờicứu cánh toàn thiện. Cảnh giới tâm thức cao nghĩa là làm người hay chư Thiên thì tốt hơn là loài vật, quỷ đói, hay sinh trong địa ngục.

Cứu cánh toàn thiệnhoàn toàn tự tại đối với vòng luân hồi sinh tửđạt được Phật trí. Đạo Phậtgiáo lý phù hợp với từng căn cơ cũng như phương tiện để thành tựu. Trước tiên phải đạt đến cảnh giới tâm thức cao, và sau đó mới nhắm đến cứu cánh toàn thiện, vì điều nầy tuỳ thuộc vào mục tiêu đầu tiên. Tuy nhiên, xác quyết niềm tin đối với kinh điển cùng với tâm tha thiết đạt được cứu cánh toàn thiện phải được chứng minh trước. Khi giá trị chân xác của kinh điển biểu hiện cho sự tự tạiphương tiện thành tựu đã được chứng minh bằng những lý lẽ, và khi niềm tin từ nhận thức chính xác đã phát khởi, thì sẽ đạt được niềm tin với lòng thiết tha không thể phủ nhận rằng kinh điển đã chỉ dạy về các cảnh giới tâm thức cao và phương tiện của nó.

Giáo lý của Đức Phật về những hiện tượng vô biểu sắc, như những biểu hiện cực kỳ vi tế về hành vi và kết quả – là hiện tượng rất ẩn mật–không thể được chứng minh bằng lý luận. Làm sao xác minh được ?

Không cần phải xác minh các hiện tượng bằng lý luận vì chúng trình hiện trực tiếp đối với các giác quan. Tuy nhiên, những hiện tượng hơi ẩn mật chút ít, cần phải được chứng minh bằng lý lẽ để sinh khởi sự hiểu biết bằng suy luận, và do vì Tánh không (śūnyatā) rất sâu mầu lại có tính ẩn mật, nên nó phải được tiếp cận bằng lý luận. Thế thì, khi niềm tin đã phát sinh không thể tranh cãi về giáo lý của Đức Phật về sự vi diệu sâu mầu của Tánh không, thì niềm tin ấy đã có từ sự xác quyết giáo lý của Đức Phật về mật pháp là không thể tiếp cận được bằng lý luận, nhưng cũng chẳng có gì quan trọng lắm.

Chẳng hạn, với sự lưu tâm đến những lợi lạc từ những công hạnhĐức Phật đã giảng như trong Kinh Hiền Ngu[2], chúng ta tự hỏi sao lại có thể như thế? Vì ở đây có rất nhiều sự kiện ẩn mật, không thể chứng minh qua lý luận, như thể Đức Phật có thể nói bất kỳ điều gì ngài thích. Tuy nhiên, qua kinh nghiệm riêng của mình, chúng ta có thể xác định rằng giáo pháp của Đức Phật về những đề tại quan trọng như Tánh không, tu tập giác ngộchúng sinh, từ bi, bất luận giới nào phân tích – Phật tử hay không phải là Phật tử – hoặc người ta có phương tiện bao nhiêu đi nữa, nếu người ấy không thiên về tham lam sân hận, thì những giáo lý nầy đáng được phân tích và xem là cội nguồn năng lực tư tưởng. Nếu bạn nhận biết Đức Phật không sai lầm khi nhìn những hiện tượng rất quan trọng nầy, thì bạn là người đầu tiên đã công nhận những biểu hiện khác của Ngài.

Một số người quan niệm sai lầm rằng các pháp nhiễm ô trong vòng luân hồi sinh tử và các pháp thanh tịnh của niết-bàn không thể chứng minh bằng lý luận; và vì giải thoát, trí huệ không thể được nhìn thấy trực tiếp và không thể diễn bày được, nó chỉ được minh chứng qua kinh điển mà thôi. Họ chỉ tin vào kinh điển và phô bày ra sự thiếu căn cứ của họ. Tình trạng quy y như thế chỉ là tuyên ngôn của kẻ yếu đuối. Tiến trình luân hồi sinh tử và sự hoá giải có thể được chứng minh bằng lý luận qua hiểu sai về sự hiện hữu trên cơ sở tự tính như là căn nguyên và thiết lập trí huệ Tánh không bằng chất hoá giải của chính nó.

