10/07/20194:36 CH(Xem: 63348)
14/06/20191:02 SA(Xem: 10377)
(Xem: 1948)
Sở dĩ tôi bối rối là vì trong tác phẩm này có quá nhiều nghi thức, nghi lễ mà chư tăng phải làm trong một năm như: chúc thánh, chúc quốc vương, vía chư Phật, bồ tát, la hán, tổ sư, chư thiên, anh hùng dân tộc, ông công, ông táo, những ngày rằm lớn như tháng giêng, tháng bảy, tháng mười, tết trung thu… Rồi cũng có nghi thức cúng cầu mưa, cầu mưa tạnh, cúng nhật thực, nguyệt thực, trừ sâu bọ…. Chúng ta nên nhớ rằng, đây là một thiền viện nên việc tu thiền phải là việc làm chính yếu. Hơn nữa, Tổ Bách Trượng Hoài Hải là một thiền sư đã giác ngộ thì ngài đâu có tin những chuyện nhật thực, nguyệt thực… có thể cầu cúng mà được. Cho dù ngài có tùy thuận phong tục thế gian thì cũng phải có mức độ. Chứ nếu mà chư tăng phải thực hiện hết những thứ này thì còn thì giờ đâu mà ngồi thiền nữa.
(Xem: 2331)
Giới đức Thánh Tăng không cất giữ tiền bạc đã xác định cho quý vị Hòa Thượng biết rằng: họ đã đánh mất Thánh hạnh của chính họ, khiến cho họ không còn xứng đáng là Thánh đệ tử của Phật nữa, họ đã biến mình thành người phá hoại Phật giáo mà không biết (Giới luật còn là Phật giáo còn, giới luật mất là Phật giáo mất), họ đã biến mình thành Ma Ba Tuần trong Phật giáo mà không hay. Thật đáng thương vậy!
(Xem: 3728)
Bài Văn Cảnh Sách này là do Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu (năm 771-853) soạn viết để cảnh giác và sách tấn đồ chúng dưới tòa của ngài, vì vậy nên gọi là bài văn Cảnh Sách. Bởi vì ngài khai sơn và ở núi Quy giáo hóa đồ chúng nên gọi là Quy Sơn.
(Xem: 3947)
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế, về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh...; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại tạng Tây Tạng, Nhật Bổn;
(Xem: 3379)
Bộ Tỳ Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu nầy là nền tảng của người phát ĐẠI ĐẠO TÂM, tu hạnh Bồ Tát, tự lợi, lợi tha. Nếu muốn trên cầu Phật Đạo, dưới cứu độ chúng sanh, công hạnh tròn đủ, thì phải giữ NHẤT TÂM. Vì vậy, bộ Tỳ Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu nầy, gồm những lời phát nguyện, đi theo trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc.
(Xem: 3528)
Phật qui định, người xuất gia 5 hạ về trước phải chuyên học và tinh tường về giới luật, 5 hạ về sau mới học hỏi giáo lý, tham cứu thiền học. Thế nên các vị sa di xuống tóc rồi, trước hết phải lãnh thọ 10 giới, kế đó mới bước lên giới đàn lãnh thọ cụ túc giới.
(Xem: 5186)
Trong quyển sách nhỏ bé này, người viết nhằm vào lợi ích của cả hai đàng, cư sĩ lẫn tỳ khưu, và những tài liệu sau đây có lẽ không tìm thấy ở sách nào khác. Bhikkhu Khantipālo
Kinh
(Xem: 1919)
– Này Bāhiya, con hãy thực hành như sau. Khi nhìn chỉ có cái được nhìn. | Khi nghe chỉ có cái được nghe. | Khi xúc chạm chỉ có cái được xúc chạm. | Khi biết chỉ có cái được biết. | Con hãy tự rèn luyện như vậy.
(Xem: 2270)
Toàn bộ bài thơ nói về ý tưởng quan trọng của Đạo Phật punabbhava, được tìm thấy trong đoạn thơ cuối cùng, thường được dịch là "kiếp sau (kiếp mới)" hoặc là "tái sinh" (một-lần-nữa trở thành)." Trong quá trình suy nghĩ đặc trưng của Phật Giáo, con người và sự vật không "tồn tại" mà họ "trở thành" (đây là một hình thức năng động hơn của động từ "sống") mà thường được người ta ưa thích dùng trong văn học. Cuộc đời nầy (mà chúng ta đang bám víu) chỉ là một đoạn ngắn nằm trong một vở kịch dài về sinh tử, mà chẳng bao giờ kết thúc. Cuộn phim "lặp đi lặp lại," từ kiếp nầy sang kiếp kia, và chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được điều nầy, cho đến khi chúng ta có một cái nhìn rộng rãi hơn về tình huống của chúng ta.
(Xem: 2158)
Đại Huệ! Thử suy nghiệm, vị xem tất cả hữu tình như con độc nhất như Ta làm sao có thể cho phép chúng Thanh văn ăn thịt đứa con độc nhất ấy, huống chi chính Ta ăn. Do vậy, Đại Huệ! Nói rằng Ta cho phép các Thanh văn ăn thịt, Ta cũng ăn thịt, đây thực tế không có bất kỳ căn cứ nào.
(Xem: 3139)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)."
(Xem: 2124)
Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta.
(Xem: 2378)
"Đại Kinh Xóm Ngựa" là bài kinh đức Thế Tôn giảng cho các vị Tỷ-kheo tại xã Assapura tức là xóm Ngựa nên gọi là "Kinh Xóm Ngựa". Bài kinh khá dài nên các Tổ xếp là "Đại Kinh"; chứ nội dung không hề đề cập gì đến loài ngựa.
(Xem: 3303)
Bát nhã là tuệ giác của Phật. Tuệ giác ấy, siêu việt mọi ý niệm, mọi tư duy, mọi cách thấy năm uẩn là ngã, là tự thân của ngã hay là thuộc tính của ngã. Tuệ giác ấy, không những siêu việt mọi ý niệm, mọi tư duy, mọi cách thấy năm uẩn là ngã; là tự thân của ngã hay là thuộc tính của ngã, mà còn siêu việt luôn cả đối với mọi ý niệm, mọi tư duy, mọi cách thấy mỗi uẩn là ngã; là tự thân của ngã hay thuộc tính của ngã.
