(Xem: 1160)
Lâu nay ở các giới đàn, tình trạng tổ chức lệch lạc, không đúng luật rất nhiều, dẫn đến phi pháp. Ở góc độ kiến giải của các Luật sư theo truyền thống Bắc tông thì “giới tử không biết, không nghi thì vẫn đắc giới, chỉ có giới sư là phạm luật”. Nhưng đối với kiến giải của truyền thống Nam tông thì giới sư không đúng pháp, giới tử không đắc giới, dù giới tử không biết. Ngay cả khi vị giới sư phạm luật mà không biết mình phạm, thì các vị khác cũng cần chỉ lỗi để vị ấy biết mà như pháp sám hối, không nên nể nang nhau mà im lặng.
(Xem: 2106)
Bốn bộ luật tiểu Tỳ ni – Sa di – Oai nghi – Cảnh sách của Tổ Quy Sơn, Tổ Châu Hoằng,….Các Ngài là bậc long tượng trong thiền môn, vì thương hàng hậu học các Ngài chỉ thẳng phương pháp hóa giải tập khí của hàng xuất gia khi mới bước chân vào đạo, phải nói bốn bộ luật tiểu này được xem là khuôn vàng thước ngọc, là cẩm nang gối đầu giường của hành giả tu tập. Sách này không những là cơ sở cho giới cụ túc mà cũng là nền tảng cho giới Bồ-tát
(Xem: 856)
Giới hạnh của người tu liên quan đến sự thịnh suy của Phật pháp một cách mật thiết. Như vậy, chỉ có giới luật mới tạo nên đức hạnh của người tu, đồng thời cũng góp phần xây dựng cho chúng ta thành những chiến sĩ trên mặt trận đạo đức, tạo nền tảng cho Phật pháp hưng thịnh.
(Xem: 3234)
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Chẳng những thân không phạm, luôn cả cái “không phạm” cũng không còn", tức thân tâm đều dứt, luôn cả cái dứt cũng không có, như thế đối với vô thượng bồ đề mới có hy vọng.
(Xem: 4312)
Ngôi trường Vạn Hạnh, giờ đây vắng bóng thêm một bậc thầy giáo thọ kính yêu... Chúng con từ phương xa kính hướng về Vạn Hạnh, thành kính đảnh lễ nguyện cầu Giác linh Hòa Thượng tân viên tịch thượng phẩm thượng sanh, cao đăng Phật quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta bà, để tiếp tục công cuộc giáo dục hoằng Pháp lợi sanh.
(Xem: 2345)
Các tiêu chuẩn đạo đức và các hành vi đạo đức nhằm mục đích đem đến cho con người và xã hội một cuộc sống hạnh phúc. Ban zeladze, một tư tưởng gia phương Tây, viết: "Vấn đề lý tưởng tối cao và ý nghĩa của cuộc sống thực chất là vấn đề hạnh phúc. Con người là giá trị cao nhất, là cơ sở, là ngọn nguồn của mọi giá trị, mọi thứ đều là phương tiện cho con người và cuộc sống của con người
(Xem: 4223)
Giới là một trong ba môn học vô lậu của Giới, Định và Tuệ chỉ có trong giáo pháp của Đức Phật thường được hiểu là Giới hạnh và vị trí của nó đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo lý Phật giáo. Sự học tu tập về Giới là một việc rất đương nhiên đối với những ai khát khao sự thanh tịnh. Ở đây, thanh tịnh nên hiểu là Niết-bàn1
(Xem: 3596)
Quyển Tỳ-ni mà quý vị đang có đây, được tôi mở đầu bằng trọn bản Việt dịch ‚Phật Thuyết Hy Hữu Giảo Lượng Công Đức Kinh‛, đây là Kinh văn Đức Phật giảng giải về công đức thọ trì Giới pháp. Phần sau là Tỳ-ni và Giới bổn, do tôi biên dịch từ nguyên bản Hán văn ‚Tỳ-Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu‛ đã nói ở trên, đồng thời soạn lại bố cục, nội dung và lấy tựa đề là ‚Pháp Kệ Tỳ-Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu‛
Kinh
(Xem: 1429)
Luận về những gì thuộc huyết khí thì phải có tính biết, phàm có tính biết chắc chắn đồng thể. Thế nên ‘chơn tịnh minh diệu, hư triệt linh thông’ sáng suốt hằng còn. Đó là nguồn gốc của chúng sanh, nên gọi là tâm địa. Là chỗ chứng đắc của chư Phật, nên gọi là bồ đề. Giao lưu suốt khắp, dung thông nhiếp hóa, nên gọi là pháp giới. Vắng lặng, thanh tỉnh chơn thường , chơn lạc gọi là niết bàn. Chẳng rơ chẳng rĩ, gọi là trong sạch. Không hư vọng, không biến đổi gọi là chơn như.
(Xem: 913)
Nguyên bản Hán dịch Tạp A-hàm hiện tại, ấn hành trong Đại tạng kinh Đại chính tân tu (ĐTK/ĐCTT), gồm 50 quyển, 1362 kinh, do Tam tạng Cầu-na-bạt-đà-la (Guṇabhadra, người Trung Ấn Độ) dịch vào đời Lưu Tống (435 Tây lịch). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nguyên bản tiếng Phạn được sử dụng để dịch sang chữ Hán của Tạp A-hàm là do Hóa Địa Bộ truyền, có chung một bản gốc nguyên thủy với truyền bản Pāli. Phạn bản đầy đủ hiện nay không còn. Gần đây, tại vùng Tân Cương, Trung Quốc, người ta phát hiện vài tàn bản tiếng Phạn của kinh này mà thôi.
(Xem: 1085)
Theo Xuất Tam Tạng Ký Tập thì Kinh Tạp A-Hàm (雜阿含經) do ngài Cầu-na-bạt-đà-la (求那跋陀羅; S. Guṇabhadra) dịch từ Phạn sang Hán tại chùa Kỳ Hoàn (祇洹寺) vào niên hiệu Nguyên Gia năm thứ mười hai (năm 435 TL), đời vua Tống Văn Đế (407-453). Tác phẩm Cao Tăng Truyện và Phật Tổ Thống Kỷ cũng xác nhận sự tương đồng về sự kiện và niên đại.
(Xem: 2061)
Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh Sớ, còn gọi là Tuệ Tịnh Sớ, của Pháp sư Tuệ Tịnh (578 - 653) là một trong những chú sớ sớm nhất sau khi ngài Huyền Trang dịch Tâm Kinh vào năm 649. Khi ấy ngài Tuệ Tịnh đã già nên thối thác lời thỉnh cầu tham gia dịch trường từ vua Đường Thái Tông, dù trước đó ngài là đại dịch giả trước cả Huyền Trang, bút thọ giúp ngài Ba-la-phả-mật-đa-la chuyển dịch Phạn - Hán tác phẩm Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, từ năm 630 - 633.
