(Xem: 729)
Lâu nay ở các giới đàn, tình trạng tổ chức lệch lạc, không đúng luật rất nhiều, dẫn đến phi pháp. Ở góc độ kiến giải của các Luật sư theo truyền thống Bắc tông thì “giới tử không biết, không nghi thì vẫn đắc giới, chỉ có giới sư là phạm luật”. Nhưng đối với kiến giải của truyền thống Nam tông thì giới sư không đúng pháp, giới tử không đắc giới, dù giới tử không biết. Ngay cả khi vị giới sư phạm luật mà không biết mình phạm, thì các vị khác cũng cần chỉ lỗi để vị ấy biết mà như pháp sám hối, không nên nể nang nhau mà im lặng.
(Xem: 1493)
Bốn bộ luật tiểu Tỳ ni – Sa di – Oai nghi – Cảnh sách của Tổ Quy Sơn, Tổ Châu Hoằng,….Các Ngài là bậc long tượng trong thiền môn, vì thương hàng hậu học các Ngài chỉ thẳng phương pháp hóa giải tập khí của hàng xuất gia khi mới bước chân vào đạo, phải nói bốn bộ luật tiểu này được xem là khuôn vàng thước ngọc, là cẩm nang gối đầu giường của hành giả tu tập. Sách này không những là cơ sở cho giới cụ túc mà cũng là nền tảng cho giới Bồ-tát
(Xem: 477)
Giới hạnh của người tu liên quan đến sự thịnh suy của Phật pháp một cách mật thiết. Như vậy, chỉ có giới luật mới tạo nên đức hạnh của người tu, đồng thời cũng góp phần xây dựng cho chúng ta thành những chiến sĩ trên mặt trận đạo đức, tạo nền tảng cho Phật pháp hưng thịnh.
(Xem: 2623)
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Chẳng những thân không phạm, luôn cả cái “không phạm” cũng không còn", tức thân tâm đều dứt, luôn cả cái dứt cũng không có, như thế đối với vô thượng bồ đề mới có hy vọng.
(Xem: 3831)
Ngôi trường Vạn Hạnh, giờ đây vắng bóng thêm một bậc thầy giáo thọ kính yêu... Chúng con từ phương xa kính hướng về Vạn Hạnh, thành kính đảnh lễ nguyện cầu Giác linh Hòa Thượng tân viên tịch thượng phẩm thượng sanh, cao đăng Phật quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta bà, để tiếp tục công cuộc giáo dục hoằng Pháp lợi sanh.
(Xem: 2057)
Các tiêu chuẩn đạo đức và các hành vi đạo đức nhằm mục đích đem đến cho con người và xã hội một cuộc sống hạnh phúc. Ban zeladze, một tư tưởng gia phương Tây, viết: "Vấn đề lý tưởng tối cao và ý nghĩa của cuộc sống thực chất là vấn đề hạnh phúc. Con người là giá trị cao nhất, là cơ sở, là ngọn nguồn của mọi giá trị, mọi thứ đều là phương tiện cho con người và cuộc sống của con người
(Xem: 3898)
Giới là một trong ba môn học vô lậu của Giới, Định và Tuệ chỉ có trong giáo pháp của Đức Phật thường được hiểu là Giới hạnh và vị trí của nó đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo lý Phật giáo. Sự học tu tập về Giới là một việc rất đương nhiên đối với những ai khát khao sự thanh tịnh. Ở đây, thanh tịnh nên hiểu là Niết-bàn1
(Xem: 3298)
Quyển Tỳ-ni mà quý vị đang có đây, được tôi mở đầu bằng trọn bản Việt dịch ‚Phật Thuyết Hy Hữu Giảo Lượng Công Đức Kinh‛, đây là Kinh văn Đức Phật giảng giải về công đức thọ trì Giới pháp. Phần sau là Tỳ-ni và Giới bổn, do tôi biên dịch từ nguyên bản Hán văn ‚Tỳ-Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu‛ đã nói ở trên, đồng thời soạn lại bố cục, nội dung và lấy tựa đề là ‚Pháp Kệ Tỳ-Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu‛
Kinh
(Xem: 1301)
Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh Sớ, còn gọi là Tuệ Tịnh Sớ, của Pháp sư Tuệ Tịnh (578 - 653) là một trong những chú sớ sớm nhất sau khi ngài Huyền Trang dịch Tâm Kinh vào năm 649. Khi ấy ngài Tuệ Tịnh đã già nên thối thác lời thỉnh cầu tham gia dịch trường từ vua Đường Thái Tông, dù trước đó ngài là đại dịch giả trước cả Huyền Trang, bút thọ giúp ngài Ba-la-phả-mật-đa-la chuyển dịch Phạn - Hán tác phẩm Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, từ năm 630 - 633.
(Xem: 584)
Đây giải về 38 điều Hạnh Phúc mà Đức Thế Tôn là đấng thượng sư tự thuyết ra có ý nghĩa như vầy
(Xem: 480)
Tôi hân hạnh đọc bộ Kinh Thơ Hoa Nghiêm của Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng pháp danh Như Ninh thực hiện ròng rã trong nhiều năm, với khoảng gần bốn ngàn câu song thất lục bát thi hóa hết sức chuẩn mực, đúng âm vận đã diễn tả được hình ảnh của hành giả thực hiện Bồ tát đạo giữa dòng đời nhân thế theo tinh thần Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.
(Xem: 860)
Mangala có nghĩa la “hạnh phúc” – “Phúc đức” - “ Điềm lành” – “Phước lành”. Hay nói một cách bao quát hơn, rộng nghĩa hơn Mangala là những nguyên tắc tạo cho con người thực hành đưa đến một đời sống an lạc, hạnh phúc, lợi mình, lợi người; một nền tảng xây dựng xã hội an lành, đạo đức. Một đạo đức nhân thân đưa đến thành công trong đời sống. Vì thế, không phải là bản kinh chỉ để tụng đọc mà là để hành trì. Đây là bài kinh quan trọng đến độ, một chú tiểu vào chùa tại Miến điện, đầu tiên được dạy bản kinh này; thậm chí một số sư thuộc lòng, xem đó là bản kinh gối đầu giường và là bản đồ dẫn đạo suốt lộ trình tu tập.
(Xem: 768)
Bây giờ chúng ta hãy đi sang phẩm thứ 25, Phẩm Phổ Môn. Phổ môn là cánh cửa phổ biến, cánh cửa mở ra cho mọi loài đi vào. Cánh cửa này không chỉ mở ra cho một hay hai, ba hạng người, mà tất cả mọi loài đều có thể đi qua cánh cửa đó để vào Phật Pháp. Tiếng Anh là Universal Door. Đây là một Phẩm được tụng đọc nhiều nhất của kinh Pháp Hoa, và được gọi là kinh Phổ Môn (Samantamukha) hay là kinh Quán Âm.
