(Xem: 988)
Theo Tứ phần luật thì nguyên nhân Phật chế định sự an cư là do nhóm sáu người gọi là lục quần Tỳ kheo thường du hành trong nhân gian, bất cứ mùa nào, nhất là vào mùa mưa, họ dẫm đạp chết vô số côn trùng. Các cư sĩ thấy thế than phiền. Đức Phật hay biết việc ấy, Ngài khiển trách nhóm lục quần Tỳ kheo và chế định từ đó trở đi, hằng năm các Tỳ kheo phải an cư ba tháng vào mùa mưa, để tránh tình trạng đi ra đạp chết cỏ, trùng và để yên tĩnh tu dưỡng thân tâm.
(Xem: 602)
Ngày nay, cả hai hệ Phật giáo phương Nam và phương Bắc đều tự tứ theo truyền thống sau mùa an cư giải hạ. Chỉ có thời gian tổ chức không đồng bộ do sự dị biệt tính phái và ảnh hưởng bản sắc dân tộc vùng miền khi Phật giáo du nhập.
(Xem: 1090)
Giới luật Phật giáo không dành riêng cho đối tượng nào nhưng hàng xuất gia là đối tượng bắt buộc phải học giới luật Phật giáo.
(Xem: 1071)
Tôi nhận được bản thảo của quyển “Giới bổn Thức-xoa của Luật Tứ phần” do Thượng tọa Nhật Từ dịch và chú thích từ bản chữ Hán “Thức-xoa-ma-na-ni giới bổn” (式义摩那尼戒本) do Sa-môn Hoằng Tán (沙門弘贊) biên tập. Giới bổn này đã được Trưởng lão Thích Trí Quang dịch và xuất bản từ năm 1993. Tuy nhiên, việc dịch mới một tác phẩm thích ứng với điều kiện tu học của hành giả trong thời điểm hiện tại cũng là điều hết sức cần thiết. Bản dịch của Thượng tọa Nhật Từ có nhiều chú thích về thuật ngữ, giúp các Thức-xoa-ma-na, các Ni sinh đang ngồi trên ghế các trường Trung cấp Phật học, Trường Cao đẳng Phật học, hoặc đang tu học tại các tòng lâm tự viện, hiểu rõ hơn về các điều khoản giới luật một cách chi tiết, nhận thức rõ tầm quan trọng của Giới bổn và ứng dụng hành trì trong bối cảnh tu học của tự thân.
(Xem: 1809)
Giới Bồ-tát tại gia được đức Phật quy định trong “Kinh Ưu-bà-tắc giới”, đang khi giới Bồ-tát xuất gia được ghi chép trong “Kinh Phạm võng Bồ-tát giới”. Đây là hai bản kinh quan trọng về quy phạm hành vi của người tu học theo Phật giáo Đại thừa nhằm hoàn thiện đạo đức trọn vẹn, một trong ba trụ cột tâm linh cốt lõi của Phật giáo. Hai trụ cột tâm linh còn lại là trí tuệ và thiền định.
(Xem: 1177)
Giới Bồ-tát xuất gia được quy định trong “Kinh Phạm võng Bồ-tát giới”, đang khi giới Bồ-tát tại gia được ghi chép trong “Kinh Ưu-bà-tắc giới”. Đây là hai bản kinh quan trọng về quy phạm hành vi của người tu học theo Phật giáo Đại thừa nhằm hoàn thiện đạo đức trọn vẹn, một trong ba trụ cột tâm linh cốt lõi của Phật giáo. Hai trụ cột tâm linh còn lại là trí tuệ và thiền định.
(Xem: 1564)
Những năm gần đây tôi có công bố một số bài viết về mối liên hệ giữa Thiền tông sơ kỳ và giới luật, cả giới Thanh văn thuộc Luật tạng truyền thống lẫn giới Bồ-tát. Ban đầu tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu vấn đề này là quan trọng bởi vì nó liên quan đến việc phát triển các luật lệ của Thiền tông được gọi là “thanh quy” (清規).
(Xem: 2201)
Quyển “Giải thích giới luật và oai nghi của Sa-di” được Thượng tọa Nhật Từ dịch từ nguyên tác chữ Hán: “Sa-di luật nghi yếu lược tập chú” (沙彌律儀要略集註) của Hòa thượng Luật sư Quảng Hóa, là tác phẩm có giá trị đối với sự tu học của các Sa-di và người xuất gia trẻ tuổi.
Kinh
(Xem: 1784)
Bản dịch Việt này dựa vào phiên bản Pãli-Anh của nhà sư Tỳ Kheo Bồ-Đề (Bhikkhu Bodhỉ). Có nhiều chỗ tham chiếu với các phiên bản của nhà sư Ajahn Sujato và PTS. Bộ kinh gồm 4 quyển: Quyển 2 - Quyển Nhân-Duyên | Quyển 3 - Quyển Năm Uẩn | Quyển 4 - Quyển Sáu Cơ-Sở Cảm-Nhận Quyển 5 - Quyển Lớn (Saṃyutta Nikāya)
(Xem: 2199)
Bản dịch Việt này dựa vào phiên bản Pāli-Anh của nhà sư Tỳ Kheo BồĐề (Bhikkhu Bodhi, đại trưởng lão, học giả, dịch giả uyên thâm, nhà từ thiện). Có những chỗ tham chiếu với các bản dịch của nhà sư Ajahn Sujato và của PTS. – Để quý vị hình dung nhanh: Bộ Kinh MN này có 03 QUYỂN (PHẦN) được gọi là QUYỂN 1 [Năm Mươi Kinh Đầu], QUYỂN 2 [Năm Mươi Kinh Giữa], và QUYỂN 3 [Năm Mươi Kinh Cuối]. Mỗi Quyển có 05 Chương, mỗi chương có 10 bài kinh (riêng Chương 5 của QUYỂN 3 có 12 bài kinh). Do vậy toàn Bộ Kinh MN có 152 bài kinh, với QUYỂN 3 có 52 bài kinh.