(Xem: 2828)
Nhiều Phật tử đã suy tưởng quá nhiều về Phật pháp nhưng lại thực hành quá ít. Rõ ràng là, vì thiếu kinh nghiệm trong việc hành trì giữ giới, cũng như thiếu những kết quả của công phu thiền tập, họ đã làm sai lệch giáo pháp với những mộng tưởng của chính họ. Bất hạnh thay, trong số những Phật tử này là những vị giáo thọ.
(Xem: 1016)
Đây giải về 38 điều Hạnh Phúc mà Đức Thế Tôn là đấng thượng sư tự thuyết ra có ý nghĩa như vầy
(Xem: 880)
Tôi hân hạnh đọc bộ Kinh Thơ Hoa Nghiêm của Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng pháp danh Như Ninh thực hiện ròng rã trong nhiều năm, với khoảng gần bốn ngàn câu song thất lục bát thi hóa hết sức chuẩn mực, đúng âm vận đã diễn tả được hình ảnh của hành giả thực hiện Bồ tát đạo giữa dòng đời nhân thế theo tinh thần Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.
(Xem: 1285)
Mangala có nghĩa la “hạnh phúc” – “Phúc đức” - “ Điềm lành” – “Phước lành”. Hay nói một cách bao quát hơn, rộng nghĩa hơn Mangala là những nguyên tắc tạo cho con người thực hành đưa đến một đời sống an lạc, hạnh phúc, lợi mình, lợi người; một nền tảng xây dựng xã hội an lành, đạo đức. Một đạo đức nhân thân đưa đến thành công trong đời sống. Vì thế, không phải là bản kinh chỉ để tụng đọc mà là để hành trì. Đây là bài kinh quan trọng đến độ, một chú tiểu vào chùa tại Miến điện, đầu tiên được dạy bản kinh này; thậm chí một số sư thuộc lòng, xem đó là bản kinh gối đầu giường và là bản đồ dẫn đạo suốt lộ trình tu tập.
(Xem: 4902)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 6002)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 4477)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 4202)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
(Xem: 4324)
“Thân tác chứng thành tựu và an trú tịnh giải thoát”: Thế nào là gia hành của tịnh giải thoát này? Tu quán hành giả do phương gì nhập tịnh giải thoát định? Khi người mới bắt đầu sự nghiệp tu quán, trước hết cần phải nắm lấy hình thái thanh thọ, như thanh hành, thanh chi, thanh diệp, thanh hoa, thanh quả, hoặc nắm lấy hình thái thanh y, thanh nghiêm cụ tướng, hoặc nắm lấy đa dạng thanh tướng nào khác. Khi đã nắm lấy các thanh tướng như thế rồi, do lực thắng giải, tư duy tưởng niệm, quan sát an lập, tín giải sắc này là thanh tướng ấy.
(Xem: 3479)
Bí-sô nên biết! ở đây, vị Thánh đệ tử, bằng đặc điểm như vậy tùy niệm chư Phật, nghĩa là vị Thế Tôn ấy là bậc Như Lai, A-la-hán, nói chi tiết cho đến: Phật Bạc-già-phạm”. Hoặc có vị Thánh đệ tử nào bằng đặc điểm như thế tùy niệm chư Phật, những gì là niệm tương ưng với kinh nghiệm nhận thức, mà kiến là căn bản: tùy niệm, chuyên niệm, ức niệm, không quên, không mất, không rơi sót, không rò rỉ, không mất trạng thái của Pháp, trạng thái ghi nhớ sáng suốt của tâm. Đó gọi là tùy niệm Phật.
(Xem: 4361)
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi Tử lại nói với đại chúng: Cụ thọ nên biết! Đức Phật đối với mười pháp sau khi đã tự mình khéo thông đạt, hiện đẳng giác, liền tuyên thuyết khai thị cho các đệ tử. Hôm nay chúng ta nên hòa hợp kết tập, để ngăn ngừa sau khi đức Phật diệt độ xảy ra sự tranh cãi, khiến cho pháp luật tùy thuận phạm hạnh được an trụ lâu dài mang lại lợi lạc cho vô lượng hữu tình; lại vì thương xót thế gian, chúng chư thiên và nhân loại, khiến cho họ có được nghĩa lợi an lạc thù thắng. Những gì là mười pháp? Ở đây khái lược có hai loại mười pháp, đó là mười biến xứ và mười pháp vô học.
(Xem: 4467)
Theo nghiên cứu của các học giả Abhidharma hiện đại, đại biểu như Đại sư Ấn Thuận, sáu túc luận A-tì-đạt-ma lấy Phát trí luận làm bản luận[1]. Việc nhóm tập sáu túc luận thành một tổ hợp hay nhóm mục, sớm nhất phải kể đến luận Đại trí độ, trong đây khi Long Thọ đề cập đến “lục phần A-tì-đàm”[2], đồng thời nói đến “thân nghĩa tì-đàm”[3]. Thân: ở đây chỉ cho Phát trí luận[4], nghĩa này Đại Tì-bà-sa luận nói rằng, thời đại của ngài Long Thọ đã thường gọi Phát trí luận là thân, sáu túc luận kia là chi phần. ....
CHUYÊN ĐỀ
Tại sao? Tại sao có sanh già, bệnh chết? Tại sao nhân loại phải khổ đau? Tại sao đế vương quyền uy cũng không tránh khỏi lìa xa vương vị? cha ta, vua một thị tộc tại Ca Tỳ La Vệ rồi cũng vậy sao? Tại sao giai cấp Sát đế Lị quyền uy hơn Thủ Đa la? Tại sao?....
Kính chúc mọi người chúng ta đều thành tựu đức tính Từ Bi của Bồ tát Quán Thế Âm để tự mình hóa giải hết tất cả những nổi khổ niềm đau và giúp tha nhân trần gian Ta bà, xây dựng niềm tin chơn chính và từng bước chân an lạc hạnh phúc trong cuộc sống.
Những điều đã viết trên từng chặng đường có chăng đó chỉ như những bông hoa nhỏ điểm tô trên một chiếc bánh thật ngon mời gọi mọi người tự mình một lần cầm lên để nếm thử. Lumbinī (Đức Phật Đản Sanh), Bhodgaya (Đức Phật Chứng Đạo), Sarnath (Đức Phật Chuyển Pháp Luân) và Kusinārā ( Đức Phật Nhập Niết Bàn - Đó là bốn nơi lưu giữ trong mình những vết tích lịch sử cùng với thời gian dành cho tất cả những người con Phật đến để kiểm chứng sự thật. Hãy tự mình một lần đến Tứ Thánh Tích này, hãy nếm thử và rồi bạn sẽ cảm nhận được vị ngọt thơm của của chiếc bánh, sẽ thấy được Đức Tin và Niềm An Lạc tăng trưởng trong lòng mình như chính lời Đức Phật đã dạy...