(Xem: 902)
"Quán" là xem xét, "Thế Âm" là âm thanh của thế gian. Quán Thế Âm là xem xét âm thanh thế gian, tiêu biểu cho lòng từ bi của Bồ-tát. Ngài lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh, khởi lòng thương xót đến cứu độ cho hết khổ. "Phổ Môn" là cái cửa thông suốt khắp tất cả. Bồ-tát Quán Thế Âm tu hạnh từ bi, hay lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh mà hiện thân để hóa độ.
(Xem: 3528)
Thiền sư Đại Điên Bảo Thông (732 - 824) là tăng sĩ đời Đường, tác giả Bát nhã tâm kinh chú giải. Minh Châu Hương Hải (1628 - 1715), thiền sư Việt Nam thời Hậu Lệ, có viết tác phẩm Giải Tâm kinh Đại Điên, bằng chữ Nôm, tức là dịch Việt bản Tâm kinh chú giải của Đại Điên; bản dịch ấy mang ký hiệu AB. 530 của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm. Các bản Tâm kinh chú sớ từ Trung Hoa được chư Tổ VN thỉnh về từ thế kỷ 15 trở về sau, gồm có: Tâm kinh Thiêm túc của sa môn Hoằng Tán, Tâm kinh trực thuyết của đại sư Hám Sơn và Tâm kinh chú giải của hòa thượng Đại Điên.
(Xem: 4148)
- Dhammapada là tập hợp 423 bài kệ do đức Phật thuyết ra trong nhiều dịp khác nhau, được sắp xếp trong 26 phẩm. Mỗi bài kệ chứa đựng một nội dung tu học rất sâu sắc và phong phú, không thể nào chỉ đọc một lần mà hiểu hết được. Cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần, tra cứu các bản chú giải, và suy nghiệm từ các tu chứng tự thân thì mới mong thông ngộ và thấu đạt ý nghĩa của các lời dạy cao quý đó. Vì thế, bộ Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā) do đức Cố Trưởng lão Hòa Thượng Pháp Minh dịch trọn vẹn chia thành bốn bộ xem như là bộ Chú giải căn bản nhất được hoàn thiện tại Việt Nam. Nếu đọc qua bài kệ, chúng ta chưa hiểu được hết ý nghĩa sâu xa thì chắc chắn đọc qua bộ Chú giải này, chúng ta sẽ hiểu thêm được duyên sự câu kệ và cả ý nghĩa mà đức Phật muốn nói đến. Mỗi một bài kệ, mỗi một duyên sự là một đề tài tu tập, một hướng đi mới cho mỗi người con Phật trên con đường tu học để tiến đến đạo quả giải thoát.
(Xem: 4210)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 5772)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 4186)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 4006)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
(Xem: 4024)
“Thân tác chứng thành tựu và an trú tịnh giải thoát”: Thế nào là gia hành của tịnh giải thoát này? Tu quán hành giả do phương gì nhập tịnh giải thoát định? Khi người mới bắt đầu sự nghiệp tu quán, trước hết cần phải nắm lấy hình thái thanh thọ, như thanh hành, thanh chi, thanh diệp, thanh hoa, thanh quả, hoặc nắm lấy hình thái thanh y, thanh nghiêm cụ tướng, hoặc nắm lấy đa dạng thanh tướng nào khác. Khi đã nắm lấy các thanh tướng như thế rồi, do lực thắng giải, tư duy tưởng niệm, quan sát an lập, tín giải sắc này là thanh tướng ấy.
(Xem: 3296)
Bí-sô nên biết! ở đây, vị Thánh đệ tử, bằng đặc điểm như vậy tùy niệm chư Phật, nghĩa là vị Thế Tôn ấy là bậc Như Lai, A-la-hán, nói chi tiết cho đến: Phật Bạc-già-phạm”. Hoặc có vị Thánh đệ tử nào bằng đặc điểm như thế tùy niệm chư Phật, những gì là niệm tương ưng với kinh nghiệm nhận thức, mà kiến là căn bản: tùy niệm, chuyên niệm, ức niệm, không quên, không mất, không rơi sót, không rò rỉ, không mất trạng thái của Pháp, trạng thái ghi nhớ sáng suốt của tâm. Đó gọi là tùy niệm Phật.
(Xem: 4142)
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi Tử lại nói với đại chúng: Cụ thọ nên biết! Đức Phật đối với mười pháp sau khi đã tự mình khéo thông đạt, hiện đẳng giác, liền tuyên thuyết khai thị cho các đệ tử. Hôm nay chúng ta nên hòa hợp kết tập, để ngăn ngừa sau khi đức Phật diệt độ xảy ra sự tranh cãi, khiến cho pháp luật tùy thuận phạm hạnh được an trụ lâu dài mang lại lợi lạc cho vô lượng hữu tình; lại vì thương xót thế gian, chúng chư thiên và nhân loại, khiến cho họ có được nghĩa lợi an lạc thù thắng. Những gì là mười pháp? Ở đây khái lược có hai loại mười pháp, đó là mười biến xứ và mười pháp vô học.
(Xem: 4196)
Theo nghiên cứu của các học giả Abhidharma hiện đại, đại biểu như Đại sư Ấn Thuận, sáu túc luận A-tì-đạt-ma lấy Phát trí luận làm bản luận[1]. Việc nhóm tập sáu túc luận thành một tổ hợp hay nhóm mục, sớm nhất phải kể đến luận Đại trí độ, trong đây khi Long Thọ đề cập đến “lục phần A-tì-đàm”[2], đồng thời nói đến “thân nghĩa tì-đàm”[3]. Thân: ở đây chỉ cho Phát trí luận[4], nghĩa này Đại Tì-bà-sa luận nói rằng, thời đại của ngài Long Thọ đã thường gọi Phát trí luận là thân, sáu túc luận kia là chi phần. ....
CHUYÊN ĐỀ
Nói đến lễ Vu Lan thì ai cũng biết đó là mùa báo hiếu, đề cao, tưởng nhớ công ơn sinh thành của bậc cha mẹ nhất là mẹ. Có nhắc nữa chỉ phiền lòng quí bạn, than: “Khổ lắm, biết rồi, nói mãi„ nên trong bài này tôi không nhắc nữa, vì khi Quí bạn đọc bài này, Quí bạn đã là người con hiếu thảo nên mới quan tâm về lễ Vu Lan. Tuy nhiên, vì Quí bạn không tham dự nên tôi mới kể bạn nghe những diễn tiến tại Tu viện Viên Đức trong dịp lễ giữa mùa dịch bịnh còn đang hoành hành này.