(Xem: 1663)
Thế nào là Thế đệ nhất pháp? Bất cứ tâm, tâm sở pháp nào là đẳng vô gián nhập chánh tánh ly sinh, đó gọi là Thế đệ nhất pháp. Có thuyết nói: Hoặc năm căn là đẳng vô gián nhập chánh tánh ly sinh, đó gọi là Thế đệ nhất pháp. Ở trong nghĩa này, ý nói: Bất cứ tâm, tâm sở pháp là đẳng vô gián, nhập chánh tánh ly sinh, đó gọi là Thế đệ nhất pháp.
(Xem: 3947)
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế, về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh...; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại tạng Tây Tạng, Nhật Bổn;
(Xem: 3395)
Luận Duy thức tam thập tụng này được viết với mục đích khiến cho những ai có sự mê lầm ở trong nhân vô ngã và pháp vô ngã mà phát sinh nhận thức không điên đảo đối với nhân vô ngã và pháp vô ngã. Trong đây, do nhận thức không điên đảo về nhân pháp vô ngã, mà phiền não chướng và sở tri chướng được đoạn trừ.
(Xem: 2799)
Một thời, Thế Tôn du hành ở Lực sĩ sinh xứ[2], rồi đi dần đến ấp Ba-bà[3], trụ tại rừng Chiết-lộ-ca[4]. Bấy giờ, trong ấp ấy, chúng lực sĩ ở tại khoảng đông tâycủa thôn là nơi thường tụ họp giải trí, chỗ ngôi đền Ôn-bạt-nặc-ca[5], mới dựng một đài quán thanh nhã, chưa có vị Sa-môn, Bà-la-môn v.v… cùng các lực sĩ từng thọ dụng đài quán ấy.
(Xem: 2977)
Thế nào là Mười đại địa pháp?1. Thắng giải; 2. Niệm; 3. Tư; 4. Xúc; 5. Tác ý; 6. Dục; 7. Thắng giải; 8. Niệm; 9. Tam-ma-địa; 10. Tuệ. Thế nào là mười đại phiền não đại pháp? 1. Bất tín; 2. Giải đãi; 3. Thất niệm; 4. Tâm loạn; 5. Vô minh; 6. Bất chánh tri; 7. Phi lí tác ý; 8. Tà thắng giải; 9. Trạo cử; 10. Phóng dật.
(Xem: 2170)
Trong đây, thế nào là sắc uẩn? Bất cứ sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại; thuộc nội phần hay ngoại phần, thô hay tế, hạ liệt hay thắng diệu, xa hay gần, mà dồn chung lại, tổng hợp thành một khối. Gọi chung là sắc uẩn.
(Xem: 2707)
Vì muốn khiến cho những người ấy đối với vực thẳm trong biển pháp tướng của A-tì-đạt-macó thêm phương tiện để thể nhập một cách dễ dàng và vui thích, do đó tạo ra Luận này.
CHUYÊN ĐỀ
SIÊU VIỆT Chập chùng sấm dội tâm kinh Cõi thiền rung chuyển, cõi tình lặng câm Âm ba vi diệu bổng trầm Ba la yết đế giai không trống bờ!
THIỀN THI Cành mai sân trước nở đêm Tịch yên phá chấp tâm truyền khai tâm Đói ăn, khát uống, mệt nằm Nhà tranh hương tắt, vầng trăng soi cười.
Trong lúc lục soạn trong bọc thư từ, giấy tờ cũ xưa mà Mẹ đã giao lại cho tôi gìn giữ, tình cờ phát hiện một bài thơ của Mẹ được viết trên giấy vở học trò mà nét chữ chính là của Cha tôi. Từng chữ nghiêng nghiêng mà vững chãi, từng hàng nắn nót thắm yêu thương. Chữ của Cha thật đẹp nhìn là thấy rồi, nhưng tôi còn có thể nhìn và cảm thấy được thêm niềm vui và sự trân trọng của người hạ bút trước một tác phẩm thi ca của người mà Cha trân quý.
Hôm nay "tour guide" đưa phái đoàn hành hương chúng tôi đến tham quan trường đại học Nalanda. Khi tới trước cổng trường, chúng tôi xuống xe đi bộ một khoảng khá xa. Trước mặt, sau lưng chúng tôi còn có nhiều đoàn hành hương khác cùng đến thăm thánh tích Nalanda. Nhìn cách ăn mặc của họ chúng tôi có thể đoán họ đến từ những xứ khác như Thái Lan, Phi Luật Tân, Đại Hàn... Có những người da trắng và cả những người Ấn Độ nữa...
Bồ-tát Quán Thế Âm, còn được gọi là Bồ-tát Quán Tự Tại (Avalokitesvara Bodhisattva) chỉ xuất hiệnxuất hiện khá nhiều trong các kinh điển Đại thừa như Hoa nghiêm, Lăng nghiêm, Pháp hoa, Bát-nhã Tâm kinh, Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, Đại Từ Đà-la-ni, Chuẩn-đề Đà-la-ni… và rất nhiều các ký, sớ, giải, luận về Bồ-tát.
Năm 2002, Bộ Bưu chính Viễn thông nước CHND Trung Hoa đã cho phát hành một bộ tem gồm 4 mẫu cùng mang giá mặt 80 jiao (1 Nhân dân tệ viết tắt là CNY= 10 jiao), và một bloc tem giá mặt 8 CNY để riêng nói về “Hang động Đại Túc Thạch Khắc”. Đây là bộ tem thuộc mảng đề tài “nghệ thuật điêu khắc đá cổ của Phật Giáo Trung Hoa”, nên trên các mẫu tem trong bộ đều đưa hình ảnh những tượng Phật, chư vị Bồ Tát được tạc khắc trên đá rất công phu tinh xảo và tuyệt đẹp!
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm Bồ Tát, gọi ngắn gọn là Thiên Thủ Quan Âm, hay còn gọi là Thiên Nhãn ThiênQuán Thế Âm. Theo kinh Phật, vị Quan Âm Thiên Thủ có nghìn tay nghìn mắt biểu thị sự viên mãn vô ngại, nếu chúng sinh trì niệm phụng thờ Ngài thì Bồ tát sẽ dùng nghìn tay hộ trì, nghìn mắt chiếu thấy để tiêu diệt tai họa, hàng phục tà ma.