Trong khi ca ngợi tha lực “ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay nâng đỡ” của Ngài, bản Kinh cũng dành đến 18 câu để nhắc nhở người tu tập nhận ra Phật tánh, tánh biết-như-thật sẵn có nơi mỗi cá nhân (câu 430-447). Ngoài việc khuyến khích trì tụng Tâm Chú Đại Bi, niệm danh hiệu Quán Thế ÂmĐức Phật A Di Đà, bản Kinh cũng khuyên thực hành thiền địnhquy kính Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Ngài khích lệ hành giả nỗ lực tu tập và làm việc thiện để chuyển hóa nghiệp ác, luôn luôn vì an vui, lợi ích cho chúng sanh. Theo đạo lý Duyên Khởi, nói đến chúng sanh là đã bao gồm cả bản thânbà con nhiều đời của mình.
Nói đến lễ Vu Lan thì ai cũng biết đó là mùa báo hiếu, đề cao, tưởng nhớ công ơn sinh thành của bậc cha mẹ nhất là mẹ. Có nhắc nữa chỉ phiền lòng quí bạn, than: “Khổ lắm, biết rồi, nói mãi„ nên trong bài này tôi không nhắc nữa, vì khi Quí bạn đọc bài này, Quí bạn đã là người con hiếu thảo nên mới quan tâm về lễ Vu Lan. Tuy nhiên, vì Quí bạn không tham dự nên tôi mới kể bạn nghe những diễn tiến tại Tu viện Viên Đức trong dịp lễ giữa mùa dịch bịnh còn đang hoành hành này.
Kinh Pháp Hoa (saddharma puṇḍarīka sūtra) là một trong những bộ kinh thuộc truyền thống Đại thừa (mahāyāna), hay còn gọi là Phật giáo phát triển. Trong quan điểm của các nhà Phật học từ trước đến nay, tư tưởng và triết lý của Kinh Pháp Hoa có một vị trí đặc biệt quan trọng, nhất là khi đối diện với những vấn nạn của con người trong thời đại chúng ta.
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina). Nếu an cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền an cư (Purimikavassà), còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An Cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An Cư (Pacchimikāvassā). Truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi là ‘An cư kiết hạ’, tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Sau rằm tháng tư âm lịch Chư Tăng theo truyền thống Đại thừa bắt đầu kiết túc an cư, cho đến hết ngày mười bốn tháng bảy âm lịch, làm lễ tự tứgiải hạ kết thúc mùa an cư.
Hôm ấy là Mùa Vu Lan, các Chùa cứ thay phiên nhau làm lễ bông hồng cài áo. Tôi ngồi buồn thỉu, buồn thiu nhìn bông hoa hồng trắng cài trên áo. Nhớ ngày tôi mất mẹ mới thật thê thảm, vì chưa ngộ được lý vô thường nên tôi không chấp nhận được việc khi đi làm về vào phòng chào mẹ chẳng thấy bóng bà. Tôi vật vã, thương nhớ khôn nguôi.
Có phải bất công lắm không khi hằng năm vào dịp Vu Lan, trên thế gian này không biết bao nhiêu Văn nhân, Thi sĩ, Nhạc sĩ múa bút tán tụng tình Mẹ: Huyền thoại mẹ, Phật giáo tôn vinh giá trị những bà mẹ, lạm bàn về mẹ, tản mạn về mẹ..v.v..và..v.v... bên cạnh đó, dường như mọi người vô tình đã bỏ quên một thứ tình cũng nồng nàn không kém, đôi khi còn thắm thiết hơn, đó là tình cha. Vâng, tôi có một người cha như thế.
Chúng ta phải tập tánh nghe từ ngay trong chính mình. Tóm lại, xã hội chúng ta đang không biết lắng nghe. Chúng ta phóng tâm theo những chuyện bên ngoài nhiều quá, không lắng nghe quanh mình còn bao nhiêu tiếng thở than, bao nhiêu nỗi băn khoăn, bao nhiêu oan khuất, bao nhiêu trăn trở. Liệu có bao nhiêu người trong chúng ta về nhà hỏi han cha mẹ một lời, nghe các cụ tâm sự về nỗi đời riêng cần chia sẻ. Phần đông chúng ta sống thờ ơ, hững hờ.
Sau khi đắc quả A-la-hán, Tôn giả Mục-kiền-liên vận thần thông đi khắp các cõi tìm người mẹ đã khuất. Thấy mẹ đang chịu đói khát khổ sở trong kiếp ngạ quỷ, Ngài đau lòng vô cùng, vội dâng lên mẹ bát cơm. Lòng bỏn sẻn tham lam chưa dứt, bà sợ chúng ma cướp giật nên đưa tay che bát cơm. Nhưng cơm đã hóa thành lửa đỏ!
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.
Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật! Kính bạch Chư Tôn Đức Tăng Ni! Kính thưa quý vị Phật tử! Nhân mùa Vu-lan năm 2020, con xin đảnh lễ, kính chúc chư Tôn đức Tăng Ni thêm một tuổi đạo, thành công hơn nữa trong các Phật sự, nhằm mang lại lợi íchphúc lạc cho nhân sinh. Con kính chúc các bậc làm cha mẹ thêm một tuổi đời, làm nền tảng đạo đứchạnh phúc cho con cháu trong gia đình và họ tộc. Con kính chúc tất cả các anh chị, các cháu thanh thiếu niên, đề cao đạo lý hiếu kính cha mẹ ông bà, thể hiện tinh thần tự lập, xa lánh các thói hư tật xấu, các thói quen nghiện ngập, hưởng thụ ăn chơi, để sống một cuộc đời hữu ích, và làm cho cha mẹ được hạnh phúc hiện tiền. Nhờ đó, có một tương lai tươi sáng.
NEW POSTING
Ngày đó… Thời mới giải phóng, những gia đình có người thân ngụy quyền như tôi đều tìm cách ra khỏi đất nước này. Vượt biên là phương tiện phổ biến nhất. Gia đình tôi, anh chị em cũng lọt mấy đứa. Riêng hai vợ chồng thì trầy trật mãi. Tiền mất tật mang. Cho đến khi đủ để nhận định rằng, ở lại chưa chắc xấu, ra đi chưa chắc tốt. Bởi muốn tới được miền đất hứa, chưa có gì bảo đảm rằng mình còn sống để mà đến đó.