Ngay kinh điển cũng có nhiều sự kiện ẩn mật, không thể tiếp cận được cả hai mặt nhận thức trực tiếp và thông qua suy luận. Kinh điển chỉ được chứng minhđúng đắn qua ba cách phân tích, ba cách được ấn định là:
  1. Đoạn kinh văn không bị hiểu sai qua nhận thức chính xác trực tiếp từ giáo lý được hiển bày.
  2. Đoạn kinh văn không bị hiểu sai qua suy luận dựa trên chứng từ giáo lý có chút ẩn mật.
  3. Đoạn kinh văn không bị hiểu sai qua suy luận dựa trên kinh điển về giáo lý ẩn mật trong ý nghĩa chứa đựng mọi mâu thuẫn nội tại, Và như thế, cho dù tiến trình nầy xuất phát từ lý luận.
Kinh Phật không có mâu thuẫn nội tại, trong khi kinh của ngoại đạo thì có. Điều nầy không có nghĩa là kinh sách ngoại đạo không có giá trị đối với một ý nghĩa nào đó, nhưng nó có mâu thuẫn đối với các hiện tượng bao gồm trong cõi giới phiền não nhiễm ô và cả trong cảnh giới thanh tịnh. Kinh điển ngoại đạo không nhầm lẫn khi giải thích cách thức phát triển Tứ thiền[3]Tứ vô sắc định[4] cũng như những thành tựu nhỏ về lòng từ bi. Tuy nhiên, đối với mục đích chính của con người, kinh điển của họ lại có mâu thuẫn nội tại. Chẳng hạn, họ xác quyết rằng chủ tể sáng tạo thế giớithường hằngquả quyết rằng vòng luân hồi sinh tử nầy do đấng chủ tể thường hằng sáng tạo là có thể vượt qua được. Nếu nguyên nhânthường hằng, thì kết quả phải thường hằng. Tuy nhiên, vì kết quả không thường hằng, nên nguyên nhân cũng phải không thường hằng. Tính chất của các hiện tượng nếu khi không thể vượt qua nguyên nhân, thì kết quả cũng không thể vượt qua; thế nên không thể nào vượt qua được vòng sinh tử luân hồi. Như ngài Pháp Xứng[5] nói:

Vì sự thường hằng không vượt qua được
Nên không thể khuất phục ảnh hưởng của nó.

Trước hết cần phải chứng minh rằng cội gốc của luân hồi sinh tửý niệm về ngãý niệm về hiện hữu trên cơ sở tự tính. Thế nên có thể chỉ ra rằng hệ thống xác quyết quan niệm về ngã và theo đó loại trừ quan niệm vô ngã sẽ tự mâu thuẫn với sự đạt được giải thoát trong sinh tử luân hồi.


Điều nầy hàm ý rằng từ quan điểm của hệ thống triết học Phật giáo cao cấp nhất là phái Cụ duyên Trung quán tông, [6] quan điểm của hệ thống triết học Phật giáo thấp hơn là Y tự khởi Trung quán tông,[7] Duy thức, Kinh lượng bộ[8], và Đại Tỳ-bà-sa bộ[9] – dường như cũng chứa đựng mâu thuẫn nội tại. Theo phái Cụ duyên Trung quán tông, cội gốc của luân hồi sinh tửý niệm về hiện hữu trên cơ sở tự tính của các hiện tượng và dẫn đến hậu quả sai lầm về hiện hữu trên cơ sở tự tính của ‘cái Tôi’, gọi là quan niệm về tập hợp thể tạm thời như là một ‘cái Tôi’ thực. Các hệ thống Phật học khác khẳng định sự hiện hữu trên cơ sở tự tính của các hiện tượng trong khi phái Cụ duyên Trung quán tông khẳng định ý niệm hiện hữu trên cơ sở tự tínhám chỉ cho sự sai lầm trong nhận thức về ngã. Do vậy, các hệ thống triết học thấp hơn khẳng định sự giải thoát sinh tử luân hồi dường như liên quan với một mâu thuẫn nội tại vốn chỉ được hoá giải thông qua việc nhìn giáo lý như là một học thuyết không cứu cánh nầy cho những ai không thể lĩnh hội được tư tưởng tối cao.