(Xem: 3207)
Chánh kiến (Sammā diṭṭhi) có nghĩa là hiểu biết các pháp như chúng thực sự là, chứ không như chúng dường như là. Điều quan trọng, chúng ta phải nhận thức được rằng Chánh kiến trong đạo Phật có một nội hàm đặc biệt, khác hẳn với những gì thường được mọi người gán cho. Trong Phật giáo, Tuệ giác Chánh kiến có khả năng soi chiếu để thấy rõ năm thủ uẩn và hiểu được bản chất thực của nó, điều này có nghĩa là phải hiểu được chính thân và tâm con người. Để hiểu rõ hơn về Chánh kiến, chúng ta cần điểm qua lời dạy của Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) trong Kinh Chánh Tri Kiến:
(Xem: 4230)
của tác giả Nhuận Tâm Nguyễn Kim Cương với lời giới thiệu của Hòa thượng Thích Như Điển
(Xem: 2441)
Chân lý mà rỗng không và vi diệu, thì ý niệm tu tập bị dẹp bỏ, năm mắt hết soi, bốn trí mờ biết. Làm sao nằm bệnh mà gửi gắm sự biểu huyền của ‘vô thuyết’, báo chết mà tuyệt hẳn sự chương diệu của ‘vô ngôn’? Thế nhưng, chân tục tuy khác mà vô tướng không khác, động tịnh đổi khác mà ly ngôn ấy đồng.
(Xem: 2753)
.../...Thí như trong biển cả, nếu thuyền chở nhiều trân bảo, chắc sẽ nhanh chóng bị đắm chìm. Chánh pháp Như Lai không như vậy, mà sẽ bị tiêu diệt từ từ. Chánh pháp của Như Lai không bị đất làm hoại, không bị nước, lửa, gió làm hoại đi. Cho đến lúc chúng sanh ác xuất hiện ở thế gian, thích làm các điều ác, muốn làm các điều ác, thành tựu các điều ác; phi pháp nói là pháp, pháp nói là phi pháp; phi luật nói là luật; bằng pháp tương tợ mà cú vị thịnh hành. Bấy giờ Chánh pháp Như Lai mới chìm mất....
(Xem: 3139)
Tháng 10/2020 vừa qua, sách Cú Pháp Phạn Ngữ đã được ra mắt cùng độc giả quan tâm tới lĩnh vực Phạn học. Sách dày 464 trang, tác giả Jacob Samuel Speyer, biên dịch Việt bởi Đỗ Quốc Bảo (PhD.). Đây là công trình thuộc dự án Phạn học tiếp theo sau cùng các tác phẩm đã được phát hành trước đây: Giáo Trình Phạn Văn và Ngữ Pháp Phạn Ngữ.
(Xem: 589)
Tổng hợp bài giảng của thầy Tuệ Sỹ về Nhập Trung Luận.
(Xem: 2138)
Ngài Thế Thân (Vasubandhu) tạo Luận Câu-xá vào khoảng năm 900 sau khi Phật nhập diệt, tức khoảng thế kỷ thứ tư hay thứ năm Tây lịch, làm căn bản cho tác phẩm nổi danh khác cũng do Ngài viết hơn 30 năm sau là Duy Thức Tam Thập Tụng. Luận Câu-xá gồm 600 bài tụng và trường hàng, chia làm 8 hoặc 9 phẩm, gồm 29 hoặc 30 quyển theo sự sắp xếp của các luận gia về sau.
(Xem: 1113)
Ám ảnh bức bách duy nhất của mọi sinh vật chính là sự chết. Các sợ hãi khác chỉ là biến thái của sợ chết. Thế giới bị chinh phục, bị khống chế, bị điều động bởi sự chết. Kinh Phật nhân cách hóa nó thành một loại Ma. Theo từ nguyên, trong tiếng Phạn, mara là danh từ phái sinh từ động từ √mṛ: mriyate, nó chết. Mọi hoạt động của chúng sinh, mọi thứ được kể là văn minh tiến bộ, thảy đều là những biện pháp mà các loài lựa chọn để bảo đảm sự sinh tồn của bản thân và đồng loại. Thế nhưng, do nhận thức sai lầm, điên đảo, kết quả của những lựa chọn đại phần, nếu không muốn nói tất cả, thảy đều tai hại. Đức Phật thành Chánh giác, được mô tả là sau khi chiến thắng quân đội Ma và những quyến rũ của Ma. Các vị luận giải A-tì-đạt-ma cho rằng sợ hãi là một biểu hiện của phiền não. Đây là khía cạnh tiêu cực của sợ hãi. Mặt tích cực được biểu hiện nơi các yếu tố tâm sở thiện.
(Xem: 10301)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 8200)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 6167)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 5540)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
(Xem: 6141)
“Thân tác chứng thành tựu và an trú tịnh giải thoát”: Thế nào là gia hành của tịnh giải thoát này? Tu quán hành giả do phương gì nhập tịnh giải thoát định? Khi người mới bắt đầu sự nghiệp tu quán, trước hết cần phải nắm lấy hình thái thanh thọ, như thanh hành, thanh chi, thanh diệp, thanh hoa, thanh quả, hoặc nắm lấy hình thái thanh y, thanh nghiêm cụ tướng, hoặc nắm lấy đa dạng thanh tướng nào khác. Khi đã nắm lấy các thanh tướng như thế rồi, do lực thắng giải, tư duy tưởng niệm, quan sát an lập, tín giải sắc này là thanh tướng ấy.
CHUYÊN ĐỀ
Thưa mẹ, Suối vàng có rêu xanh? Dòng nào thuyền mẹ thả? Có bến bờ an vui? Nghì thu miền chín suối, Mẹ mang theo được gì? Dư vị một kiếp người? Hay ngày xưa chua xót? Giọng ngâm: Hồng Vân - Phổ nhạc Võ Tá Hân - Ca sĩ Xuân Phú và Hồ Quốc Việt
Trước nhất cha mẹ là những người ân cần nhất đã cho ta thân người Sau đó, đạo sư ân cần nhất trong việc trình bày giáo thiêng liêng. Cuối cùng con phải tự biểu lộ lòng ân cần to lớn nhất, Luôn luôn thành tâm với thân thể, lời nói và tâm ý với giáo pháp
Từ khi nào rằm tháng Bảy và lễ hội xá tội vong nhân đã đi vào tâm thứcvăn hóa Việt nam? Chúng ta không biết chính xác niên đai và xuất xứ của lễ này cùng với câu chuyên của Mục Kiền Liên cứu mẹ trong Tự Tứ – ngày chư Tăng mãn Hạ theo truyền thống Đạo Phật phát triển.
Sáng nay tình cờ xem một clip thấy hình ảnh một người cha ốm yếu đứng sau chiếc xe cứu thương chở hai quan tài của con đi hỏa táng, chiếc xe đậu trước nhà trên một đường phố vắng vẻ, người cha bước khấp khểnh tiễn đưa người con xấu số rồi quỳ xuống lạy mấy lạy.
