(Xem: 1320)
Theo Tứ phần luật thì nguyên nhân Phật chế định sự an cư là do nhóm sáu người gọi là lục quần Tỳ kheo thường du hành trong nhân gian, bất cứ mùa nào, nhất là vào mùa mưa, họ dẫm đạp chết vô số côn trùng. Các cư sĩ thấy thế than phiền. Đức Phật hay biết việc ấy, Ngài khiển trách nhóm lục quần Tỳ kheo và chế định từ đó trở đi, hằng năm các Tỳ kheo phải an cư ba tháng vào mùa mưa, để tránh tình trạng đi ra đạp chết cỏ, trùng và để yên tĩnh tu dưỡng thân tâm.
(Xem: 1023)
Ngày nay, cả hai hệ Phật giáo phương Nam và phương Bắc đều tự tứ theo truyền thống sau mùa an cư giải hạ. Chỉ có thời gian tổ chức không đồng bộ do sự dị biệt tính phái và ảnh hưởng bản sắc dân tộc vùng miền khi Phật giáo du nhập.
(Xem: 1418)
Giới luật Phật giáo không dành riêng cho đối tượng nào nhưng hàng xuất gia là đối tượng bắt buộc phải học giới luật Phật giáo.
(Xem: 1453)
Tôi nhận được bản thảo của quyển “Giới bổn Thức-xoa của Luật Tứ phần” do Thượng tọa Nhật Từ dịch và chú thích từ bản chữ Hán “Thức-xoa-ma-na-ni giới bổn” (式义摩那尼戒本) do Sa-môn Hoằng Tán (沙門弘贊) biên tập. Giới bổn này đã được Trưởng lão Thích Trí Quang dịch và xuất bản từ năm 1993. Tuy nhiên, việc dịch mới một tác phẩm thích ứng với điều kiện tu học của hành giả trong thời điểm hiện tại cũng là điều hết sức cần thiết. Bản dịch của Thượng tọa Nhật Từ có nhiều chú thích về thuật ngữ, giúp các Thức-xoa-ma-na, các Ni sinh đang ngồi trên ghế các trường Trung cấp Phật học, Trường Cao đẳng Phật học, hoặc đang tu học tại các tòng lâm tự viện, hiểu rõ hơn về các điều khoản giới luật một cách chi tiết, nhận thức rõ tầm quan trọng của Giới bổn và ứng dụng hành trì trong bối cảnh tu học của tự thân.
(Xem: 2376)
Giới Bồ-tát tại gia được đức Phật quy định trong “Kinh Ưu-bà-tắc giới”, đang khi giới Bồ-tát xuất gia được ghi chép trong “Kinh Phạm võng Bồ-tát giới”. Đây là hai bản kinh quan trọng về quy phạm hành vi của người tu học theo Phật giáo Đại thừa nhằm hoàn thiện đạo đức trọn vẹn, một trong ba trụ cột tâm linh cốt lõi của Phật giáo. Hai trụ cột tâm linh còn lại là trí tuệ và thiền định.
(Xem: 1597)
Giới Bồ-tát xuất gia được quy định trong “Kinh Phạm võng Bồ-tát giới”, đang khi giới Bồ-tát tại gia được ghi chép trong “Kinh Ưu-bà-tắc giới”. Đây là hai bản kinh quan trọng về quy phạm hành vi của người tu học theo Phật giáo Đại thừa nhằm hoàn thiện đạo đức trọn vẹn, một trong ba trụ cột tâm linh cốt lõi của Phật giáo. Hai trụ cột tâm linh còn lại là trí tuệ và thiền định.
(Xem: 2011)
Những năm gần đây tôi có công bố một số bài viết về mối liên hệ giữa Thiền tông sơ kỳ và giới luật, cả giới Thanh văn thuộc Luật tạng truyền thống lẫn giới Bồ-tát. Ban đầu tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu vấn đề này là quan trọng bởi vì nó liên quan đến việc phát triển các luật lệ của Thiền tông được gọi là “thanh quy” (清規).
(Xem: 2688)
Quyển “Giải thích giới luật và oai nghi của Sa-di” được Thượng tọa Nhật Từ dịch từ nguyên tác chữ Hán: “Sa-di luật nghi yếu lược tập chú” (沙彌律儀要略集註) của Hòa thượng Luật sư Quảng Hóa, là tác phẩm có giá trị đối với sự tu học của các Sa-di và người xuất gia trẻ tuổi.
Kinh
(Xem: 227)
Bản kinh được in trong ấn bản nầy chủ yếu là của Max Müller.1 Tôi có ghi thêm phần phân bổ trang của ông trong dấu ngoặc vuông,2 để người đọc có thể căn cứ vào đó và trích dẫn rõ ràng. Trích dẫn riêng của tôi luôn luôn dựa vào các phẩm do Max Müller đã phân ra từ kinh văn. Một bản sao khác của bản khắc gỗ tương tự hiện còn ở London School of Oriental Studies,1 và nhờ sự hỗ trợ của các tư liệu nầy, mà tôi có điều kiện được rà soát lại các ghi chép của Max Müller. Về các ghi chú, tôi đã dùng nhiều tư liệu khác nhau, ở đây được sắp xếp theo thứ tự niên đại: Hai nguồn tư liệu xưa nhất là Bản dịch tiếng Hán của ngài Cưu-ma-la-thập,2 và Luận giải của ngài Vô Trước và Thế Thân.3
(Xem: 1105)
Dự án phiên dịch “Tam tạng Phật giáo Việt Nam” với tên gọi trong truyền thống Đại thừa là Đại tạng Kinh Việt Nam được Viện Tăng thống GHPGVNTN triệu tập, thảo luận kế hoạch và chính thức thành lập vào ngày 20-22/10/1973. Cơ quan trực tiếp phụ trách dự án này là Hội đồng phiên dịch Tam tạng gồm 18 thành viên, dưới sự chủ tọa của HT. Thích Trí Tịnh, HT. Thích Minh Châu và HT. Thích Quảng Độ.
(Xem: 662)
Quyển “Sổ tay mục lục Tam tạng Pāḷi” này chứa đựng các thông tin nền tảng của quyển toàn diện hơn, “Tổng mục lục Tam tạng Pāḷi,” giúp người tìm hiểu về Phật giáo Thượng tọa bộ nói riêng và người yêu thích Phật giáo nói chung, có thể tra cứu nhanh về xuất xứ của các bản văn Kinh, Luật, Luận Pāḷi, cũng như đối chiếu tựa đề Việt – Pāḷi – Hán.