Kinh Pháp Hoa (saddharma puṇḍarīka sūtra) là một trong những bộ kinh thuộc truyền thống Đại thừa (mahāyāna), hay còn gọi là Phật giáo phát triển. Trong quan điểm của các nhà Phật học từ trước đến nay, tư tưởng và triết lý của Kinh Pháp Hoa có một vị trí đặc biệt quan trọng, nhất là khi đối diện với những vấn nạn của con người trong thời đại chúng ta.
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina). Nếu an cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền an cư (Purimikavassà), còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An Cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An Cư (Pacchimikāvassā). Truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi là ‘An cư kiết hạ’, tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Sau rằm tháng tư âm lịch Chư Tăng theo truyền thống Đại thừa bắt đầu kiết túc an cư, cho đến hết ngày mười bốn tháng bảy âm lịch, làm lễ tự tứgiải hạ kết thúc mùa an cư.
Hôm ấy là Mùa Vu Lan, các Chùa cứ thay phiên nhau làm lễ bông hồng cài áo. Tôi ngồi buồn thỉu, buồn thiu nhìn bông hoa hồng trắng cài trên áo. Nhớ ngày tôi mất mẹ mới thật thê thảm, vì chưa ngộ được lý vô thường nên tôi không chấp nhận được việc khi đi làm về vào phòng chào mẹ chẳng thấy bóng bà. Tôi vật vã, thương nhớ khôn nguôi.
Có phải bất công lắm không khi hằng năm vào dịp Vu Lan, trên thế gian này không biết bao nhiêu Văn nhân, Thi sĩ, Nhạc sĩ múa bút tán tụng tình Mẹ: Huyền thoại mẹ, Phật giáo tôn vinh giá trị những bà mẹ, lạm bàn về mẹ, tản mạn về mẹ..v.v..và..v.v... bên cạnh đó, dường như mọi người vô tình đã bỏ quên một thứ tình cũng nồng nàn không kém, đôi khi còn thắm thiết hơn, đó là tình cha. Vâng, tôi có một người cha như thế.
Chúng ta phải tập tánh nghe từ ngay trong chính mình. Tóm lại, xã hội chúng ta đang không biết lắng nghe. Chúng ta phóng tâm theo những chuyện bên ngoài nhiều quá, không lắng nghe quanh mình còn bao nhiêu tiếng thở than, bao nhiêu nỗi băn khoăn, bao nhiêu oan khuất, bao nhiêu trăn trở. Liệu có bao nhiêu người trong chúng ta về nhà hỏi han cha mẹ một lời, nghe các cụ tâm sự về nỗi đời riêng cần chia sẻ. Phần đông chúng ta sống thờ ơ, hững hờ.
Sau khi đắc quả A-la-hán, Tôn giả Mục-kiền-liên vận thần thông đi khắp các cõi tìm người mẹ đã khuất. Thấy mẹ đang chịu đói khát khổ sở trong kiếp ngạ quỷ, Ngài đau lòng vô cùng, vội dâng lên mẹ bát cơm. Lòng bỏn sẻn tham lam chưa dứt, bà sợ chúng ma cướp giật nên đưa tay che bát cơm. Nhưng cơm đã hóa thành lửa đỏ!
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.
Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật! Kính bạch Chư Tôn Đức Tăng Ni! Kính thưa quý vị Phật tử! Nhân mùa Vu-lan năm 2020, con xin đảnh lễ, kính chúc chư Tôn đức Tăng Ni thêm một tuổi đạo, thành công hơn nữa trong các Phật sự, nhằm mang lại lợi íchphúc lạc cho nhân sinh. Con kính chúc các bậc làm cha mẹ thêm một tuổi đời, làm nền tảng đạo đứchạnh phúc cho con cháu trong gia đình và họ tộc. Con kính chúc tất cả các anh chị, các cháu thanh thiếu niên, đề cao đạo lý hiếu kính cha mẹ ông bà, thể hiện tinh thần tự lập, xa lánh các thói hư tật xấu, các thói quen nghiện ngập, hưởng thụ ăn chơi, để sống một cuộc đời hữu ích, và làm cho cha mẹ được hạnh phúc hiện tiền. Nhờ đó, có một tương lai tươi sáng.
Lễ báo hiếu cha mẹvăn hóa ứng xử của những người con thảo, cháu hiền trên giáo lý tri ân, báo ân. Năm 2020, đại dịch COVID-19 2 lần xuất hiện tại Việt Nam buộc toàn thể Giáo hội Phật giáo Việt Nam bất đắc dĩ triển khai các công tác tổ chức Đại lễ Phật đảnĐại lễ Vu-lan ONLINE – một điều chưa từng có trong suốt 2.564 Phật lịch
Mẹ thân mến, mẹ âu yếm bảo vệ khi con còn nhỏ, Mẹ dạy dỗ bằng tình yêu thương và nói với con những lời dịu ngọt, Mong con dẫn dắt mẹ trên con đường của Quán Thế Âm. OM MANI PADME HUM HRIH
Nhân mùa Hiếu hạnh tôi xin kể mọi người câu chuyện về một bà Mẹ ở Miền Trung, vùng sông Hương núi Ngự. - Chồng mất sớm, bà ở vậy nuôi con được 25 năm, lúc con gái khôn lớn sang Mỹ sống và thành công ở Mỹ, tháng nào cũng gởi về cho bà một lá thư và vài trăm usd để bà tiêu xài. Thời gian cứ mãi trôi đi, hết Xuân nầy đến Xuân kia. Cô con gái luôn viện cớ nầy cớ nọ, không một lần về thăm người Mẹ ở quê nhà.
Vu Lan về… Vu Lan cũng như Giáng Sinh, không còn là ngày lễ riêng tôn giáo. Đó là những dấu son thời gian của nhân văn ghi đậm nét cảm xúc của con người. Nếu Giáng Sinh là ngày lễ của Ân Tình thì Vu Lan là ngày lễ Nhớ Mẹ.
Tháng 7 là mùa Vu Lan báo hiếu. Đó là câu chuyện về một đại đệ tử của Đức Phật: Tôn Giả Mục Kiền Liên đã cứu thoát mẹ mình là bà Thanh Đề thoát ra khỏi ngục tối. Câu chuyện của người con chí hiếu Mục Kiền Liên đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận suốt mấy nghìn năm qua, để rồi, Phật Giáo truyền đến đâu thì cùng với tinh thần từ bi, hỉ xả, vô ngã, vị tha, những người con của Đức Phật noi theo tấm gương hiếu hạnh của Mục Kiền Liên để đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục.