Ngài Dzongsar Khyentse kêu gọi người Tây phương hãy thừa nhận những lệch lạc mà chúng ta có thể mắc phải trong khi nghiên cứu học hỏi Phật giáo – thông qua niềm hãnh diện về văn hóa, sự giả dối của bản ngãđơn giảnvô minh. Ngài nói, sự thâm nhập thành công vào một môi trường rèn luyện tinh tế và đầy thách thức như Phật giáo, phụ thuộc hoàn toàn vào sự tìm hiểunhận thức rõ những tập khí của chúng ta.
Có rất nhiều tranh cãi liên quan đến thời giannguyên nhân về sự suy tàn của Phật giáoẤn Độ. Một số học giả cho rằng, đó chỉ là kết quả của quy luật tự nhiên, mọi sự vật đều vô thường, có sinh thì có diệt. Một số người khác suy nghĩ rằng, đó là sự đa dạng của các nguyên nhân khác nhau, phải hoạt động trong một thời gian khá dài. Một số học giả đã truy tìm sự suy tàn của Phật giáo bắt đầu kể từ thế kỷ thứ bảy sau Công nguyên, tức hơn một ngàn năm của thời kỳ chánh pháp. Tuy nhiên, tất cả đều đồng ý rằng sự suy tàn của Phật giáoẤn Độ diễn ra vào cuối năm 1200 sau Công nguyên, khi Hồi giáo xâm chiếm Ấn Độ. Theo Giáo sư K.T.S. Sarao, Trưởng phân khoa Phật học - Đại học Delhi, sự suy tàn của Phật giáo Ấn Độ gồm những nguyên nhân sau:
Long Thọ (Nagarjuna), là một trong tám muôn bốn Đại thành tựu giảẤn độ vào khoảng thế kỷ thứ IX[1]. Ngài là một khất sĩ "trần trụi" và được yêu mến bởi tất cả những người cầu đạo chân chính. Hoàng hậu cũng quý kính Long Thọ hết mực. Ngày nọ, bà thỉnh cầu ngài vào cung. Long Thọ đến. Hoàng hậu xin ngài một đặc ân. Long Thọ nói: - Hoàng hậu muốn gì? Bà nói: - Ta muốn cái bát khất thực của ngài. Long Thọ đưa bát cho hoàng hậu. Đó là vật duy nhất ngài có. Cái bát khất thực. Rồi hoàng hậu đưa cho Long Thọ một cái bát bằng vàng nạm kim cương.
Từ Nguyễn Du đến Bùi Giáng, lục bát Việt Nam đã tạo nên một bước đi tân kỳ, một bước nhảy ngoạn mục, rung lên những tiếng thơ tự tình giữa trường mộng nhân sinh, nỗi ngậm ngùi nhân thế với niềm xao xuyến, bồi hồi. Rồi tiếp nối trên những bước đi song hành cùng lục bát, rạt rào bao sóng vỗ ngân nga, hòa âm thâm thiết với những tâm hồn quá đỗi tiêu sái như: ...
Ở đâu có người Việt, ở đó có chùa. Ngôi chùa Việt đã giữ được bản sắc văn hóa dân tộc qua hơn 30 năm có mặt trên đất Mỹ. Đến thăm một ngôi chùa Việt vào ngày chủ nhật, du khách Việt sẽ cảm thấy ấm áp tình đồng hương; sẽ thấy sự sống động qua nét giao thoa văn hóa Đông Tây; sẽ càng thấm thía sâu sắc hai câu thơ của nhà thơ, nhà sư Huyền Không: Mái chùa che chở hồn dân tộc, Nếp sống muôn đời của tổ tông. Xin bắt đầu từ tên chùa.
Hầu hết chúng ta là người phàm nên mắt thường không thể nhận biết các bậc Thánh, nhất là bậc Thánh A-la-hán “lậu hoặc đã đoạn tận, điều cần làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt sạch các kết sử của hữu, với chánh trí đã giải thoát”.
Các tín đồ Phật giáo Sri Lanka [01] đã hứng chịu sự tấn công liên tục và trực diện từ các nhà truyền giáo Cơ đốc (Christian) trong thời kỳ cai trị của người Bồ Đào Nha và Hà Lan trong gần ba thế kỷ (1505 đến 1796). Do sự thiếu cân bằng quyền lực, nhiều Phật tử đã bị ép buộc hoặc bị lôi kéo cải đạo sang Công giáo La Mã (Roman Catholicism) dưới thời người Bồ Đào Nha cai trị và theo chủ nghĩa Calvinism [02] dưới thời Hà Lan. Nhưng bằng cách áp dụng nhiều chiến thuật khác nhau, được uyển chuyển điều chỉnh để phù hợp với sự cân bằng quyền lực tại bất kỳ thời điểm nào, các Phật tử Lankan vẫn tiếp tục đánh bại các cuộc tấn công của họ và cố gắng bảo tồn Phật giáotôn giáo chủ yếu của quốc đảo này.
Tác phẩm Dīpavaṃsa là tài liệu sử tiếng Pāli cổ nhất còn được lưu lại. Danh tánh của tác giả không xác định được. Về thời điểm thực hiện cũng không được ghi lại, nhưng chúng ta có thể suy luận ra rằng sử liệu này đã được thực hiện dưới triều đại của đức vua Mahāsena (325-352 theo Tây lịch) với lý do là những điều ghi chép về vị vua này chưa được kết thúc. Học giả Hermann Oldenberg đã nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra kết luận như sau:
Ngày nào còn biết ơn, ngày đó còn hạnh phúc. Tu tập càng thăng tiến thì lòng tri ân càng lớn lao. Vì thế, mỗi ngày có thể qua đi nhưng xin hãy thắp lên ngọn nến tri ân những người lái đò thầm lặng vẫn miệt mài cao cả ngày đêm đã đến đã đi để giáo dưỡng bảo bọc cho ta ngày thêm vững chãi. Trên hết và trước nhất, chúng con một lòng cung kính biết ơn Đức Phật đã chỉ bày cho chúng con đường về bến giác, niệm ơn những bậc Thầy đã truyền trao dẫn dắt cho chúng con từng bước chân thảnh thơi và tịnh lạc đi về nẻo chánh. Xin tri ânđảnh lễ cung kính tất cả những vị Thầy mà chúng con được học hỏitiếp nối ngọn đèn tuệ giáctình thương
Người xuất gia chỉ chăm lo xây chùa, tạo phước mà không bồi trí thì chỉ được cái phụ mà bỏ quên cái chính, như người vào rừng đốn gỗ chỉ lấy được vỏ cây mà quên mất lõi cây. Và nếu như, người xuất gia xây chùa chỉ vì danh tiếng, chạy theo kỷ lục, lao tâm khổ tứ quá nhiều, thậm chí bị nợ nần, rồi chấp thủ kiên cố, bị trói buộc vào những thành quả của mình là nhầm phương tiện với cứu cánh, đối với sự nghiệp giải thoát trở thành lợi bất cập hại.
