03. Những Tiêu Chuẩn Căn Bản Của Một Xã Hội An BìnhHạnh Phúc Ven.dr. Thích Viên Trí

09/05/201112:00 SA(Xem: 3934)
03. Những Tiêu Chuẩn Căn Bản Của Một Xã Hội An Bình Và Hạnh Phúc Ven.dr. Thích Viên Trí
dlpdlhq2008-logo

THUYẾT TRÌNHTHAM LUẬN

SỰ ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI


NHỮNG TIÊU CHUẨN CĂN BẢN
CỦA MỘT XÃ HỘI AN BÌNHHẠNH PHÚC

Ven. Dr. Thích Viên Trí


Trong bối cảnh văn hóaxã hội hiện nay, chắc hẳn mọi người hẳn sẽ nhất trí với lời phát biểu rằng đạo đứcgiá trị chủ đạo và chiếm một vị trí thật sự quan trọng cho sự tồn tại và phát triển đối với cuộc sống con người trong mọi thời đại. Từ điển Graw Hill Book định nghĩa “Đạo đức là môn học đánh giá các hành vi thiện ác của con người biểu hiện qua thân, lời, ý và được thực hiện bởi lý trí, tình cảm và ý chí[1]”. Aristote (một trong tư tưởng gia vĩ đại của hệ thống triết học Tây Phương) chủ trương rằng “Mục đích trực tiếp của con người không phải là cái hay, cái đẹp mà chính là hạnh phúc. Hạnh phúc là sự phát triển hoàn toàn đầy đủ đức tính của một con người… hạnh phúc đồng nghĩa với đạo đức[2]”.

Trong chừng mực nào đó, nếu đạo đức được hiểu là đồng nghĩa với hạnh phúc, chúng ta có thể nói rằng đạo Phậtđạo hạnh phúc, vì giáo lý Phật giáo chính là con đường đạo đức, giúp con người loại trừ khổ đau và đạt được hạnh phúc ngay trong hiện tại và tại đây. Nó thay thế những cảm nghiệm khổ đau trong cuộc sống hằng ngày của con người bằng cảm nghiệm hạnh phúc ngay khi người ta dụng tâm thực hành. Nó là phương tiện để con người từng bước hoàn thiện bản thân, phát triển nhân cách, đưa họ từ địa vị phàm phu tiến dần đến quả vị Thánh giả. Hơn thế nữa, giáo lý Phật giáo chính là con đường giúp cho con người đạt được hạnh phúc tối hậu; đó là Niết-bàn, sự giải thoát toàn vẹn, vì đức Phật dạy “Ta chỉ dạy khổ và con đường diệt khổ[3]”.

Để đạt được những cấp độ hạnh phúc từ thấp đến cao như thế, tất nhiên người ta cần phải học tập và thực hành giáo lý Phật giáo, bao gồm trong ba pháp giới – định – tuệ mà đức Phật đã thuyết giảng. Sống đúng với con đường giới – định – tuệ nghĩa là đang nắm giữ hạnh phúc chân thật, vì đây chính là đạo lộ mà đức Phật đã hành trìđạt được quả vị giác ngộ, giải thoát.

Cần phải nhận thức rõ ràng ba pháp giới – định – tuệ luôn cùng hiện hữu mỗi khi một trong ba pháp ấy được hành trì. Trong thực chất, giới – định – tuệ là ba mặt của một vấn đề, là ba điều không thể tách rời mỗi khi đề cập đến giáo lý Phật giáo. Đức Phật dạy “Trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh. Giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Ở đâu có giới, ở đó có trí tuệ; ở đâu có trí tuệ, ở đó có giới. Người có giới hạnh nhất địnhtrí tuệ; người có trí tuệ nhất địnhgiới hạnh[4]”. Như vậy, mỗi khi đề cập đến một tức là đề cập cả ba. Nói cách khác, khi đề cập đến giới là nói đến con đường giải thoát giới định tuệ, nhưng đứng trên bình diện của giới luật để phân tích và bình luận.