Theo cái nhìn của nhà Phật, việc đốt vàng mã chẳng có một chút lợi ích nào cả cho người đã khuất và cho cả người sống (nếu có, thì rất hạn chếxuất phát từ ý niệm thiện lành nhưng chưa đúng chính pháp của người thực hiện). Như vậy, ‘Làm thế nào để có lợi ích thật sự cho người mất, cho ông bà tổ tiên và cho cả người thực hiện (người sống)?” là vấn đề bài kết tập này tập trung mổ xẻ trên nền tảng giáo điển Nikàya (Pali tạng) trong sự liên hệ tương ưng với giáo pháp Đại Thừa của Phật Tổ, ngỏ hầu giúp quý Phật tử (bất bộ phái) có cái nhìn khách quan và đúng đắn, qua đó hành giả có thể tùy duyên ứng dụng hoặc thực hành, mang lại lợi ích cho người mất, ông bà tổ tiên vv, cho cả chính người thực hiện, và hơn thế nữa.
Mùa Vu Lan năm nay bên cạnh bông hồng đỏ, trắng của những đứa con ngoan còn mẹ hay mất mẹ cài lên áo; ước mong rồi đến một năm nào đó rất gần như sang năm, sẽ có đóa hoa xanh, hoa tím… thêm màu nở từ những cõi lòng thấm nước mắt của những đứa con chưa ngoan biết hối cải, ăn năn trở về với Mẹ.
Hôm nay là ngày 15/8 dương lịch nhằm ngày mồng Tám tháng Bảy, Tân Sửu. Chỉ còn một tuần nữa là tới Rằm tháng Bảy. Rằm tháng Bảy âm lịch là ngày mà các chùa theo đạo Phật khắp nơi trên thế giới đều tổ chức Lễ Vu-Lan rất trọng thể. Lễ Vu-Lan từ lâu đã được xem như là ngày Lễ Báo Hiếu của những người con dành cho bậc cha mẹ. Hòa cùng nhịp tim của những người con thảo luôn nghĩ nhớ đến công ơn dưỡng dục sanh thành của cha mẹ nhất là vào mùa Vu-Lan báo hiếu này. Hôm nay chúng tôi muốn cùng quý vị tìm hiểu ý nghĩa bài kinh quan trọng luôn được tụng đọc trong ngày đại lễ Vu-Lan tổ chức tại các chùa Phật giáo Bắc tông. Đó là “Kinh Vu-Lan-Bồn” hay “Phật thuyết Vu-Lan-Bồn kinh” .
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina). Nếu an cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền an cư (Purimikavassà), còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An Cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An Cư (Pacchimikāvassā). Truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi là ‘An cư kiết hạ’, tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Sau rằm tháng tư âm lịch Chư Tăng theo truyền thống Đại thừa bắt đầu kiết túc an cư, cho đến hết ngày mười bốn tháng bảy âm lịch, làm lễ tự tứgiải hạ kết thúc mùa an cư.
Mùa thu hiền dịu và thân thương lại trở về với muôn loài cỏ cây vạn vật, mùa thu hắt hiu gợi cho hồn thi nhân nguồn cảm hứng dạt dào bởi những chiếc lá úa vàng rơi, mặt nước hồ thu trong veo, yên bình dễ phản chiếu một bầu trời ảm đạm. Nhưng đối với người con Phật, thì mùa thu là mùa Vu Lan, là mùa báo hiếu.
Con là Phật tử, hiện đang là sinh viên. Gia đình con thờ Bồ-tát Quán Thế Âm. Trong quá trình tu học, con thường trì chú Đại bi, niệm danh hiệu Bồ-tát và nhận được nhiều sự nhiệm mầu linh ứng không thể nghĩ bàn. Con chỉ thắc mắc một điều là, theo luật nhân quả, những gì xảy đến với con người trong hiện tại là do nhân duyên đã gieo trồng trong quá khứ. Nhưng khi trì niệm thần chú Đại bi, nhờ thành tâm trì chú, thiết tha nguyện cầu, được Bồ-tát cảm ứnggia hộ nên được thành tựu như nguyện (ví dụ như đau bệnh được lành, không con được con…) thì việc tu tập linh ứngluật nhân quả đang vận hành có gì mâu thuẫn không?
Thời gian trôi qua như nước chảy gầm cầu, thấm thoát mới đó mà đã là tháng bảy âm lịch rồi. Tháng bảy đối với người Việt chúng ta là tháng dành cho tâm linh. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ bao đời xem tháng bảy là tháng mà cửa ngục được mở ra để cho linh hồn những người đang bị giam giữ trở về thăm gia đình trên dương thế. Vì thế tháng bảy người Việt chúng ta thường làm những điều thiện lành để tích lũy phước đức hồi hướng cho ông bà tổ tiên ông bà cha mẹ đã khuất được siêu thoát.
Theo thói quen, người ta thường gọi phụ nữ là ‘phái yếu’ mặc dù thực tế không hẵn như thế. Trong nhà, vị trí của người mẹ là không thể thay thế, đó là chỗ dựa vững chắc, là thành trì đạo đứctâm linh của cả gia đình. Ngoài xã hội, người phụ nữ cũng chưa từng đòi hỏi một đặc quyền nào trong công việc. Từ những phẩm đức đáng trân quý như dịu dàng ôn hoà, nhẫn nhịn khiêm cung, vị tha và khoan hậu đã tạo nên một hình tượng tiêu biểu của nữ giới được tôn vinh là ‘phái đẹp’.
Cuốn sách Nguồn gốc hình thành và phát triển tín ngưỡng Quán Âm của tác giả Lý Lợi An, được nhóm dịch giả Thích Nguyên TúThích Nữ Chơn Thủy – Trần Huỳnh Thông làm việc tại Trung tâm Biên phiên dịch Tư liệu Phật giáo Quốc tế Vĩnh Nghiêm Tùng Thư thực hiện, với độ dày hơn 700 trang.
....Bản tin AP hôm 1/8/2021 kể về một vị lạt ma tái sinh, bây giờ đang còn là một học sinh trung học ở Minnesota, Hoa Kỳ. Đó là cậu bé có tên là Jalue Dorje, một em vị thành niên rất mực Hoa Kỳ, trưởng thành ở một khu ngoại ô thành phố Minneapolis. Và cũng như vô lượng thiếu niên trên đời này, cậu Dorje, bây giờ mới 14 tuổi, rất mực ưa thích môn thể thao bóng bầu dục, trò chơi Pokémon, và nhạc rap.
Muốn ít và biết đủ tiếng Hán gọi là “Thiểu dục-Tri túc”. Đây là hai khái niệm Phật học được đề cập nhiều trong Kinh tạng, Luật tạng cũng như trong Tạng vi diệu pháp. Bất cứ ai nếu muốn có an lạchạnh phúc thì phải sống với tâm muốn ít và biết đủ. Muốn ít nghĩa lòng tham dục được chế ngự, được điều tiết và khéo điều phục. Biết đủ nghĩa là bằng lòng với những gì mình hiện có. Từ bỏ lấy của không cho, không vì lòng tham mà não hại người khác. Biết đủ dù gặp hoàn cảnh nào cũng an phận tùy duyên và muốn ít thì không khổ não bản thân và không gây phương hại người khác. Cổ nhân thường nói: “Tri túc tâm thường lạc, vô cầu phẩm tự cao.”
