(Xem: 1421)
Trong quyển sách nhỏ bé này, người viết nhằm vào lợi ích của cả hai đàng, cư sĩ lẫn tỳ khưu, và những tài liệu sau đây có lẽ không tìm thấy ở sách nào khác. Bhikkhu Khantipālo
(Xem: 4914)
Có những khi đức Phật phải nghiêm khắc, rất nghiêm khắc nhưng đó lại là một khía cạnh khác của lòng từ bi. Trong một dịp ở thị trấn Catuma trong rừng cây Kha-lưu-lạc (Myrobalan), xứ của người Sakya (Thích Ca), đức Điều Ngự đang ở trong tịnh thất thì nghe tiếng ồn ào náo động ở trong tịnh xá. Ngài gọi ngài Ananda – lúc đó là thị giả vào hỏi xem có chuyện gì
(Xem: 4045)
Trước tiên, chúng tôi xin trình bày nhân duyên chọn tên cuốn sách nầy. Kỷ niệm thời trẻ là kỷ niệm khó quên. Mỗi lần nhớ Huế là mỗi lần tôi nhớ hoa ngọc lan. Một hôm viếng chùa, một đại đức đã đọc và giảng bài thơ chữ nho trên vách cho tôi nghe. Tác giả bài thơ là nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Bài thơ ca ngợi đức hạnh của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết qua hoa ngọc lan.
(Xem: 5008)
Dung lượng của quyển sách này tuy khiêm tốn nhưng hiệu dụng của nó khi áp dụng hành trì thật lớn lao không ngằn mé. Vì người mới bước chân vào đạo nếu không có sự tỉnh thức thì làm sao đạt đến con đường của Giới – Định – Tuệ. Nếu không nhờ oai nghi phép tắc trợ duyên thì làm sao bước vào con đường vô lậu được?
(Xem: 6451)
Trong các tổ chức, cộng đồng, quốc gia trên thế giới, nơi nào cũng có phép tắc luật lệ riêng mà thành viên thuộc các tổ chức đó hay người dân thuộc cộng đồng hay quốc gia đó bắt buộc phải tuân thủ. Mục đích của luật lệ là nhằm giữ cho cộng đồng có được trật tự, ngăn ngừa giảm thiểu những tai ương tội ác do kẻ xấu cố tình gây ra.
(Xem: 3941)
Vừa qua, chúng tôi đã giới thiệu bài viết “An cư kiết hạ: xuất giới như thế nào là đúng pháp?” ghi lại ý kiến của HT.Thích Minh Thông (Khánh Hòa). Ở số này, chúng tôi tiếp tục đăng tải ý kiến của HT.Thích Minh Thông (TP.HCM) về việc áp dụng những vấn đề này trong hoàn cảnh hiện nay như thế nào cho đúng pháp.
(Xem: 6500)
Vừa qua, có một số ý kiến phản ánh về báo Giác Ngộ, trong mùa an cư kiết hạ, sao vẫn thấy một vài chư Tăng Ni đi đây đó, như vậy có đúng với giới luật hay không?
Kinh
(Xem: 1523)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận. Còn tương lai thì chưa tới. Đối với pháp hiện tại hãy quán sát bằng trí tuệ (Vipassati) để tâm được bình yên không bị dao động rung chuyển khi gặp những chuyện bất như ý. Phải tu tập tuệ quán ngay hôm nay vì không ai biết được Vô thường tức sự chết đến lúc nào, mà cũng không ai có thể điều đình van xin khất hẹn với cái chết. Vị nào tu tập luôn an trú trong tuệ quán, tức an trú trong Tánh giác ngày đêm không mệt mỏi, thì vị ấy xứng đáng được gọi là bậc Thánh an tịnh trầm lặng.
(Xem: 902)
Chúa tể Lăng-già! Thế gian đều như huyễn hóa , đây không phải là điều mà các triết gia ngoại đạo và phàm ngu có thể biết được. Chúa tể Lăng-già! Người nào thấy đúng như thế đối với pháp, tức là thấy chân thật đối với pháp
(Xem: 13266)
Tôi nghe nói như thế này... Lúc bấy giờ, Đức Phật đang an trú tại vườn Cấp Cô Độc, trong công viên Kỳ Viên gần thành Xá Vệ. Khi ấy, có một vị nữ cư sĩ tên Gangottara (Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di) rời nơi cư ngụ của bà ở thành Xá Vệ đến gặp Đức Phật. Bà cung kính đảnh lễ dưới chân Đức Phật, rồi lui qua một bên và ngồi xuống.
(Xem: 819)
“Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” (ấn bản tiếng Việt) của Ni sư Thích Nữ Giới Hương đã được ra mắt lần đầu vào năm 2008, và sau gần 10 năm đã được tái bản 4 lần và lần thứ 5, năm 2018 được tái bản cùng một lúc ở hai nơi, trong nước do NXB Hồng Đức xuất bản và ở hải ngoại do NXB Ananda Viet Foundation xuất bản phát hành trên mạng Amazon toàn cầu. Đây là ấn bản tiếng Anh, tiếp theo sau ấn bản tiếng Việt cũng đã được phát hành trên mạng Amazon tháng vừa qua.
(Xem: 1967)
Có thể nói rằng toàn bộ Kinh điển thành văn của Phật giáo Nguyên thủy hôm nay là một tập đại thành của nhiều lần trùng tuyên và san định qua nhiều thế hệ truyền thừa với không ít những bàn cãi nhiêu khê. Các tài liệu truyền thống cũng đã cho chúng ta biết rằng, sau ngày Đức Phật nhập diệt, trong nội bộ Phật giáo đã liên tiếp nảy sinh những mâu thuẫn gay gắt về cách hiểu lời Phật dạy mà lúc đó hãy còn trong hình thức khẩu truyền. “Đó là trong bản chất và truyền thống truyền miệng rằng những sự kiện và tình huống xảy ra phổ biến nên được mô tả lại trong hình thức rập khuôn trong các từ tương tự.”Các cuộc kiết tập kinh điển đã được tổ chức nhằm giải quyết những rắc rối này. Và kết quả thu nhặt được sau từng cuộc kiết tập đó đã được ghi chép lại thành kinh điển để truyền thừa về sau.