Xa đề một chút, chúng ta nhận thấy rằng muốn xây dựng một chuẩn mực đạo đức trong cuộc sống của cá nhân, gia đìnhxã hội thì cần phải có những chuẩn tắc về hành vi để con người có thể y cứ vào đó mà đánh giá các hành vi thiện hay bất thiện. Một hành vi đem đến hạnh phúc cho mình, cho người, cho xã hội là chuẩn tắc để đánh giá (ở đây đề cập đến giá trị hạnh phúc- giải thoát của hành vi). Đối với Phật giáo, chuẩn tắc hành vi đó phải dựa vào giới, hay nói chính xác hơn, chuẩn tắc ấy là giới.

Trong giáo lý Phật giáo, giới có nhiều loại. Tùy theo cấp độ tu hành khác nhau giữa hàng ngũ xuất giaPhật tử tại gia mà giới được phân thành nhiều loại, như giới Tỷ-kheo, giới Tỷ-kheo ni, giới Sa-di, giới Sa-di ni, giới Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di… Bên cạnh đó, do môi trường, hoàn cảnh, phong tục, tập quán mà có những sự khác nhau trong giới luật của đạo Phật. Tuy nhiên, phần trình bày ở đây sẽ tập trung vào năm giới căn bản của người Phật tử tại gia. Năm giới này là năm điều kiện đạo đức tối thiểu của một người Phật tử, và cũng là những chuẩn mực đạo đức tạo ra con người lý tưởng theo đúng chân nghĩa của nó.

Năm giới này bao gồm: 1. Không sát sinh; 2. Không lấy của không cho; 3. Không tà dâm; 4. Không nói dối; 5. Không uống rượu.

Qua nội dung vừa trình bày ở trên, người ta dễ dàng nhận thấy rằng năm giới này là để áp dụng cho con người, cho đời sống của con người nhằm để ngăn chặn các hành vi bất thiện do con người tạo ra (theo nghĩa tiêu cực), và để tạo ra an lạc, hạnh phúc thật sự cho chính con ngườixã hội (theo nghĩa tiêu cực).

Giới là điều không được vi phạm, cần phải tránh để bảo vệ đạo đứcnhân phẩm của một con người. Khi một người giữ gìn năm giới này được thanh tịnh thì tâm người ấy được an ổn, tự tại vì biết rằng mình đang trú trong đạo đức, nghĩa là đang ở xa vực sai lầm, tội lỗi. Từ sự an ổn đó, người ta sẽ cảm nhận được hạnh phúcan lạc ngay trong hiện tại và chính trong cuộc sống của mình ngay tại đây. Khi năm giới được con người cảm nhận một cách chân thật thì tâm người ấy hoàn toàn tự dothoải mái. Khi tâm hành giả an lạc ấy thì chính lúc ấy hành giả đang cảm nghiệm hạnh phúc; vì theo Spinoza hạnh phúc là sự vắng mặt các cảm giác buồn phiền, khó chịu, bất an…, và hạnh phúc là sự có mặt của các cảm giác dễ chịu, thư thái, an lạc…[5] Như thế, chúng ta có thể nói rằng năm giới là năm điều kiện sống tất yếu của một con người, là năm điều kiện cần và đủ để làm người, ví như cá phải sống trong nước, nếu tách rời khỏi nước tất nhiên là cá tự hủy hoại cuộc sống của chính nó.

Giới luật Phật giáocông năng tạo ra hạnh phúclợi ích thật sự cho cuộc sống con ngườixã hội từ cấp độ thấp nhất (là con người đúng nghĩa), cho đến cấp độ cao nhất là giải thoát tối hậu (Niết-bàn) tùy theo năng lực hành trì. Ở phạm vi bài tham luận này, người viết chỉ trình bày tổng quát một vài tính chất tiêu biểu của giới:

Con người không bao giờ thích kẻ khác gây bất cứ sự tổn thương nào đến cho mình (như tổn hại mạng sống, mất mát tài sản, rối loạn hạnh phúc gia đình…), thì chính những gì chúng ta không muốn ấy cũng đừng nên gây hại cho người khác[6]”. Qua ý nghĩa này chúng ta thấy rằng giữ gìn năm giới chính là giữ gìn hạnh phúc của mình. Đây chính là một ý nghĩa tích cực của giới.