Con đường giải thoát hoá giải mọi ô nhiễm từ chân như vốn thuần thanh tịnh, không ngằn mé; và giải thoátcảnh giới trong đó những ô nhiễm nhất thời được hóa giải. Nên có giáo lý Duyên khởi bắt đầu từ vô minh[10]. Thời luân tantra[11] sau khi đề ra nhiều hệ thống giáo lý Phật học–khi thấy các phái ngoại đạo lại trình bày bằng lý lụân về tương quan cao thấp của các hệ giáo lý–cho rằng: ‘Không thích đáng khi xem thường các các hệ thống giáo lý khác.’ Lý dohệ thống giáo lý ngoại đạo thường được truyền dạy như sự ban phước của chư Phật.

Có những trường hợp các đạo sư giảng giải giáo lý một cách mù quáng, nhưng một số khác lại xuất phát từ tinh thần của Đức Phật; tuy nhiên, trong sự tương quan, có người lại thích hợp với một hệ thống giáo lý khác, mà con đường ấy lại đúng đắn. Chẳng hạn, có người tu tập giáo lý Duy thức chứ không tu tập theo giáo lý Trung quán được, thì họ xem tư tưởng Duy thứcđáng tin cậy. Tương tự cũng đúng như vậy đối với cái nhìn về giáo lý của ngoại đạo. Thế nên, đối với các bậc thầy và các học thuyết khác, hành giả đều có thể quy y, nhưng không phải là sự quy y rốt ráo.

Khi niềm tin vào cội nguồn quy y được phát sinh thông qua sự chiêm nghiệm không thiên vị và không xuất phát từ những lý luận riêng tư, thì tín tâm mới kiên định và mạnh mẽ. Tín tâm như vậy không thể phát khởi do chỉ dựa vào kinh điển. Cách phát tâm như vậy được đề ra trong Bảy chuyên luận [12] của ngài Pháp Xứng–ba tác phẩm chính và bốn tác phẩm chú giải. Trong ba tác phẩm chính, tác phẩm đồ sộ nhất là luận giải của ngài về Tập lượng luận (pramā­ṇa­­sa­muc­caya) của Trần-na (dig­nāga) mang tên Lượng thích luận (pramāṇa­vart­tika-kārikā), tác phẩm đồ sộ thứ hai là Lượng quyết định luận (pramāṇaviniśca­ya),tác phẩm cô đúc hai luận giải trên là Chính lí nhất đích luận (nyāyabindu-pra­ka­raṇa); bốn tác phẩm chú giảiNhân luận nhất đích luận (hetubindu-nāma-praka­raṇa), Quan tướng thuộc luận (saṃbandhaparīkṣāpra­kara­ṇa), Luận nghị chính lí luận (vādan­yā­ya-nāma-prakara­ṇa), và Thành tha tướng thuộc luận (saṃtānān­ta­ra­sid­dhi-nā­ma-prakaraṇa). Niềm tin nội tại được sinh khởi nhờ vào sự chiêm nghiệm một cách hợp lý.