Nhân hiện tượng nhạc khúc “Độ ta không độ nàng” có hơn 60 triệu lượt view ở Việt Nam chưa kể hàng triệu view ở Trung Quốc đã tạo hình ảnh quá tiêu cực,. Suốt bài ca vị tiểu tăng này luôn gào thét trách móc Phật vì sao Phật độ cho con mà không độ cho nàng? Vì sao ngài độ hàng triệu chúng sinh mà không độ cho nàng? Ngôn từ trong bài ca hoàn toàn trái ngược với giáo lý nhà Phật., vì trong Phật giáo, không có bất cứ ai, bao gồm cả Đức Phật, có khả năng năng cứu độ người khác. Chúng tôi mời quý độc giả xem bài viết dưới đây của tác giả Diệu Tạng và luận án Tiến sĩ Phật học của TT. Thích Viên Trí.
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kếttrao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế... trên quy mô toàn cầu.
Trong dòng đời vô tận, trong thế giới vô biên của nhân sinh, con người không chỉ tiếp xúc với những vấn đề liên hệ đến những nhu cầu thực tiễn trong cuộc sống mà còn đối diện với những yếu tố siêu hình, mênh mang, vượt khỏi những khả năng nhận thức giới hạn của đời sống phàm tục. Một trong những yếu tố ấy chính là vấn đề tâm linh,
Nālandā hiện và từng là người tiên phong của các trường đại học Phật giáo khác như thế ở Ấn Độthế giới và sự đóng góp của nó có thể được coi như là ‘Văn hoá Nalanda’. Thế giới đương đại cũng cần một mô hình tuyệt hảo như vậy để giải quyết, chấp nhận, và quảng bá sự giáo dục toàn cầu về đạo đức học.
Hãy để giáo pháp của đức Phật là ngọn hải đăng cho thế giới, chuyển hóa vô minh và khổ đau trong tâm chúng ta, mang lại sự phát triển vào năng lực bền vững cho nhân loại và quan trọng hơn, cho hòa hợp và hòa bình thế giới.
Trong các kinh A Hàm, Phật thường gọi sắc là thức ăn của mắt, tiếng là thức ăn của tai, mùi là thức ăn của mũi...Mắt thiếu sắc là nó đói, tai thiếu tiếng là nó đói, phải chạy đi tìm để ăn, suốt ngày luôn chạy tìm không dừng, chẳng mấy lúc được yên. Ngồi một mình thiếu sắc, thiếu tiếng thì cảm thấy buồn, phải mở nhạc, xem ti-vi cho vui. Đó là sống theo chiều của cái tôi hư dối, cái tôi sinh diệt vô thường, không phải cái độc tôn mà Phật muốn nhắc.
Chúng ta không mong chờ vào ai đó, dù là bậc tu hành đức cao vọng trọng hay đấng giáo chủ nào phân phát cho chúng ta. Vé đi vào thế giới an lạc, hạnh phúc nằm trong tay mỗi người, vì hạnh phúc không phải ở bên ngoài.
Trong niềm hân hoan đón mừng ngày Đức Phật đản sanh, Đại lễ Phật Đản năm 2019 đã chính thức diễn ra tại Việt Nam Quốc Tự, TP. Hồ Chí Minh, Chùa Từ Đàm, Cố đô Huế và Chùa Bằng cũng như Trung Tâm Văn Hóa Thủ Đô Hà Nội ngày Rằm tháng 4 âm lịch tức ngày 19-5-2019
NEW POSTING
Có thể nói ngày nay, chiến tranh, hận thù, thương yêu, ghét bỏ, kỳ thị, náo động trên thế giới… đều do tà kiến mà ra. Nhưng thế nào là tà kiến? Tà kiến là cái nhìn sai lệch, không bằng trí tuệ mà bằng phân biệt, thương-ghét. Khi đó cái mà chúng ta nhìn (nhãn trần) không còn đúng sự thực, không đúng ở thể chân như của nó nữa.
Anh chị em thân mến, thật sự, tôi rất, rất vui mừng và rất vinh dự để nói chuyện với quý vị. Tôi không nói gì đặc biệt, chỉ là những kinh nghiệm thông thường. Tôi đến đây là lần thứ bảy. Và mỗi lần như vậy, những người ở đây biểu lộ với tôi những cảm nhận nhân bảnthân hữu chân thành. Vì thế, cũng tự nhiên thôi, đó là lý do tại sao tôi cảm thấy hạnh phúc bất cứ khi nào tôi nhận được lời mời. Cho nên tôi rất, rất là vui mừng.
Bậc đạo sư của Ba Cõi, Thế Tôn, bậc Giác ngộ, sau khi chứng đắc pháp tối thượng, trở thành bậc Giác Ngộ ở vùng Uruvelā, bên bờ sông Ni- Liên-thuyền (Nerañjarā), ngài đã ngồi đó suốt bảy ngày để trải nghiệm quả vị giải thoát. Theo tư liệu trong ba bài kinh đầu tiên của Kinh Phật Tự Thuyết (Udāna - 1 tập trong Tiểu Bộ Kinh), đức Phật quán về Pháp Duyên Khởi suốt ba canh của bảy đêm liên tục
Nó buồn tình cứ đi lang thang vô định, nhiều khi xong ca không muốn về nhà cứ để mặc cho tư tưởng và đôi chân muốn đi đâu thì đi. Nó đi không biết đi về đâu, tìm một cái gì đó mà nó cũng không biết đó là cái gì; ngày tháng vẫn trôi qua như thế.
"Mọi người đến đây đều tuỳ tâm cả mà, vui thì trả tiền, không vui cũng… không sao!". Đó là câu nói hết sức vô tư kèm theo tiếng cười giòn tan đầy hào sảng của chị Phượng, người phụ nữ đứng sau chuỗi nhà hàng chay "ăn tuỳ bụng, trả tiền tuỳ tâm" độc nhất vô nhị cả Sài Gòn, thậm chí là cả… Việt Nam.