Đạo Phật đồng hành với dân tộc đã hơn hai ngàn năm nay. Người Việt tiếp xúc với đạo Phật hầu như đủ các trường phái, pháp môn: Bắc tông, Nam tông, nguyên thủy, mật tông. Trong các tông ấy laị chia chi li hơn nữa như: thiền tông ( của cả Bắc lẫn Nam truyền), tịnh độ, kim cang thừa…
New Posting: Bài 24 - Dana và sự hào hiệp Dana là tiếng Phạn có nghĩa là sự hào hiệp, là phẩm tính cao nhất trong số các phẩm tính toàn thiện (paramita/ba-la-mật/ đạo đức siêu nhiên, phẩm tính hoàn hảo), điều này quả hợp lý, bởi vì xu hướng tự nhiên của chúng ta không phải là "cho" mà là "nhận"
Xin gửi đến các độc giả xa gần một bài thơ của thi hào Mỹ Walt Whitman (thế kỷ XIX), mang tựa "For you, O Democracy" / "Vì em, Dân chủ ơi".
Vào cuối thế kỷ 20, năm 1997, trong một ván cờ sáu hiệp, một máy vi tính của công ty IBM, tên là Deep Blue, đã đánh bại vô địch cờ tướng thế giới, người Sô Viết, Garry Kasparov. Từ đó, hai phía người và máy đã "tham chiến" ba lần. Hai trận thì huề, và trận cuối cùng gần đây, 2006, IBM Deep Fritz lại thắng đối với đương kim vô địch cờ tướng gốc Nga Vladimir Kramnik. Chiến thắng của máy IBM Deep Blue và Deep Friz đã gây ít nhiều kinh hoàng cho giới triết họcthần học vì nó đem đến một viễn cảnh ngự trị của máy móc trên năng lực tư duy con người. Nếu con người, theo quan điểm thần học tây phương, là tác phẩm siêu việt và mang ảnh tượng Thiên Chúa, và khả năng quan trọng nhất của hắn không phải là thể chất, mà là tư duy. Vậy thì khi một máy vi tính có thể đánh bại một vô địch cờ tướng, câu kết luận rõ ràng là, tác phẩm của Chúa đã thua sản phẩm của con người.
Trong khi, triết học Tây phương với những đường hướng mới mẻ và phong phú đã mang lại cho Đông phương một vài khích lệ và sực tỉnh về thế đứng và vai trò của mình trước khát vọng hòa bình và nhân đạo của thế giới, thì ngược lại, những tiến bộ vượt bực của khoa học Tây phương, với vô số tiện nghi mà nó mang lại, đã làm gục ngã tinh thần Đông phương trong tham vọng ngu ngốc của mình. Cuối cùng, hạnh phúc vẫn là một thứ chất lỏng, và là một thứ rắn độc cám dỗ, như Long Thọ đã từng cảnh giác: “Như bắt rắn bằng hai tay không đúng cách, (…), nếu hiểu lầm ý nghĩa cứu cánh của sự sống, tai hại sẽ dành cho kẻ trí năng thấp kém.”
Kinh Kim Cang Bát Nhã được ngài Cưu Ma La Thập (344-413) dịch từ tiếng Phạn sang Hán văn, và được thái tử Chiêu Minh (499-529) chia bố cục ra 32 chương. Đây là một trong những bộ kinh quan yếu nhất của Thiền Tông Trung Hoa đặc biệt từ thời Lục Tổ Huệ Năng (638- 713), người đã ngộ đạo, kiến tánh qua câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" trong lời khai thị từ Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (601-674).
Sau khi đã hiểu rõ: “Phật là gì?” ở phần Minh danh Phật, để nhận hai ngã Đạo và Đời, theo quan niệm của đức Phật, thì tiếp theo là việc nhận thức về “Giá trị con người”; ở phần: tinh thần Nhân chủ trong giáo lý của Phật. Như vậy càng thấy rõ Lập trường người của đạo Phật để xây dựng một nền Triết học Nhân bản, thành lập một xã hội Nhân tính, và cải tạo tự nhiên bằng tinh thần Nhân chủ.
Nhân dịp toàn dân Việt chúng ta mừng lễ kỷ niệm ngày đức Phật thành đạo, tưởng không gì có ích hơn là nhắc lại cái sứ mạng lịch sử của Phật giáo trong dịp bứt xiềng đô hộ của Trung Hoa.
Đối với Phật Giáo, đạo Phậtđạo từ bi cứu khổ, bình đẳng và không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, mầu da và giới tính. Với nguyên tắc thương yêu tất cả mọi loài chúng sinh, Phật giáo không chủ trương xét xử, không chống đối hay chỉ trích người khác, đơn thuần chỉ dựa trên tính chất của người đó, vì điều này được xem như là một sự phê phán thiên vị và không công bằng. Vì thế, xuyên qua những lời giảng dạy của Đức Phật, chúng ta không thấy Ngài phê phán những người đồng tính về phương diện đạo đức
Các nhà khoa học đã nói rằng con người chúng ta là động vật xã hội, có ý thức quan tâm mạnh mẽ đến cộng đồng của mình, bởi vì sự sống còn của chúng ta phụ thuộc vào hạnh phúc của cộng đồng. Nuôi dưỡng phúc lợi của cộng đồng là một trong những cách tốt nhất để thực hiện lợi ích của chính chúng ta
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn hóa tâm linh càng trở nên quan trọng trong mối liên hệ với ý nghĩasức mạnh mềm trong Phật giáo. Văn hóa tâm linh có sức thâm nhập mạnh nên phải chú ý nhiều đến các chủ đề văn hóa, như đa dạng văn hóa, tiếp biến va đối thoại giữa các nền văn hóa - văn minh
True compassion and love have no territorial bounds. They are both freely offered. Lòng nhân từ và tình yêu thương thực sự không có biên giới - chúng được trao và nhận một cách tự do.
Cố hòa thượng Thích Trừng San nguyên Giám sự Phật Học viện Hải Đức- Nha Trang, Giám viện Phật Học viện Sơ đẳng Linh Sơn thuộc chùa Linh Sơn Pháp Bảo- xã Vĩnh Ngọc- Tp. Nha Trang, Chứng minh sáng lập “Y Vương Niệm Phật Đường” tại Bệnh viện Tỉnh Khánh Hòa, kiêm nhiệm trụ trì Chùa Diên Thọ, trụ sở Giáo hội Phật giáo huyện Diên Khánh, và Linh Phong Cổ Tự - Nha Trang (sau truyền giao Thượng tọa Thích Trừng Thủy, hiệu Chí Viên trụ trì cho đến nay).