[1]Kapila: 迦毗羅仙. Hán dịch Hoàng đầu tiên 黃頭仙, Quy chủng tiên 龜種仙, Xích sắc Tiên. Còn gọi Kiếp-tì-la tiên 劫比羅仙, Khẩn-bế-la tiên緊閉羅仙, Kha-tì-la tiên 柯箄羅仙. Ca-tì-la Đại tiên 迦毘羅大仙. Ông là tổ của phái Số luận (Sāṃkhya). Ông có râu tóc, sắc mặt đều màu vàng đỏ, sinh khoảng thế kỷ thứ VI ttl. Khi sinh ra đã có đầy đủ 4 đức: pháp, trí, li dục, tự tại. Nhận thấy sự mê mờ của thế gian, ông khởi tâm từ bi, nói nghĩa 25 đế cho Bà-la-môn A-tu-lợi (s: Asuringhe), kế đến giảng pháp cho Bàn-già-thi-ha (s: Pañcaśikha). Ông nói hơn 100.000 bài kệ, gọi là Tăng-khư tụng.

Theo quan niệm của phái Số luận thì: Guṇa (Cầu-na) tức là Đức, trong ba yếu tố (thật, đức, nghiệp) để tạo thành vạn hữu. Nguyên văn: 是故有求那, 當知非解脫; Cho nên có cầu-na (giác quán, đức, công năng, đà sống, ngã ái) thì không phải giải thoát.

[2] Tên gọi đủ là Hiền ngu nhân duyên kinh. E: Wise Man and the Fool; s: Damamūkonāmasūtra; 13 quyển, Ngài Huệ Giác dịch vào đời Nguyên Ngụy. Đại chính tập 4.

[3] Tứ thiền:

1. Sơ thiền thiên (初 禪 天) với ba cõi:

Phạm thân thiên (梵 身 天; s: brahmakāyika);

Phạm phụ thiên (梵 輔 天; s: brahmapurohita);

Đại phạm thiên (大 梵 天; s: mahābrahmā).

hệ thống ghi thêm cõi thiên thứ tư của Sơ thiền thiênPhạm chúng thiên (梵 眾 天; s: brahmaparśadya).

2. Nhị thiền thiên (二 禪 天) với ba cõi:

Thiểu quang thiên (少 光 天; parīttābha);

Vô lượng quang thiên (無 量 光 天; apramāṇābha);

Cực quang tịnh thiên (極 光 淨 天; abhāsvara, cựu dịchQuang âm thiên; 光 音 天).

3 Tam thiền thiên (三 禪 天) bao gồm:

Thiểu tịnh thiên (少 淨 天; parīttaśubha);

Vô lượng tịnh thiên (無 量 淨 天; apramāṇaśubha);

Biến tịnh thiên (遍 淨 天; śubhakṛtsna).

4. Tứ thiền thiên (四 禪 天) gồm có:

Vô vân thiên (無 雲 天; anabhraka);

Phúc sinh thiên (福 生 天; puṇyaprasava);

Quảng quả thiên (廣 果 天; bṛhatphala);

Vô tưởng thiên (無 想 天; avṛha);

Vô phiền thiên (無 煩 天; atapa);

Vô nhiệt thiên (無 熱 天; sudṛśa);

Thiện kiến thiên (善 見 天; sudarśana);

Sắc cứu kính thiên (色 究 竟 天; akaniṣṭha);

Hoà âm thiên (和 音 天; aghaniṣṭha);

Đại tự tại thiên (大 自 在 天; mahāmaheśvara).

Có sách xếp 2.4.4.- 2.4.9. dưới tên Tịnh phạm thiên (淨 梵 天), không thuộc về Tứ thiền thiên.

[4] Tứ vô sắc định 四無色定

1. Không vô biên xứ định (空 無 邊 處定; ākāśanantyāyatana-dhyāna);

2. Thức vô biên xứ xứ định (識 無 邊 處定; vijñānanantyāyatana-dhyāna);

3. Vô sở hữu xứ xứ định (無 所 有 處定; ākiṃcanyāyatana-dhyāna);

4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ xứ định (非 想 非 非 想 處定; naivasaṃjñā-nāsaṃjñāyatana-dhyāna)

[5] Pháp Xứng 法 稱; S: Dharmakīrti;Tên của hai luận sư Phật giáo:

Luận sư quan trọng nhất của triết học đạo Phật, đại điện quan điểm của Duy thức tông (vijñānavāda) và Nhân minh học (s: hetuvidyā), sống trong thế kỉ thứ 7 (~ 600-650) tại Nam Ấn Độ và là môn đệ của Hộ Pháp (dharma­pāla) tại Na-lan-đà ( Mười đại luận sư).