(Xem: 2735)
“Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” của Ni sư Thích Nữ Giới Hương đã được ra mắt lần đầu vào năm 2008, và sau gần 10 năm đã được tái bản 4 lần và lần thứ 5, năm 2018 được tái bản cùng một lúc ở hai nơi, trong nước do NXB Hồng Đức xuất bản và ở hải ngoại do NXB Ananda Viet Foundation xuất bản phát hành trên mạng Amazon toàn cầu.
(Xem: 1006)
Nội dung kinh này gồm có bốn phần: Phần một ghi lại việc đức Phật lên cung trời Đao-lợi nói pháp hóa độ cho thánh mẫu Ma Ha Ma Da chứng được Sơ-quả Tu-đà-hoàn, cùng những bài pháp do chính thánh mẫu nói ra trước đại chúng. Phần hai ghi lại việc đức Phật từ cung trời Đao-lợi trở về tinh xá Kì-viên và du hành qua các nước để hóa độ chúng sinh; cuối cùng thì đến rừng Ta-la-song-thọ ở ngoại ô thành Câu-thi-na để nhập niết-bàn.
(Xem: 4737)
"Pháp Uẩn Luận là phần quan trọng nhất trong các tác phẩm A Tỳ Đàm và cũng là khởi nguyên của hệ thống giáo lý Hữu Bộ. Bộ luận này do ngài Đại Mục Liên biên soạn. Hữu Bộ là trường phái dẫn đầu của mọi trường phái Phật Giáo và sở hữu một di sản kinh điển đồ sộ từ Phát Trí Luận, Tỳ Bà Sa Luận, Thuận Chánh Lý Luận, Hiển Chân Tôn Luận.
(Xem: 3458)
Khi thực hiện lập luận bằng biện chứng pháp Tính Không, nếu có ai dùng lời phê phán, thì đối với người đó, hết thảy đều không phê phán được. Là bởi vì phê phán đó, nó cũng tương tự những gì đã được chứng minh rồi.
(Xem: 2073)
Sự vô tri tác thành các ý chí là căn cội của luân hồi. Do đó, vô tri là tác giả chứ không phải là tri, vì tri là sự thấy biết về lẽ chân thật.
(Xem: 3360)
“Kathāvatthu” có thể nói là một bộ sách biện luận duy nhất trong hệ thống Tam Tạng Nam Truyền được tiến hành bằng phương pháp vấn đáp logic. Đó là bộ thứ năm trong bảy bộ Abhidhamma (A-tì-đàm hay A-tì-đạt-ma) – thường được gọi là Thắng Pháp hay Vi Diệu Pháp
(Xem: 3239)
Luận Hiển dương Thánh giáo 顯揚聖教論, tiếng Phạn là Ārya-śāsana-prakaraṇa-śāstra hay Prakaranaryavaca-sastra (Acclamation of the Scriptural Teaching/ Treatise of Acclamation of the Sagely Teaching), là một bộ luận trọng yếu của Phật giáo Đại thừa Duy thức tông, do đại sĩ Vô Trước (無著,310-390) trước tác.
(Xem: 4434)
Thất thập không tánh luận (七十空性論, Sunyata-saptati), còn gọi là Thất thập luận (七十論), là luận thư của Phật giáo Đại thừa. Tác giả luận này là Bồ-tát Long Thọ. Nội dung luận này giảng nói đạo lý tự tánh Không của các pháp.
CHUYÊN ĐỀ
Viết về mẹ tôi mà bắt đầu bằng Thúy Kiều, mẹ tôi chắc chắn không ngạc nhiên. Bởi vì mẹ tôi quá biết tính nết con trai mình : cả đời hụt chết mấy lần vì nhan sắc. Ít ra mẹ tôi cũng rộng lượng với con: nó đâu có phải là phường ham mê nữ sắc, chỉ mê cái đẹp thôi. Mà Thúy Kiều thì đẹp, quá đẹp.
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.
Cả tuần lễ trước rằm tháng 7, rất nhiều chùa và rất nhiều cơ quan, gia đình tổ chức lễ vu lan. Mừng thay, lễ vu lan ngày nay được quan tâm và điều đó giúp cho đạo đức con người tốt hơn, xã hội bình an hơn, tình người được trân trọng hơn.
Công sinh thành, dưỡng dục / Đã cạn lời ca dao / Cha mẹ như trăng sao / Mãi sáng ngời ân đức.
Mỗi năm ngày giỗ Mẹ | Sóng kỷ niệm dập dồn | Vỗ tâm con ghềnh đá | Nhớ thời Mẹ còn bên | Những ngày xa xưa ấy
Tháng bảy mùa thu lá rụng vàng | Ấy mùa báo hiếu lễ Vu-lan | Bâng khuâng nhớ đến ân sinh dưỡng | Thổn thức tâm con ngấn lệ tràn.
Vu Lan là ngày tri ân, tưởng niệm, nghĩ về, truyền thông, nối kết giữa con cái và cha mẹ.[1] Nghĩa là ngày báo hiếu. Để làm được trọn vẹn ý nghĩa của ngày Vu lan, người con Phật cần biết phương pháp báo hiếu theo lời dạy của Phật trong cả hai truyền thống Nguyên thủyĐại thừa. Nói cách khác nghĩa là nhằm nhận diện được những điểm dị và đồng của hai truyền thống, qua đó có thể hiểu rõ hơn đâu là cách báo hiếu tốt nhất.