NEW POSTING
Trong vài tuần qua, người dân Hoa Kỳ được biết đến một bản văn mang tính kiến nghị có tên là "Tuyên bố Great Barrington" phản đối chính sách phong tỏa xã hội (lockdowns strategy) để ngăn chặn đại dịch và ủng hộ chiến lược tự do lây nhiễm SARS-CoV-2 (Covid-19) ở những người trẻ, khỏe mạnh, nhằm đạt được miễn dịch cộng đồng. Bản kiến nghị này được đặt theo tên một thị trấn của bang Massachusetts, Hoa Kỳ và được hai quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc phát biểu trong một cuộc họp báo
Sáng hôm qua, (ngày 18 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 4 xã Hải Thiện, Hải Lăng, Hải Ba, Hải Dương, Hải tại Tỉnh Quảng Trị. Xã Hải Thiện phát 170 phần quà, xã Hải ba & Hải Lăng 180 phần quà, xã Hải Dương 150 phần quà. Thật may mắn cho đoàn là cả ngày trời không mưa nên công việc cứu trợ được thuận duyênthành tựu viên mãn.
Quê hương miền Trung, ngàn đời vẫn vậy, bão lũ luôn rập rình xua tan mọi công sức bòn góp từ mồ hôi nước mắt của người dân; cứ vài năm một lần lũ lụt về thăm viếng như ân oán ngàn đời theo lời thệ ước. Thế gian có bao nhiêu loại kỳ hoa dị thảo, con người có bấy nhiêu nỗi sầu lấp lánh chập chờn trên sóng nước bể dâu; nước mắt đau thương nhiều hơn biển cả, phải chăng kiếp sầu là kết quả từ vô thủy tham si.
Tất cả nhân loại không quý gì bằng sinh mệnh, sinh mệnh được coi trọng nhất trên trần gian này. Bởi vì tất cả của cải sự nghiệp, danh vọng tài sắc… đều để tô điểm cho sinh mệnh. Mất sinh mệnh, tất cả cái ấy trở thành vô nghĩa. Song sinh mệnh con người thời nay, nếu kéo dài lắm chỉ trong vòng bảy tám mươi năm.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã được Hội Sáng lập Quốc tế Tiến sĩ APJ Abdul Kalam mời đến ban cho buổi nói chuyện ngắn và trả lời các câu hỏi của sinh viên trên khắp thế giới.
Vào thời Đức Phật, không có cái gọi là Phật Giáo, vì đạo Phật chưa hình thành. Chỉ có giáo hội Tăng già tập hợp những người muốn tu tập theo con đường giải thoát dưới sự hướng dẫn của Đức Phật và chư Thánh Tăng, và một số Ni chúng được điều động bởi Thánh Ni Gotami.
Cuộc sống còn dài nếu không có chiến tranh nguyên tử. Vài trăm năm nữa có khi các tôn giáo từ từ biến mất trên thế gian này khi khuynh hướng “vô thần” không tin vào tôn giáo, không cần tôn giáo mỗi lúc mỗi gia tăng. Hiện nay trên thế giới đã có 700 triệu người Vô Thần hoặc vô tôn giáo. Điều này cho thấy niềm tin tôn giáo không phải là tất cả. Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng đạo đức chính là nền tảng và cần thiết cho cuộc sống của chúng ta. Tôn giáo phải thăng hoa lên từ đạo đức. Tôn giáo phi đạo đức là tà đạo và rất nguy hiểm cho con người.
Đàn chùng dây mệt mỏi Tựa cửa đợi thơ qua Tiếng lòng rơi thăm hỏi Buồn đất mẹ quê cha...
Các lời trích dẫn giáo lý của Đức Phật cùng các danh nhân khác thường thấy trên mạng, báo chí và tạp chí đủ loại tại các nước Tây phương. Dường như trong cuộc sống dồn dập tại các nơi này, một số người đôi khi cũng thích đọc một vài câu ngắn gọn nhưng sâu sắc, giúp mình suy nghĩ về xã hội, con người và sự sống nói chung....Dưới đây là 25 câu trích dẫn của Đức Phật do một nữ ký giả của một tờ nhật báo lớn tại miền Tây nước Pháp là Sabrine Zarhan chọn lựa. Các câu này cũng đã được đưa lên nhiều trạng mạng.
Trong đời này, người nào không có pháp nhẫn-nại thường hay cau có, bực dọc mỗi khi gặp cảnh trái ý nghịch lòng, phát sinh khổ tâm, bởi vì người ấy không có tâm-từ, không biết thương yêu mình, nên chỉ tự làm khổ mình mà thôi.
Khi tùy hỷ lòng ta đầy thanh thản | Phước Đức sanh tạo thiện cảm với người | Khi đố kỵ nét mặt hết vui tươi | Tạo oan trái cuộc đời đầy đau khổ.
.Xin một lời nguyện cầu cho xứ Huế | Cho Miền Trung, cho đất nước quê hương | Mau thoát cảnh..''trời hành cơn lụt''..| Gây đau thương, bao khổ cảnh đoạn trường..| Xin một lời nguyện cầu cho đất Mẹ | Mưa thuận gió hòa, thôi dứt bể dâu! | - Đời đã khổ, mong trời ngưng nhỏ lệ | Cho sinh linh an ổn.. thoát lo sầu...
Nhân quyền dựa trên quan niệm rằng “mọi người đều sinh ra bình đẳng”, nhưng theo Phật pháp, không ai bằng nhau và bất cứ ai đến với thế giới này đều dựa trên nghiệp lực của mỗi cá nhân (biệt nghiệp). Bình đẳng chỉ là một lý tưởng. Đề cập đến khái niệm bình đẳng phương Tây, Thiền sư Ajahn Brahmavamso Thera chỉ ra rằng: “Chủ nghĩa duy tâmvị trí của nó nhưng chắc chắn nó phải được thành lập trên sự thật và thực tế”. Thiền sư Ajahn Brahmavamso Thera nói đến Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là “hoàn toàn giáo điều và vô cảm” và không phải là ít phổ biến nhất.
Từ ái là ngọn đuốc sáng rực, không bao giờ tắt; đã có thể chiếu sáng, lại có thể tỏa nhiệt. Khi con người cho đi từ ái, nhân gian sẽ thêm sáng sủa, xã hội sẽ thêm ấm nồng.
Đời người ngỡ tưởng rất dài nhưng sự thực lại quá đỗi mong manh, ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ vỏn vẹn trong một hơi thở. Sinh - lão - bệnh - tử là quá trình ai cũng phải trải qua, không thể phủ nhận, không thể chối bỏ. Chúng ta giống nhau khi cất tiếng khóc chào đời nhưng lại khác nhau ở cách thức lìa xa cõi hồng trần, trả lại thân xác giả tạm cho thế gian.