(Xem: 1539)
Từ khi vào chùa với tuổi để chỏm, Bổn sư thế độ đã trao cho tôi bản kinh "Phật thuyết A-di-đà" bằng chữ Hán, bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập và dạy phải học thuộc lòng, rồi theo đại chúng đi thực tập tụng kinh vào mỗi buổi chiều. Học và tụng thuộc lòng ngâm nga vào mỗi buổi chiều, mà chẳng hiểu gì, nhưng tôi lại rất thích.
(Xem: 1734)
Sau đây là những điều tôi được nghe lúc đức Thế Tôn còn lưu trú ở tịnh xá Kỳ Viên trong vườn Kỳ Đà tại thành Xá Vệ; Ngài gọi các vị khất sĩ và bảo: – Này quý thầy. Các vị khất sĩ đáp: – Có chúng con đây. Đức Thế Tôn dạy: – Tôi sẽ nói cho quý thầy nghe thế nào là người biết sống một mình. Trước hết tôi nói đại cương, sau đó tôi sẽ giải thích. Quý thầy hãy lắng nghe.
(Xem: 490)
PHẬT NÓI KINH DIÊN /DUYÊN MỆNH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT Hán dịch: Không rõ tên người dịch [PN: Ngài Bất-Không Tam-Tạng phụng chiếu dịch] Việt dịch: HUYỀN THANH Pram Nguyễn chú giải { gạch bỏ thay vào, hay chú thích bằng [ ] } 12/15/2018
(Xem: 2293)
Bản dịch Việt này dựa vào phiên bản Pãli-Anh của nhà sư Tỳ Kheo Bồ-Đề (Bhikkhu Bodhỉ). Có nhiều chỗ tham chiếu với các phiên bản của nhà sư Ajahn Sujato và PTS. Bộ kinh gồm 4 quyển: Quyển 2 - Quyển Nhân-Duyên | Quyển 3 - Quyển Năm Uẩn | Quyển 4 - Quyển Sáu Cơ-Sở Cảm-Nhận Quyển 5 - Quyển Lớn (Saṃyutta Nikāya)
(Xem: 2819)
Bản dịch Việt này dựa vào phiên bản Pāli-Anh của nhà sư Tỳ Kheo BồĐề (Bhikkhu Bodhi, đại trưởng lão, học giả, dịch giả uyên thâm, nhà từ thiện). Có những chỗ tham chiếu với các bản dịch của nhà sư Ajahn Sujato và của PTS. – Để quý vị hình dung nhanh: Bộ Kinh MN này có 03 QUYỂN (PHẦN) được gọi là QUYỂN 1 [Năm Mươi Kinh Đầu], QUYỂN 2 [Năm Mươi Kinh Giữa], và QUYỂN 3 [Năm Mươi Kinh Cuối]. Mỗi Quyển có 05 Chương, mỗi chương có 10 bài kinh (riêng Chương 5 của QUYỂN 3 có 12 bài kinh). Do vậy toàn Bộ Kinh MN có 152 bài kinh, với QUYỂN 3 có 52 bài kinh.
(Xem: 981)
Tổng hợp bài giảng của thầy Tuệ Sỹ về Nhập Trung Luận.
(Xem: 2954)
Ngài Thế Thân (Vasubandhu) tạo Luận Câu-xá vào khoảng năm 900 sau khi Phật nhập diệt, tức khoảng thế kỷ thứ tư hay thứ năm Tây lịch, làm căn bản cho tác phẩm nổi danh khác cũng do Ngài viết hơn 30 năm sau là Duy Thức Tam Thập Tụng. Luận Câu-xá gồm 600 bài tụng và trường hàng, chia làm 8 hoặc 9 phẩm, gồm 29 hoặc 30 quyển theo sự sắp xếp của các luận gia về sau.
(Xem: 1498)
Ám ảnh bức bách duy nhất của mọi sinh vật chính là sự chết. Các sợ hãi khác chỉ là biến thái của sợ chết. Thế giới bị chinh phục, bị khống chế, bị điều động bởi sự chết. Kinh Phật nhân cách hóa nó thành một loại Ma. Theo từ nguyên, trong tiếng Phạn, mara là danh từ phái sinh từ động từ √mṛ: mriyate, nó chết. Mọi hoạt động của chúng sinh, mọi thứ được kể là văn minh tiến bộ, thảy đều là những biện pháp mà các loài lựa chọn để bảo đảm sự sinh tồn của bản thân và đồng loại. Thế nhưng, do nhận thức sai lầm, điên đảo, kết quả của những lựa chọn đại phần, nếu không muốn nói tất cả, thảy đều tai hại. Đức Phật thành Chánh giác, được mô tả là sau khi chiến thắng quân đội Ma và những quyến rũ của Ma. Các vị luận giải A-tì-đạt-ma cho rằng sợ hãi là một biểu hiện của phiền não. Đây là khía cạnh tiêu cực của sợ hãi. Mặt tích cực được biểu hiện nơi các yếu tố tâm sở thiện.
(Xem: 11460)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 8668)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 6491)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 5806)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
(Xem: 6540)
“Thân tác chứng thành tựu và an trú tịnh giải thoát”: Thế nào là gia hành của tịnh giải thoát này? Tu quán hành giả do phương gì nhập tịnh giải thoát định? Khi người mới bắt đầu sự nghiệp tu quán, trước hết cần phải nắm lấy hình thái thanh thọ, như thanh hành, thanh chi, thanh diệp, thanh hoa, thanh quả, hoặc nắm lấy hình thái thanh y, thanh nghiêm cụ tướng, hoặc nắm lấy đa dạng thanh tướng nào khác. Khi đã nắm lấy các thanh tướng như thế rồi, do lực thắng giải, tư duy tưởng niệm, quan sát an lập, tín giải sắc này là thanh tướng ấy.
CHUYÊN ĐỀ
Khi thế giới đối phó với những tổn thương do COVID-19 gây ra, Ngày Nhân ái Thế giới (World Kindness Day), được tổ chức vào ngày 13 tháng 11 hàng năm, là một cơ hội tốt để chúng ta suy ngẫm về tiềm năng chữa lành bệnh bởi những hành động tử tế lớn và nhỏ của con người. Quả thực, chính những hành động tử tế của những người làm các công việc thiết yếu đã giúp cứu sống nhiều người trong mùa đại dịch vừa qua. Là một học giả nghiên cứu về Phật học, tôi đã nghiên cứu những cách mà các nhà sư Phật giáo nói về sự tử tế và lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh.