Người ta sẽ dễ dàng nhận thấy rằng nếu năm giới điều căn bản này bị con người vi phạm và phá bỏ thì chính môi trường xung quanh tức xã hội (xã hội trong ý nghĩa nhỏ hẹp là gia đình, cộng đồng cho đến biên giới quốc gia, quốc tế) sẽ rơi vào một hoàn cảnh rối ren, đau khổ. Chỉ từ sự đánh mất hạnh phúc của từng con người sẽ tạo ra đau khổ cho gia đình, xã hội, thậm chí sự tổn hại to lớn như chiến tranh có thể bùng nổ, nhân loạithể diệt vong, nếu người ấy là kẻ có chức có quyền[7]. Vậy thì năm giới là năm điều kiện tất yếu cần phải được tuân thủ, nếu như con người mong muốn hạnh phúc thật sự.

Điểm điển hình kế tiếp của giới luật Phật giáotừ bi. Mọi người có lẽ điều thừa nhận rằng đã là con người nghĩa là từng khổ đau và đang khổ đau (cảm nghiệm theo từng cấp độ), vì như Lev. Tonstol từng phát biểu rằng mọi người đều có cảm giác hạnh phúc giống nhau, nhưng cảm thọ khổ đau thì mỗi người một kiểu. Như thế, điều kiện cần phải làm, từ bi cần phải có mặt là sự giúp đỡ cần thiết cho con người, cho xã hội, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp. Điều này nói lên một ý nghĩa tích cực khác của giới luật Phật giáo. Giữ giới có nghĩa là bố thí: bố thí năm điều không sợ hãi và đem đến năm điều an lạc cho con người, cho xã hội.

Cần lưu ý rằng, từ bi của Phật giáo không phải chỉ để cảm thông với khổ đau của con người trong quá khứ cũng như trong hiện tại, mà là tích cực để đoạn trừ những nỗi thống khổ ấy qua sự tu tập năm giới. Từ bi của Phật giáo liên hệ đến bất bạo động, do vậy nó có thể loại trừ khả năng sinh khởi của các sai lầm do tham, sân, si điều động.

Qua những điểm vừa trình bày trên, chúng ta có thể thấy rằng giới là bước đi đầu tiên, là bước đi căn bảnvô cùng quan trọng trong lộ trình tu tập và hướng đến xây dựng một con người tốt, một môi trường tốt và một xã hội tốt đẹp. Nếu giới không được nghiêm giữ một cách thanh tịnh thì việc tu tập thiền định khó mà đạt được kết quả tốt; và nếu có chăng, ấy chỉ là những kết quả cỏn con. Nếu an lập được nền tảng các vấn đề đạo đức (giới) thì không thể nào không tạo ra được an lạc, hạnh phúc cho mình, cho gia đình và cho xã hội. Ngay cả mục đích tối hậu, tức sự giải thoát toàn vẹn, cũng đến từ bước khởi đầu này mà chứng đắc. Nếu cuộc sống giữa con người với con người, con người với gia đình, con người với xã hội mà đều tuân thủhành trì giới luật một cách chân chánh thì không ai có thể chối cãi rằng cuộc đời này là một trú xứ đầy an lạc, hạnh phúc. Nói chính xác hơn, Tịnh Độ cũng chính tại đây; tất cả đều phụ thuộc vào hành vi đạo đức của con người mà được an lập.

Điều quan trọng cần phải lưu ý ở đây là sự hiện hành của pháp luật xã hội cũng như giới luật của các tôn giáo khác. Tất nhiên, sự tác động của những điều vừa được đề cập không phải là ít đối với cuộc sống con người, của xã hội. Tuy nhiên, khách quan để đánh giá thì chúng ta sẽ nhận thấy rằng sự tác động của chúng chỉ mang tính răn đe và trừng phạt những hành vi phạm tội của con người, được thể hiện ra ngoài qua hành động của thân và miệng. Trong khi ấy, chủ nhân chính để tạo ra tội lỗi lại là ý (tâm). Ý là chủ nhân và là nhân tố chính điều động các hành vi thiện ác. Như vậy, giáo dụcgiáo dục ngay ở nguồn gốc của nó; ngăn chặn là ngăn chặn ngay ở thời điểm mà tội lỗi chưa phát sinh. Được như thế, kết quả hạnh phúccon người đang chờ đón mới có cơ hội đơm hoa, kết trái. Giới luật Phật giáocông năng thực hiện trọn vẹn yếu tố này. Trích dẫn ngắn gọn sau đây từ hai bài kệ Pháp Cú sẽ soi sáng cho vấn đề trên:

“Ý dẫn đầu các pháp, ý là chủ, ý tạo;
Nếu nói hay hành động; với tâm ý ô nhiễm,
Khổ não bước theo sau; như xe chân vật kéo”.