Trong nhiều bài kinh từ Hán tạng cho đến Pali tạng, Đức Phật tán thán hạnh hiếu dưỡng cha mẹcông ơn mang nặng đẻ đau và dưỡng dục của cha mẹ vô ngần, không thể tính kể. Cho nên trong Tăng Chi Bộ, Thế Tôn gọi Cha MẹPhạm Thiên, và những con cháu trong gia đình nào mà kính dưỡng cha mẹ được xem ngang bằng với Phạm Thiên
24 giờ bên người bệnh bị liệt toàn thântai biến mạch máu não là quãng thời gian tưởng chừng như vô tận đối với tôi. Vậy mà cô em gái của bạn tôi, rõ ràng hơn là một cô ni nhỏ, đã ở bên và chăm sóc mẹ gần 24.000 giờ mà không hề chép miệng thở than! Một quãng thời gian có thể làm cho bao con tim khô héo, dù là kẻ hiếu thảo thường tục hay người chuyên nuôi bệnh cũng phải kính phục, nghiêng mình.
“Có hai hạng người khó gặp trong đời? Thế nào là hai? Đầu tiên là người có lòng tử tế, và thứ là người biết ơn hành động tử tế của người đã làm cho mình”
Việt Nam nằm trên đường giao lưu giửa Ấn Độ và Trung Hoa, nên nước ta chịu ảnh hưởng không ít vào nền văn hóa Ấn – Trung, đó là nền văn hóa Phật giáoKhổng giáo . Đạo Phật đã truyền thừa vào nước Văn lang rất sớm, nên giáo lý nhà Phật đã đóng góp không nhỏ vào việc hình thành nền văn hóa dân tộc,
Một trong những chủ đề kinh điển trong nghiên cứu về sự tương tác và thay đổi tôn giáo ở châu Á là chủ đề về sự biến đổi của Phật giáo sau khi nó du nhập vào Trung Quốc. Khi Phật giáo – một tôn giáo Ấn Độtìm cách thiết lập nơi ngữ cảnh mới Trung Quốc, nó phải đối mặt với đạo đứcvăn hóa Nho giáoĐạo giáovì vậy buộc phải thích ứng với nhiều thể thức quan trọng khác nhau.
NEW POSTING
Hạnh phúc thế thường chủ yếu vẫn quẩn quanh nơi thọ lạc, sự thỏa mãn các giác quan. Người có phước thì sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý luôn tiếp xúc với sáu cảnh trần sắc đẹp, thanh hay, hương thơm, vị ngon, xúc chạm êm ái, cảnh trong tâm (pháp trần) vừa ý, đẹp lòng.
Ngay những trang đầu, nội dung của cuốn sách đã được trình bày một cách súc tích, đầy đủ qua một hình ảnh rất đẹp: Hình ảnh của người anh lớn đến kịp lúc để giúp người em giải quyết một vấn đề nan giải trên máy vi tính. Người anh nói: “Em ngồi qua một bên, anh làm cho.” Người em tức thì cảm thấy vững lòng dù chưa biết vấn đề có được giải quyết ổn thỏa hay không. Người anh lớn đó chính là Đức Bụt trong lòng mỗi chúng ta, là sự hiểu biết sáng suốt của chúng ta. Thầy Thích Nhất Hạnh cũng chính là người anh lớn đó, lúc nào cũng gần gũi, thân thiếtkiên nhẫn. Mỗi trang sách là một lời nhắn nhủ, ta như đang nghe giọng nói nhẹ nhàng, dí dỏm của Thầy: “Các bạn cứ nhìn lại xem, tình thươngtuệ giác của Bụt ở ngay trong lòng của bạn.”
Những lời ác ý, chê bai người khác không những tổn thương người khác mà đối với mình cũng bất lợi thế nên chúng ta cần cố gắng tránh nó. Trong văn phòng vẫn thường xuyên xảy ra những lời nói đầy bạo lực. Lý do để nói ra những lời tổn thương người khác có thể là mong cho người ta thất bại, hoặc là vì lợi ích của mình, ngăn không cho người khác có cơ hội thăng tiến với nhiều thủ đoạn không chính đáng như bịa đặt, chê bai đối phương.
“Thiền tập được dựa trên tuệ giác bất nhị - giữa thiện và ác, giữa khổ và lạc, vì vậy phương pháp xử lý khổ đau luôn luôn là nhẹ nhàng, bất bạo động. Khi ta đã chấp nhận được tính cách bất nhị của thực tại, ta sẽ trở thành bất bạo động một cách tự nhiên. Ta thấy không cần phải đàn áp, xua đuổi cơn giận và nỗi sợ của ta nữa, bởi vì ta thấy cơn giận ấy và nỗi sợ ấy cũng là chính ta, chứ không phải là kẻ thù của ta.
Việc diễn tả về sự chết trong dạng thức sự tan rã của thân và tâm và của bốn yếu tốđặc biệt trong Tantra Yoga Tối Thượng. Sau khi thụ thai một tiến trình của hình thành diễn tiến từ vi tế đến thô, nhưng vào lúc lâm chung có một sự tan rã từ thô đến tế. Những hiện tượng tan rã gồm có bốn yếu tố - đất (vật chất cứng của thân thể), nước (chất lỏng), lửa (sức nóng), và gió (năng lượng, chuyển động).
Từ non cao, những đợt lá vàng cuốn theo gió, rơi theo dòng suối, trôi giạt xuống con sông nhỏ trong làng; rồi từng nhóm lá xuôi dòng, tấp vào bờ này hay bờ kia. Đôi khi cũng có vài chiếc lá đơn chiếc, chẳng tụ bên nhau, không ghé nơi đâu, trôi thẳng ra biển lớn.
