Tiểu Sử Vắn Tắt Đức Orgyen Tenzin Norbu

25/05/20212:10 SA(Xem: 324)
Tiểu Sử Vắn Tắt Đức Orgyen Tenzin Norbu
TIỂU SỬ VẮN TẮT ĐỨC ORGYEN TENZIN NORBU
Nyoshul Khen Rinpoche[1] soạn | Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ

blank Một học trò khác của Patrul Rinpoche[2] – vị thậm chí còn vĩ đại hơn Ngài trong việc giải thích các giáo lý – là Orgyen Tenzin Norbu. Từ thuở nhỏ, Ngài đã cho thấy lòng bi mẫn, xả ly và chán ghét thế gian chẳng thể sánh bằng và vì thế, Đức Gyalse Zhenphen Thaye đã chăm sóc cậu bé với tình yêu thương lớn lao[3]. Mười ba tuổi, Ngài Orgyen Tenzin Norbu xuất giatrân trọng việc rèn luyện cao cấp trong giới luật tu sĩ như chính mắt Ngài.

Với đấng quy y Gyalse Zhenphen Thaye, Ngài nghiên cứu Năm Mươi Đoạn Kệ Của Sa Di từ truyền thống Kinh điển và thọ nhận từ vị này toàn bộ các quán đỉnhchỉ dẫn cho Tâm Yếu Longchenpa [Longchen Nyingtik] – cả thực hành sơ khởi và phần chính yếu của thực hành – từ truyền thống Mật điển. Ngài cũng thỉnh cầu vô số giáo lý sâu xa khác, chẳng hạn Sáu Du Già Của Naropa. Dzogchen [Rinpoche] thứ tư – Mingyur Namkhai Dorje đã ban cho Ngài các khẩu truyền cho truyền thống Kama của Trường phái Cựu Dịch, cũng như toàn bộ quán đỉnhkhẩu truyền cho Bảy Kho Tàng và Bốn Phần Tâm Yếu của Đấng Toàn Tri vĩ đại. Ngài Orgyen Tenzin Norbu cũng thọ nhận giáo lý dựa trên ý định giác ngộ của “bốn đạo sư uyên bác của Ấn Độ và Tây Tạng”, chẳng hạn những giáo lý tập trung vào Tám Mệnh Lệnh và luận giải về Phổ Ba Kim Cương với tựa đề Tháp Đen, cũng như các Terma được phát lộ bởi chư đạo sư như Đức Nyima Drakpa của truyền thống Mindrolling, Tổ Ngadak[4] và những vị kế thừa tâm linh.

Từ hai đạo sư – Khenchen Pema Vajra[5] và Lingla Tulku Thupten Gyaltsen Palzang – Ngài Orgyen Tenzin Norbu thỉnh cầu các khẩu truyền cho Kangyur quý báu, các dòng khẩu truyền còn tồn tại cho Tengyurkhẩu truyền cho Tuyển Tập Mật Điển Trường Phái Nyingma. Ngài cũng thọ nhận các quán đỉnhkhẩu truyền cho những pho như Hợp Nhất Ý Định Chư Đạo Sư và Tuyển Tập Trước Tác của Tổ Rongzom Chokyi Zangpo. Terchen Chokgyur Lingpa[6] ban cho Ngài pho Dzogchen Vàng Tinh Luyện. Đức Kunzang Tekchok Dorje dạy Ngài các thực hành khởi của pho Nyingtik và Drupchen Sonam Palge tỉ mỉ hướng dẫn Ngài trong những thực hành du già của giáo lý Nyingtik, điều được dùng để khai thác các năng lượng vi tế. Một người họ hàng của Ngài, Jigme Tapke, vị cũng được biết đến là “đạo sư Chod của Gemang”, đã truyền cho Ngài toàn bộ các chỉ dẫn cốt tủy bên ngoài và bên trong cho thực hành Trekchod; đạo sư tôn quý Nyoshul Lungtok Tenpai Nyima giải thích pho An Trú Trong Bản Tính Tâm và Geshe Jampa Phuntsok dạy Ngài các tác phẩm như Nhập Trung Đạo.