Nhân minh là môn luận lý học Phật giáo được các Tổ sư sáng lập nhằm mục đích làm sáng tỏ chân lý thực tại. Lập luận của nhân minh rất chắc thật và xác đáng. Thực ra, luận lý Nhân minh đã có từ thời Đức Phật. Trong những lời dạy, đức Phật cũng đã sử dụng phương pháp lý luận để trình bày. Với mục đích là khai mở tâm thức của chúng sanh có được những nhận thức đúng đắn, thánh thiện. Và để chuyển hoá mọi người từ một nhận thức lệch lạc, sai lầm đến một nhận thức đúng đắn chơn chánh; đi từ nhận thức tư duy hữu ngã sang nhận thức tư duy vô ngã. Sự thật đây là một điều hết sức cam go cho những ai thực hành con đường này. Bởi đây là một cuộc cách mạng lớn trong nhận thức tư duy mà từ lâu chúng ta vẫn thường biện minh theo thói thường tình.
Câu hỏi: Kính bạch thầy, hai người kết hôn làm vợ chồng kiếp này có liên quan gì đến kiếp trước không? Hạnh phúc gia đìnhảnh hưởng gì đến nợ, nghiệp của kiếp trước mang lại không ạ?
HỎI: Tôi ba mươi chín tuổi, tôi là một góa phụ. Chồng tôi chết sau một thời gian chống chỏi với ma túy và rượu. Ông quá liều vào lúc chỉ ba mươi sáu tuổi. Tôi cần tìm sự an tĩnh tâm hồn của tôi. Tôi vật vả với điều này mỗi ngày. Ngài có thể đề nghị những cung cách nào đó để tôi có thể tập trung vào chính tôi để giúp tôi tìm ra một lối thoát vượt qua nổi đau đớnthống khổ này không? Tôi yêu cuộc sống và tôi thích cảm thấy hạnh phúc. Tôi nhớ những cảm xúc này. Trái tim tôi nặng nề, và tâm hồn tôi tổn thương. Ngài có thể ban cho tôi bất cứ lời khuyên nào không? Cảm ơn.
Tôi (Bhikkhu Bodhi) sẽ lần lượt trình bày các nghiên cứu của tôi xoay quanh ba câu hỏi quan trọng: 1) Kinh văn Pāli có chỉ ra rằng một phàm nhân phải đắc thiền-na trước khi thể nhập vào “chánh tánh quyết định” (sammatta-niyāma), con đường không thối chuyển để nhập dòng thánh giải thoát, hay không? 2) Kinh văn có gán ghép các vị đệ tử cư sĩ đã đắc quả Dự Lưu với khả năng đắc thiền-na không? 3) Nếu kinh văn đa phần không gán ghép thiền-na với quả vị Dự Lưu, ở giai đoạn nào trên dòng thánh giải thoát thì việc đắc thiền-na trở nên cần thiết?
Trong Cuộc Gặp Gỡ Tại Dinh Thự Của Ngài Ở Dharamsala, Hp, Ấn Độ Vào Ngày 12 Tháng 7 Năm 2019.. Sư Cô Nhật Hạnh chuyển ăm tiếng Việt
Tác phẩm “Luận Giải Về Nghiệp” này bao gồm hai phần: 1. Phần Một: Tử Và Tục Sinh, là bản dịch của tác phẩm “Kamma at Death and Rebirth”, và 2. Phần Hai: Đời Sống Bình Nhật, là bản dịch của tác phẩm “Kamma in This Life – How it Arises and Gives Its Result”. Những nguyên tác này bao gồm những bài Pháp về Nghiệp (Kamma) do Sayadaw Dr. Nandamālābhivaṃsa thuyết giảng với những trích dẫn từ Kinh Điển Pāḷi và những ví dụ minh họa từ đời sống thực tiễn.
Việc chúng ta không ăn thịt xuất phát từ lòng bi mẫn với muôn loài thì đó thực sự là việc tốt lành, phù hợp với giáo pháp. Không ăn thịt cũng giúp chúng ta tránh được nghiệp trở thành ma quỷ hút máu, ăn thịt và giữ được sự thanh tịnh bên trong và bên ngoài.
Có lần Bà La Môn hỏi Đức Phật, Thưa Ngài! Biết có kiếp sau hay không mà Ngài khuyên răn chúng tôi làm thiện. Đức Phật trả lời! Nếu khôngkiếp sau, mà kiếp này ngươi làm thiện thì ngươi sẽ được an vui hạnh phúc, còn nếu có kiếp sau thì ngươi vẫn được an vui hạnh phúc trong kiếp này và kiếp sau. Cho nên hãy sống thiện để có lợi ích.
Chưa lúc nào trên các trang báo, trên mạng lại nhiều những tin tức về các hành vi bạo lực như hiện nay. Không kể những vụ án giết người để cướp của hay cưỡng bức, tình trạng bạo hành diễn ra từ đường phố, trên sân cỏ, trong trường học, nghĩa là, khắp nơi.
Pascal, triết gia, đồng thời là toán học gia nổi danh người Pháp của thế kỷ thứ XVII, được biết đến với vụ đánh cuộc tâm linh trứ danh «croix ou pile» (tức là chơi xấp ngửa với đồng xu, ngày nay trò đánh cuộc này không còn được gọi là croix ou pile mà là pile ou face).
Chiều bên hiên tịnh thất | Gió thoảng, chợt thơ bay | Dăm vần điệu chia sẻ | Cùng ai qua chốn này … TN Huệ Trân
Khóa hư lục là tác phẩm nổi tiếng của vua Trần Thái Tông, có giá trị lớn về tư tưởng thiền họcvăn học Phật giáo Việt Nam, cho nên từ xưa đến nay, chư tôn túc thạc đức, các nhà nghiên cứu Phật học đã dịch chú, giảng giải, bình luận, trích dẫn tác phẩm này, đặc biệt là bài Phổ khuyến phát bồ đề tâm. Tuy nhiên, vì chưa có đủ các phương tiện tham khảo, so sánh, đối chiếu văn bản, nên bài Phổ khuyến phát bồ đề tâm được chư tôn túc thạc đức, các nhà nghiên cứu Phật học thừa nhận là do vua Trần Thái Tông sáng tác. Sự thực là bài Phổ khuyến phát bồ đề tâm được vua Trần Thái Tông trích dẫn, sao chép từ Kim cương khoa nghi, như minh chứng ở trên.[9]
Vị thứ hai trong dòng những tái sinh Jamyang Khyentse là Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, người vĩ đại đến mức thật khó để tôi thậm chí thốt lên danh hiệu của Ngài; dẫu vậy, tôi vẫn làm thế như một cách để làm lợi lạc chúng sinh khác.