Vào tháng 2 năm 1955, tại Huế, Ni sư Thích nữ Diệu Không phụ trách "Liên Hoa tùng thư" cho xuất bản một tập văn có tên là "Liên Hoa văn tập". Đến tháng 11 năm ấy, trong phiên họp bất thường của Giáo hội Tăng già Trung Việt tại chùa Báo Quốc, Ni sư Diệu Khôngnhã ý trao "Liên Hoa" văn tập lại để làm cơ quan truyền bá Phật pháp của Giáo hội.
Trong công việc khó có thể tránh khỏi hoàn cảnh bất lợi, nhiều người sợ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, cảm thấy nghịch cảnh là một cú sốc lớn. Thực ra, nếu trước mắt không có những khó khăn, nghịch cảnh thì thông thường con người khó trưởng thành.
“Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời. Toàn bộ cuộc đời chúng ta là một trường học. Từ khi mới lọt lòng sinh ra cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, chúng ta đều học ở dưới mái trường này.”
Hãy biết trân quý những giây phút hiện tại. Hãy biết trân quý những gì mình đang có, đang thọ hưởng. Đừng để khi trôi vụt qua đi, mất đi, rồi mới ngồi nhìn lại với nuối tiếc, ăn năn. Được nghe Thầy trú trì Thich Nguyenminh kể câu chuyện một người mang "tâm bệnh" cứ luôn nghĩ mình là một hạt bắp, nên hễ thấy con gà là sợ hãi, lật đật bỏ chạy. Đại chúng đều cười thật an lạc. Cười rồi, mỗi người lại tự xét bản thân, quán cái Tâm của mình, xem lại thử mình đã có bao giờ tự thấy mình là một cái gì đó nên cứ luôn sợ hãi một cái chi chi đó? Có hay không? Hãy thoát ra khỏi cái “tự thấy” đó đi! Đừng sống trong sợ hãi. Đừng sống mà cứ nơm nớp âu lo những gì viển vông, mơ hồ.
Ngày hôm nay là một ngày thật bình yên, tiếng mưa đang rơi trên mái nhà và trên những ngọn cây. Nghe thật mê ly làm sao. Trong buổi sáng Chủ Nhật bình yên này, tôi muốn nói về một vấn đề lại chẳng bình yên chút nào.
"Mái chùa che chở hồn dân tộc Nếp sống muôn đời của tổ tông." Những vần điệu ý từ được lưu truyền bao năm qua đã trở thành bất tử này, vốn là hai câu cuối của một thi phẩm bất hủ, mà tác giả là thi sĩ Huyền Không. Hòa thượng Thích Mãn Giác (1929-2006), pháp danh Nguyên Cao, lấy đạo hiệu Huyền Không làm bút hiệu ký dưới những bài thơ thấm đẫm hương vị từ bi, giải thoát.
Những bàn chân dày cui chai sạn sau lộ trình gần hai ngàn cây số mà chúng tôi đi trong hơn hai tháng đã phồng rộp dưới cái nắng bốn mươi độ. Cây cối hai bên đường héo úa, dường như càng ủ rũ hơn theo tiếng quạ kêu trưa. Do dừng lại khá lâu tại Kusinārā nên chặng đường về Sāvatthī chúng tôi phải đi sáu mươi cây số một ngày. Trời không một chút gió và trên đầu không một đám mây, mọi người phải bước nhanh trên những đôi chân đã rướm máu ấy. Chúng tôi đến Sāvatthī đã hơn bảy giờ tối mà trời vẫn hưng hửng sáng.
Đối với hàng Phật tử tại gia, năm giới là năm điều học căn bản để tạo dựng nên một nếp sống đạo đức, tốt đẹplành mạnh. Không chỉ trong đạo Phật mà năm điều đạo đức này còn là năm điều kiện để tạo dựng một xã hội an lành, trật tự và phát triển bền vững.
Mặt trời xuống núi, nắng vàng cuối ngày trải dài trên khắp không gian. Những tia nắng yếu ớt len lỏi qua những ngôi nhà tranh tuềnh toàng của sơn thôn nhỏ. Vài ba cây hoa gạo nở bông đỏ ối tạo nên một bức tranh quê yên bình nhưng đườm đượm buồn.
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận. Còn tương lai thì chưa tới. Đối với pháp hiện tại hãy quán sát bằng trí tuệ (Vipassati) để tâm được bình yên không bị dao động rung chuyển khi gặp những chuyện bất như ý. Phải tu tập tuệ quán ngay hôm nay vì không ai biết được Vô thường tức sự chết đến lúc nào, mà cũng không ai có thể điều đình van xin khất hẹn với cái chết. Vị nào tu tập luôn an trú trong tuệ quán, tức an trú trong Tánh giác ngày đêm không mệt mỏi, thì vị ấy xứng đáng được gọi là bậc Thánh an tịnh trầm lặng.
Khi hoàn tất cuộc chiến đấu giành độc lập 600 năm trước, Nguyễn Trãi đã lấy danh nghĩa của vua Lê Thái Tổ mà hùng hồn tuyên cáo, “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân - Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. Nhân nghĩatư tưởng truyền thống của dân tộc Việt Nam, hình thành và phát triển xuyên suốt chiều dài lịch sử. Mục đích của nhân nghĩa đã được khẳng định “cốt để yên dân”, nghĩa là có mục đích bảo vệ hạnh phúc của nhân dân. Hạnh phúc lớn nhất của toàn dân là được sống trong bình yên, an tâm làm ăn, không phải đau đáu lo lắng về sự xáo trộn, không phải hồi hộp chứng kiến cảnh chết chóc, đau thương.