“Ý dẫn đầu các pháp, ý là chủ, ý tạo;
Nếu nói hay hành động; với tâm ý thanh tịnh;
An lạc sẽ theo sau; như bóng không rời hình”.

Dĩ nhiên, muốn giáo dụcxây dựng tốt con ngườixã hội trong một môi trường đạo đức thì cần phải có những mẫu người đạo đức (theo nghĩa tương đối); những con người sống đúng pháp, đúng luật. Phải chăng đó là hình bóng Tăng đoàn của Phật giáo! Đời sống mô phạm của Đức Phật và các Thánh đệ tử xuất gia cũng như tại gia trong thời đại của Ngài đã cho chúng ta thấy rằng, quả thật, cuộc sống phạm hạnh của Tăng đoàn là bài pháp hùng hồn, là khuôn mẫu giáo dục có tác dụng to lớn, tác động mạnh mẽ đến việc cải thiện đạo đức cho người Phật tử nói riêng, và cho xã hội nói chung. Cuộc sống đúng giới luật của Tăng già là nền tảng vững chắc, là cơ sở thiết yếu để mọi người nương tựa. Bằng như chỉ nói về, chỉ lý thuyết, chỉ mơ ước thì ảnh hưởng của giới luật không những rất ít, mà lắm khi lại phản tác dụng; vì thực tế cho thấy rằng hành động đạo đức bao giờ cũng có giá trị hơn hẳn nói về đạo đức. Như vậy, yêu cầu bức thiết đối với Phật giáo đồ nói riêng, và nhân loại hiện nay nói chung là cần có những con người thực hành chánh pháp, chuyên trì giới luật, sống đúng truyền thống lục hòa theo nghĩa tích cực của nó. Tăng đoàn Phật giáo cần phải phát huy sức mạnh, hiệu lựcgiá trị của mình trong việc truyền trao giới pháp; cần chú trọng đến phẩm chất, loại trừ chủ nghĩa số lượng, nặng tính hình thức.

Dĩ nhiên, giới luật Phật giáo nói chung và năm giới nói riêng không chỉ dành cho đệ tử của đức Phật, cũng không phải dành riêng cho một hạng người nào trong xã hội. Năm Nguyên tắc căn bản này dành chung cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, mọi dân tộc, mọi thời đại, dành cho những ai muốn an lạchạnh phúc cho mình và cho người ngay trong hiện tại và tại đây; nếu như không muốn nói đến tương lai, và cho những ai muốn có một chuẩn mực tối thiểu để làm người theo đúng chân nghĩa.

Thế giới con người đang quằn quại trong khổ đau và lên án những người đang vi phạm các nguyên tắc đạo đức cơ bản này. Thế giới con người cũng đang khao khát một cuộc sống hòa bình, thịnh vượng, hạnh phúc. Như vậy, có phải chăng, năm giới điều trên của Phật giáo là năm chuẩn tắc luân lý để xây dựng một xã hội đạo đức, công bằng, ổn định (theo nghĩa tương đối) mà Socrate, triết gia nổi tiếng của Hy Lạp, đã hy vọngmong chờ khi phát biểu rằng:

“Một nền đạo đức không thể căn cứ vào một giáo lý mơ hồ, ta có thể tạo dựng một nền luân lý hoàn toàn không lệ thuộc thần học, hoàn toàn thích hợp với những người có tôn giáo cũng như khôngtôn giáo thì xã hội mới ổn định[8]”.