Thưa mẹ, Suối vàng có rêu xanh? Dòng nào thuyền mẹ thả? Có bến bờ an vui? Nghì thu miền chín suối, Mẹ mang theo được gì? Dư vị một kiếp người? Hay ngày xưa chua xót? Giọng ngâm: Hồng Vân - Phổ nhạc Võ Tá Hân - Ca sĩ Xuân Phú và Hồ Quốc Việt
Trước nhất cha mẹ là những người ân cần nhất đã cho ta thân người Sau đó, đạo sư ân cần nhất trong việc trình bày giáo thiêng liêng. Cuối cùng con phải tự biểu lộ lòng ân cần to lớn nhất, Luôn luôn thành tâm với thân thể, lời nói và tâm ý với giáo pháp
Từ khi nào rằm tháng Bảy và lễ hội xá tội vong nhân đã đi vào tâm thứcvăn hóa Việt nam? Chúng ta không biết chính xác niên đai và xuất xứ của lễ này cùng với câu chuyên của Mục Kiền Liên cứu mẹ trong Tự Tứ – ngày chư Tăng mãn Hạ theo truyền thống Đạo Phật phát triển.
Sáng nay tình cờ xem một clip thấy hình ảnh một người cha ốm yếu đứng sau chiếc xe cứu thương chở hai quan tài của con đi hỏa táng, chiếc xe đậu trước nhà trên một đường phố vắng vẻ, người cha bước khấp khểnh tiễn đưa người con xấu số rồi quỳ xuống lạy mấy lạy.
Theo cái nhìn của nhà Phật, việc đốt vàng mã chẳng có một chút lợi ích nào cả cho người đã khuất và cho cả người sống (nếu có, thì rất hạn chếxuất phát từ ý niệm thiện lành nhưng chưa đúng chính pháp của người thực hiện). Như vậy, ‘Làm thế nào để có lợi ích thật sự cho người mất, cho ông bà tổ tiên và cho cả người thực hiện (người sống)?” là vấn đề bài kết tập này tập trung mổ xẻ trên nền tảng giáo điển Nikàya (Pali tạng) trong sự liên hệ tương ưng với giáo pháp Đại Thừa của Phật Tổ, ngỏ hầu giúp quý Phật tử (bất bộ phái) có cái nhìn khách quan và đúng đắn, qua đó hành giả có thể tùy duyên ứng dụng hoặc thực hành, mang lại lợi ích cho người mất, ông bà tổ tiên vv, cho cả chính người thực hiện, và hơn thế nữa.
Mùa Vu Lan năm nay bên cạnh bông hồng đỏ, trắng của những đứa con ngoan còn mẹ hay mất mẹ cài lên áo; ước mong rồi đến một năm nào đó rất gần như sang năm, sẽ có đóa hoa xanh, hoa tím… thêm màu nở từ những cõi lòng thấm nước mắt của những đứa con chưa ngoan biết hối cải, ăn năn trở về với Mẹ.
Hôm nay là ngày 15/8 dương lịch nhằm ngày mồng Tám tháng Bảy, Tân Sửu. Chỉ còn một tuần nữa là tới Rằm tháng Bảy. Rằm tháng Bảy âm lịch là ngày mà các chùa theo đạo Phật khắp nơi trên thế giới đều tổ chức Lễ Vu-Lan rất trọng thể. Lễ Vu-Lan từ lâu đã được xem như là ngày Lễ Báo Hiếu của những người con dành cho bậc cha mẹ. Hòa cùng nhịp tim của những người con thảo luôn nghĩ nhớ đến công ơn dưỡng dục sanh thành của cha mẹ nhất là vào mùa Vu-Lan báo hiếu này. Hôm nay chúng tôi muốn cùng quý vị tìm hiểu ý nghĩa bài kinh quan trọng luôn được tụng đọc trong ngày đại lễ Vu-Lan tổ chức tại các chùa Phật giáo Bắc tông. Đó là “Kinh Vu-Lan-Bồn” hay “Phật thuyết Vu-Lan-Bồn kinh” .
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina). Nếu an cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền an cư (Purimikavassà), còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An Cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An Cư (Pacchimikāvassā). Truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi là ‘An cư kiết hạ’, tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Sau rằm tháng tư âm lịch Chư Tăng theo truyền thống Đại thừa bắt đầu kiết túc an cư, cho đến hết ngày mười bốn tháng bảy âm lịch, làm lễ tự tứgiải hạ kết thúc mùa an cư.
Mùa thu hiền dịu và thân thương lại trở về với muôn loài cỏ cây vạn vật, mùa thu hắt hiu gợi cho hồn thi nhân nguồn cảm hứng dạt dào bởi những chiếc lá úa vàng rơi, mặt nước hồ thu trong veo, yên bình dễ phản chiếu một bầu trời ảm đạm. Nhưng đối với người con Phật, thì mùa thu là mùa Vu Lan, là mùa báo hiếu.
Con là Phật tử, hiện đang là sinh viên. Gia đình con thờ Bồ-tát Quán Thế Âm. Trong quá trình tu học, con thường trì chú Đại bi, niệm danh hiệu Bồ-tát và nhận được nhiều sự nhiệm mầu linh ứng không thể nghĩ bàn. Con chỉ thắc mắc một điều là, theo luật nhân quả, những gì xảy đến với con người trong hiện tại là do nhân duyên đã gieo trồng trong quá khứ. Nhưng khi trì niệm thần chú Đại bi, nhờ thành tâm trì chú, thiết tha nguyện cầu, được Bồ-tát cảm ứnggia hộ nên được thành tựu như nguyện (ví dụ như đau bệnh được lành, không con được con…) thì việc tu tập linh ứngluật nhân quả đang vận hành có gì mâu thuẫn không?
Thời gian trôi qua như nước chảy gầm cầu, thấm thoát mới đó mà đã là tháng bảy âm lịch rồi. Tháng bảy đối với người Việt chúng ta là tháng dành cho tâm linh. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ bao đời xem tháng bảy là tháng mà cửa ngục được mở ra để cho linh hồn những người đang bị giam giữ trở về thăm gia đình trên dương thế. Vì thế tháng bảy người Việt chúng ta thường làm những điều thiện lành để tích lũy phước đức hồi hướng cho ông bà tổ tiên ông bà cha mẹ đã khuất được siêu thoát.
Theo thói quen, người ta thường gọi phụ nữ là ‘phái yếu’ mặc dù thực tế không hẵn như thế. Trong nhà, vị trí của người mẹ là không thể thay thế, đó là chỗ dựa vững chắc, là thành trì đạo đứctâm linh của cả gia đình. Ngoài xã hội, người phụ nữ cũng chưa từng đòi hỏi một đặc quyền nào trong công việc. Từ những phẩm đức đáng trân quý như dịu dàng ôn hoà, nhẫn nhịn khiêm cung, vị tha và khoan hậu đã tạo nên một hình tượng tiêu biểu của nữ giới được tôn vinh là ‘phái đẹp’.