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả thường hay vướng vào năm chướng ngại, mà thuật ngữ Phật học gọi là ngũ triền cái, làm cho việc thực tập thiền khó đạt được như ý muốn. Năm thứ này thường hay hiện khởi làm cho các đề mục thiền quán bị tán loạn, phân tâm và khó chú tâm đưa đến tịnh chỉ, an trú trên các đề mục thiền.
Thiền sư Ajaan Fuang Jotiko, sinh năm 1915 tại tỉnh Chanthaburi, Đông Nam Thái Lan (gần biên giới Campuchia). Mồ côi năm 11 tuổi, ông sống ở nhiều chùa, cho đến năm 20 tuổi được thọ giới xuất gia, về sau trở thành một thiền sư lớn (theo truyền thống tu tập trong rừng) ở Thái Lan.
Cháy chợ, cháy ngay khu bán hàng quần áo may mặc sẵn. May mà cháy vào ban ngày, giữa trưa, nên xoay trở cứu kịp thời. Tám gian hàng bị cháy rụi. Gian hàng của mẹ tôi cũng ra tro, nhưng hàng hóa đã được bác Hưng chuyển kịp ra ngoài, không hao mất món nào. Đến chiều, từ trường về nhà, tôi nghe tin, vội chạy ra chợ tò mò nghe ngóng. Tôi nghe rằng cháy chợ do một người bất cẩn thắp nhang cúng ông Địa.
Duyên khởiđạo lý quan trọng trong toàn bộ giáo pháp của Thế Tôn. Có thể nói, chính duyên khởi đã tạo ra sự đặc thù của Chánh pháp, khác biệt với mọi luận lý sáng thế, tạo vật của các hệ tư tưởng đương thời.
Cuộc đời vốn vô thường, có sanh ắt có diệt; nhưng sự tịch diệt của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã để lại sự tiếc thương vô vàn cho nhân thế. Nhớ lại cách đây hơn hai nghìn sáu trăm năm trước, giữa xứ Ấn Độ còn đầy dẫy bất công và sự bành trướng của những tà thuyết ngoại đạo, Đức Phật đã ra đời như ánh quang minh, giải thoát những xiềng xích của ngục tù tăm tối. Đó là âm vang oai hùng trong kinh Sư tử hống: “Một vị hữu tình không bị chi phối, đã sanh ra đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người”1 .
Thế là Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN (WEF on ASEAN)kết thúc. Kết thúc trong nuối tiếc của không chỉ riêng tôi. Tôi thấy mình thật may mắn khi Diễn đàn được tổ chức ngay tại Thủ đô Hà Nội và mình may mắn được có mặt trong 3 sự kiện quan trọng này.
Quán thấy chúng sanh là hóa là huyễn, hơn nữa, nghiệp của chúng sanh là hóa là huyễn, nên Bồ-tát không bị cuốn vào cảnh khổ cảnh vui của chúng sanh, do đó hết sức độ chúng sanh mà vẫn bình an phẳng lặng trước tám ngọn gió đời (bát phong: 1. Lợi ích, 2. Suy kém, 3. Chê, 4. Khen, 5. Ca ngợi, 6. Chê trách, 7. Khổ, 8. Vui.
Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống ngày càng đề cao vật chất, để sinh tồn, con người phải làm việc, nhưng công việc dù thu nhập lớn đến đâu cũng luôn mang lại khổ đau. Có một thực tế là, càng làm việc lâu, con người càng mất đi lòng hăng say cống hiến, trong họ chỉ còn nỗi mệt mỏi vô tận.
Ngẫu nhiên theo nhân duyên, tôi đã đặt chân đến ngôi chùa của cố Hòa thượng thượng Nhuận hạ Thông, vị cao tăng đức độ nằm trong Ban Kiểm soát Tỉnh Giáo hội Phật giáo Khánh Hòa, và là bậc trưởng thượng đã phát nguyện trợ duyên cho Ban Hoằng Pháp Tỉnh Hội, cho Lớp Giáo Lý dành cho Phật tử Áo Lam Nha Trang duy trì gần 15 năm trời.
Thiền sư Ajaan Fuang Jotiko, sinh năm 1915 tại tỉnh Chanthaburi, Đông Nam Thái Lan (gần biên giới Campuchia). Mồ côi năm 11 tuổi, ông sống ở nhiều chùa, cho đến năm 20 tuổi được thọ giới xuất gia, về sau trở thành một thiền sư lớn (theo truyền thống tu tập trong rừng) ở Thái Lan.
Nhạc sĩ Quý Luân, đạo diễn bộ phim - chủ nhiệm CLB Hoa Tâm cho biết, sau khi phim Nhân quả cuộc đời 1, 2 ra mắt thành công, được sự đón nhận và phản hồi rất tích cực từ người xem, CLB đã quyết định làm phần 3 nói về người khiếm thị, về tình yêu người trẻ với sự chân thật, chung thủy, không lừa dối.
Giữa lòng Québec (Canada), một thiền viện thuộc hệ phái thiền Trúc Lâm do HT. Thích Thanh Từ sáng lập nằm êm đềm giữa một khung cảnh núi rừng xinh đẹp, đó là thiền viện Đạo Viên mang tên một vị thiền sư thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử do Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông sáng lập.
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài ” Ai làm cho mình khổ”, con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy. Nó làm con phát hiện ra rất nhiều phiền não ngủ ngầm trong tâm mình mà bấy lâu nay, con cứ tưởng mình đã thấu hiểu và dẹp bỏ được chúng.