Lên đến thiền tự, hai vị cư sĩ trình bày đầu đuôi sự việc, thỉnh ý vị thiền sư giáo thọ. Sư lắng nghe không bỏ sót từng lời từng từ, gục gặt, mỉm cười, rồi phán: "Cả hai đều chứng đắc được Tuệ Nhãn!" Hai vị cư sĩ cùng mừng rơn, mặt mày sáng rỡ, đồng thanh reo lên: "Thật vậy sao, Thầy?" "Chứ ta nói chơi làm gì?! Cả hai đều đã có, vì nhờ có mà đọc được cái đó đó của nhau!"
Trong cuộc đời, không ít lần chúng ta tự hỏi: ý nghĩa của đời sống là gì? Mình sinh ra để làm gì? Việc mình có mặt trên đời này chỉ là sự ngẫu nhiên gặp gỡ của hai người khác giới có hứng thú với nhau trong chốc lát, hay là sự chọn lựa của những cam kết lâu dài của ai đó và mình là một phần trong những cam kết đó? Những câu hỏi như vậy có thể gợi lên cảm hứng để tìm câu trả lời, đi tìm ý nghĩa của cuộc sống, hoặc chúng cũng có thể dẫn đến trầm cảm vì không có câu trả lời thỏa đáng.
Ma là một khái niệm mơ hồ, có người tin và có người không tin, tuy nhiên luôn là đề tài hấp dẫn đối với phụ nữ mặc dù các bà rất sợ ma nhưng lại thích nghe chuyện ma. Từ xưa đến giờ chưa ai thấy hình dáng, hình tượng con ma ra sao, thế nhưng trong tưởng tượng, mọi người phác họa ra những con ma vô cùng đa dạng, độc đáo.
Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh Sớ, còn gọi là Tuệ Tịnh Sớ, của Pháp sư Tuệ Tịnh (578 - 653) là một trong những chú sớ sớm nhất sau khi ngài Huyền Trang dịch Tâm Kinh vào năm 649. Khi ấy ngài Tuệ Tịnh đã già nên thối thác lời thỉnh cầu tham gia dịch trường từ vua Đường Thái Tông, dù trước đó ngài là đại dịch giả trước cả Huyền Trang, bút thọ giúp ngài Ba-la-phả-mật-đa-la chuyển dịch Phạn - Hán tác phẩm Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, từ năm 630 - 633.
Nói đến lễ Vu Lan thì ai cũng biết đó là mùa báo hiếu, đề cao, tưởng nhớ công ơn sinh thành của bậc cha mẹ nhất là mẹ. Có nhắc nữa chỉ phiền lòng quí bạn, than: “Khổ lắm, biết rồi, nói mãi„ nên trong bài này tôi không nhắc nữa, vì khi Quí bạn đọc bài này, Quí bạn đã là người con hiếu thảo nên mới quan tâm về lễ Vu Lan. Tuy nhiên, vì Quí bạn không tham dự nên tôi mới kể bạn nghe những diễn tiến tại Tu viện Viên Đức trong dịp lễ giữa mùa dịch bịnh còn đang hoành hành này.
Đạo Phật Việt Nam tự hào có mặt hơn 2.000 năm trên đất nước Việt, nhưng ngày nay nước Việt có ngôn ngữ chữ Việt hành chính rõ ràng để ăn nói với các nước trên thế giới. Không hiểu sao, đạo Phật của người Việt không dùng ngôn ngữ thuần Việt, mà còn nô lệ văn hóa chữ Hán, chữ Tàu trong khi đó Chính Phủ Việt Nam và người dân Việt Nam đã dùng ngôn ngữ chữ Việt làm ngôn ngữchữ viết hành chính cho quốc gia Việt Nam từ lâu rồi.
Xin gửi tặng độc giả xa gần hai bài thơ của nữ thi sĩ người Mỹ Louise Glück (1943-), vừa đoạt giải Nobel Văn chương, ngày thứ năm vừa qua, 08.10.20.
Lâu nay ở các giới đàn, tình trạng tổ chức lệch lạc, không đúng luật rất nhiều, dẫn đến phi pháp. Ở góc độ kiến giải của các Luật sư theo truyền thống Bắc tông thì “giới tử không biết, không nghi thì vẫn đắc giới, chỉ có giới sư là phạm luật”. Nhưng đối với kiến giải của truyền thống Nam tông thì giới sư không đúng pháp, giới tử không đắc giới, dù giới tử không biết. Ngay cả khi vị giới sư phạm luật mà không biết mình phạm, thì các vị khác cũng cần chỉ lỗi để vị ấy biết mà như pháp sám hối, không nên nể nang nhau mà im lặng.
“Nguyên nhân hình thành Phật giáo Đại Thừa” là một đề tài có phạm trù không rộng lắm, nên ít có người khảo sát và nguồn tư liệu về nó cũng rất hạn chế. Trong quyển “Sơ kỳ Đại thừa Phật giáo chi khởi nguyên dữ khai triển”, Hòa thượng Ấn Thuận cho rằng: sau khi đức Phật nhập diệt, chúng đệ tử vì quá thương kính Ngài nên mới tỏ lòng tôn thờ, sùng bái đối với các di vật, di thể và di tích liên quan đến cuộc đời Ngài. Sự tôn kính này lâu dần thành một tập quán, một nghi thức hoàn chỉnh và đó cũng là nguyên nhân Phật giáo Đại Thừa ra đời
Oai nghi cùng với chánh kiếntịnh giới là ba yếu tố làm nên đạo hạnh - phẩm chất của tu sĩ Phật giáo, như cố Trưởng lão HT.Thích Thiện Siêu, bậc am tường kinh luật luận đã từng nhấn mạnh. Điều đó càng quan trọng trong bối cảnh xã hội đã và đang có quá nhiều thay đổi về phương tiện vật chất, đặc biệt là sự bùng nổ công nghệ thông tin, mạng xã hội.
Đây là một bài nghị luận về Lý Duyên Khởi được Ajahn Brahm viết lần đầu tiên hơn hai thập niên trước. Vào lúc đó, ngài quan tâm nhiều hơn đến những chi tiết phức tạp trong việc giảng dạy kinh điển. Vì lý do đó bài nghị luận này có tính cách hoàn toàn chuyên môn, so với những gì ngài giảng dạy hiện nay. Một trong những học giả Phật học nổi tiếng nhất hiện nay về kinh điển Phật giáo đương đại là Ngài Bhikkhu Bodhi, đã nói với tôi rằng “Đây là bài tham luận hay nhất mà tôi được đọc về đề tài này”.