NEW POSTING
Có thể nào con người CHẤM DỨT sự bưng bít dày dặc của trí óc để biến đổi như đá quý, khơi dậy nguồn sống đồng nhất? Làm sao con người có thể VƯỢT THOÁT sức thu hút của vật chất, thoát khỏi sự đồng hóa với hình tướng đã giữ chặt và giam hãm chúng ta từ lâu nay?
Phật Giáo Từ Ấn Độ Trực Tiếp Truyền Vào Việt Namtác phẩm nối tiếp ý niệm từ bài khảo luận Phật Giáo Từ Ấn Độ Trực Tiếp Truyền Vào Việt Nam Như Thế Nào? Của Lâm Như-Tạng (đã đăng vào: Tổng Tập I, II: Văn Học Phật Giáo Việt Nam Hải Ngoại Sưu Khảo. In tại California Hoa Kỳ 2010). Bài Khảo Luận nầy nay đã in lại và trở thành CHƯƠNG MỘT của tác phẩm nầy. Chương hai có tựa đề là: Việt Nam Phật Giáo Truyền Qua Trung Quốc .
Trước những sự kiện diễn ra trong cuộc sống hằng ngày, tôi đã từng ngày đêm thao thức với biết bao câu hỏi “ Tại sao ?”... Tại sao cuộc sống đầy rẫy những khổ đau, bất hạnh, bất như ý ? Tại sao cùng sinh ra làm kiếp người mà lại có muôn vàn khác biệt nhau ? Tại sao niềm vui thường chóng tàn, còn khổ đau, phiền não thì cứ triền miên như bất tận? Làm thế nào để hết khổ được vui ?
Có một câu chuyện tu thân mà tôi học từ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng (Tiểu Học) khi tôi còn mười, mười một tuổi tức cách đây 70 năm tại Hải Phòng mà tôi vẫn còn nhớ. Đó là bài Cách Sửa Mình như sau:
New Posting:Chương VI Bài 46 - Tam Bảo: Tam bảo là một từ gốc tiếng Hán, nhưng đã trở thành quen thuộc trong Phật giáo Việt Nam, nghĩa từ chương là "Ba viên ngọc quý", tiếng Phạn là Triratna, tri có nghĩa là ba, ratna có nghĩa là vật quý giá, viên ngọc, hay kho tàng. Ba viên ngọc quý biểu trưng cho Đức Phật, Dharma hay Giáo huấn của Ngài và Tập thể những người xuất gia cùng bước theo nền Giáo huấn đó, và họ được xem là những người có khả năng hướng dẫn kẻ khác.
Dịch bệnh Coronavirus bùng phát khắp toàn cầu trong vòng hai năm nay và nó đã gieo rắc rất nhiều bi thương, mất mát cho nhân loại. Một cuộc chiến một bên là những vi sinh vật không bóng không hình với một bên là hàng tỷ con người sống trên quả đất với niềm tự hào là chúa tể muôn loài với trí thông minh vượt trội. Thế nhưng, hình như đây là một cuộc chiến không cân sức và loài người ngày càng cảm thấy lép vế trước sự biến hóa khôn lường của những con virus nhỏ bé kia.
Phật pháp Bách vấn là tập hợp những bài nghiên cứu giải thích hoặc tư vấn cho độc giả đã đăng tải trên Báo Giác Ngộ. Một trăm vấn đềliên quan đến Phật pháp bao gồm cả hai phương diện học thuật, nghiên cứuứng dụng, thực nghiệm được trình bày một cách hợp lý, rõ ràng và khoa học. Có thể nói Phật pháp Bách vấn là một tác phẩm có tính bách khoa về đề tài, nội dung phong phú, lượng thông tin cao, hữu ích cho nhiều đối tượng độc giả.
Cuốn sách này không phải là để trình bày một phương pháp thiền hoàn chỉnh và có hệ thống nào cả. Đơn giản chúng tôi chỉ muốn chia sẻ với các bạn những điểm thực tiễn của phương pháp thiền tập này mà thôi. Những điều tư vấn dưới đây được dựa trên kinh nghiệm hành thiền và dạy thiền của Thiền sư Ashin Tejaniya. Chúng tôi hy vọng nó sẽ có lợi ích cho sự thực hành của bạn. Tuy nhiên, con người vốn chẳng giống nhau, do đó mà cũng có rất nhiều cách thức khác nhau để tu tập chánh niệm.
Đây là đề nghị những phương pháp mới dùng xét nghiệm, điều hành, chữa trị và phòng ngừa đại dịch Covid-19 theo cách nhìn cá nhân của một Bác Sĩ Đông Y, với mục đích giảm lây nhiễm, giảm chết người, giúp tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ và các nước trên thế giới.
Nhà Phật luôn chú trọng đến sự nuôi dưỡng đời sống tinh thần (nội tại) tránh xa sự đắm nhiễm vào vật chất nếu người đó muốn đi đến hạnh phúc. Từ cơ sở đó, một số nhà duy vật chưa tường tận được ý nghĩa trên đã cho rằng Phật giáo có chủ trương cản trở sự phát triển của xã hội, là nguyên nhân đưa đến sự lạc hậu của đời sống con người.
Đối với Phật giáo vấn đề cải tiến cùng thịnh suy, tôi sớm có tâm bệnh cảm hoài! Tịnh tọa nghĩ sâu lo lắng tinh tế, tăng già là người có đôi mắt thiên nhãn, đêm dài sáng như đèn, như con mới sanh của cha mẹ, thuyền từ qua biển khổ, từ chối người thân dứt bỏ tình yêu, vì người quên mình, công danh phú quý xem như phân đất, vinh nhục đặng mất lạnh nhạt như nước chảy, suốt ngày sinh hoạt, trà thô cơm lạt, áo cà sa ngăn lạnh, cử chỉ biểu tượng thân luật, thân tâm ít dục, cho hoằng pháp là nghĩa vụ, lợi sanhsự nghiệp
Một trong những trở ngại lớn nhất của hạnh phúc mà tôi thường quan sát thấy chính là sự sân giận. Điều này khiến tôi rất buồn. Có những sự sân ác tàn bạo ngự trị trong tâm của một kẻ khủng bố hay một ai đó muốn gây tổn thương người khác. Lại có những sự sân giận mà bạn có thể thường xuyên bắt gặp hàng ngày trên đường. Ngày nay, dường như người ta dễ dàng nổi sân kể cả khi không hề bị khiêu khích. Bạn có thể cảm nhận điều đó khi quan sát cách mọi người hành xử với nhau trong cuộc sống thường ngày.