“Tinh thần Dân chủ Nhân dân đã trở thành một phần, không thể tách rời trong phạm vi cuộc sống của nhân loại trên hành tinh này. Điều đó có thể nói là đã ngấm vào tận xương tủy của con người. Nhìn từ sự phát triển của một quốc gia, hay một đất nước phát triển, trên nền tảng chính trị do đa số người dân sống ở một vùng, miền nào đó thực hiện”.
Tôi yêu Lễ tạ ơn. Hầu hết người Hoa Kỳ cũng vậy, xếp hạng đây là ngày lễ yêu thích thứ hai của họ trong năm sau ngày lễ Giáng sinh. Có rất nhiều điều để yêu thích về Lễ Tạ ơn. Có khái niệm về lòng biết ơn - điều mà chúng ta vĩnh viễn quên đi trong cuộc sống hàng ngày bận rộn của mình. Đó là sự ấm áp của gia đình - quây quần bên bàn ăn để nói cười với những người thân yêu của chúng ta. Và có một sức hấp dẫn thế tục - người Mỹ thuộc mọi tín ngưỡng ngày nay tổ chức Lễ Tạ ơn với sự nhiệt tình bình đẳng không phân biệt tôn giáo, sắc tộc. Nhưng có một thứ mà chúng ta, với tư cách là một xã hội anh em nên xem xét lại về Lễ Tạ ơn: con gà tây.
Qua ý nghĩa sơ bộ của tính không, chúng ta sẽ đạt được một ý nghĩa rõ ràng hơn về si mê là gì; điều này sẽ đưa đến một kinh nghiệm khá hơn về tính không. Sự hiểu biết về tính không tốt hơn, đến lượt chính nó, sẽ làm nổi bật sự nhận diện ra si mê ám chướng của chúng ta, và điều gì đang bị phủ nhận.
Phật giáo đã và đang đóng góp hệ giá trị Châu Á trong dòng chảy phát triển và hội nhập quốc tế ngày nay qua việc lý giải thấu đáo về nguyên nhân của sự phát triển không bền vững trong đời sống kinh tế xã hội. Với giáo lý nhân duyên, duyên khởi đã khiến nhận thức của con người thay đổi vì mình vì người. Mặt khác, tự thân Phật giáo cũng có những yếu tố bền vữngđiều chỉnh hướng phát triển đáp ứng vai trò của mình đối với yêu cầu xã hội đặt ra.
Nhân chuyến về Việt Nam vào cuối năm 2016, chúng tôi có dịp ghé thăm thành phố Đà Nẵng và viếng Bảo tàng Văn hóa Phật giáo chùa Quán Thế Âm nằm trong quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng.
Văn hóatôn giáo thường được thảo luận theo sự đối xứng. Cả hai đều có sự tương tác phụ thuộc lẫn nhau. Hai thứ cũng đã trở thành một phần trong cuộc sống của con người. Mặc khác, văn hóatôn giáo có những đặc điểm dị biệt.
Hơn 150 năm sau khi chế độ nô lệ chấm dứt, nghiệp phân biệt chủng tộc bi thảm của nước Mỹ vẫn tiếp diễn đến ngày nay. Giáo viên Phật giáo Larry Ward nói rằng nếu chúng ta hiểu rõ nghiệp thực sự hoạt động như thế nào, chúng ta có thể ngăn chặn được nó.
Còn đau không | tiếng chim kêu buồn nơi nhánh sầu đông trước ngõ | phù sa cuộn đục trên sông dài bờ bến mông lung | rác rưởi lầy nhầy ung thối ngày tàn thu | bầy ruồi nhặng no bụng buồn tung cánh | gia tài dành dụm một sớm tan bay
happy thanksgivingTrong đời sống hằng ngày, cho để nhận là một chuyện rất bình thường trong mọi sự trao đổi lẫn nhau. Tôi trả tiền, tôi nhận món hàng. Vậy, cho để nhận là một quy luật tự nhiên hay còn là một nguyên tắc đạo đức? Đó là một hành động tự nguyện, bất vụ lợi, xuất phát từ lòng thương người?
Working is praying. Khi ta làm việc ta không cảm thấy “bị lao động,” mà trái lại, làm việc là góp tay với Tạo Hóa để cho thế giới – và chính ta - được chuyển mình và tiến hóa về cái Đẹp, cái Đúng. Trong công việc ta hiện thân ra tính thể - working is being - mà bản chất của ta sẽ quyết định cách thức làm việc và phẩm chất cho kết quả và thể tướng nơi sự vật tác thành.
Bài viết này nhằm nục đích xin trã lại sự thật cho Phật Ngôn và phãn biện lại bài viết Tứ Niệm Xứ - Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm của thiền sư Brahmavamso (2) hay gọi tắc là Ajahn Brahm, mà tiến sĩ Binh Anson đã lược dịch đăng trên các trang https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbthn026.htm https://www.coinguonhanhphuc.blogspot.com. http://www.khuongviettu.com/tu-niem-xu-bon-nen-tang-cua.../
HỎI: Tôi đã quy y Tam bảophát nguyện không bao giờ rời xa đạo Phật. Chỉ vì tôi yêu người đạo Công giáo và bạn ấy lỡ đã mang thai, nay gia đình người yêu bắt tôi phải cải đạo thì mới cho cưới. Tôi hoàn toàn không muốn theo nhưng người yêu hiến kế là tạm theo Công giáo cho đủ hình thức để cưới xin rồi cưới xong thì đạo ai nấy giữ, tôi vẫn là một Phật tử được không? (DƯƠNG VĂN, xin ẩn địa chỉ)
Tôi là người thực sự tin tưởng rằng cá nhân có thể làm thay đổi xã hội. Bởi vì những thời kỳ có những thay đổi lớn lao như thời kỳ hiện tại thường ít khi đến trong lịch sử nhân loại, vậy thì, mỗi người trong chúng ta phải cố gắng hết sức mình để xây dựng một thế giới hạnh phúc hơn.
Dr. Lewis Lancaster sẽ thuyết giảng trực tuyến miễn phí từ Viện Đại Học The University of the West với đề tài Detachment in Buddhist Thought Living in the Present Age (Sự Buông Xả trong Phật Giáo vào Thời Hiện Đại) vào Thứ Ba November 24, 2020 lúc 7:00 PM PST (Pacific Standard Time) tức 10 giờ sáng Việt Nam ngày 23 tháng 11 năm 2020. Với Zoom ID và Passcode quý độc giả có thể theo dõi buổi giảng cũng như đặt câu hỏi với giáo sư Lewis Lancaster. Đây là cơ hội hiếm có để quý sinh viên tăng ni tại các viện đại học Phật GiáoViệt Nam học hỏi Phật Pháp qua sinh ngữ Anh.