Theo thông tin từ chùa Huyền Không Sơn Thượng (thôn Chầm, P. Hương Hồ, TX. Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế) cho biết, vào trưa ngày 12-10, có trận sạt lở với khối lượng đất khá lớn từ sườn núi đổ xuống theo con nước đục ngầu hung hãn, làm hư hại 2 tịnh thất, phá nát và vùi lấp cảnh quan vườn trong khuôn viên chùa, rất may không có thiệt hại về người.
Những gợi ý dưới đây có thể giúp chúng ta lĩnh hội được ý nghĩa thâm sâu, khó hiểu của kinh một cách hiệu quả, đồng thời giữ gìn sự trung thực với nội dung của ý kinh. Hy vọng điều này sẽ ít nhiều giúp cho người đọc tiếp thu giáo nghĩa một cách chính xác
Trong quá khứ, con người thường có mối quan hệ hạn chế với người khác. Nhưng ngày nay - là một phần của nền kinh tế toàn cầu - tất cả chúng ta đều thuộc về một cộng đồng, cho dù chúng ta là người từ phía bắc, nam, đông hay tây. Đồng thời, chúng ta còn phải đối mặt với các vấn đề như - sự nóng lên của toàn cầu đã ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Do đó, chúng ta phải nghĩ rằng, tất cả bảy tỷ người đều là một cộng đồng nhân loại. Đó là lý do vì sao - khi đi đến đâu - tôi cũng luôn nghĩ về những con người mà tôi được gặp gỡ đều như anh chị em của tôi vậy”.
Là một người huấn luyện chiến đấu cho quân đội Hoa Kỳ (bao gồm Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, Biệt động quân Hoa Kỳ và Lực lượng SEAL của Hải quân Hoa Kỳ), đồng thời là một cựu võ sĩ UFC, tôi thấy cơ thể con người là một cỗ máy mạnh mẽ có tiềm năng xuất sắc trong nhiều lĩnh vực, bao gồm sức mạnh, tốc độ, sức chịu đựng và khả năng hồi phục. Cho đến khi tôi bị thương nặng trong khi tập luyện, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng tiềm năng này liên quan nhiều đến thức ăn, thứ mà tôi thấy chủ yếu chỉ là calo và protein.
Hòa Thượng P.A. Payutto được coi như là một trong những tu sĩ Phật giáo uyên bác nhất ở Thái Lan. Ngài thuyết giảng về nhiều đề tài, từ xã hội, chính trị, kinh tế đến khoa học... Tuy nhiên, tất cả đều được đặt nền trên giáo lý đạo Phật. Tác phẩm "Buddhadhamma" (Phật pháp) của ngài là một tác phẩm nổi tiếng. Hiện nay, Ngài được biết đến dưới tên Dhammapitaka, một danh hiệu được đức Vua Thái Lan ban cho. Bài viết dưới đây là bài phát biểu của Ngài trong Hội Nghị Tôn Giáo Thế Giới lần thứ hai được tổ chức tại thành phố Chicago, USA năm 1993, đúng 100 năm sau Hội Nghị lần thứ nhứt, cũng được tổ chức tại thành phố nầy năm 1893.
Họa dập dồn, lũ dâng lụt lớn Tiếng kêu gào ai oán thê lương Xót xa dòng chảy vô thường Nhìn trông lưu thủy mà thương quê nghèo...
Có một nữ phóng viên tờ Trung Quốc Thời Báo viết rằng: Trong thế gian nầy có rất nhiều luật, mà luật nào người ta cũng có thể lách được. Riêng luật nhân quả thì không. Đúng là thật hay. Có thể cô là một Phật tử. Vậy luật nhân quả là gì vậy?
“Thi tán bậc giác ngộ” là ấn phẩm được dịch giả Thích Đồng Lực, dịch giả Thích Nữ Huệ Vân chuyển thể sang Việt ngữ từ tác phẩm văn học nổi tiếng Śaptapañcaśatka của nhà thơ Mātṛceta. Mātṛceta được coi là một trong những thi sĩ vĩ đại nhất của Ấn Độ, ông sinh ra vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên và được nhà triết học vĩ đại Āryadeva cải hoá từ đạo Hindu sang Phật giáo.
Điều quan trọng là trì tụng Lời Cầu Nguyện Hòa Bình Thế Giới nhiều lần, bởi nó nói rằng tất cả những khó khăn mà chúng ta trải qua trên thế giới được tạo ra bởi con người – bên trong con người. [Những khó khăn này] thực sự được tạo ra bởi tâm của con người.
Khi tôi chết, tôi không muốn có những nghi lễ phô trương. Tôi đã viết di chúc dặn dò nếu tôi chết trong vòng năm mươi dặm của Trung tâm Thiền quán Bhavana (West Virginia, Hoa Kỳ), những người trong đạo tràng nên thu xếp hỏa táng thân xác tôi và sau đó, tùy ý xử lý tro cốt. Tôi không quan tâm. Nếu tôi chết ở nơi khác, họ có thể thu xếp thực hiện bất cứ cách nào họ muốn.
Phác thảo văn hệ triết học của trường phái Trung quán Ấn Độ nầy dựa trên nguồn tư liệu tiếng Sanskrit trong tầm mức có sẵn cho chúng ta hiện thời.
Duyên Khởinăng lực đoạn trừ được đồng thời cả hai quan điểm cực đoan (thường kiếnđoạn kiến). Khi chúng ta hiểu rằng các pháp được phát sinh một cách phụ thuộc, thì chúng ta cũng sẽ hiểu rằng chúng không hề có bất kỳ sự tồn tại cố hữu nào. Và khi chúng ta hiểu rằng các pháp không có sự tồn tại cố hữu, điều này sẽ mang lại sự hiểu biết về Duyên khởi.
Mặc dù Thiền đã xa xưa, nhưng nó đáng trở thành công cụ của con người hiện đại nhằm sáng tạo nên cuộc sống tốt đẹp. Vì, Thiền có rất nhiều công dụng: mở mang cõi lòng, kiên định nghị lực, gợi mở trí năng, điều tiết tinh thần, thanh lọc thói xấu, tăng thêm sức bền, thay đổi thói quen, rèn luyện tâm trí, nâng cao ngộ tính…
Chúng ta bị trôi lăn trong vòng quay của sinh tử luân hồi do vì ác nghiệp, vì hành động tiêu cực; và ta chỉ có thể đạt được giải thoát bằng cách đoạn trừ ác nghiệp và phiền não. Đệ tử chính của Ngài Long Thọ là Thánh Thiên đã xác nhận điều này khi Ngài viết trong tác phẩm ‘400 bài Kệ’ của mình:
Nhà văn nổi tiếng nhất trong nền văn học viết bằng tiếng Trung Quốc để kêu gọi bảo vệ nền văn hóa Tây Tạng có lẽ là Tsering Woeser. Chị là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà hoạt động nhân quyền, và là người viết blog nổi tiếng được nhiều giải thưởng văn họcnhân quyền quốc tế. Và đương nhiên Woeser liên tục bị bao vây, cô lập.