Bên cạnh đó, Ngài Orgyen Tenzin Norbu nghiên cứu với những học giả lỗi lạc, chẳng hạn Pháp chủ Mipham[7], Getse Lharampa, Kunzang Sonam từ Minyak và Khenpo Lonam và các thảo luận của Ngài với chư vị đã giải quyết những nghi ngờ. Ngài đạt đến đỉnh cao của sự uyên bácthành tựu nhờ rèn luyện trước sự chứng minh của nhiều đạo sư tôn quý, như ai đó luyện vàng bằng cách đốt, cắt và đánh bóng. Điều đấy giống như câu nói về “vị uyên bác thêm vào danh tiếng của vị uyên bác và vị uyên bác tuyên bố những phẩm tính của vị uyên bác”. Nổi bật hơn cả, Ngài Orgyen Tenzin Norbu thảo luận với Pháp chủ toàn tri Mipham để cả hai có thể giải quyết những nghi ngờ. Đức Mipham vô cùng hài lòng với Ngài Orgyen Tenzin Norbu và bày tỏ sự tán thán.

Về những vị giáo thọ, nhìn chung, Ngài Orgyen Tenzin Norbu phụng sự nhiều đạo sư thành tựu của giác tính; chư vị bao gồm khoảng hai mươi lăm đạo sư uyên bácthành tựu; mười ba đạo sư, những vị thậm chí còn từ ái hơn trong việc trao cho Ngài các quán đỉnh, chỉ dẫnkhẩu truyền; hai [tâm] tử của những Đấng Chiến Thắng, nổi danhmặt trờimặt trăng; một đạo sư vô cùng tôn quý, vô song; và một vị với Ngài Orgyen Tenzin Norbu chính là Kim Cương Trì vĩ đại với lòng từ thù thắng. Nương tựa những đạo sư này, Ngài thọ nhận tất cả lời khuyên tâm yếu của chư vị và tự mình trở thành một đạo sư về toàn bộ giáo lý của Đấng Chiến Thắng.

Ngài Orgyen Tenzin Norbu có kết nối rất đặc biệt với Đức Jamyang Khyentse Wangpo, vị thực sự là Văn Thù Sư Lợi. Ngài thọ nhận từ vị này những quán đỉnh, khẩu truyềnchỉ dẫn cho Tâm Yếu Longchenpa, các giáo lý giải thích về hai “Cỗ Xe”[8], các luận giải về Kho Tàng Phẩm Tính Giác Ngộ, Bồ Tát giới từ hai truyền thống của trường phái Trung ĐạoDuy Thức[9] của triết học Phật giáo, quán đỉnhkhẩu truyền cho các bản văn như luận giải Phổ Ba Kim Cương Tháp Đen và toàn bộ quán đỉnhkhẩu truyền cho các pho như Tâm Yếu Garab.

Thậm chí còn quan trọng hơn với Ngài Orgyen Tenzin Norbu là kết nối của Ngài với đạo sư của gia đình Phật của Ngài – đấng bảo hộ của luân xa đỉnh đầu của Ngài – Patrul Rinpoche Orgyen Jigme Chokyi Wangpo, vị mà Ngài đã thân cận dưới gót sen từ năm mười bảy tuổi đến năm bốn mươi bảy tuổi. Từ vị này, Ngài thọ nhận những giáo lý về Nhập Bồ Tát Hạnh, Trích Yếu Rèn Luyện, các tác phẩm được tuyển tập của Tổ Long Thọ về Trung Đạo, Kinh Hiền Ngu, Miêu Tả Về Punyabala, một vài trong số các bộ luận của Đức Di Lặc (bao gồm Trang Nghiêm Kinh, Trang Nghiêm Chứng Ngộ Cao Hơn và Vô Thượng Tục Luận), Kho Tàng A-tỳ-đạt-ma, Luật và những kinh văn gốc Ấn Độ khác từ Kangyur và Tengyur. Ngài Orgyen Tenzin Norbu lắng nghe và quán chiếu những giáo lý này, giải quyết tất cả các nghi ngờ còn lại. Bên cạnh đó, mặc dù sự trao truyền không trọn vẹn, Ngài Orgyen Tenzin Norbu thọ nhận từ Patrul Rinpoche các giáo lý về hầu hết những bộ luận nổi tiếng của truyền thống Phật giáo Ấn Độ, chẳng hạn Phân Loại Cấp Độ Chứng Ngộgiải quyết mọi nghi ngờ về các tác phẩm này. Tương tự, Ngài nghiên cứu Mật điển oai hùng nhất, Tinh Túy Bí MậtMật điển Thời Luân, bộ luận Kho Tàng Phẩm Tính Giác Ngộ, Lời Nguyện Kinh Và Mật và Xác Quyết Ba Cấp Độ Giới Luật.