Tháng 10 năm 2020, lúc hoàn mãn Pháp hội Drupchen (Đại Thành Tựu) Nyak Phurba mà Ngài tổ chức hằng năm tại Tsering Jong, nhà của Ngài ở Bir, Orgyen Tobgyal Rinpoche cảm tạ chư Tănggiải thích cho họ lý do Ngài cử hành nhiều Drupchen đến vậy. Bất kỳ ai kết nối với truyền thống này có lẽ sẽ muốn nghe, hay đọc, những giải thích của Ngài.
Khổ đau và hạnh phúc là nỗi trầm tư hàng đầu trong kiếp nhân sinh. Nhiều người cho rằng hai cảm thọ ấy là do nghiệp quyết định. Giáo lí nghiệp không phải là do Đức Phật sáng tạo ra mà đã có từ trước khi Phật giáo xuất hiện. Rất nhiều chủ trương khác nhau được đưa ra bởi các đạo sư ngoại đạo tự nhận là bậc toàn tri, toàn kiến. Trong đó, đạo Jain (Kỳ Na giáo) là một ví dụ điển hình. Như vậy, lập thuyết về nghiệp của Jain như thế nào? Sự thẩm định của Đức Phật về chủ thuyết ấy ra sao? Bài viết hy vọng sẽ góp một phần nào làm sáng tỏ hơn về giáo lí nghiệp đến với độc giả qua lăng kính Phật giáo.
Trong nền văn hóa của chúng ta, mọi người rất khó khăn để hướng sự yêu thương tử tế đến với chính bản thân họ. Chúng ta có thể cảm thấy mình không xứng đáng hoặc quá tự cao ích kỷ, hoặc là không nên vui vẻ trong khi những người khác đang đau khổ. Bởi vậy khi tôi bắt đầu thực hiện lòng yêu thương tử tế với chính mình, đó là truyền thống, tôi tìm thấy nhiều sự có ích hơn khi bắt đầu thực hành với những người mà ta yêu thươngquan tâm một cách rất tự nhiên.
New Posting: Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 372 ngày 15 tháng 8 năm 2021 và số 373 ngày 1 tháng 9 năm 2021 và số 374 ngày 15-9-2021
Thế giới đang hoảng loạn vì đại dịch toàn cầu SARS-CoV-2! Điều rất lạ là với những kỹ thuật văn minh nhất đại diện cho thành tựu khoa học vĩ đại nhất của loài người, càng lúc, càng nghiên cứu, thì con người càng tỏ ra mù mờ về nó.
Trí tuệtừ bi có phải chỉ riêng nhân loại mới có? Hay là, loài vật cũng có trí tuệtừ bi, nhưng ở mức sơ khai hơn? Cuộc nghiên cứu mới đây về heo rừng cho thấy những bất ngờ về mức độ cao của khôn ngoan và tình thương nơi một trường hợp khảo sát.
Trong kinh Di Giáo, Phật dạy: “Này các Tỳ kheo! Nếu các ông muốn thoát khỏi sự khổ não, nên suy nghiệm hai chữ “Tri túc”. Hễ biết đủ thì ở cảnh nào cũng yên vui. Người không biết đủ, tuy giàu mà nghèo; người biết đủ tuy nghèo mà giàu. Người không biết đủ thường bị năm thứ ham muốn lôi kéo, làm người biết đủ thương hại”. Đó là những gì mà Đức Phật muốn gửi gắm chúng ta qua lời dạy về pháp Thiểu dục Tri túc để chúng ta hành trì tu tập đạt đến sự giác ngộ, giải thoát viên mãn.
Ngành công nghiệp sản xuất thịt nằm trong số những nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất trên thế giới. Trong đó, việc sản xuất thịt bò tạo ra lượng khí thải nhiều gấp 4-8 lần so với thịt gà hay thịt lợn. Việc chăn nuôi động vật để lấy thịt cũng tiêu tốn nhiều tài nguyên (nước, đất, nhiên liệu) hơn so với việc trồng các loại hạt hay đậu.
Vào năm 1981, Hòa thượng Thích Trí Thủ, Trưởng ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam nói rằng: “Thật là vô lý khi suốt một đời người từ tấm bé đến lúc già nua chỉ mặc có một chiếc áo mà cũng vừa và hợp thời trang hay sao? Đạo Phật là đạo của khế cơ khế lý mà lại đứng yên một chỗ, một hình thái thì thật là kỳ cục và chỉ đưa đến sự hủy diệt mà thôi.”
Phụ nữ bị kỳ thị trong xã hội Ấn Độ cổ đại và Đức Phật là người đầu tiên đã mở ra một cuộc cách mạng bình đẳng giai cấp, bình đẳng giới lúc bấy giờ. Giáo pháp của Đức Phật nhấn mạnh đến sự làm chủ bản thân và tự tu tập giải thoát. Đức Thế Tôn đã mở ra lối đi mới cho phụ nữ, giúp họ vượt qua ranh giới bất bình đẳng. Ngài đã cho phép thành lập Ni đoàn và đề ra Bát kỉnh pháp để Ni đoàn thực hiện, nhằm giúp Chánh pháp trường tồn.
Trong đời sống thường nhật, nếu muốn được tự do tự tại tất phải thực hiện bằng được hai nguyên tắc “thiểu dục” và “tri túc”. Chỉ có thiểu dụctri túc chúng ta mới ngăn chặn được vô vàn tham muốn, dục vọng với đủ mọi hình thức và không điên cuồng tìm kiếm chúng như người đói khát.
Vào ngày 24 tháng 7 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Ấn Độ Narendra Modi cho biết, tư tưởng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rất phù hợp khi nhân loại đang đối mặt với cuộc khủng hoảng bởi đại dịch Covid-19, và khẳng định rằng Ấn Độ đã chỉ ra cách đối mặt thử thách với khó khăn nhất, bằng cách tuân lời vàng ngọc của Đức Phật, người sáng lập đạo Phật.