Thế rồi nàng thu cũng trở về với y, dù mong đợi hay không vẫn quay về. Chu du thiên sơn vạn thuỷ đến ngày về là nàng thu laị về, vẫn đủng đỉnh vàng, vẫn mát dịu, vẫn thanh khiết như bao đời. Nàng thu về với nhan sắc đằm thắm nhưng không kém phần rực rỡ, mang laị bao cảm xúc mới mẻ cho con người và muôn loài.
Tôi là người theo đạo Phật và muốn hiểu rõ hơn về giáo pháp. Tôi có câu hỏi xin quý Báo trả lời giúp: Cúng vong linh, cúng cô hồn có phải là pháp của đạo Phật? Nếu có, xin vui lòng chỉ giúp Đức Phật dạy các điều ấy trong những kinh nào?
Sư Buddharakkhita, 52 tuổi, một trong những tu sĩ Phật giáo đầu tiên của châu Phi, là người đã kết hợp được Phật giáo với trí tuệ truyền thống châu Phi ở Uganda.“Tôi sử dụng trí tuệ châu Phi làm nền tảng cho việc giảng dạy của mình”, sư nói. Ví dụ, sư nhấn mạnh sự tương đồng giữa khái niệm ubuntu của Nam Phi (Bạn có mặt vì tôi có mặt, tôi có mặt vì bạn có mặt) và giáo lý Duyên khởi của Phật giáo
Trung tâm Phật giáo Uganda (UBC) do Thượng tọa Bhante Buddharakkhita (vị tăng sĩ Phật giáo Châu Phi đầu tiên) sáng lập vào ngày 10 tháng 4 năm 2005. Trung tâm Phật giáo này được thành lập để giới thiệu, và lưu giữ những lời dạy quý báu của Đức Phật trong bối cảnh văn hóa Châu Phi, đồng thời nêu gương thực hành giáo lý từ bi, trí tuệ và hùng lực thông qua việc phục vụ công chúng.
Bốn bộ luật tiểu Tỳ ni – Sa di – Oai nghi – Cảnh sách của Tổ Quy Sơn, Tổ Châu Hoằng,….Các Ngài là bậc long tượng trong thiền môn, vì thương hàng hậu học các Ngài chỉ thẳng phương pháp hóa giải tập khí của hàng xuất gia khi mới bước chân vào đạo, phải nói bốn bộ luật tiểu này được xem là khuôn vàng thước ngọc, là cẩm nang gối đầu giường của hành giả tu tập. Sách này không những là cơ sở cho giới cụ túc mà cũng là nền tảng cho giới Bồ-tát
Giải thoát nghĩa là cởi mở những dây ràng buộc mình vào một hoàn cảnh đau khổ nghịch ý. Niết Bàn (Nirvana) của Đạo Phật không phải là cõi thiên đàng như nhiều người lầm tưởng. Người ta thường cho rằng tu chỉ là cốt để được giải thoát khỏi cuộc đời này và khi chết, được đưa vào một thế giới đẹp đẽ, đầy đủ những thú lạc, không sợ một khổ đau nào xâm chiếm. Thế giới đẹp đẽ ấy gọi là Cực Lạc hoặc là Niết Bàn. Thật không có gì lầm lạc hơn nữa.
Mỗi lần, khi chợt nghĩ đến Thầy, tâm con lại khởi ngay lên 2 tiếng “Thưa Thầy”. Tự nhiên như thế. Có lẽ, vì nghĩ đến Thầy nên con muốn thưa Thầy những điều con đang nghĩ chăng?
Nếu hoa không đẹp thì đời đã không quan tâm tới, và hoa cũng không còn tồn tại. Hoa còn tồn tại vì hoa có ích cho đời, và có giá trị với chính nó. Hoa vẫn nở để làm đẹp cuộc đời và làm đẹp cho hoa. Hoa không chỉ nở giữa đất trời, mà còn nở trong lòng vạn loại chúng sanh.
Thời tiết tháng Tám sụt sùi rơi lệ, miền Trung hàng năm gánh chịu lắm thiên tai; Huế vừa trãi qua cơn bão, Hội An bị ngâp lụt, một số Tỉnh thành thấm đẫm mưa dầm! Đâu đó, một góc xứ Huế thân thương, đồi thông rũ bóng che chắn các ngôi cổ tự rêu bám như lớp da xù xì lão hóa của người dân tẩm ướp nắng mưa qua bao thế hệ, cam chịu và sống chung với bao nghiệt ngã. Giữa mùa mưa bão, tiếng chuông chiều rên rĩ lãng đãng chìm trong không gian lạnh lẽo cô đơn; nhà nhà ủ kín then cài trốn cái lạnh thấu xương khi Đông chưa đến.
Nếu thời gian của con trong khóa nhập thất được sử dụng tốt, con sẽ làm hài lòng chư Phật cùng những vị trưởng tử, giúp hoàn thành tầm nhìn của Đạo Sư Tôn Quý xứ Oddiyana và gieo trồng hạt giống của sự thịnh vượngthành công cho đời này và các đời tương lai
Những ai muốn đạt tới an lạc thường nên học hạnh thẳng thắn, khiêm cung, biết xử dụng ngôn ngữ từ ái. Những kẻ ấy biết sống đơn giản mà hạnh phúc, nếp sống từ hòa, điềm đạm, ít ham muốn, không đua đòi theo đám đông. Những kẻ ấy sẽ không làm bất cứ một điều gì mà các bậc thức giả có thể chê cười
Nhiều Phật tử đã suy tưởng quá nhiều về Phật pháp nhưng lại thực hành quá ít. Rõ ràng là, vì thiếu kinh nghiệm trong việc hành trì giữ giới, cũng như thiếu những kết quả của công phu thiền tập, họ đã làm sai lệch giáo pháp với những mộng tưởng của chính họ. Bất hạnh thay, trong số những Phật tử này là những vị giáo thọ.
Theo Phật-luật, hàng năm, giới xuất gia, tùy hoàn cảnh và môi trường, phải câu hội về một nơi để cùng thúc liễm thân tâm, trau giồi giới đức. Thời gian đó được gọi là mùa An Cư Kiết Hạ.