Chính nhờ đạo sư Patrul tôn quý, Ngài Orgyen Tenzin Norbu giải quyết các nghi ngờ về mọi suy xét lý thuyếtthực tiễn trong Bảy Kho Tàng, Bốn Phần Tâm Yếu và Tuyển Tập Trước Tác của Tổ Jigme Lingpa. Vì thế, Ngài thường nói rằng, “Từ quan điểm của phẩm tính giác ngộ của chư vị, tôi không phân biệt giữa chư đạo sư của tôi, bởi đa phần đều là những vị tiến bộ tâm linh, vị đã đạt được các cấp độ chứng ngộ cao. Tuy nhiên, về lòng từ, Abu già đáng mến tuyệt đối chẳng thể sánh bằng. Với tôi, không ai như Ngài trong khắp tam giới”. Và Ngài thường chắp tay, rớt nước mắt. Ngài cũng nói rằng, “Bất kể các nguồn Kinh điển hay Mật điển nào mà tôi nghiên cứu, tôi biết rằng tất cả chúng đều chẳng là gì ngoài phương tiện hợp nhất tâm tôi với tâm của Bổn Sư và tôi biết cách hợp nhất tất cả chúng trong sự trưởng dưỡng Bồ đề tâm. Việc tôi biết những chuyện này đều là nhờ lòng từ của Abu già từ ái”.

Ngài Orgyen Tenzin Norbu sau đấy theo đuổi sự hành trì tâm linh, tiến hành những khóa nhập thất mở rộng về các giai đoạn tiếp cận và thành tựu cho vô số chư Tôn liên quan đến trí tuệ thù thắng. Sự thông tuệ của Ngài phát triển như lửa bùng cháy. Ngài có những linh kiến về Guru Rinpoche và vô vàn chư Tôn thiền định. Xem lòng bi mẫnBồ đề tâm là nền tảng của con đường tâm linh, Ngài đã thực hành Dzogchen miên mật trong mười hai năm, theo gót chư đạo sư trong quá khứ, để Ngài trực tiếp trải qua sự chứng ngộ, tức truyền thừa rốt ráo. Ngài đạt đến tận cùng của con đường Trekchod và Togal, con đường của bốn linh kiến. Khi Ngài đã hoàn thiện năng lượng mãnh liệt của ngọn đèn trí tuệ tự hiện, một đại dương giáo lý bao la của Kinh điểnMật điển khởi lên rõ ràng trong tâm Ngài Orgyen Tenzin Norbu.

Về mặt giới luật, Ngài cực kỳ thanh tịnh, nhấn mạnh vào những giáo lý linh thiêng của Luật Tạng, để mọi người vân tập quanh Ngài như thiên nga lao về hồ nước và toàn bộ vùng Dza ở phía Bắc của miền Đông Tây Tạng tràn ngập những vị đã thọ nhận giới Sa DiTỳ Kheo từ Ngài. Cho đến năm năm mươi tám tuổi, Ngài Orgyen Tenzin Norbu tự tiến hành các nhu cầu của bản thân, tự pha trà, chẳng bao giờ cần dù chỉ một tu sĩ phục vụ. Ngài xem hình mẫu là Thanh Văn Đại Ca Diếp, vị hiện thân cho mười hai phẩm tính của sự rèn luyện. Theo cách này và những cách khác, hành vi của Ngài thật tuyệt vời và chẳng thể miêu tả – thực sự là của một vị tiến bộ tâm linh – và Ngài thật xuất sắc trong những đạo sư từ bỏ các vấn đề của đời này. Vì lợi lạc của chúng sinh khác, Ngài chuyển Pháp luân trong các giai đoạn nối tiếp trong đời, giảng dạy cho đến tận các vùng trung tâm và phía Nam của Tây Tạng phía trên và vùng Trung Hoa thấp hơn. Ngài phụng sự những vị mà sự thông tuệ và động cơ đã dẫn dắt họ đến tìm kiếm giáo lý và lòng mong mỏi thiền định dẫn dắt họ tìm kiếm các chỉ dẫn cốt tủy. Ngài giảng dạy ít nhất năm lần mỗi ngày về các nguồn chính yếu của Kinh điển, Mật điển và những lĩnh vực kiến thức khác, đôi khi không ngừng lại dù để uống một cốc trà.