Sư viết nhiều luận giải nhưng quí giá hơn hết là các tác phẩm về Nhân minh học Phật giáo. Trong lĩnh vực này, truyền thống Tây Tạng có giữ lại bảy tác phẩm của Sư, được gọi chung là Pháp Xứng nhân minh thất bộ, là luận lí học nền tảng của Phật giáo Tây Tạng (tất cả đều chưa được dịch ra Hán ngữ).

[6] prāsaṅgika (s); Cụ duyên tông 具 緣 宗, Ứng thành tông 應 成 宗; Qui mậu biện chứng phái 歸 謬 辯 證 派; Qui mậu luận chứng phái 歸 謬 論 證 派. Trung quán tông.

[7] svātantrika (s); Y tự khởi tông 依 自 起 宗, Độc lập biện chứng phái 獨 立 辯 證 派; Trung quán tông; Độc lập luận chứng phái 獨 立 論 證 派

[8] sautrāntika (s); Kinh lượng bộ 經 量 部; Thí dụ bộ 譬 喩 部.

[9] vaibhāṣika (s); nguyên nghĩa ‘Người theo Đại Tì-bà-sa luận (mahāvibhāṣā)’; một bộ phái xuất phát từ Nhất thiết hữu bộ (sar­vās­tivā­da), cũng có thể gọi là dạng sau cùng của Hữu bộ, lấy A-tì-đạt-ma Đại tì-bà-sa luậnTì-bà-sa luận (vibhāṣā) làm căn bản. Hai tác phẩm nêu trên là luận giải quan trọng về A-tì-đạt-ma của Nhất thiết hữu bộ.

[10] Hệ thống Mười hai nhân duyên.

[11] Thời luân tan-tra; S: kālacakra-tantra; nghĩa là ‘Bánh xe thời gian';

Tên của một Tan-tra Phật giáo, xuất phát từ thế kỉ thứ 10, tương truyền do nhà vua thần bí Sam-ba-la (s: śambhala) biên soạn. Trong bộ Mật kinh này, cách tính thời gianthiên văn học đóng một vai trò quan trọng. Khi được đưa vào Tây Tạng năm 1027, Thời luân được sử dụngtrở thành gốc của lịch Tây Tạng. Ngoài việc này, Thời luân cũng trở thành một đối tượng quán sát của Mật tông, trong đó yếu tố Bản sơ Phật (A-đề-phật; s: ādi-buddha; Phổ Hiền) được thêm vào hệ thống Ngũ Phật, trở thành một Man-đa-la (s: maṇḍala) với tên là ‘Mười phần uy lực’ của Mật tông.

Theo truyền thống Tây Tạng thì Thời luân được bảy nhà vua xứ Sam-ba-la và 25 vị truyền nhân chính tông lần lượt truyền lại. Đến vị truyền nhân thứ 12 thì giáo pháp này đến Ấn Độ và sau đó qua Tây Tạng. Một trong những dòng truyền quan trọng là dòng qua Bố-đốn (t: buton, 1290-1364) đến Tông-khách-ba và ngày nay mật giáo Thời luân được tông Cách-lỗ (t: ge­lugpa) tu tập. Thời luân này gồm có ba phần: ngoại giáo, nội giáo và tha giáo. Ngoại giáo lấy thế giới vật chất làm đối tượng, giáo pháp này mô tả sự hình thành của vũ trụ và nói về thiên văn, địa lí. Trọng tâm của giáo lí này đặt vào tính lịch và thời gian, và vì vậy nó tập trung vào toán học. Ngược lại, phần nội giáo lấy thế giới tâm lí làm đối tượng, tập trung giảng giải về các kênh năng lượng (s: nāḍī; Trung khu). Phần tha giáo đề cập đến các linh ảnh nhận thức được trong các Nghi quĩ (s: sā­dhana). Cả ba phần này đều được xem là ba dạng của A-đề-phật. Giáo pháp Thời luân chỉ một loạt sáu phương pháp Thiền định. Sáu phép này tuy cũng được Na-rô-pa (t: nāropa) luận giải, nhưng không giống với sáu phép Na-rô lục pháp (t: nāro cho­drug) của sư, chỉ có chung phép tu luyện để phát triển Nội nhiệt.