Cuốn sách Nguồn gốc hình thành và phát triển tín ngưỡng Quán Âm của tác giả Lý Lợi An, được nhóm dịch giả Thích Nguyên TúThích Nữ Chơn Thủy – Trần Huỳnh Thông làm việc tại Trung tâm Biên phiên dịch Tư liệu Phật giáo Quốc tế Vĩnh Nghiêm Tùng Thư thực hiện, với độ dày hơn 700 trang.
....Bản tin AP hôm 1/8/2021 kể về một vị lạt ma tái sinh, bây giờ đang còn là một học sinh trung học ở Minnesota, Hoa Kỳ. Đó là cậu bé có tên là Jalue Dorje, một em vị thành niên rất mực Hoa Kỳ, trưởng thành ở một khu ngoại ô thành phố Minneapolis. Và cũng như vô lượng thiếu niên trên đời này, cậu Dorje, bây giờ mới 14 tuổi, rất mực ưa thích môn thể thao bóng bầu dục, trò chơi Pokémon, và nhạc rap.
NEW POSTING
...Có thể nói, từ lời Phật dạy được tóm lược trong kinh Đại bát Niết-bàn: Hòa quang bất đồng kỳ trần (和光不同其塵) qua bản dịch của ngài Đàm-vô-sấm và lời dạy của Lão Tử trong Đạo đức kinh: Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần (和其光,同其塵) tuy chỉ khác biệt một vài chữ nhưng nghĩa lý cách xa nhau muôn dặm. Trong thực tế ngày nay, khi đạo đức của nhân loại nói chung đang có những biểu hiện suy giảm, đã tác động đến nhiều lãnh vực của xã hội mà trong đó có cả Phật giáo, thì dịch ngữ của ngài Đàm-vô-sấm từ bản kinh Đại-bát Niết-bàn, có thể được vận dụng như một thái độ sống nhu nhuyến, hiệu năngtích cực trong bất kỳ mối quan hệ nào.
Bản kinh được in trong ấn bản nầy chủ yếu là của Max Müller.1 Tôi có ghi thêm phần phân bổ trang của ông trong dấu ngoặc vuông,2 để người đọc có thể căn cứ vào đó và trích dẫn rõ ràng. Trích dẫn riêng của tôi luôn luôn dựa vào các phẩm do Max Müller đã phân ra từ kinh văn. Một bản sao khác của bản khắc gỗ tương tự hiện còn ở London School of Oriental Studies,1 và nhờ sự hỗ trợ của các tư liệu nầy, mà tôi có điều kiện được rà soát lại các ghi chép của Max Müller. Về các ghi chú, tôi đã dùng nhiều tư liệu khác nhau, ở đây được sắp xếp theo thứ tự niên đại: Hai nguồn tư liệu xưa nhất là Bản dịch tiếng Hán của ngài Cưu-ma-la-thập,2 và Luận giải của ngài Vô Trước và Thế Thân.3
“Tôi nuôi dưỡng lòng từ bi trên cơ sở rằng tất cả chúng ta đều là những con người như nhau. Bất cứ nơi nào tôi đến, cho dù đó là Châu Âu, Châu Phi hay Châu Mỹ Latinh, tôi đều mỉm cười. Trái tim ấm áp nhân hậu là điều cốt yếu nếu chúng ta muốn biến thế kỷ này trở thành một thế kỷ hòa bình và một thế giới hòa bình. Đây là điều mà tôi muốn chia sẻ với quý vị”.
Nam Mô A Di Đà Phật Kính bạch quý ngài, Con, Tỳ Kheo Thích Thánh Trí, trụ trì Tu Viện Bồ Đề, thành phố Renton, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ thành kính đê đầu đảnh lễ tri ân quý ngài trong suốt thời gian gần 2 năm qua đã hết mình trên mọi phương diện hiến dâng cho sự nghiệp hoằng truyền Chánh Pháp, cho sự trường tồn của Giáo Hội truyền thống và làm nhựa sống cho bản thể Tăng già.
Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938 – 2003) đã để lại nhiều tác phẩm lớn, vừa có giá trị Phật học, vừa có giá trị văn học. Một tác phẩm trong những tháng cuối của cuộc đời Ni Trưởng là tập thơ Ngọa Bệnh Ca, được sáng tác trong thời gian nằm bệnh vào đầu năm 2003. Rồi cuối năm 2003, Ni Trưởng tử nạn trong một tai nạn giao thông. Bài viết nảy sẽ ghi lại những suy nghĩ về bài thơ “Người Gỗ” trong thi tập Ngọa Bệnh Ca của Ni Trưởng. Trong bài chỉ là các suy nghĩ rời, từ một người không có thẩm quyền nào, cả về Phật họcvăn học.
Phật Giáo chỉ ra con đường đưa đến hoàn thiện, an lạcgiải thoát cho tất cả mọi lứa tuổi, mọi thành phần, đặc biệt là cho giới trẻ bởi vì tuổi trẻ cần định hình nhân cách, xác định mục tiêu phấn đấu và lý tưởng đẹp đẽ cho cuộc đời, phải tu dưỡng rất nhiều để trở thành công dân tốt cho xã hội.
Bốn năm trước chúng tôi chính thức dọn về sống ở một miền quê, nơi giá nhà rất rẻ dân số vào khoảng mười ngàn người, nơi đây vốn trồng trỉa và chăn nuôi, hàng xóm nuôi gà ngựa dê cừu nhưng không nhiều lắm. Tiếng gà gáy tiếng chim kêu cất lên đón chào một ngày mới, thi thoảng những cơn gió vô tình mang mùi phân và nước tiểu cũng đủ để chúng ta tha hồ quán bất tịnh.
Tôi yêu Lễ tạ ơn. Hầu hết người Hoa Kỳ cũng vậy, xếp hạng đây là ngày lễ yêu thích thứ hai của họ trong năm sau ngày lễ Giáng sinh. Có rất nhiều điều để yêu thích về Lễ Tạ ơn. Có khái niệm về lòng biết ơn - điều mà chúng ta vĩnh viễn quên đi trong cuộc sống hàng ngày bận rộn của mình. Đó là sự ấm áp của gia đình - quây quần bên bàn ăn để nói cười với những người thân yêu của chúng ta. Và có một sức hấp dẫn thế tục - người Mỹ thuộc mọi tín ngưỡng ngày nay tổ chức Lễ Tạ ơn với sự nhiệt tình bình đẳng không phân biệt tôn giáo, sắc tộc. Nhưng có một thứ mà chúng ta, với tư cách là một xã hội anh em nên xem xét lại về Lễ Tạ ơn: con gà tây.