Nhân duyên cuốn sách này ra đời là do đức tin của một người Phương Tây gốc Do Thái, Tiến sỹ Philip, ông đến Thái Lan năm 1963 để học Phật Pháp, khi đó tôi đang ở tại đảo Phuket…Ông đã đề nghị tôi viết lại cho ông một số điểm hướng dẫn hành thiền giản lược và ngắn gọn để ông tiếp tục thực hành: những điểm đó phải thể hiện được giá trị đích thực của thiền, cách thức thực hành, thực hành thế nào là đúng, thế nào là sai và cụ thể cần phải sửa chữa những sai lầm đó như thế nào trong quá trình thực hành. Tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽ đem lại lợi ích cho những người có hứng thú hành thiền.
Trong cuốn Yêu sự căng thẳng, thương nỗi muộn phiền này, tôi không đưa ra khám phá gì mới mẻ. Đây chỉ là đúc kết tuệ giáckinh nghiệm của các bậc thức giả tiên phong trong lĩnh vực chỉ dạy chánh niệm, chăm sóc sức khỏe tâm thần cũng như sự phát triển lành mạnh của tuổi trẻ. Tôi muốn chia sẻ kết quả thực tập chánh niệm của riêng tôi cũng như những kinh nghiệm lâm sàng của tôi trong vai trò là một bác sĩ nhi khoa chuyên về y khoa tuổi vị thành niên.
Trò chuyện và thấu hiểu là các nhu cầu căn bản nhưng không hề dễ để đạt được, nếu như khôngmột đời sống an lạc và một tinh thần hướng tới chánh niệm.
New posting Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo năm 2018 số 303 ngày 15 tháng 8 năm 20118 & 304 ngày 1-9-2018 và số 395 ngày 15 tháng 9 n8m 2018 (bản PDF)
Ban đầu, tôi gọi trái dưa hấu xuất hiện đem niềm vui nho nhỏ lại cho gia đình mình là “Duyên của Nhà”. Người ăn dưa nhả hạt có thể là một anh, hay chị trong nhóm thợ xây dựng, nhả xong rồi thì thôi, đâu cần biết… hậu quả, đâu thể ngờ được là sẽ có một hạt dưa trong mớ cả trăm hạt dưa của một trái dưa được chia năm xẻ bày sẽ hội đủ duyên để đâm chồi nẩy lộc, đơm hoa kết trái trên cái lô đất ngổn ngang xà bần. Không ai trồng, không ai nuôi dưỡng, không ai bảo bọc và cho phép dây dưa này sinh trưởng ngoài… Đất, nên tôi gọi lại cho đúng hơn là “Lộc của Đất”.
Thực trạng thời hiện tại là cả nhân loại đang ghiền smartphone. Nó là người thân thiết đến mức 50 phần trăm người Mỹ không thể sống thiếu nó và 70 phần trăm đều thú nhận công việc đầu tiên trong ngày vừa mở mắt thức dậy là vớ ngay cái phone lúc nào cũng ấp ủ bên mình. Trẻ con đang sống trên đất Mỹ hơn 90% mê game và những trò chơi giải trí trên smartphone.
"Như Thật" là chủ đề thực hành quan trọng trong Phật pháp, tạm xếp thuộc về Thiền Huệ. Thiền Huệ được chia làm hai mức độ như sau:
Từ lâu, nền giáo dục ở Mỹ luôn đứng hàng đầu Thế Giới. Sở dĩ, nền giáo dục ở Mỹ thành công như vậy vì nó được đặt nền tảng trên ba nguyên tắc. Đó là: (1) Who are my students? (Trình độ của sinh viên như thế nào?)[1], (2) What do they need? (Họ cần gì?), và (3) What do we want them to learn? (Ta nên trang bị cho họ những gì?). Đây chính là ba nguyên tắc đã đưa nền giáo dục Mỹ lên đỉnh cao của thời đại. Vây, nền Giáo Dục Phật Giáo (GDPG) của chúng ta đang trong giai đoạn nào?
Thưa Thầy, Bấy lâu nay con bị Tham dục, Sân hận chi phối, con vẫn tưởng ở đời chỉ cần tu tập cho tốt, là có thể bình ổn vượt qua được, nhưng không thưa Thầy, càng gần Ái dục, con càng bất toại nguyện, càng Sân, càng không vừa ý, trái ý nghịch lòng ở mọi nơi, mọi hoàn cảnh, con sân với người Thân, bạn bè, đồng nghiệp, và ngay cả với Thầy, người con kính trọng. Con đã mất kiểm soát hoàn toàn
Ở đây, chúng ta sẽ nói về một lĩnh vực khác của niệm pháp (dhammānupassanā), là một pháp hành rất rộng, phần lớn nhất và rộng nhất trong kinh Đại niệm xứ. Trước khi nói về niệm pháp, tôi sẽ phải tự mâu thuẫn với chính mình một chút. Tôi sẽ nói với các bạn những điều hoàn toàn ngược lại với những gì tôi đã nói lúc trước. Ngày hôm nay tôi sẽ nói cho các bạn biết một điều là: tất cả mọi thứ đang tồn tại này đều là khổ, đều là bất toại nguyện, tất cả mọi thứ đều rất tệ.
Các giác quan còn lại khi tiếp xúc với cảnh trần tương ứng đều được vận hành theo hai hướng phàm thánh như thế. Cốt lõi của vấn đềtrở thành thánh hay phàm chính là chánh niệm và tỉnh giác khi căn tiếp xúc với cảnh.
Nội dung của cuốn sách “Thiền định và cuộc sống” chủ yếu là chỉnh lý lại những bài giảng, mà sau khi tôi du học Nhật Bản về nước, từ những năm 1992 đến 1997, được sở giáo dục và các đơn vị khác mời tôi chia sẻ liên quan đến “thiền định”. Đối tượng nghe giảng chủ yếu là thầy cô giáo và các sinh viên mới bắt đầu học Phật, hy vọng thính chúng có được sự nhận thức chính xác về “tứ niệm xứ”, “Chánh niệm” v.v.., sau đó đem điều này dung hòa vào cuộc sống thường nhật, tiến đến làm lợi ích cho mọi người.