...Cho nên, hội nhập quốc tế đang diễn ra trên nhiều lãnh vực, Phật giáo Việt Nam cần có chuyên ngành đào tạo mới, đáp ứng nhu cầu hội nhập theo sự phát triển. Vì vậy, ngành này sẽ đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng, có kiến thức và kỹ năng căn bản cũng như chuyên sâu về nghiên cứu quan hệ đối ngoại Phật giáo
Tam pháp ấn được trình bày cả trong kinh điển thuộc văn hệ Pāli và A Hàm Hán tạng. Ba pháp này được Đức Phật dùng để chỉ ra bản chất của mọi sự vật hiện tượng, từ sắc pháp cho đến tâm pháp, đều luôn thay đổi không ngừng và không có một thực thể nào tồn tại độc lập, riêng biệt.
Môn đồ pháp quyến trang nghiêm thắp hoa đăng tưởng niệm và tri ân Bổn sư nhân Lễ Tiểu Tường của Cố Trưởng lão Hòa thượng thượng Trừng hạ Huệ, tự Như Ý, Tam Tự Viện Chủ vào các ngày mồng 4 và 5 tháng 10 năm Canh Tý (18 & 19/11/2020) tại Tổ Đình Linh Sơn Pháp Bảo (xã Vinh Ngọc- Tp. Nha Trang)
Có bốn điều kiện tạo ra giấc chiêm bao: (1) Do cơ thể bị xáo trộn, (2) Sự thấy lại một ấn tượng nào đó ban ngày, (3) Do sự tác động của hàng khuất mặt, (4) Điềm báo.
Nay, với việc ấn hành cuốn “NI GIỚI VIỆT NAM HOẰNG PHÁP TẠI HOA KỲ” của soạn giả - Tiến sỹ Ni sư Thích Nữ Giới Hương, chúng tôi thấy rằng đây là cuốn sách đầu tiên phản ánh khá đầy đủ sinh động trên nhiều bình diện và chiều kích khác nhau của công cuộc xiển dương chánh pháp nói chung và Hoằng Pháp nói riêng của Ni Giới Việt Nam tại Hoa Kỳ từ trước, sau năm 1975 cho đến nay.
1. Đừng mưu cầu gì 2. Không có kỷ luật nào 3. Đừng mong sở đắc 4. Đừng nỗ lực 5. Đừng theo thói quen 6. Đừng niệm gì cả 7. Đừng trước ý 8. Không có ai ngồi thiền cà 9. Quên kinh điển chữ nghĩa 10. Trả lại tự nhiên 11. Không làm gì cả 12. Thư giãn, buông xả
Thông thường mọi người không đánh giá cao việc được (hay bị) cách ly trong 21 ngày. Nhưng thời gian tôi bị cách ly khi tôi từ nước ngoài trở về nhà (Bhutan) vào ngày 21 tháng 4 năm 2020 là thời điểm tốt để suy ngẫm.
Đức Phật không phải là một vị Thượng đế, vậy thì tại sao giáo huấn của Ngài là một tôn giáo và tại sao Phật tử tôn thờ Ngài như Thượng đế?’ Câu hỏi vốn được hỏi từ những nhà học giả và những sinh viên mới trong những nghiên cứu Phật giáo?
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ?
Thiền quán để chúng ta thấy rõ sự sai biệt trong cuộc đời đều do con người tạo lấy, giàu nghèo, tốt xấu, nên hư, phải quấy, thành bại, được mất, hơn thua, thông minh, dốt nát, sống thọ, chết yểu đều có nguyên nhân sâu xa của nó. Người Phật tử chân chính ngoài việc học hỏi còn phải dùng thiền quán để soi sáng muôn loài vật.
Trong 02 ngày liên tiếp, mổng 4 và 5 tháng 10 năm Canh Tý (nhằm 18 và 19/11/2020), môn đồ pháp quyến Tổ Đình Linh Sơn Pháp Bảo (xã Vĩnh Ngọc – TP. Nha Trang) đã trang nghiêm tổ chức Lễ Tiểu Tường Cố Hòa thượng Viện Chủ với lòng thành kính tri ân và nỗi niềm thương nhớ bậc ân sư thầy tổ đã khuất bóng tròn một năm.
Những người ăn ớt có thể ít bị tử vong hơn do bệnh tim hoặc ung thư và có thể sống lâu hơn những người không ăn, theo một nghiên cứu mới sẽ được trình bày tại Phiên họp Khoa học của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2020 vào thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Người ta luôn luôn đặt ra câu hỏi này, Đức Phật đã đi về đâu hay hiện Ngài đang sống ở đâu. Đây là một câu hỏi rất khó trả lời đối với những ai chưa từng tu tập một đời sống tâm linh. Lý do là vì họ thường nghĩ về cuộc đời theo cách trần tục, một điều rất khó để cho họ có thể hiểu được khái niệm về một vị Phật. Có một số nhà truyền giáo (Cơ đốc) đến gặp các Phật tử và nói rằng Đức Phật không phải là một vị thượng đế, Ngài là một con người. Ngài đã chết và lìa bỏ thế gian này rồi. Thờ cúng một người đã chết như vậy phỏng có được lợi ích gì? Tuy nhiên,....
Bài giảng của Tiến Sĩ Lancaster tại trường Đại Học University of the West, California vào tháng 10/2020. Tiến sĩ Lancaster, nghiên cứu Phật Giáo 60 năm, và dạy Phật Học 36 năm tại trường Đại Học nổi tiếng University of California, Berkeley. Ông là Gíao sư Thỉnh Giảng hầu hết các trường Đại Học Đông Nam Á trong đó có Viện Đại Học Vạn Hạnh trước 1975 và Học Viện Phật Giáo Việt Nam ngày nay.
Mục đích của Thiền là “thấy tánh”, và sống, tương ưng với tánh ấy cho đến mức trọn vẹn. Thấy tánh là thấy Phật tánh vậy.
Tối nay tôi sẽ nói về một điều rất đơn giảnthiết thực, nhưng lại là điều mà hầu hết chúng ta ít chú ý đến. Tôi muốn nói về sự bí mật của hơi thở, về sự thật ẩn chứa bên trong nó. Mặc dù chúng ta đã thở cả đời, nhưng rất ít người trong chúng ta quan tâm nhiều đến hơi thở, để khám phá ra sự thật mà nó có thể tiết lộ.