H. Bạn có tin tái sinh không? Nếu tin là có tái sinh thì vì sao bạn lại tin? | H. Nếu tin là có tái sinh, vậy có người nào chết mà không tái sinh không? | H. Vậy điều kiện nào để một người được tái sinh và một người không được tái sinh? | H. Nếu tin là có tái sinh, vậy cái gì dẫn dắt chúng ta đi tái sinh? | H. Khi được tái sanh trở lại làm người, vậy người trong kiếp này và người của kiếp sau có phải cùng là một người không hay là hai người khác nhau? | H. Khi con người chết đi, nghĩa là thân tâm (danh sắc) bị hoại diệt, ngũ uẩn tan rã, không còn gì cả, vậy xin hỏi rằng những lễ cầu siêu cúng cơm, thân nhân đã chết có được hưởng gì không?
Giã từ cõi mộng điêu linh Tôi về buôn bán với mình phôi pha. (Mưa nguồn) Cõi mộng nào chẳng chất ngất điêu linh: Ông thực sự đã giã từ cõi mộng. Còn cái điêu linh thì vẫn còn đó để cho người ta tập nhìn ngắm và học cách biết yêu. Ông đã khơi mở khả tính vô hạn của tình yêu như một thông điệp trao cho toàn cõi vĩnh hằng:
Những rộn ràng họp hội mấy giờ trước đã lắng xuống. Tiếng nói, giọng cười ai đó, đã tan vào hư không. Người thân, người sơ, từng gặp, chưa từng gặp, nhìn nhau chào mừng, nói đôi câu, rồi cuối cùng cũng vẫy tay tạm biệt, chia xa. Không còn ai. Trăng khuya soi rạng vườn sau. Những cánh hồng từ các bồn hoa vươn dậy như được tắm gội dưới ánh sáng dìu dịu, tịnh yên. Một mình ngắm hoa dưới trăng. Một mình ngắm trăng trên hoa. Bất chợt, trong một thoáng nhìn mờ ảo, ánh trăng như vỡ thành những bụi tuyết, lãng đãng rơi trên những cánh hoa dưới sương đêm lóng lánh[1].
Sau hơn sáu tháng hoạt động kể từ khi Hội Đồng Hoằng Pháp của GHPGVNTN ra đời dưới sự chứng minh của Trưởng lão HT. Thích Thắng Hoan (Hoa Kỳ), Trưởng lão HT. Thích Huyền Tôn (Úc châu), HT. Thích Tuệ Sỹ (Việt Nam), với sự cố vấn chỉ đạo của HT. Thích Tuệ Sỹ (Việt Nam), cùng với sự điều hành của Hòa thượng Chánh Thư Ký: HT. Thích Như Điển (Đức quốc) và nhị vị Hòa thượng Phó Thư Ký: HT. Thích Nguyên Siêu (Hoa Kỳ), HT. Thích Bổn Đạt (Canada), Đại hội Hội Đồng Hoằng Pháp Lần 1, sẽ được tổ chức qua hệ thống Zoom, nhằm nối kết Tăng NiPhật tử Việt Nam trên toàn cầu hầu góp phần xiển dương Chánh Pháp trong kỷ nguyên mới.
Chương trình kỳ này đến với quý thính giả là vào dịp lễ Tạ Ơn, dân chúng trên đất Mỹ còn đang quây quần với đại gia đình. Trong bầu không khí đầm ấm ấy, Thy Nga mời quý vị và các bạn cùng nghe các ca khúc tạ ơn, tạ tình nhé ...
Nói một cách chung chung, do một sự tình cờ lịch sử nào đó mà một số người, cùng một hay nhiều huyết thống khác nhau, cùng tụ hội trong một phạm vi không gian, dần dần phát sinh những quan hệ gắn bó, hoặc vật chất hoặc tình cảm, để hình thành một cộng đồng xã hội. Mối dây ràng buộc các thành viên của cộng đồng tất nhiên phải là ngôn ngữ....
Bộ sách gồm 13 cuốn: An bình tĩnh lặng - Bình Anson Bốn bài thiền tập căn bản - Bình Anson Căn bản hành thiền - Bình Anson Căn bản Phật giáo - Bình Anson Giới thiệu Đạo Phật - Bình Anson Lợi ích của thiền hành - Bình Anson Lý thuyếtthực tế - Binh Anson Mười pháp quán tưởng - Bình Anson Những lời Phật dạy - Bình Anson Phật pháp vấn đáp - Bình Anson Thương yêuthông cảm - Bình Anson Trích lục kinh điển Pali - Bình Anson Về quả vị Dự Lưu - Bình Anson Vì sao tôi theo Đạo Phật - Bình Anson
Hàng năm người Hoa Kỳ dành ngày Thứ Năm trong tuần lễ cuối của tháng Mười Một để cử hành lễ Tạ Ơn. Ngày lễ Tạ Ơn cũng còn được gọi là "Ngày Gà Tây" và theo thống kê cho biết mỗi năm có hơn 270 triệu con gà tây bị giết làm thức ăn, trong đó có 78 triệu con lên bàn ăn vào ngày lễ Tạ Ơn. Trong dịp lễ này, ngoài món gà tây nướng, còn có các món khoai lang, bắp ngô và bí đỏ.
Nhang trầm lung linh hương án | Lòng con tha thiết kính dâng | Một lòng xưng dương tán thán | Niệm tưởng Phật Tổ thâm ân.
Nổi tiếng quốc tế như một người viết tiểu thuyết, và cũng nổi tiếng như một Thiền sư, Ruth Ozeki có một văn phong riêng, trộn lẫn các pháp ấn khổ, vô thường, vô ngã vào các chuyện kể trên giấy. Độc đáo như thế: Ruth Ozeki là một nhà văn, một đạo diễn phim ảnh và là một Thiền sư dòng Tào Động
Học pháp là công việc quan trọng của người con Phật nếu muốn đạt được mục đích tối hậu của sự giải thoát. Chúng ta có thể chọn lựa việc học pháp thông qua nhiều hình thức khác nhau như: Gia giáo – thầy truyền cho trò, tham gia các cơ sở giáo dục đào tạo, hoặc qua thực tiễn đời sống… Tất cả đều phụ thuộc vào sự cân nhắc, tính toán của mỗi người. Tuy nhiên, quan trọng nhất của việc học pháp là phải có thái độ chân chính, biết ứng dụng pháp học ấy có hiệu quả vào đời sống tu tập để đạt được an lạc, giải thoát ngay trong hiện tại.