Những bài kinh Phật không có bài nào là không hay. Có miệt mài trên những trang kinh xưa mới cảm được sự vang động của suối nguồn trí tuệ. Lời kinh là những tiếng sấm rền vang chấn động tâm thức chúng sanh đang chới với giữa những làn sóng ưu phiền trong biển sanh tử. Kinh nghiệm giác ngộ của bậc toàn giác được trao truyền ròng rã trong suốt 45 năm để lại một kho tàng tư tưởng giải thoát, một sự trưởng thành tột cùng của trí thông minh và cảm thức con người. Mỗi lần đọc kinh là mỗi lần cảm nhận được sức mạnh của phước báu đã cho tâm thức bay lượn một khoảng không gian khá rộng trong bầu trời siêu thoát mênh mông.
Mục đích của Thiền Phật Giáo là Niết-Bàn. Kinh Niệm Xứ là một trong những bản kinh ‘liễu nghĩa’ nhất, thù thắng nhất mà Đức Thế Tôn đã để lại cho chúng ta làm bản đồ tu tập hướng về mục đích này. Vì vậy, việc ‘y cứ’ vào những lời vàng trong kinh Sati PatthanaSutta là một điều tối quan trọng đối với những ai thực sự thiết tha với con đường giải thoát.
Đời người sống được 100 năm, mỗi năm có 365 ngày, 365 ngày của 12 tháng, 12 tháng của 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Tự ngẫm và hỏi chính mình, tâm hồn này đã có bao nhiêu giây phút tĩnh lặng, bao nhiêu ngày thật sự bình an?
New Posting: Bài 19 và 20 Bài 19 - Bốn đại nguyện của người bồ-tát Bài 20 - Tôi cầu mong tỏa được mọi khó khăn cho tất cả chúng sinh
Trong vài tuần qua, người dân Hoa Kỳ được biết đến một bản văn mang tính kiến nghị có tên là "Tuyên bố Great Barrington" phản đối chính sách phong tỏa xã hội (lockdowns strategy) để ngăn chặn đại dịch và ủng hộ chiến lược tự do lây nhiễm SARS-CoV-2 (Covid-19) ở những người trẻ, khỏe mạnh, nhằm đạt được miễn dịch cộng đồng. Bản kiến nghị này được đặt theo tên một thị trấn của bang Massachusetts, Hoa Kỳ và được hai quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc phát biểu trong một cuộc họp báo
Sáng hôm qua, (ngày 18 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 4 xã Hải Thiện, Hải Lăng, Hải Ba, Hải Dương, Hải tại Tỉnh Quảng Trị. Xã Hải Thiện phát 170 phần quà, xã Hải ba & Hải Lăng 180 phần quà, xã Hải Dương 150 phần quà. Thật may mắn cho đoàn là cả ngày trời không mưa nên công việc cứu trợ được thuận duyênthành tựu viên mãn.
.Xin một lời nguyện cầu cho xứ Huế | Cho Miền Trung, cho đất nước quê hương | Mau thoát cảnh..''trời hành cơn lụt''..| Gây đau thương, bao khổ cảnh đoạn trường..| Xin một lời nguyện cầu cho đất Mẹ | Mưa thuận gió hòa, thôi dứt bể dâu! | - Đời đã khổ, mong trời ngưng nhỏ lệ | Cho sinh linh an ổn.. thoát lo sầu...
Tu viện Mộc Lan nằm ở vùng Red Hill thuộc thành phố Batesville Mississippi. Vào trung tuần tháng 3 năm 2010, tôi được Thầy dạy về đó để xây dựng chúng xuất sĩ thường trú. .../...Thầy tôi thường dạy rằng, một truyền thống tâm linh muốn được tồn tại và giữ được bản sắc riêng của nó, thì phải hội nhập và học hỏi văn hóa bản địa. Đó cũng là một nhân duyên khiến thiền đường Hải Triều Lên không thiết trí tượng Bụt như những ngôi chùa, tu viện theo truyền thống Á đông. Có những vị Phật tử Á đông trong thời gian đầu đã nhận xét: “Sao giống Chúa quá”, hoặc hỏi: “Sao thiền đường không có tượng Bụt. Bụt đâu để con lạy?”. Tôi từ tốn chia sẻ cho các vị ấy hiểu. May mắn thay, các vị mở lòng lắng nghe, đón nhận và cảm thấy thoải mái hơn. Tâm các vị an bình, nhẹ nhàng có được giây phút lắng yên khi được ngồi, được thở, được bước đi những bước chân đã về đã tới nơi mảnh đất Mộc Lan.
Giữa rừng người từ khi chu du nhiều nơi đây đó rồi về San Diego tạo dựng Dharma Mountain ẩn dật vui thú vui nơi thôn dã cũng đà sắp xỉ ngót mười năm. Người người say mê tạo dựng, nhưng tôi về ẩn tại chốn Non cao, ngày ngày làm vườn nấu nước pha Trà, khép mình trong cái tĩnh. Ban ngày ra vườn, ban tối đọc sách viết vài đoạn, rồi buông thư ngồi tĩnh tọa hít thở, rảnh rỗi thì hái rau vui với Suối Rừng Hoa lá,
Lớp học 15 tuần (1 semester), bắt đầu 24/8 – 13/12/2020 - Tài liệu : Song Ngữ - Mỗi tuần 2 giờ qua zoom: Hỏi đáp - Giảng sư: Tiến sĩ Lancaster, nghiên cứu Phật Giáo 60 năm, và dạy Phật Học 36 năm tại University of California, Berkeley – Gồm 2 phụ Giảng: Tiến Sĩ Thích Thiện TâmTiến Sĩ Nguyễn Thúy Loan
Chúng tôi – Chúng con đã trực tiếp liên lạc với Hiệp hội văn bản Pali, trong phạm vi công cộng được sự đồng ý của Hiệp hội văn bản Pali Nhà xuất bản - Dharma Mountain Publishing với mục đích xuất bản bộ Đại Tạng hoàn toàn phi lợi nhuận - phi thương mại với Giấy phép – Licence: Attribution-NonCommercial 3.0 (CC BY-NC 3.0). Tham gia với chúng tôi – chúng con để trở thành người hỗ trợ trong các dự án dưới đây: 1). Dự án xuất bản Tam tạng Kinh điển tiếng Anh hỗ trợ sự truyền bá Phật giáo tại Hoa Kỳ 2). Xuất bản Tam Tạng tiếng Việt, do Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pali 3). Xuất bản Bộ Chơn Lý do Sư Tổ Minh Đăng Quang trước tác 4). Xuất bản Kinh điển đọc tụng hàng ngày 5). Xuất bản sách ứng dụng Thiền chánh niệm