Với lượng thông tin khổng lồ trong thời đại Internet hiện nay, nguồn gốc và mức độ tin cậy của chúng đang là một vấn đề đáng lo ngại. Lợi dụng khả năng lan truyền nhanh chóng của các trang mạng xã hội như Facebook và Twitter, những người đứng sau các tin tức sai lệch, giả mạo đang đưa chúng tiếp cận đông đảo người dùng hơn chỉ trong tích tắc nhằm trục lợi. Nếu không được trang bị kiến thức đầy đủ, người dùng Internet sẽ rất dễ sa vào những cái bẫy thông tin đó.
Luận về những gì thuộc huyết khí thì phải có tính biết, phàm có tính biết chắc chắn đồng thể. Thế nên ‘chơn tịnh minh diệu, hư triệt linh thông’ sáng suốt hằng còn. Đó là nguồn gốc của chúng sanh, nên gọi là tâm địa. Là chỗ chứng đắc của chư Phật, nên gọi là bồ đề. Giao lưu suốt khắp, dung thông nhiếp hóa, nên gọi là pháp giới. Vắng lặng, thanh tỉnh chơn thường , chơn lạc gọi là niết bàn. Chẳng rơ chẳng rĩ, gọi là trong sạch. Không hư vọng, không biến đổi gọi là chơn như.
Đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng ba ngày về “Luận giải về Bồ Đề Tâm” của Đức Long Thọ - thể theo sự thỉnh cầu của chư Phật tử ở Nga - qua liên kết truyền hình từ Dinh thự của Ngài ở Dharamsala, HP, Ấn Độ vào ngày 5 - 7 tháng 11, 2020. Ngài cũng tham gia trả lời các câu hỏi của nhóm trong 30 phút cuối chương trình mỗi ngày. Các phần tiếp theo sẽ được thêm vào khi đã có sẵn.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới, hãy hành động khẩn cấp với các biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu, cảnh báo về các loài và hệ sinh thái đang biến mất nhanh chóng khỏi Trái Đất, với hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng tỷ người và hủy hoại hành tinh, bao gồm cả quốc gia Phật giáo Kim Cương thừa Tây Tạng, nơi chôn nhau cắt rốn của Ngài.
Hơn 150 năm sau khi chế độ nô lệ chấm dứt, nghiệp phân biệt chủng tộc bi thảm của nước Mỹ vẫn tiếp diễn đến ngày nay. Giáo viên Phật giáo Larry Ward nói rằng nếu chúng ta hiểu rõ nghiệp thực sự hoạt động như thế nào, chúng ta có thể ngăn chặn được nó.
Những người ăn ớt có thể ít bị tử vong hơn do bệnh tim hoặc ung thư và có thể sống lâu hơn những người không ăn, theo một nghiên cứu mới sẽ được trình bày tại Phiên họp Khoa học của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2020 vào thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Với lượng thông tin khổng lồ trong thời đại Internet hiện nay, nguồn gốc và mức độ tin cậy của chúng đang là một vấn đề đáng lo ngại. Lợi dụng khả năng lan truyền nhanh chóng của các trang mạng xã hội như Facebook và Twitter, những người đứng sau các tin tức sai lệch, giả mạo đang đưa chúng tiếp cận đông đảo người dùng hơn chỉ trong tích tắc nhằm trục lợi. Nếu không được trang bị kiến thức đầy đủ, người dùng Internet sẽ rất dễ sa vào những cái bẫy thông tin đó.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới, hãy hành động khẩn cấp với các biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu, cảnh báo về các loài và hệ sinh thái đang biến mất nhanh chóng khỏi Trái Đất, với hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng tỷ người và hủy hoại hành tinh, bao gồm cả quốc gia Phật giáo Kim Cương thừa Tây Tạng, nơi chôn nhau cắt rốn của Ngài.
Dr. Lewis Lancaster sẽ thuyết giảng trực tuyến miễn phí từ Viện Đại Học The University of the West với đề tài Detachment in Buddhist Thought Living in the Present Age (Sự Buông Xả trong Phật Giáo vào Thời Hiện Đại) vào Thứ Ba November 24, 2020 lúc 7:00 PM PST (Pacific Standard Time) tức 10 giờ sáng Việt Nam ngày 23 tháng 11 năm 2020. Với Zoom ID và Passcode quý độc giả có thể theo dõi buổi giảng cũng như đặt câu hỏi với giáo sư Lewis Lancaster. Đây là cơ hội hiếm có để quý sinh viên tăng ni tại các viện đại học Phật GiáoViệt Nam học hỏi Phật Pháp qua sinh ngữ Anh.
Bước Chân An Lạc (Walk With Me) là bộ phim tài liệu về thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai, do hai đạo diễn Max Pugh và Marc J. Francis thực hiện, được công chiếu tại Việt Nam vào đầu tháng 3 năm 2018. Bộ phim bao gồm những cảnh quay yên bình về đời sống tu hành của tăng thân Làng Mai, xen lẫn là lời dẫn chuyện được trích trong quyển sách “Nẻo Về Của Ý” (bản dịch tiếng Anh: Fragrant Palm Leaves) của thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Tu viện Mộc Lan nằm ở vùng Red Hill thuộc thành phố Batesville Mississippi. Vào trung tuần tháng 3 năm 2010, tôi được Thầy dạy về đó để xây dựng chúng xuất sĩ thường trú. .../...Thầy tôi thường dạy rằng, một truyền thống tâm linh muốn được tồn tại và giữ được bản sắc riêng của nó, thì phải hội nhập và học hỏi văn hóa bản địa. Đó cũng là một nhân duyên khiến thiền đường Hải Triều Lên không thiết trí tượng Bụt như những ngôi chùa, tu viện theo truyền thống Á đông. Có những vị Phật tử Á đông trong thời gian đầu đã nhận xét: “Sao giống Chúa quá”, hoặc hỏi: “Sao thiền đường không có tượng Bụt. Bụt đâu để con lạy?”. Tôi từ tốn chia sẻ cho các vị ấy hiểu. May mắn thay, các vị mở lòng lắng nghe, đón nhận và cảm thấy thoải mái hơn. Tâm các vị an bình, nhẹ nhàng có được giây phút lắng yên khi được ngồi, được thở, được bước đi những bước chân đã về đã tới nơi mảnh đất Mộc Lan.
Giữa rừng người từ khi chu du nhiều nơi đây đó rồi về San Diego tạo dựng Dharma Mountain ẩn dật vui thú vui nơi thôn dã cũng đà sắp xỉ ngót mười năm. Người người say mê tạo dựng, nhưng tôi về ẩn tại chốn Non cao, ngày ngày làm vườn nấu nước pha Trà, khép mình trong cái tĩnh. Ban ngày ra vườn, ban tối đọc sách viết vài đoạn, rồi buông thư ngồi tĩnh tọa hít thở, rảnh rỗi thì hái rau vui với Suối Rừng Hoa lá,