1) Khó Khăn Và Trách Nhiệm (Việt-Anh) 2) Làm sao thực hành lời Phật dạy (Việt-Anh) 3) Mục đích và đường lối sống (Việt-Anh) 4) Những chuyện luân hồi hiện đại 5)Những hạt ngọc trí tuệ Phật giáo 6) Nền tảng của đạo Phật (Việt-Anh) 7) Cây Giác ngộ (Việt-Anh) 8)Chết có thật đáng sợ không (Việt-Anh) 9) Các nghi thức thông thường trong đời sống (Việt-Anh) 10) Chết trong an bình
Trước khi nhập Niết-bàn, đức Phậtdi giáo tối hậu cho các chúng đệ tử: “Pháp và Luật mà Ta đã thuyết và qui định, là Đạo Sư của các ngươi sau khi Ta diệt độ.” Phụng hành di giáo của đức Thế Tôn, các vị Trưởng lão A-la-hán đã thực hiện cuộc kiết tập lần thứ nhất tại thành Vương Xá, cùng hòa hiệp phúng tụng tất cả những điều đã được Phật giảng dạy trong suốt bốn mươi lăm năm giáo hóa; nền tảng của văn hiến Phật giáo mà về sau được gọi là Tam tạng được thành lập từ đó.
Dự án phiên dịch “Tam tạng Phật giáo Việt Nam” với tên gọi trong truyền thống Đại thừa là Đại tạng Kinh Việt Nam được Viện Tăng thống GHPGVNTN triệu tập, thảo luận kế hoạch và chính thức thành lập vào ngày 20-22/10/1973. Cơ quan trực tiếp phụ trách dự án này là Hội đồng phiên dịch Tam tạng gồm 18 thành viên, dưới sự chủ tọa của HT. Thích Trí Tịnh, HT. Thích Minh Châu và HT. Thích Quảng Độ.
Chúng ta đều biết cái gì xảy ra khi một đám cháy tắt. Ngọn lửa tàn và đám cháy cũng tắt luôn. Rồi, khi chúng ta mới học lần đầu rằng cứu cánh của sự tu tập đạo Phật có tên gọi là Nibbana (Nirvana, Niết-bàn), nghĩa đen là sự tắt ngấm của lửa, thì thật khó mà hình dung ra một hình ảnh nào ảm đạm chết chóc hơn cho một cứu cánh tâm linh: hoàn toàn tiêu diệt hết (tận diệt). Hoá ra cách đọc đó là một sai lầm của dịch thuật, không phải về từ ngữ mà về biểu tượng. Lửa tắt biểu trưng cho cái gì với người Ấn Độ trong thời của Đức Phật? Tuyệt đối không phải là sự tiêu diệt.
Quyển “Sổ tay mục lục Tam tạng Pāḷi” này chứa đựng các thông tin nền tảng của quyển toàn diện hơn, “Tổng mục lục Tam tạng Pāḷi,” giúp người tìm hiểu về Phật giáo Thượng tọa bộ nói riêng và người yêu thích Phật giáo nói chung, có thể tra cứu nhanh về xuất xứ của các bản văn Kinh, Luật, Luận Pāḷi, cũng như đối chiếu tựa đề Việt – Pāḷi – Hán.
Tổ chức qua hệ thống zoom toàn cầu vào 4 giờ sáng Thứ Bảy ngày 27 tháng 11 năm 2021 theo giớ Âu Châu Phần trình bày gồm có: - Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ trình bày về việc “Hình thành Đại Tạng Kinh Việt Nam”. - Giáo Sư Trí Siêu Lê Mạnh Thát trình bày về việc “Phiên dịch Đại TạngĐại Học Trần Nhân Tông”.
Có bao giờ chúng ta quán sát lại bản thân, thành thật nhìn lại để xem mình đã lắng nghe thực sự người khác, lắng nghe tiếng nói lương tri trong chính mình?
Với những câu tục ngữ như: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, “Không thầy đố mày làm nên”, “Tôn sư trọng đạo” từ lâu đã trở thành truyền thống đạo lý mang đậm giá trị nhân văn của dân tộc Việt. Trải qua bao thăng trầm thời gian, dù xã hội có phát triển và đổi thay, truyền thống ấy vẫn là nét đẹp trong văn hóa Việt Nam.
Trung Bộ Kinh Nikãya có bốn bài kinh số 131, 132, 133 và 134 có cùng nội dung chỉ khác nơi và người giảng. Cả bốn bài kinh này có tên là “Bhaddeka ratta Sutta” đã được cố đại lão Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pãli sang tiếng Việt, gọi chung là “Nhất Dạ Hiền Giả”.
Được tin quý Thầy Tuệ Sỹ, GS Trí Siêu Lê Mạnh Thát và nhiều vị tôn túc sẽ thực hiện một Đại Hội Hội Đồng Hoằng Pháp qua Zoom vào cuối tháng 11/2021, lòng con vui mừng xiết bao. Đó là những gì mà con, trong cương vị một người học Phật, đã chờ đợi từ lâu, từ rất lâu, từ nhiều thập niên, từ khi biết say mê tu học. Bản thân con không có học vị cao, duy chỉ nhiệt tâm ngày ngày tu học, tự biết rằng còn rất nhiều kinh luận cần phải đọc, cần phải học, cần phải nghiền ngẫmcần phải chứng nghiệm, do vậy niềm vui này không thể nào kể xiết.
Tỳ Khưu Thanissaro (Geoffrey DeGraff) là một tu sĩ người Mỹ theo truyền thống tu trong rừng của Thái Lan. Sau khi tốt nghiệp Đại học Oberlin năm 1971 với chuyên ngành về Lịch sử Tri Thức Âu Châu, ông theo học thiền với Thiền sư Ajaan Fuang Jotiko ở Thái Lan và xuất gia năm 1976. Năm 1991 Sư giúp xây dựng Metta Forest Monastery ở San Diego, California, nơi Sư sau này là trụ trì.
Mẹ tôi là một người phụ nữ kiên nhẫn và tận tụy tuyệt vời. Bà nói rằng trong mười sáu đứa bà sinh ra, tôi là đứa gây rắc rối nhất khi còn trong bụng mẹ. Lúc thì tôi nằm im như chết, khi thì đạp tứ tung đến nỗi bà nghĩ tôi sắp chết. Càng gần ngày sinh, các trạng thái đó càng trở nên tồi tệ.
Chẳng mong tâm người thanh tịnh để tương ưng với cõi Phật thanh tịnh. Chỉ mong tâm người thiện lương, tham, sân, si dần nhạt mỏng, thiện nghiệp được phát huy, v.v... để thế giới được bình an.