Như vậy, theo năm tháng, Ngài giảng dạy Nhập Bồ Tát Hạnh hơn hai trăm lần, Căn Bản Kệ Trí Tuệ hai mươi lăm lần, Nhập Trung Đạo mười chín lần, từ các bộ luận của Đức Di Lặc – Trang Nghiêm Kinh ba mươi chín lần, Trang Nghiêm Trí Tuệ Bát Nhã mười sáu lần, Vô Thượng Tục Luận ba mươi tám lần và hai bản văn “Phân Biệt” bảy hay tám lần mỗi loại, Bài Giảng Căn Bản Của Luật Tạng một lần, Xác Quyết Ba Cấp Độ Giới Luật ba mươi tám lần, Kho Tàng A-tỳ-đạt-ma năm lần, Kho Tàng Lý Luận Trong Nhận Thức Xác Thực một lần, Kho Tàng Như Ý Bảo Châu chín lần, An Trú Trong Bản Tính Tâm mười ba lần, Kho Tàng Hệ Thống Triết Học một lần, Tinh Túy Bí Mật (cũng được biết đến là Diệu Huyễn Võng) hai mươi lần và Kho Tàng Phẩm Tính Giác Ngộ bốn mươi lần.

Ngài Orgyen Tenzin Norbu cũng giảng dạy nhiều lần Tưởng Niệm Tam Bảo, Các Đoạn Kệ Gốc Của Sa Di, Hai Mươi Giới, Bảy Mươi Đoạn Kệ Về Quy Y, Lời Nguyện Vãng Sinh Cực Lạc của Tổ Chagme, những giảng giải mở rộng khác nhau về triết học, Sáu Chủ Đề Để Đạt Được Trí Tuệ, Ba Nguyên Tắc Căn Bản Của Con Đường Tâm Linh, Xa Lìa Bốn Bám Chấp, Năm Nguyên Tắc Của Đại Thủ Ấn, Tán Thán Luật Tạng, Các Đoạn Kệ Tóm Lược Trích Yếu Trí Tuệ Bát Nhã, Thư Gửi Bạn, ngữ pháp Phạn ngữ, thi ca, y học, các tỷ lệ và sự thiết lập Mandala và bảo tháp, chiêm tinh Ấn ĐộTrung Quốc, các tác phẩm về ngữ pháp Tạng ngữ, Bảy Mươi Lời Nguyện và nhiều chủ đề khác.

Trong số những điều mà Ngài giảng dạy nhiều lần cũng có các thực hành sơ khởi và các cuốn giáo khoa giảng dạy xuất sắc của Tâm Yếu Longchenpa, Luyện Tâm Bảy Điểm, luận giải về giai đoạn phát triển với tựa đề Thang Lên Cõi Thanh Tịnh Đỉnh Cao, các thực hành du già để sử dụng năng lượng vi tế, cuốn giáo khoa Dzogchen Giác Tính Bất Tận Là Nguyên Tắc Dẫn Dắt [Yeshe Lama], tất cả tài liệu nền tảng, Quốc Vương Tạo Ra Tất Cả, sáu trạng thái Bardo và các khía cạnh khác nhau của thực hành Chod. Như thế, Ngài Orgyen Tenzin Norbu đảm bảo rằng những giáo lý của truyền thừa thực hành tâm linh chiếu tỏa như mặt trời.

Đã tiến hành ý định giác ngộ về việc làm lợi lạc giáo lýchúng sinh, đầu năm Thổ Tý đực[10], khi mà Ngài bước sang tuổi sáu mươi, Đức Orgyen Tenzin Norbu nhìn vào hư không, bắt ấn đe dọa bằng tay phải và để tay trái trong lòng trong ấn bình đẳng. Những lời cuối là di chúc của Ngài:

‘Ta là Đạo Sư Liên Hoa Sinh xứ Orgyen, một vị Phật thoát khỏi sinh và tử.

Tâm giác ngộ chẳng thành kiếnthoát khỏi các quan niệm về bốn hay tám thái cực’.

Với những lời này, Ngài Orgyen Tenzin Norbu viên tịch về cõi thanh tịnh được phú bẩm sự thanh tịnh hai phần, Zangdok Palri trong cõi Chamara.