Thầy thuốc chỉ chữa được cái đau mà không chữa được cái khổ; chữa được cái bệnh mà không chữa được cái hoạn. Phật là bậc Y vương, giúp chúng sanh giải thoát mọi khổ đau ách nạn… Tại sao ta không học Phật? Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc Saigon, 2021
Xin mời quý độc giả xem bản PDF thông cáo báo chí của Hội Đồng Quản-Trị GHPGVNTTG và di huấn của cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Tâm Châu sau đây:
Đọc tư tưởng Sử Phật giáo, có lẽ ai cũng biết rằng hệ phái Theravāda (Thượng tọa bộ) cho đến ngày nay vẫn còn giữ được một giáo pháp rất gần với lời dạy nguyên thủy của đức Phật. Sự thật này, dĩ nhiên, đã phải kinh qua “sử tính” và “thời tính”; do vậy, nó đã bị phân hóa và biến đổi nhưng dòng chảy vẫn còn lưu giữ được tinh chất của những giọt nước trong mát tự đầu nguồn… Tuy vậy, không đơn giản, nó “nhiêu khê” lắm! Với tựa sách: “Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam Sử lược”, tôi muốn cung cấp cho độc giả 6 mục chính của nội dung:
Mất 11 năm khổ công tầm đạo, Đức Phật Thích Ca đã đạt đại giác ngộ sau 49 ngày quyết tâm thiền định dưới cội cây bồ đề. Nhưng Đức Thế Tôn đã đắn đo đến việc nên hay không nên đem giáo lý của Ngài vừa chứng được, ra truyền bá cho chúng sanh?
Từ lâu Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Nguyên thuỷ nói riêng đang cần có một công trình nghiên cứu kỹ lưỡng về quá trình lịch sử du nhập, hình thành và phát triển của Hệ phái Phật giáo Nguyên thuỷ Việt Nam, nhưng vẫn chỉ có một vài tập tài liệu đơn sơ, nhiều thiếu sót, vì hầu như chỉ là góp nhặt những thông tin cục bộ và rời rạc. Trong khi hậu thế cần biết rõ sự đóng góp của Phật giáo Nguyên thuỷ như thế nào cho lịch sử văn hoá dân tộc và cho đời sống tinh thần của Phật tử Việt Nam.
Chuyện lừa đảo không phải chỉ mới đây mà đã có từ ngàn xưa. Bị lừa có thể do khờ khạo, thiếu kinh nghiệm, ngay tình…nhưng nguyên do chính của “mắc lừa” là lòng Tham. Tại Hoa Kỳ, chuyện lửa đảo diễn ra từng ngày và có thể nhanh hơn thế nữa cho nên các nhà quan sát nói rằng “Tại Hoa Kỳ cứ mỗi phút lại có thêm một thằng khờ ” tức cứ mỗi phút lại có thểm một kẻ bị lừa đảo
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể khôngtrí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ.
"Chí đạo vốn ở tâm mình. Tâm pháp vốn ở vô trụ. Tâm thể vô trụ, tánh tướng tịch nhiên, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng sanh chẳng diệt. Tìm nó thì chẳng được, bỏ nó cũng chẳng lìa. Mê hiện lượng thì khổ lầm rối rắm. Ngộ chân tánh thì Không - Minh rỗng suốt.
Nghi lễ Phật giáo Việt Nam thời gian qua đã đóng góp thiết thựchiệu quả trong công cuộc hoằng pháp lợi sanh báo Phật ân đức; là phương tiện dẫn dắt chúng sinh vào đạo, rèn luyện thân tâm, hướng đến con đường giác ngộ, giải thoát. Như vậy, đạo Phật ngoài kho tàng triết lý còn có âm nhạclễ nghi để thức tỉnh lòng người bỏ mê quay về bờ giác.
Do người đời mình trần mắt thịt, họ không thấy được tiến trình nhân quả xuyên suốt ba thời gian. Họ chỉ căn cứ vào hiện tại, nếu thấy làm phước thiện mà chưa được quả báo tốt hiện tiền liền mất lòng tin, thậm chí cỏn phỉ báng, tránh xa các điều thiện, thật tiếc cho họ.
Vào thời Lý (1009 – 1226), Kinh Kim Cang Bát Nhã đã ảnh hưởng rất lớn trong thời đại này. Các Thiền Sư đời Lý phần nhiều dựa vào giáo lý của kinh Kim Cang Bát Nhã để tu tập, hành đạo và độ đời.
Video này được thực hiện để bày tỏ lòng tri ân đến Ajahn Brahm nhân ngày sinh nhật thứ 70 của Ajahn vào ngày 7 tháng 8 năm 2021. Phim có những đoạn phỏng vấn các chư tăng ni lỗi lạc, trong đó phải kể đến Thầy Somdet Thepsirin, Thầy Ganha, Thầy Bodhi, Thầy Analayo, Ni sư Dhammananda, Thầy Mettavihari và Ni sư Kusuma. Có những cảnh ở Tu viện Bodhinyana và Ni viện Dhammasara ở Tây Úc và một số cảnh ở Thái Lan.
Thiền là bạn trở về với chính mình, khám phá nội tâm để đạt được an vui và hạnh phúc. Các giác quan của chúng ta (nhìn, nghe, ngửi, nếm và sờ) có xu hướng hướng ngoại, dẫn đến chính ta cũng xuôi theo, trong khi Phật giáo hướng nội, giúp ta tìm hiểu thực sự nội tâm. Cuộc phỏng vấn Thượng Tọa Thích Tánh Tuệ trong video này về những bước đầu hành thiền, theo đó chúng ta thực hành trên con đường khám phá nội tâm chính mình.
Hòa thượng Giới Đức thuyết giảng về kinh nghiệm tu thiền tại Thiền Viện Phước Sơn (368 Bắc Sơn - Long Thành, Phước Tân, Long Thành, Đồng Nai, Vietnam) ngày 15 tháng 3 năm 2021
Theo tôi không thể có hạnh phúc nếu khôngtự do, và không ai ban tự do cho chúng ta cả; chúng ta phải tự mình nuôi dưỡng nó lớn lên. Tôi sẽ chia sẻ với các bạn làm sao có thêm được tự do.
Lời khuyên cốt tủy cho một Tulku không rõ tên.
Ấn ngữ tựa đề của luận điển này là Bodhipathapradipa, có nghĩa là Giác Ngộ Đạo Đăng Luận hay Ngọn Đèn Cho Con Đường Giác Ngộ. Thuật ngữ “bodhi” trong tiếng Sanskrit có nghĩa là Giác Ngộ và có ý nghĩa một là xua tan điều gì đấy và thực chứng hay hoàn thiện điều gì đó.