Chúng ta đều biết cái gì xảy ra khi một đám cháy tắt. Ngọn lửa tàn và đám cháy cũng tắt luôn. Rồi, khi chúng ta mới học lần đầu rằng cứu cánh của sự tu tập đạo Phật có tên gọi là Nibbana (Nirvana, Niết-bàn), nghĩa đen là sự tắt ngấm của lửa, thì thật khó mà hình dung ra một hình ảnh nào ảm đạm chết chóc hơn cho một cứu cánh tâm linh: hoàn toàn tiêu diệt hết (tận diệt). Hoá ra cách đọc đó là một sai lầm của dịch thuật, không phải về từ ngữ mà về biểu tượng. Lửa tắt biểu trưng cho cái gì với người Ấn Độ trong thời của Đức Phật? Tuyệt đối không phải là sự tiêu diệt
Tất cả những gì hợp thành cuộc đời làm người của chúng ta, tất cả những kinh nghiệm quá khứ, hiện tại, tương lai đều nhờ thức và thông qua thức. Một trí nhớ, một kỷ niệm còn tồn tại vì nó còn được chứa giữ trong thức. Một tưởng tượng về tương lai sẽ như thế này sẽ như thế kia đều hiện hình trong thức. Và hiện tại, những gì chúng ta thấy nghe suy nghĩ, phân biệt… đều thông qua thức.
Sau khi Hòa Thượng Thích Quảng Thanh viên tịch ngày 9 tháng 6/2019, công việc quản trị và điều hành Chùa Bảo Quang (tên pháp lý còn là: Vietnamese American Buddhist Center) tại địa chỉ 713 N Newhope St, Santa Ana, CA. đã dẫn tới tranh chấp. Ai sẽ có quyền hợp pháp để điều hànhkiểm soát Chùa Bảo Quang? Tranh chấp pháp lý trước tòa đã kéo dài gần 2 năm. Bây giờ đã có phán lệnh của Chánh án Fred W. Slaughter. như sau
New Posting:Chương VI Bài 47 - Bốn thể loại bồ-tát Bài 48 - Người bồ-tát không bao giờ thoái lui . Bài 49 - Người bồ-tát với tư cách Pháp thân.
Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni đã sinh sống, chứng đắc giác ngộ, và giảng dạy ở Ấn Độ hơn 2500 năm về trước. Tuy nhiên, tôi tin rằng phần lớn những gì Ngài dạy cách đây rất lâu vẫn còn giá trị và hữu ích cho đời sống con người ngày nay. Đức Phật thấy rằng con người có thể sống chung tự do như những cá nhân, trên nguyên tắc bình đẳng, và vì vậytrách nhiệm đối với nhau.
[Phái đoàn đến Sài Gòn vào cuối tháng Mười và đã nghe một số nhân chứng. Không may cho các học giả, công việc bị kết thúc dang dỡ vì cuộc đảo chánh Tổng thống Diệm đã thành công khi phái đoàn đang ở Sài Gòn]. Câu nầy hàm ý cuộc điều tra không đi đến được một kết luận nào vì Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ chứ không phải vì không có đàn áp Phật Giáo (xem phóng ảnh trang 67 đính kèm, trích từ cuốn United Nations high commissioner for human rights”, By Roger Stenson Clark, trang 67, Nói tóm lại là bản phúc trình không hề có kết luận "Không có đàn áp tôn giáo" như những thế lực thù nghịch với Phật Giáo đã nói.
Tôi có quen một nữ Phật tử là mẫu người phụ nữ ‘hoàn hảo’. Cô tốt nghiệp trường Đại học danh tiếng, lấy chồng là trí thức, cơ ngơi khá giả, có hai con trai ngoan ngoãn đáng yêu. Cô khoẻ mạnh và khá dễ nhìn, được nhiều người ngưỡng mộ. Vì lẽ đó, cô luôn hài lòng với cuộc sống của mình và nói rằng mình thật hạnh phúc.
Nghiệp, phổ thông được hiểu là quy luật nhân quả. Nhân quả cũng chỉ là mối quan hệ về tồn tạitác dụng của các hiện tượng tâm và vật trong phạm vi thường nghiệm. Lý tính của tất cả mọi tồn tại được Phật chỉ điểm là lý tính duyên khởi.266F[1]
NGHIỆP BÁO – KARMA Tất cả hành động tốt và xấu đều tạo thành Nghiệp luôn cả thiện và bất thiện. Nghiệp ám chỉ những hành động được thúc đẩy bởi ý định, một hành động được thực hiện có chủ ý thông qua thân, khẩu hoặc ý. Nghiệp tuy không có hình tướng cụ thể, nhưng nghiệp có khả năng khiến cho con người phải khốn khổ. All good and bad action constitutes Karma, including all moral and immoral volition. Karma refers to a deed done deliberately through body, speech, or mind. Although karma has no specific form, it has the ability to make people suffer.
Duy Thức Phái là một trường phái Phật Giáo Đại Thừa. Trường phái này thường được biết đến với hai tên gọi khác nhau tùy thuộc vào khía cạnh tiếp cận. Thứ nhất, xét trên phương diện quan điểm giáo lý đặc thù, trường phái này được gọi là Duy Thức Phái (Vijñaptimātra), có nghĩa là ‘giáo lý chủ trương rằng tất cả mọi hiện tượng chỉ là sự biểu hiện của thức,’ nói gọn là ‘Duy Thức.’
“Trái Tim ấm áp cũng có hiệu quả ngay cả trong mối quan hệ đối với động vật. Nếu quý vị tươi cười và tỏ ra thân thiện với một con chó, thì nó sẽ vẫy đuôi mừng rỡ, nhưng nếu quý vị cau mày và phàn nàn thì nó sẽ cụp đuôi xuống.
Khi thế giới đối phó với những tổn thương do COVID-19 gây ra, Ngày Nhân ái Thế giới (World Kindness Day), được tổ chức vào ngày 13 tháng 11 hàng năm, là một cơ hội tốt để chúng ta suy ngẫm về tiềm năng chữa lành bệnh bởi những hành động tử tế lớn và nhỏ của con người. Quả thực, chính những hành động tử tế của những người làm các công việc thiết yếu đã giúp cứu sống nhiều người trong mùa đại dịch vừa qua. Là một học giả nghiên cứu về Phật học, tôi đã nghiên cứu những cách mà các nhà sư Phật giáo nói về sự tử tế và lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh.
Giống như nhiều lĩnh vực khác của cuộc sống, tôn giáo đã bị ảnh hưởng đáng kể bởi Covid-19. Các chỉ thị giản cách xã hội đã buộc những nhà lãnh đạo tôn giáo và các tín đồ phải thay đổi cách thực hành tôn giáo của họ và tránh xa các không gian hành lễ chung như nhà thờ, chùa chiền và đền miếu. Những tác động nặng nề của Covid-19 vào các hoạt động tôn giáo đã tạo nên một tình huống thật sự đáng buồn
....Tóm lại, quán thấu sự vô thường trên cuộc sống tạm bợ này, như điện như ảnh, như ảo như thật, sẽ giúp chúng ta tùy duyên mà sống, nhất là khi chúng ta rơi vào nỗi thống khổ, ái ố, bệnh hoạn, khổ nạn, tưởng như không thể chịu đựng được nữa thì nên biết quán thấu lý vô thường, “qua đi qua đi những cơn mê, cuộc đời này rồi cũng đổi thay.”