Một vài trong số nhiều học trò của Ngài là những vị cũng là học trò của Pháp chủ Patrul Rinpoche, chẳng hạn Khen Kunzang Palden[11], Khen Yonten Gyatso và Tulku Pema Dechen Zangpo. Đặc biệt, các tâm tử bên trong phi phàm nhất của Ngài là Shenphen Chokyi Nangwa, vị là vua của Giáo Pháp trong khắp tam giới và đã thọ nhận sự trao truyền cá nhân về các giáo lý giải thích của Ngài Orgyen Tenzin Norbu và Lama Kunga Palden[12] từ Derge, vị đã thọ nhận sự trao truyền cá nhân của đạo sư về thực hành tâm linh. Xin chắp tay với sự kính trọng chân thành khi nghĩ về lòng từ mà Ngài Orgyen Tenzin Norbu đã minh chứng trong việc phụng sự giáo lý quý báu.

 

Nguồn Anh ngữ: Nyoshul Khenpo Jamyang Dorje, A Marvelous Garland of Rare Gems – Biographies of Masters of Awareness in the Dzogchen Lineage [tạm dịch: Tràng Ngọc Báu Hiếm Có Tuyệt Diệu – Tiểu Sử Chư Đạo Sư Giác Tính Trong Truyền Thừa Dzogchen], Padma Publishing.

Richard Barron (Lama Chokyi Nyima) chuyển dịch Tạng-Anh.

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.



[3] Gyalse Shenphen Thaye là họ hàng bên nội của Ngài Orgyen Tenzin Norbu.

[4] Tức Ngadak Nyangral Nyima Ozer.

[6] Về Terchen Chokgyur Lingpa, tham khảo https://thuvienhoasen.org/a30774/cuoc-doi-duc-chokgyur-lingpa.

[8] Cỗ Xe Hai Cấp Độ Chân Lý và Cỗ Xe Toàn Tri tạo thành luận giải hai quyển của Đức Jigme Lingpa về tác phẩm của chính Ngài – Kho Tàng Phẩm Tính Giác Ngộ.

[9] Nghĩa đen, “Duy Tâm”. Một trường phái triết học Phật giáo Đại thừa, điều khẳng định rằng tâm là tất cả những gì thực sự tồn tại.

[10] Đầu năm 1888 đến đầu năm 1889. Tuy nhiên, theo một số tài liệu khác, năm sinh và năm mất của Ngài Orgyen Tenzin Norbu lần lượt là 1841 và 1900/1.

Tạo bài viết
Chùa Từ Ân tọa lạc trên một vùng đất rộng khoảng 6 sào Trung Bộ (3.000 m2), nằm bên bờ Bắc sông Hương, cách ngôi quốc tự Thiên Mụ khoảng 400 mét về hướng Đông. Vùng đất này, (theo nhà Bác học Lê Quý Đôn, trong sách Phủ Biên tạp lục) thì từ nhiều năm về trước có tên là xã Hà khê (đối diện là xã Thọ Khang bên bờ Nam Sông Hương), thuộc huyện Kim Trà. Trải qua một thời gian sau đó lại đổi là xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, rồi lại đổi là làng Xuân Hòa, xã Hương Long, huyện Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên. Năm Bính Dần, 1986, lại đổi là thôn Xuân Hòa, Xã Hương Long Thành Phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện này chùa được gắn biển số nhà 108 đường Nguyễn Phúc Nguyên, Thành phố Huế.
Môi trường sinh thái là bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan tới sự sống con người. Nó là tập hợp các sinh vật, cùng với các mối quan hệ khác nhau giữa các sinh vật đó và các mối tác động tương hỗ giữa chúng với môi trường. Môi trường sinh thái có mối quan hệ mật thiết đối với sức khỏe của con người. Nếu môi trường sinh thái trong lành, thì cuộc sống con người khỏe mạnh; còn nếu môi trường ô nhiễm thì cuộc sống con người dễ ốm đau, bệnh tật.
Trong một chuyến công du hiếm hoi dưới sự giám sát chặt chẽ của chính phủ tới khu vực này vào tuần trước, một nhà báo của Reuters đã nhìn thấy những bức chân dung trong lớp học, đường phố, cơ sở tôn giáo, nhà ở và phòng ngủ của một nhà sư Phật giáo.