“Thầy đau đớn trước một nỗi mất mát lớn hơn. Đó là nỗi đau mất đi một đứa học trò ngoan giỏi mà thầy đã từng đặt kỳ vọng vào nó. Đau lắm, các em ơi…” Tiếng “ơi” của thầy như một đường kiếm ngọt sớt đâm xuyên qua trái tim nhỏ bé của thằng “đại ca”của nhóm “Ngũ Quỷ” vốn gan lì liều lĩnh. Thằng Minh quỳ sụp xuống trước người thầy cũ, rồi bật lên một tiếng khóc nghe thê lương thảm sầu…
Thế giới chung là thế giới ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hay thế giới căn và cảnh (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), chịu sự thay đổi, biến hoại, khổ đau mà mọi chúng sinh phải đối mặt. Thế giới riêng là tâm giải thoát, tuệ giải thoát có sẵn mỗi người, thoát khỏi mọi thay đổi, biến hoại, khổ đau.
Kinh điển nhà Phật nếu thuần dùng nghiên cứu tư duy lý luận mà không đem thực hành thì sản phẩm cao nhất cũng như chiếc bánh tuyệt hảo chưa hấp luộc để có thể thưởng thức, cái được rốt cùng là tri thức của chân lý chứ bản thân ta không trở thành chân lý. Từ nỗi truy vấn “con người giấu cái đuôi ở đâu”, hành giả đã lần về nơi hoang vu phận mình nhận chân sự lôi dẫn của “vũ trụ nghiệp” do chính tâm thức lập trình qua từng ý niệm khởi sinh. Lành thay, đức Phật đã chỉ ra những thứ hư ngụy không thuộc về chân lý để chúng ta có thể dự phần "nghệ thuật Buông" trên hành trình ngược dòng về biển giác.
Ánh sáng dường như toả khắp bên trong căn nhà tồi tàn ẩm thấp của gia đình nghèo khổ, sưởi ấm từng ngóc ngách, và sưởi ấm lòng nguội lạnh của con người. Ánh sáng của tình thương rộng lớn, của trí tuệ quang minh, soi vào vùng tối tăm mê muội.
Hận thù đề cập trong bài này là hận thù giữa hai dân tộc Palestine và Israel, và mở rộng ra là hận thù giữa các quốc gia Ả-rập và Israel, kéo dài đã 70 năm nay. Kể từ năm 1948, quốc gia Israel của người Do Thái được thành lập, được Liên Hợp Quốc công nhận, như là miền đất hứa của biết bao người Do Thái lưu vong suốt mấy thiên niên kỷ trên nhiều quốc gia Âu Á. Kể từ đó, quốc gia này phải đối chọi với thế giới Ả-rập mà trực tiếp và triền miên là dân tộc Palestine, vốn cũng có nguồn gốc lịch sử ở dải đất này.
Ngày cuối tuần, chúng tôi đã có một buổi học thật thú vị và khác lạ. Buổi học không phải về kiến thức kinh tế hay văn hóa, kiếm tiền hay lãnh đạo, đọc sách hay giao tiếp. Chúng tôi học về Phật Pháp và về cuộc đời của Đức Phật. Nhưng cách học rất khác lạ và ấn tượng. Chúng tôi thấy rất tuyệt vời và đầy hứng khởi, bổ ích cùng với hơn 700 bạn sinh viên trong khóa tu tại chùa Khai Nguyên, thị xã Sơn Tây, Thủ đô Hà Nội.
Trung Tâm Thiền Vipasanna, Dhamma Bhumi tại Blackheath, NSW Australia sẽ tổ chức khoá thiền nội trú 10 ngày cho cộng đồng người Việt và các sắc tộc khác, từ ngày 07/12/2018 tới ngày 18/12/2018, dưới sự chỉ dẫn của thiền sư Việt Nam đến từ Mỹ.
Khi tôi bắt gặp hai cuốn sách trên và giới thiệu đến mọi người, cảm giác sách-hay-rất-nhiều cứ xâm chiếm tâm hồn tôi. Giữa rất nhiều cuốn sách hay đang có mặt, tôi vẫn muốn giới thiệu đến bạn hai tập sách của Gyatso Rinpoche: “Hồn nhiên sống như thiền” và “Nhẹ tênh giữa chênh vênh”
New posting: Chương III. Đối trị sân hận - gồm các tiết mục sau: Giới thiệu 1. Giết sân hận 2. Ba hạng người 3. Hạng người giống các loài rắn 4. Những lý do để oán hận 5. Những nguy hại của sân hậnlợi ích của nhẫn nhục 6. Loại trừ sân hận 7. Nhẫn nhục trước sự khiêu khích 8. Những tấm gương nhẫn nhục
Trong xã hội loài người, có rất nhiều mối quan hệ bắt buộc một người phải trải qua. Tùy mỗi mối quan hệ, con người cần phải thể hiện bổn phận trách nhiệm cũng như được hưởng những quyền lợi từ mối quan hệ đó. Trong tất cả mối quan hệ tồn tại thì mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan trọng, thiêng liêng và có sự ràng buộc hay nương tựa nhau nhiều nhất.