Một bản kinh đảm bảo được các yếu tố xác định kinh Phật đó là nội dung phải hàm chứa tính chất Vô thường, Khổ, Vô ngã, Niết bàn thì chúng ta mới nên gìn giữ, ấn tống.
Mưa là một dạng ngưng tụ của hơi nước khi gặp điều kiện lạnh. Mưa có thể được sử dụng như nước uống và là nguồn cung cấp nước cho các loại cây trồng cho nên mưa được xem là nguồn sống cho tất cả các loài sinh vật trên hành tinh của chúng ta. Dù là mưa rào, mưa phùn hay mưa ngâu, hương vị của mưa thật là dễ chịu, trong sáng nên mưa được chúng ta chào đón với một sự vui mừng thoải mái nhẹ nhàng. Cũng thế, pháp vị A-hàm thật nhẹ nhàng, dễ hiểu, làm tươi sáng tâm tư của chúng ta. A-hàm có thể đẩy tan những dục vọng phiền não đang thiêu đốt chúng ta và nuôi lớn giới thân tuệ mạng thánh hiền của chúng ta, vì thế tác phẩm ‘A-hàm: Mưa pháp chuyển hóa phiền não’ (2 tập) xin được ra mắt với nội dung giới thiệu A-hàm như một suối nguồn Phật pháp không thể thiếu trong việc tưới tẩm và nuôi dưỡng nguồn tâm linh của chúng ta.
Lời người viết: Bài viết này khởi điểm từ câu chuyện có thật của hai vợ chồng nhà báo ngụ tại một tỉnh miền Trung, Việt Nam. Thiết nghĩ, tựa hồ như một hạt sen khô, đã rũ mình, nứt ra từ gương sen, rơi xuống lòng hồ, tiếp tục chờ ngày tái hiện bằng cách nảy mầm, vươn lên khỏi mặt hồ, trổ hoa sen thơm, làm tươi mát cho đời; mỗi người hãy nuôi dưỡng đời sống bằng ý thức quay về nương tựa hơi thở của chính mình, như hành trình hạt sen tiếp nhận hơi thở của đất trời, diễn tiến theo tuần tự, chấp nhận diễn tiến sinh trong diệt, diệt trong sinh, để nếu còn trong vòng luân chuyển, thì có thể hữu ích cho tự thân và tha nhân.
Có thể bạn đã nghe ai đó nói rằng bạn nên giữ chánh niệm trong mọi lúc, mọi nơi, dù khi bạn ở nhà hay ở trong văn phòng, dù khi đi trên xe buýt hay xe riêng hoặc đi nhờ xe của người khác, v.v... Bạn có thể giải thích lời khuyên này như muốn nói rằng lúc nào bạn cũng phải giữ cho tâm tập trung trên hơi thở của bạn. Thực ra trong lúc lái xe, nếu bạn chỉ lo giữ tâm trên hơi thở thì có khả năng bạn sẽ rơi vào một vấn đề, chẳng hạn như mất sự chú ý trong lúc lái xe hay quên cả việc đang lái xe của mình và bạn có thể sẽ bị tai nạn.
Học lý thuyếtthực hành Chánh niệm theo thời giankhông gian thích hợp cho mọi người. Ghi Danh Khóa Học Thiền Minh Sát (Sẽ bắt đầu mùa hè 2019)
Gần đây, nhiều chuyện tai tiếng xảy ra đối với nội tình Phật giáo, một số Giáo hội địa phương xử lý nội bộ, một số do áp lực báo chí , Giáo hội Trung ương phải vào cuộc, thế nhưng, vì lý do nào đó, một vài cơ quan truyền thông xã hội vẫn cố tình làm áp lực với Phật giáo muốn triệt hạ tận gốc những đối tượng theo ý muốn của họ.
Với người hành thiền mong muốn có được tri kiến đúng đắn về năm uẩn qua việc thực hành Pháp Duyên Sanh, cuốn sách này chắc chắn sẽ là một tác phẩm đáng chú ý nhất. Nó cũng là một sự bổ sung rất ý nghĩa cho việc hiểu Pháp Duyên Sanh. U Than Daing, tác giả của cuốn sách, đã hoàn thành một sự giải thích rất rõ ràng và thấu đáo về Pháp Duyên Sanh từ quan điểm thực tiễn.
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau:
Thành phố Hamburg là thủ đô Phật giáo của nước Đức. Trong một khu công nghiệp, trên mái nhà lấp lánh một bánh xe pháp luân màu vàng, hai con rồng đứng hai bên cạnh, đó là một tu viện. Lúc đầu, các Phật tử gặp nhau trong các căn hộ để thiền tập, sau đó họ bắt đầu xây chùa. Một chuyến viếng thăm chùa ở Hamburg.
SIÊU VIỆT Chập chùng sấm dội tâm kinh Cõi thiền rung chuyển, cõi tình lặng câm Âm ba vi diệu bổng trầm Ba la yết đế giai không trống bờ!
THIỀN THI Cành mai sân trước nở đêm Tịch yên phá chấp tâm truyền khai tâm Đói ăn, khát uống, mệt nằm Nhà tranh hương tắt, vầng trăng soi cười.
Ý Chính: Đức Phật giới thiệu về 5 cách đoạn trừ năm trạng thái tâm có dục nhiễm (ác, bất thiện pháp). Giải thích từ: Vitakka (tầm) có nghĩa là tư tưởng, tư duy.
Đức Phật đã giảng dạy như thế này: “Ngài ra đời là vì an lạc của chư thiên và loài người”. Nên người đệ tử Phật phải học theo hạnh của Phật, mình làm cái gì cũng vì an lạc hạnh phúc của mọi người, hạnh phúc an lạc cho xã hội, cho đất nước, cho tổ chức; mình nói cái gì chỉ nhắm tới lợi mình lợi người. Việc gì lợi mình lợi người thì làm, lợi mình hại người thì không làm hoặc lợi người hại mình cũng không nên làm.