Qua Covid-19, đến biến thể Delta, hoành hành khốc liệt, đã “minh bạch” nhiều vấn đề, khiến cho toàn thế giới suốt hai năm (2020-2021) phải chịu nhiều khủng hoảng về nhiều mặt và đầy hoang mang lo sợ. Các nhà khoa học cũng phải cuống cuồng nghiên cứu, thử nghiệm, các nhà lảnh đạo hàng đầu thế giới với binh hùng tướng mạnh, tiện nghi vật chất hiện đại, thực hiện nhiều biện pháp, nhưng cũng chưa có gì khả quan, hữu hiệu, để ngăn ngừa dịch bệnh, mà phải thực hiện với một “thông điệp” được lặp đi lặp lại: “Bịt miệng, thường rửa tay và ở yên một chỗ” thì mới mong được an ổn.
Trong Trung A-hàm bài kinh nói về nhân duyên, Đức Phật có dạy: “Người thấy được nhân duyên là thấy pháp, người thấy được pháp là thấy Phật.” Vậy chúng ta thấu triệt được lý nhân duyên, các pháp duyên hợp hư giả, có hình có tướng đều là duyên hợp, tánh Không. Thấy được như vậy thì chúng ta không còn bị các thứ trói buộc. Không bị trói nghĩa là tự tại, tự tạian lạc Niết-bàn.
Không thể nói tôi tự chịu trách nhiệm cho cá nhân tôi, không liên can đến người khác. Không thể nói tôi muốn độc lập, tự do giữa một tập thể đang cùng nhau chống dịch bệnh..... Bình sinh, không ai cấm đoán ngăn trở tự do của bạn, nhưng trong một số trường hợp, nhất là trước cơn đại dịch nguy hiểm đang hủy diệt, tàn phá nhân mạng và kinh tế toàn cầu, mỗi người nên tự nguyện hy sinh chút quyền tự do cá nhân để góp phần bảo vệ sinh mệnhquyền lợi của số đông. Một mực đòi hỏi quyền tự dolợi ích cho bản thân khi bao nhiêu nhân mạng lần lượt nằm xuống là đã rơi vào vị ngã, ích kỷ. Đó không phải là hành xử của người nhân đức. Đó không phải là tâm thế của người học đạo.
Do nhu cầu trong đạo tràng Thiền Tánh Không Houston, có vài vị nêu thắc mắc rằng chuyên tu thiền Định một thời gian dài, đã có kinh nghiệm “định không tầm không tứ” hoặc cao hơn là đạt “trạng thái tâm trống rỗng” trong lúc tọa thiền, nay muốn chuyển qua Quán “Thân, Thọ, Tâm, Pháp” có gì trở ngại hay không? Vì thế, bài pháp này chúng tôi chọn tựa đề là “Quán: Thân, Thọ, Tâm, Pháp” để từ đó chúng ta có câu trả lời chính xác nên hay không nên.
New Posting: Tập san Chánh Pháp số 118 tháng 09 năm 2021: Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dươnglưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoátgiác ngộ cho những ai học hỏithực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc.
Chúng ta cần bắt đầu học hỏi về Phật giáo như thế nào? Theo chân một đạo sư tâm linh đủ phẩm tính là lựa chọn tốt nhất, trong khi tuân theo một cuốn sách Pháp đáng tin cậy là [lựa chọn] tốt thứ hai. Ví dụ, nếu bạn muốn học lái xe, bạn cần một người hướng dẫn lái xe; tương tự, nếu bạn chỉ dựa vào trí thông minh của bản thân và không có sự dìu dắt của một vị thầy đủ phẩm tính, điều đấy sẽ không dẫn đến tinh túy của thực hành Giáo Pháp.
Còn sống và bước đi trên mặt đất này là một phép lạ, nhưng hầu hết chúng ta lại chạy đi tìm hạnh phúc ở một nơi xa xôi nào đó như thể là có một nơi tốt đẹp hơn để đến vậy. Chúng ta mất rất nhiều thời gian để đi tìm hạnh phúc trong khi đó thế giới quanh ta tràn đầy những mầu nhiệm. Những vẻ đẹp của đất trời đang gọi ta từng ngày, từng giờ nhưng hiếm khi ta nghe được.
Tác phẩm “Luận Giải Về Nghiệp” này bao gồm hai phần: 1. Phần Một: Tử Và Tục Sinh, là bản dịch của tác phẩm “Kamma at Death and Rebirth”, và 2. Phần Hai: Đời Sống Bình Nhật, là bản dịch của tác phẩm “Kamma in This Life – How it Arises and Gives Its Result”. Những nguyên tác này bao gồm những bài Pháp về Nghiệp (Kamma) do Sayadaw Dr. Nandamālābhivaṃsa thuyết giảng với những trích dẫn từ Kinh Điển Pāḷi và những ví dụ minh họa từ đời sống thực tiễn.
Với việc Taliban tiếp quản Afghanistan, các chuyên gia đang lo lắng về số phận của Mes Aynak, một thành phố Phật giáo cổ đại cách thủ đô Kabul khoảng 40 km về phía đông nam. Từng là một điểm chính trên Con đường Tơ lụa, địa điểm này có khoảng 400 pho tượng Phật, Bồ tát, Thiện thần Hộ pháp và tranh vẽ trên tường khắp một tòa thành, nhiều cơ sở tự viện Phật giáo, bảo tháp và pháo đài nhỏ.
...Cho nên, tuy rằng còn sống tôi cũng xin dặn trước như vậy để các vị sau này nếu có sao cũng phó mặc cho vấn đề thôi. Nhân quả mà thôi, vậy chúng tôi xin tóm tắt duy trì Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Trên-Thế Giới ở tương lai là tùy theo ở các cấp, các vị tăng, ni có tài có đức cố gắng mà duy trì được càng tốt, nếu không duy trì được làm sao đơn giản hóa hay giải tán nó cũng chẳng có sao hết
Có một câu hỏi người Tây phương thường đặt ra về đạo Phật : « Đạo Phật là một triết lý, hay một tôn giáo? » Không biết quí vị và các bạn sẽ trả lời ra sao, nhưng theo tôi, có thể trả lời là: « Cả hai. Đạo Phật vừa là một triết lý, vừa là một tôn giáo »....
Thưa quý vị, Con virus corona đang khiến cả thế giới hoảng loạn chao đảo. Nhưng Phật dạy: “Không có gì là ngẫu nhiên”. Dường như nó cũng là một sự sắp xếp tưởng như vô tình mà lại hữu ý để loài người nhận ra những điều quan trọng, điều gì đó lớn hơn con virus...
Mối quan hệ giữa tôn giáoquyền lực là gì? Bởi các tác phẩm nghệ thuật Hymalaya trong bộ sưu tập tại Bảo tàng Nghệ thuật Rubin (RMA), có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống tôn giáo của Ấn Độ giáoPhật giáo cổ đại, nó là điểm khởi đầu hoàn hảo để điều tra mối quan hệ phức tạp này.