Ngày nay chúng ta cần phải nhìn vào tương lai, thế nhưng không phải với những lời cầu nguyện thúc dục bởi sự sợ hãi, mà bằng các hành động thực tế hơn, căn cứ vào các hiểu biết khoa học. Tất cả mọi sự sống trên hành tinh này đều liên hệ với nhau hơn bao giờ hết. Những gì mình làm đều ảnh hưởng đến những người cùng sống với mình, kể cả đối với vô số sinh vật và muôn loài cây cỏ.
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường nhận thức không-thời gian như những sự vật hiện tượng có thật (thực thể). Dựa trên nhận thức đó, Nhất Thiết Hữu Bộ—một trường phái Phật Giáo thời kỳ đầu—chủ trương thời gian thực sự tồn tại qua ba thời quá khứ, hiện tạivị lai (tam thế thật hữu). Cũng như thế, trong Vật lý học cổ điển, không-thời gian cũng được xem là những định tính của thực tại. Tuy nhiên, khi đi sâu vào chiêm nghiệm thực tại bằng trí tuệ vô phân biệt, Phật Giáo Đại Thừa thấy rằng vạn vật liên quan mật thiết với nhau.
Thời công nghiệp 4.0, mạng xã hội (MXH) đi vào mọi ngõ ngách đời sống, trong đó có cả môi trường Phật giáo. Tuy nhiên, bên cạnh tiện ích mà MXH mang đến, một bộ phận Tăng Ni trẻ đã xem MXH là nhu cầu giải trí, giết chết thời gian bởi những thú tiêu khiển vô bổ, ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân người sử dụng cũng như sự ổn định và phát triển chung của Giáo hội. Trước thực tế nhức nhối này, giải pháp nào để MXH thưc sự trở thành công cụ hữu ích cho việc tu họchoằng pháp của Tăng Ni trẻ…
Người ta có nhiều cách phân kỳ lịch sử Phật giáo trên thế giới. Theo Edward Conze trong “A short history of Buddhism” thì có thể tạm chia lịch sử Phật giáo làm bốn giai đoạn: Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, phần lớn trùng khớp với giai đoạn sau này được gọi là Tiểu thừa (Hinayana); thời kỳ thứ hai đánh dấu bởi sự phát triển của giáo lý Đại thừa (Mahayana); thời kỳ thứ ba là sự phát triển của Mật tông (Tantra) và Thiền tông (Ch’an hay Zen), thời kỳ này kéo dài đến thế kỷ XI [1]. Khoảng 1000 năm gần đây có thể được xem là thời kỳ thứ tư.
Phật giáoTôn giáo giàu tính bao dungvô cùng năng động trong tiếp biến. Vì vậy, khi tiếp xúc với bất kỳ nền văn hóa nào, Phật giáo đã nhanh chóng được đón nhận và hòa quyện vào trong mình những nét văn hóa bản địa làm nên những bản sắc riêng có của từng nền văn hóa Phật giáo ở mỗi quốc gia. Với lịch sử hơn hai ngàn năm du nhập, Phật giáo đã thấm sâu vào trong đời sống văn hoá của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Duy Thức Phái là một trường phái Phật Giáo Đại Thừa chú trọng đến nhận thức luận. Kinh luận thuộc trường phái này thường nhấn mạnh rằng bất kì cái gì được kinh nghiệm, những cái mà thường được cho là chân thật, thực ra chỉ là một sự giả thác thuần túy ngôn ngữ (upacāra).
TOKYO (Reuters) - Nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma hôm thứ Tư đã chỉ trích các nhà lãnh đạo Trung Quốc rằng họ "không hiểu sự đa dạng của các nền văn hóa khác nhau" và đất nước bị kiểm soát quá nhiều bởi nhóm người Hán.
Người thực hành Trí huệ toàn thiện (Bát nhã ba la mật) quán thấy tất cả pháp là Không, như mộng, như huyễn, như hóa… cho đến chúng sanh cũng rốt ráo bất khả đắc:
Sau hơn sáu tháng hoạt động kể từ khi Hội Đồng Hoằng Pháp của GHPGVNTN ra đời dưới sự chứng minh của Trưởng lão HT. Thích Thắng Hoan (Hoa Kỳ), Trưởng lão HT. Thích Huyền Tôn (Úc châu), HT. Thích Tuệ Sỹ (Việt Nam), với sự cố vấn chỉ đạo của HT. Thích Tuệ Sỹ (Việt Nam), cùng với sự điều hành của Hòa thượng Chánh Thư Ký: HT. Thích Như Điển (Đức quốc) và nhị vị Hòa thượng Phó Thư Ký: HT. Thích Nguyên Siêu (Hoa Kỳ), HT. Thích Bổn Đạt (Canada), Đại hội Hội Đồng Hoằng Pháp Lần 1, sẽ được tổ chức qua hệ thống Zoom, nhằm nối kết Tăng NiPhật tử Việt Nam trên toàn cầu hầu góp phần xiển dương Chánh Pháp trong kỷ nguyên mới.
Chương trình kỳ này đến với quý thính giả là vào dịp lễ Tạ Ơn, dân chúng trên đất Mỹ còn đang quây quần với đại gia đình. Trong bầu không khí đầm ấm ấy, Thy Nga mời quý vị và các bạn cùng nghe các ca khúc tạ ơn, tạ tình nhé ...
Tổ chức qua hệ thống zoom toàn cầu vào 4 giờ sáng Thứ Bảy ngày 27 tháng 11 năm 2021 theo giớ Âu Châu Phần trình bày gồm có: - Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ trình bày về việc “Hình thành Đại Tạng Kinh Việt Nam”. - Giáo Sư Trí Siêu Lê Mạnh Thát trình bày về việc “Phiên dịch Đại TạngĐại Học Trần Nhân Tông”.
Bạn đang tìm kiếm một con đường tâm linh , bạn đang đau khổ và muốn thoát khỏi các khổ đau, hãy tham gia một khóa thiền on-line 10 ngày hoàn toàn miễn phí. Ghi danh theo đường link
Đại đức Pháp Cẩn sẽ mở lớp Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca. Lớp sẽ học những tài liệu tiếng Việt và những tài liệu tiếng Anh do một số bạn thuyết trình. Tuy tài liệu một phần bằng tiếng Anh nhưng những người không biết tiếng Anh vẫn có thể học được vì thuyết trình bằng tiếng Việt.
Kính chia sẻ cùng chư Tôn đức, Pháp hữu và qúy Phật Tử Lịch Pháp thoại và khóa tu tại Hoa Kỳ trong tháng 9, 10, 11 & 12 2021 với sự chia sẻ của Thầy Thích Tánh Tụê.