[12] Bảy tác phẩm chính về Nhân minh học của ngài là: 1. Quan tướng thuộc luận (s: saṃbandhaparīkṣāpra­kara­ṇa; e: Analysis of Relations), chỉ còn bản Tạng ngữ; 2. Lượng quyết định luận (s: pramāṇaviniśca­ya; e: Ascertainment of Valid Cognition ), chỉ còn bản Tạng ngữ. Bộ luận này được chia làm ba phần với chủ đề thụ tưởng, kết luận và trình bày phương pháp suy diễn ba đoạn (e: syl­lo­gism). Luận này được xem là bản nhỏ của Lượng thích luận vì hơn nửa phần được trích ra từ đây; 3. Lượng thích luận (s: pramāṇa­vart­tika-kārikā; e: Compedium of Valid Cognition ), luận quan trọng nhất, chú giải Tập lượng luận (pramā­ṇa­­sa­muc­caya) của Trần-na (dig­nāga); 4. Chính lí nhất đích luận (s: nyāyabindu-pra­ka­raṇa; e: Drop of Reasoning); 5. Nhân luận nhất đích luận (s: hetubindu-nāma-praka­raṇa; e: Drop of Reasons ), bản Tạng ngữ có, bản Phạn ngữ mới được tìm thấy. Bộ luận này được chia làm ba phần, giảng giải về ba đoạn của suy luận; 6. Luận nghị chính lí luận (s: vādan­yā­ya-nāma-prakara­ṇa; e: Reasonimg for Debate), chỉ còn bản Tạng ngữ, nói về cách tranh luận với địch thủ; 7. Thành tha tướng thuộc luận (s: saṃtānān­ta­ra­sid­dhi-nā­ma-prakaraṇa; e: Proof of Other Continumm), triết luận chống đối quan niệm Duy ngã và nói về ‘sự thật’ của ý nghĩ người khác;

Tạo bài viết
15/07/2020(Xem: 917)
Hơn 150 năm sau khi chế độ nô lệ chấm dứt, nghiệp phân biệt chủng tộc bi thảm của nước Mỹ vẫn tiếp diễn đến ngày nay. Giáo viên Phật giáo Larry Ward nói rằng nếu chúng ta hiểu rõ nghiệp thực sự hoạt động như thế nào, chúng ta có thể ngăn chặn được nó.
Những người ăn ớt có thể ít bị tử vong hơn do bệnh tim hoặc ung thư và có thể sống lâu hơn những người không ăn, theo một nghiên cứu mới sẽ được trình bày tại Phiên họp Khoa học của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2020 vào thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Với lượng thông tin khổng lồ trong thời đại Internet hiện nay, nguồn gốc và mức độ tin cậy của chúng đang là một vấn đề đáng lo ngại. Lợi dụng khả năng lan truyền nhanh chóng của các trang mạng xã hội như Facebook và Twitter, những người đứng sau các tin tức sai lệch, giả mạo đang đưa chúng tiếp cận đông đảo người dùng hơn chỉ trong tích tắc nhằm trục lợi. Nếu không được trang bị kiến thức đầy đủ, người dùng Internet sẽ rất dễ sa vào những cái bẫy thông tin đó.