Chùa Hương Sen tổ chức 3 tours hành hương từ ngày 02/09/2019 đến ngày 07/10/2019
Mọi sự hiện hữuhiện hữu trong quy luật nhân duyên, nhân quả của chính nó. Nên, quả báo của những loài có cánh thì biết bay trên trời; quả báo của những loài thủy tộc là sống và bơi lội ở dưới nước; quả báo của những loài có xương sống nằm ngang thì phải đi bốn chân; quả báo của những loài có xương sống thẳng đứng thì phải đi hai chân; quả báo của loài người thì có đầu mình, tứ chi và biết suy nghĩ trước khi nói và làm. Và cả vạn loại chúng sanh, không có loài nào là không hiện hữu từ nhân duyên, nhân quả của chính nó.
Mời tham dự khóa tu hằng tuần với sự hướng dẫn của Sư Bà Như Hương tại Trung Tâm Sunshine - 13071 Brookhurst Str. Suite 197, Garden Grove, CA 92843.
Đức Phật còn dạy rằng: “Chẳng phải dùng hương hoa hoặc lễ vật cúng dườngtôn kính ta. Chỉ người thực hành theo giáo lý mới thật sự tôn kính Ta”. Vậy các chùa chiền hãy nên có 1 NGÀY TU HỌC 4 THÁNH ĐẾ thay vì quanh năm chỉ chuyên tu NIỆM PHẬT A DI ĐÀ. Khi tu học 4 THÁNH ĐẾ, chắc chắn Phật tử sẽ có trí tuệ hơn nhiều, sẽ được Đức BỔN SƯ THÍCH CA hoan hĩ hơn nhiều. (không còn bị đệ tử quên lãng!)
Pháp thoại dưới đây, Thế Tôn dùng hình ảnh một chiếc trống hư mục, da trống bị tróc từng mảng lớn, chỉ còn lại một đống gỗ, trở nên vô dụng để làm ảnh dụ cho hàng Tỳ-kheo đời sau không tu giới-định-tuệ; không hoan hỷ thọ trì Chánh pháp của Như Lai để được lợi ích xuất ly mà ngược lại, “Đối với những sách dị luận tạp nham thế gian, văn từ trau chuốt, tạp cú thế tục, thì chuyên tâm lãnh thọ, nghe những lời nói ấy hoan hỷ, kính cẩn tập theo”. Hạng người này là những chiếc trống mục trong Chánh pháp.
Có rất nhiều cách giúp chúng ta sống hạnh phúc. Bài viết này ghi lại 7 điều cần phải làm nếu bạn chọn cách sống hạnh phúc.
“ Ở đây không sầu muộn” (Idam anupaddutam) là lời khẳng quyết được Đức Phật dùng để thức tỉnh cho Yasa ra khỏi mê lầm khổ đau, khi chàng thanh niên lịch thiệp xứ Barànàsì này rơi vào tâm lý chán ngán sự đời bởi lối sống tù túng tẻ nhạt của thế giới dục lạc.
Nhiều Phật tử suy nghĩ về giáo pháp quá nhiều mà thực hành rất ít. Thiếu những trải nghiệm như thế nào là giữ giới, và thiếu dữ liệu từ những tầng thiền định sâu (Thiền Na- Jhana), vô tình họ đã bóp méo giáo pháp bằng những mơ tưởng viển vông của chính họ. Bài kinh Udana (Ud1.10), ghi lại lời Phật dạy cho Bāhiya, là một bài kinh ngắn và nổi tiếng, đây chính là một thí dụ điển hình về việc lời Phật dạy bị bóp méo.
– Này Bāhiya, con hãy thực hành như sau. Khi nhìn chỉ có cái được nhìn. | Khi nghe chỉ có cái được nghe. | Khi xúc chạm chỉ có cái được xúc chạm. | Khi biết chỉ có cái được biết. | Con hãy tự rèn luyện như vậy.
Đức Phật cũng dạy rằng tất cả mọi hiện tượng, dù vô hình hay hữu hình, thuộc quá khứ, hiện tại hay tương lai, tất cả đều liên hệ và tương kết với nhau. Đó là nguyên lý Tương liên, tương kết và tương tạo giữa mọi hiện tượng, tiếng Phạn là Pratityasamutpada, kinh sách Hán ngữ gọi là Lý duyên khởi. Qua nguyên lý đó thì dù chỉ là một chiếc lá hay một con côn trùng nhỏ bé, một tiếng kêu đau thương của một con thú hay một thoáng xúc cảm nhỏ nhoi trong tâm thức của một cá thể con người, thì tất cả đều tác độngliên hệ đến toàn thể môi sinh và sự an vui của nhân loại trên hành tinh này
Toàn bộ bài thơ nói về ý tưởng quan trọng của Đạo Phật punabbhava, được tìm thấy trong đoạn thơ cuối cùng, thường được dịch là "kiếp sau (kiếp mới)" hoặc là "tái sinh" (một-lần-nữa trở thành)." Trong quá trình suy nghĩ đặc trưng của Phật Giáo, con người và sự vật không "tồn tại" mà họ "trở thành" (đây là một hình thức năng động hơn của động từ "sống") mà thường được người ta ưa thích dùng trong văn học. Cuộc đời nầy (mà chúng ta đang bám víu) chỉ là một đoạn ngắn nằm trong một vở kịch dài về sinh tử, mà chẳng bao giờ kết thúc. Cuộn phim "lặp đi lặp lại," từ kiếp nầy sang kiếp kia, và chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được điều nầy, cho đến khi chúng ta có một cái nhìn rộng rãi hơn về tình huống của chúng ta.
Lớp lớp người đội sớ ngồi chật sân tràn ra cả ngoài đường, xe cộ chạy không được bóp coì inh ỏi, tiếng quát tháo, la hét chát chúa: - Tiên sư nó! Cúng sao mẹ gì mà cản trở giao thông thế này!