Hương các hoa thơm không thể bay được ngược với chiều gió. Chỉ có hương thơm của hoa đức hạnh bay được ngược gió. Thế nên hương thơm của người đức hạnh mới lan toả ra khắp cả mọi nơi. (Kinh Pháp Cú.54)
Tu Viện Quảng Hương Già Lam, thường được công chúng gọi ngắn gọn là Chùa Già Lam, tọa lạc tại quận Gò Vấp, Thành Phố Hồ Chí Minh. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông, do Hòa thượng Thích Trí Thủ sáng lập vào năm 1960, đây chính là nơi đào tạo tăng tài (cấp đại học) để hoằng dương chánh pháp, phụng sự Phật đạo. Ban đầu, chùa có tên là Giải Hạnh Già Lam, đến năm 1964 được đổi tên là Quảng Hương Già Lam, do lấy tên của một vị học tăng pháp danh Quảng Hương đã vị pháp thiêu thân vào năm 1963 ở Sài Gòn.
Chương trước quan tâm chính yếu với hai chướng ngại đến một sự thực tập chính đáng khi lâm chungđau khổ tràn ngập và những hiện tướng sai lầm làm sinh khởi tham luyến, thù oán, hay rối rắm. Trong khi tìm cách để tránh hai chướng ngại này, ta cũng cần phát sinh những thái độ đạo đức bằng việc nhớ lại sự thực tập của chúng ta. Khi không còn hy vọng gì được nữa cho kiêp sống này, khi các bác sĩ đã buông tay, khi những nghi lễ tôn giáo không còn hiệu quả nữa, và khi ngay cả những người bạn và người thân của ta từ trong đáy lòng đã không còn hy vọng, thì ta phải làm những gì có ích. Ngay khi ta có chánh niệm, thì ta phải làm bất cứ điều gì ta có thể giữ tâm thức chúng ta trong một cung cách đạo đức.
Chỉ vì chúng sanh chúng ta vô cớ vọng tưởng ra ngã và ngã sở, chủ thể và đối tượng đã sanh thì có tâm phan duyên bám chấp theo cảnh và tâm mà chạy theo sanh tử. Nếu theo đuổi, quán sát đến tận nguồn gốc của tâm này thì thấy nó “rỗng không chẳng có thật, chẳng sanh chẳng trụ, chẳng dị chẳng diệt”. Tâm là rỗng không, không thật không sanh không diệt, là tánh Không, thì có cái gì trói buộc để phải giải thoát, có cái gì để hướng quả và chứng quả.
Hiện các quốc giacộng đồng trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về phá thai. Dù khác biệt nhau nhưng đa phần nhân loại đều nghiêng về quan niệm phá thaitội lỗi, thậm chí là tội ác. Phật giáo cũng vậy, không chấp nhận việc ác này bởi thai nhimột sinh mạng, một con người. Không phải đợi đến khi đủ tháng ngày ra khỏi lòng mẹ mới là người mà ngay khi còn trứng nước, lúc tinh cha-huyết mẹ-thần thức giao hội đã là người.
Xuất gia thì con phải lựa người để sống cùng chứ không phải lựa chùa để nương gá vì người làm nên chùa chứ không phải chùa làm nên người. Chùa thì đâu cũng thấy nhưng người thực sự tu hành, từ bỏ hẳn ngũ dục thì con phải đi tìm đấy. Để tìm ra một con người và môi trường tu tập tốt thì con trả lời hai câu hỏi cho bản thân và ba câu hỏi cho nơi ở tu tập sau đây:
"Động Cửa Thiền" là truyện ngắn đắc ý nhất của Tâm Không Vĩnh Hữu (TKVH), đã được rất nhiều trang web đăng tải, được vài tổ chức phi chính phủ đưa vào audio & Youtube "đọc truyện", được chuyển thể thành thơ lục bát, được đến 2 nhóm điện ảnh tự ý chuyển thể kịch bản phim để tham dự Liên hoan Phim Ngắn Quốc Tế, cũng được nhiều tác "giả" tự tiện cải tên đổi hiệu lấy làm sáng tác của chính mình, và kỳ lạ thay, ĐCT còn được một vài trang web của Công Giáo đăng tải, như muốn giới thiệu sự vi diệu của giáo lý nhà Thiền Phật Giáo. "ĐCT" vì vậy được tôi chọn lấy để đặt tên chung cho Tuyển Tập Truyện Ngắn Phật Giáo.
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Trung Tâm Thiền Vipasanna, Dhamma Bhumi tại Blackheath, NSW Australia sẽ tổ chức khoá thiền nội trú 10 ngày cho cộng đồng người Việt và các sắc tộc khác, từ ngày 07/12/2018 tới ngày 18/12/2018, dưới sự chỉ dẫn của thiền sư Việt Nam đến từ Mỹ.
Khóa tu sinh viên “HẠNH PHÚC LÀ ĐIỀU CÓ THẬT” sẽ được tổ chức tại chùa Khai Nguyên, Tản Viên Sơn Quốc Tự - Địa chỉ: Xã Minh Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội vào hai ngày 8 và 9 tháng 9 năm 2018 với sự bảo trợ của Viện Huyết Học Truyền Máu Trung Ương. Dưới đây là bài ký sự viết về một khóa tu trước đó đã được diễn ra tại chùa Cụ Linh, tỉnh Hải Dương của Tác giả Vũ Thị Phương Hoa.
Khóa tu leo núi Thị Vải với chủ đề: “Bước tới thảnh thơi” sẽ diễn ra trong ngày 09/09/2018 (Đi về trong ngày chủ nhật) do CLB Nhân Sinh tổ chức dự kiến sẽ có hơn 200 bạn trẻ, sinh viên, học sinh…tham dự tại TP. Vũng Tàu.
Được biết, buổi chia sẻ với nội dung nhằm gửi gắm đến các bạn trẻ một góc nhìn mới của Phật giáo về cách thức dưỡng nuôi và trở về sống với năng lượng tích cực, niềm vui sống khi đứng giữa trăm bề lo toan trong học tập và công việc.