Phải chăng đã đến lúc mọi người cẩn phải quay trở lại với chính mình, phải xác định lại mục đích thật sự mà họ đang tìm kiếm và muốn vươn tới. Phải chăng hạnh phúc là đối tượng mà con người đang mãi tìm kiếm! Nhưng hạnh phúc thì đồng nghĩa với đạo đức, mà đạo đức chính là giới. Vậy thì chính lúc này con người cần phải loại bỏ tất cả ngộ nhận sai lầm về giới luật của Phật giáo đã tiến gần giới luật, nắm giữ giới luật như là đang nắm giữ hạnh phúc của mình; nắm giữ giới luật như là đang duy trì chính nhân phẩm của mình vậy. Bằng như ngược lại, cứ khao khát, tìm cầu hạnh phúc, an lạc mà phá vỡ năm giới điều trên thì cũng như người khát nước mà mãi uống nước biển vậy. Kết quả chỉ là sự đau đớn, thống khổ của những người thiếu trí tuệ, như vua Trần Thái Tông từng nói:

“Phong trần thất thểu làm thân khách,
Ngày mãi xa quê vạn dặm đường[9]”.

Đề cập đến năm giới căn bản, năm điều đạo đức tối thiểu của Phật giáo mà đã có thể đem lại hạnh phúc thiết thực và to lớn cho con người, cho xã hội như thế (nếu được thực thi); chắc chắn rằng những giới điều khác của Phật giáo (cũng dựa trên năm giới căn bản này) mà được hành trì một cách nghiêm túc thì sự giải thoát và Niết-bàn tối hậu là điều có thể đạt được, không hư dối vậy.

Hạnh phúc ở đây cần phải được hiểu theo từng cấp độ, từng hoàn cảnh và từng cá nhân cảm thọ nó trong từng điều kiện riêng biệt. Kết quả của năm giớicông năng của một cuộc sống đúng giới luật của hàng cư sĩ, đệ tử tại gia của đức Phật; còn Niết-bàn– tức hạnh phúc tối hậu– tất nhiên đòi hỏi một sự tu tập nhuần nhuyễn ba pháp giới – định – tuệ, ở đó, giới định tuệ đã vỡ tan và hòa nhập với tự thân hành giả, tạo nên một thể thống nhất giữa nhân và pháp. Niết-bàn là kết quả của sự hòa nhập hoàn toàn giữa pháp tu và người tu, giữa người chứng và quả chứng. Niết-bàn của Phật giáo vượt lên trên mọi suy tư logic, mọi cảm thọ bình thường. Nó là sự thể hiện trọn vẹn của một cuộc sống từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha.
 
 

[1] Câu Chuyện Triết Học, Will Durant, Bửu Đích dịch, Tu Thư Vạn Hạnh, 1971.
[2] Sđd
[3] Trung Bộ Kinh, Kinh Thánh Cầu, HT. Minh Châu dịch.
[4] Xem “Trường Bộ Kinh, Kinh Sonadanda”, HT. Minh Châu dịch
[5] Câu Chuyện Triết Học, Will Durant, Bửu Đích-Trí Hải dịch, 1971.
[6] “Kỷ sở bất dục vất thí ư nhân”.
[7] Chiến tranh và trộm cướp, lừa dối, hối lộ, tham nhũng v.v… khắp thế giới trong quá khứ cũng như thế giới đương thời là hệ quả của sự vi phạm năm nguyên tắc (giới) căn bản này (Tác Giả).
[8] Câu Chuyện Triết Học, Will Durant, Bửu Đích dịch, Tu Thư Vạn Hạnh xuất bản.
[9] “Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình”. (Thiền Học Trần Thái Tông)
Tạo bài viết
23/04/2014(Xem: 12891)
Vài năm trước, dân tình xôn xao khi xuất hiện website lễ chùa online thì nay việc đi chùa đã được đưa lên... App. Khi cài ứng dụng này, mọi người có thể đến viếng, thắp nhang rất nhiều ngôi chùa trên cả nước. Đặc biệt, người dùng có thể nạp tiền vào App để... được phù hộ. Với mức nạp 20 ngàn đồng, "thí chủ" sẽ được phù hộ trong 1 ngày, nạp 50 ngàn đồng sẽ được bình an trong 1 tháng. Mua gói càng lớn thì ưu đãi càng cao! Hiện App này có hơn 5.000 lượt tải về và hàng trăm đánh giá trên Google Play.
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà đơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.