Phim cực kỳ hay và có những khi Liên với mấy đứa em Liên (em gái và em rể) phải rơi nước mắt. Thoạt tiên, Liên coi toàn bộ phim có thuyết minh. Sau đó, do cảm thấy chưa hiểu rõ thuyết minh, và cũng vì bộ phim quá hay, Liên đã coi lại toàn bộ phim 54 tập có phụ đề. Mới nhận ra là phụ đề thì hay hơn, dịch rõ hơn thuyết minh. Phim hay đến nỗi, mặc dù Liên coi lại lần thứ nhì, còn cảm động hơn và rơi nước mắt còn nhiều hơn lần coi thứ nhất.
Một trong những lý do khiến Phật giáo suy viquần chúng rơi vào mê tín. Nhìn lại thực trạng Phật giáo hôm nay, không phải sau những sự cố “giải hạn, cầu vong” ở một số chùa phía Bắc lùm xùm trên báo chí người ta mới nhận ra Chánh pháp đang bị hiểu sai, hoặc bị xuyên tạc theo hướng có lợi cho những ai muốn vận dụng vì biên kiến, tà kiến hay trục lợi vì tiền bạc.
Ý nghĩa giải thoát của đạo Phật là không lệ thuộc. Đầu tiên chúng ta tránh lệ thuộc vật chất. Tuy tiện nghi vật chất tốt, nhưng nếu ta để lệ thuộc nó thì không tốt, vì sống có tiện nghi quen rồi, đến khi không có tiện nghi sẽ cảm thấy bực bội, không sống nổi, thậm chí sanh ra bệnh hoạn về thân lẫn tâm. Như vậy, tự nhiên tạo thêm cho mình cuộc sống bị trói buộc vào tiện nghi vật chất để không được giải thoát, chẳng những không giải nghiệp mà còn tự tạo thêm nghiệp.
Trong lúc lục soạn trong bọc thư từ, giấy tờ cũ xưa mà Mẹ đã giao lại cho tôi gìn giữ, tình cờ phát hiện một bài thơ của Mẹ được viết trên giấy vở học trò mà nét chữ chính là của Cha tôi. Từng chữ nghiêng nghiêng mà vững chãi, từng hàng nắn nót thắm yêu thương. Chữ của Cha thật đẹp nhìn là thấy rồi, nhưng tôi còn có thể nhìn và cảm thấy được thêm niềm vui và sự trân trọng của người hạ bút trước một tác phẩm thi ca của người mà Cha trân quý.
Phật ngồi bóng đổ nghìn năm | Ta.. '' vui cái khổ '' | luân trầm vạn niên. | Phật ngồi siêu thoát, trạm nhiên | Ta đi...du lịchsáu miền khổ đau. Phật ngồi in bóng thiên thâu Ta ngồi mắc kẹt trên cầu tử sinh. Phật ngồi không nói lặng thinh Ta mê sảng thuyết... mà tim mịt mùng.
Nhạc sĩ Phạm Duy là một thiên tài. Rất hiếm hoi để có một tài năng như thế. Tôi đã nghe nhạc Phạm Duy từ thời mới lớn, qua nhiều thể loại nhạc, phần lớn thời xa xưa là nghe qua các làn sóng phát thanh tại Sài Gòn, và rồi nghe qua băng Cassette – đó là những năm chưa có máy truyền hình màu, và dĩ nhiên là rất xa với kỷ nguyên Internet bây giờ.
Chỉ còn vỏn vẹn 3 tuần nữa là đến Khóa Tu Học Phật Pháp Bắc Mỹ Lần Thứ 9. Kể từ ngày ra thông bạch/ thông báo đến ngày hạn chót gi danh là ngày 30 tháng 6 năm 2019 nhưng được sự đồng ý của Hòa Thượng trưởng ban tổ chức Khóa Tu Học Phật Pháp Bắc Mỹ lần thứ 9 này sẽ gia hạn thêm 1 tuần nữa để cho những vị nào chưa kịp ghi danh thì vẫn còn có cơ hội ghi danh tham gia khóa tu học lần này. Kính chúc quý Đồng hương Phật tử học viên xa gầngia quyến vô lượng an lạc, bồ đề tâm kiên cố. Hẹn gặp tất cả quý vị tại DOUBLE TREE BY HILTON HOTEL ngày 25 tháng 7, 2019. Mọi chi tiết xin liên lạc: (650) 538-6900
Sau khi nói sơ qua về lịch sử Tây Tạng bị Trung Quốc chiếm giữ, TT. Nhật Từ có tiết lộ đến việc Trung Quốc bắt ép chính quyền Việt Nam nói chung và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cũng như chính quyền Thái Lan nói riêng không cho phép Việt Nam tổ chức Đại lễ Phật Đản Liên Hợp quốc Vesak năm 2019 tại Hà Nội Việt Nam (Phút thứ 4.15)…
Một đoàn thể sẽ suy tàn, một tổ chức sẽ điêu linh, nếu cái định mệnh của đoàn thể ấy gắn liền với sự đố kỵ: “gà nhà đá nhau”. Cho nên, đức Phật đã nhiều lần ân cần nhắc nhở, nếu mọi người biết tùy hỷ với thành quả của người khác, sẽ cùng nắm tay nhau đi đến sự thành công. Bằng không thì ngược lại, họ chỉ mãi sống trong tâm lý ích kỷ, đưa đến khổ đau cho nhau trong vòng ảo hóa xoay vần, “biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao”.
Xuất phát từ những ý tưởng của Chư Tôn Đức có hoài bảo đem ánh sáng Phật pháp đến với tầng lớp phật tử trẻ tuổi, các khóa tu mùa hè dành cho phật tử trẻ đã được tổ chức gần mười năm nay
Không ai có thể nói trước được chuyện gì sẽ xảy ra ở ngày mai, mặc dù ngày mai mặt trời vẫn lên, nắng vẫn lấp lánh trên cành lá và dòng sông vẫn lặng lẽ hiền hòa chảy quanh đồng cỏ như mọi ngày… Thiền sư Ajahn Chah khuyên chúng ta rằng: “Rồi sẽ có một ngày bạn phải vào bệnh viện, bạn hãy tâm niệm rằng: lành bệnh thì tốt nếu không lành bệnh thì cũng tốt thôi, trường hợp xấu hơn, thầy thuốc nói bạn chỉ còn sống một thời gian ngắn nữa, bạn hãy bình tĩnh nhìn những người đang ở chung quanh bạn và nghĩ rằng: Dù mau hay chậm rồi họ cũng sẽ như mình. Được như vậy bạn sẽ thấy vơi bớt những lo âu đang nặng trĩu trong lòng”.