Cuốn “Cây giác ngộ” là một bức tranh minh hoạ toàn thể giáo lý Phật Giáo. Bức tranh này không những nhấn mạnh vào phần cốt lõi của Đạo Phật mà còn bao quát được Pháp lý thuần tuý và xác thực về toàn bộ mô hình Phật Pháp từ Nguyên Thuỷ đến Đại Thừa, Kim Cang Thừa, Vi Diệu Pháp rất có giá trị về phương diện tư tưởng cũng như rất có hệ thống về phương pháp nghiên cứu. Với nhiều dữ kiện dẫn chứng trung thực tác giả đã xây dựng được toàn bộ mô hình Phật Pháp bằng một lối văn trong sáng, ít dùng thuật ngữ, xen dẫn lịch sử, lý luận, giáo lý để phản ánh một nội dung thâm sâu theo nhãn quan Tây Phương hiện đại. Có thể coi đây là cuốn sách nhập môn Phật học hết sức tiện ích cho người mới bắt đầu tìm hiểu Đạo Phật, cả phương Đông lẫn phương Tây.
Trong miêu tả súc tích này về sự khác biệt giữa bạn tốt và xấu, Patrul Rinpoche giải thích những cách khác nhau mà trong đó, họ có thể ảnh hưởng đến tính cách của chúng ta theo hướng tốt và xấu.
Tôi biết tâm nguyện đạo hữu Chính Trung ấp ủ về ý tưởng viết cuốn “Đắc Nhân Tâm theo phong cách Phật Giáo” từ lâu, và tôi tán thán ý tưởng này, ủng hộ thực hiện và hứa viết lời giới thiệu khi sách hoàn thành. Đọc qua bản thảo, thấy đề mục của sách hoàn chỉnh tạo cho người xem cảm giác an nhiên, tĩnh tại và có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, lợi lạc cho người muốn tìm một phong cách sống của Phật Giáo giữa cuộc sống đời thường hối hả, bon chen, thực dụng xảy ra hiện nay trong xã hội chúng ta.
Qua cơn mổ sọ não vì tai biến mạch máu, Đỗ Hồng Ngọc đến với Thiền học, Phật học để tiếp nối hơn 40 năm gắn bó với ngành y, để “dấn thân” hết mình theo tiếng gọi sâu thẳm của Y Vương: “Cũng vậy. Khi tôi bị một vố bệnh nặng - tai biến mạch máu não, phải mổ cấp cứu - sau đó tôi đã tìm cách tự chữa trị cho mình. Tôi biết trường hợp này thuốc men chỉ là phụ, cái chính là thay đổi nếp sống, thay đổi nếp nghĩ, nếp nhìn. Tôi tìm đến Thiền học, Phật học là vì thế. Mình là bác sĩ, bất quá chữa được một phần cái “đau” còn cái “khổ” mình không chữa được.
Tác phẩm Muôn Kiếp Nhân sinh tập 1 của tác giả Nguyên Phong xuất bản giữa tâm điểm của đại dịch đã thực sự tạo nên một hiện tượng xuất bản hiếm có ở Việt Nam. Cuốn sách đã khơi dậy những trực cảm tiềm ẩn của con người, làm thay đổi góc nhìn cuộc sống và thức tỉnh nhận thức của chúng ta giữa một thế giới đang ngày càng bất ổn và đầy biến động. ….Tiếp nối các kiếp sống kỳ lạ của Thomas ở nền văn minh Atlantis và Ai Cập hùng mạnh ở tập 1, Muôn Kiếp Nhân Sinh tập 2 là cuộc hành trình vô tiền khoáng hậu tiếp theo của Thomas trên chuyến tàu xuyên thời gian - không gian trải dài từ nước Mỹ đương đại, ngược về vùng sa mạc Lưỡng Hà Assyria cho đến Hy Lạp, Ba Tư, Ấn Độ cổ đại qua những cuộc chinh phạt của Alexander Đại đế. …Không chỉ là những bài học sâu sắc về Nhân quả của Thomas, Muôn Kiếp Nhân sinh tập 2 còn vén bức màn bí ẩnkhám phá hành trình bất tận của những linh hồn qua các tầng cõi, trạm trung chuyển trong muôn vàn kiếp sống...
Trí tuệtừ bi có phải chỉ riêng nhân loại mới có? Hay là, loài vật cũng có trí tuệtừ bi, nhưng ở mức sơ khai hơn? Cuộc nghiên cứu mới đây về heo rừng cho thấy những bất ngờ về mức độ cao của khôn ngoan và tình thương nơi một trường hợp khảo sát.
Vào ngày 24 tháng 7 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Ấn Độ Narendra Modi cho biết, tư tưởng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rất phù hợp khi nhân loại đang đối mặt với cuộc khủng hoảng bởi đại dịch Covid-19, và khẳng định rằng Ấn Độ đã chỉ ra cách đối mặt thử thách với khó khăn nhất, bằng cách tuân lời vàng ngọc của Đức Phật, người sáng lập đạo Phật.
Xin mời quý độc giả xem bản PDF thông cáo báo chí của Hội Đồng Quản-Trị GHPGVNTTG và di huấn của cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Tâm Châu sau đây:
Xin Phổ Biến Rộng Rãi Số Phone Cần Thiết Cung Cấp Oxy , Mai Táng, Cấp Cứu Miển Phí Không Đồng Trong Mùa Dịch 1-Cung Cấ́p Oxy :Miễn Phí Số Đt. 077.7755.222 Cô Hạnh 0918.999.651 2-Mai Táng Không Đồng Từ A-Z Số Đt. 0949.050.789 Cô Cúc 0705.705.115 3-Cứu Thương Không Đồng, Oxy Miễn Phí Số Đt. 0824.606 606 0582.464 646 Chú 8 Sang 0906 963 943
Kính chia sẻ cùng chư Tôn đức, Pháp hữu và qúy Phật Tử Lịch Pháp thoại và khóa tu tại Hoa Kỳ trong tháng 9, 10, 11 & 12 2021 với sự chia sẻ của Thầy Thích Tánh Tụê.
Chương trình đào tạo Cổ ngữ Sanskrit cơ bản lần đầu tiên được tổ chức học online theo tiêu chuẩn Châu Âu, do TS. ĐỖ QUỐC BẢO (Đại học Heidelberg, Đức quốc) phụ trách.
Hương Tích Phật Việt hân hạnh giới thiệu chương trình đào tạo Cổ ngữ Sanskrit cơ bản lần đầu tiên được tổ chức học online theo tiêu chuẩn Châu Âu, do TS. ĐỖ QUỐC BẢO (Đại học Heidelberg, Đức quốc) phụ trách.