Ngôn ngữ là một phương tiện để diễn tả đạo lý, nhưng thể thật của đạo thì vượt ra ngoài ngôn ngữ và tất cả ý niệm. Vì vậy, một khi chúng ta liễu tri được nghĩa chân thật của đạo thì lúc đó sẽ thấu tỏ được sự diệu dụng của phương tiện ngôn ngữ. Nếu xét về nghĩa thật của đạo, đó chính là chân tâm không sinh diệt hay chánh kiến vô lậu.
Khóa thiền nội trú song ngữ Việt-Anh 10 ngày cho cộng đồng người Việt và các sắc tộc khác, từ ngày 29/10/2019 tới ngày 09/11/2019.
Bốn chữ nầy dịch ra tiếng Việt có nghĩa là: “Cái Đức của chúng Tăng giống như biển cả“. Vậy cái Đức đó là gì? Và làm thế nào để có được cái Đức ấy? Đức tuy không có hình tướng nhưng tại sao có thể so sánh rộng và lớn như biển được?
Tâm từ vốn có sẵn, chỉ cần đánh thứcnuôi dưỡng để ngày càng lớn mạnh. Thiền rải tâm từ của Phật giáo là pháp tu căn bản giúp cho tâm từ phát triển. Trong bối cảnh sân hận và cái ác ngày càng lộng hành trên mọi phương diện của đời sống, thiền rải tâm từ có thể xem là liệu pháp cứu tinh cho nhân loại. Yêu thương không chỉ kêu gọi hay cầu xincần phải hành động, nuôi dưỡng, lan tỏa từ bản thân đến cộng đồng.
“Để phá hủy bất kỳ quốc gia nào, không cần phải sử dụng đến bom nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa. Chỉ cần hạ thấp chất lượng giáo dụccho phép gian lận trong các kỳ thi của sinh viên. Bệnh nhân chết dưới bàn tay của các bác sĩ của nền giáo dục đấy. Các tòa nhà sụp đổ dưới bàn tay của các kỹ sư của nền giáo dục đấy. Tiền bị mất trong tay của các nhà kinh tế và kế toán của nền giáo dục đấy. Nhân loại chết dưới bàn tay của các học giả tôn giáo của nền giáo dục đấy. Công lý bị mất trong tay các thẩm phán của nền giáo dục đấy. Sự sụp đổ của giáo dục là sự sụp đổ của một quốc gia”.
“Tuyên ngôn Venise của UNESCO nói: “Khoa học hiện đại đã tiến đến một biên giới, nơi đó SỰ GẶP GỠ của khoa học Tây phương với minh triết truyền thống tâm linh Đông phương là điều tất yếu. Sự gặp gỡ chắc chắn xảy ra đó sẽ đem lại cho nhân loại một NỀN VĂN MINH MỚI”
"Mọi người đến đây đều tuỳ tâm cả mà, vui thì trả tiền, không vui cũng… không sao!". Đó là câu nói hết sức vô tư kèm theo tiếng cười giòn tan đầy hào sảng của chị Phượng, người phụ nữ đứng sau chuỗi nhà hàng chay "ăn tuỳ bụng, trả tiền tuỳ tâm" độc nhất vô nhị cả Sài Gòn, thậm chí là cả… Việt Nam.
Chùa Hương Sen tổ chức 3 tours hành hương từ ngày 02/09/2019 đến ngày 07/10/2019
12 cầu thủ nhí của đội bóng Thái Lan và Ban Huấn luyện, những người cách đây một năm đã thu hút sự chú ý của toàn thế giới khi hơn hai tuần bị mắc kẹt trong hang động Tham Luang ngập nước, đã có buổi kỷ niệm bằng nghi thức Phật giáo vào ngày 24-6.
Đức Đạt Lai Lạt Ma tròn 84 tuổi vào ngày 6 tháng 7 và dường như ông đã suy nghĩ rất nhiều về người kế vị - đặc biệt về ngoại hình.
Học lý thuyếtthực hành Chánh niệm theo thời giankhông gian thích hợp cho mọi người. Ghi Danh Khóa Học Thiền Minh Sát (Sẽ bắt đầu mùa hè 2019)
Mời tham dự khóa tu hằng tuần với sự hướng dẫn của Sư Bà Như Hương tại Trung Tâm Sunshine - 13071 Brookhurst Str. Suite 197, Garden Grove, CA 92843.
Đức Phật còn dạy rằng: “Chẳng phải dùng hương hoa hoặc lễ vật cúng dườngtôn kính ta. Chỉ người thực hành theo giáo lý mới thật sự tôn kính Ta”. Vậy các chùa chiền hãy nên có 1 NGÀY TU HỌC 4 THÁNH ĐẾ thay vì quanh năm chỉ chuyên tu NIỆM PHẬT A DI ĐÀ. Khi tu học 4 THÁNH ĐẾ, chắc chắn Phật tử sẽ có trí tuệ hơn nhiều, sẽ được Đức BỔN SƯ THÍCH CA hoan hĩ hơn nhiều. (không còn bị đệ tử quên lãng!)
Chỉ còn vỏn vẹn 3 tuần nữa là đến Khóa Tu Học Phật Pháp Bắc Mỹ Lần Thứ 9. Kể từ ngày ra thông bạch/ thông báo đến ngày hạn chót gi danh là ngày 30 tháng 6 năm 2019 nhưng được sự đồng ý của Hòa Thượng trưởng ban tổ chức Khóa Tu Học Phật Pháp Bắc Mỹ lần thứ 9 này sẽ gia hạn thêm 1 tuần nữa để cho những vị nào chưa kịp ghi danh thì vẫn còn có cơ hội ghi danh tham gia khóa tu học lần này. Kính chúc quý Đồng hương Phật tử học viên xa gầngia quyến vô lượng an lạc, bồ đề tâm kiên cố. Hẹn gặp tất cả quý vị tại DOUBLE TREE BY HILTON HOTEL ngày 25 tháng 7, 2019. Mọi chi tiết xin liên lạc: (650) 538-6900