Tiểu Sử Vắn Tắt Khenchen Choying Khyabdal (1920-1997)

11/04/202112:36 SA(Xem: 733)
Tiểu Sử Vắn Tắt Khenchen Choying Khyabdal (1920-1997)
TIỂU SỬ VẮN TẮT KHENCHEN CHOYING KHYABDAL (1920-1997)
Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ

blank

Khenchen Choying Khyabdal (1920-1997) sinh ra ở Dola, Kham, Tây Tạng. Lúc Ngài chào đời, những bông hoa diệu kỳ bắt đầu mọc bất chấp thời kỳ mùa đông. Ngài bắt đầu các nghiên cứu với chú, vị dạy Ngài Tạng ngữ và sau đó, nghiên cứu các thực hành sơ khởi và Dzogchen với Tulku Tsultrim Zangpo. Sau khi thọ nhận giáo lýthực hành, Khenchen Choying Khyabdal đã giải thích các kinh nghiệm của Ngài với đạo sư để kiểm tra xem liệu sự nhận ra bản tính tâm của Ngài có chuẩn xác. Tulku Tsultrim Zangpo tuyên bố rằng mọi thứ thật xuất sắc và hoàn hảo và vì thế, Ngài được trao danh hiệu Choying Khyabdal, cõi phổ quát của Pháp giới. Khenchen Choying Khyabdal tiếp tục phát triển [các kinh nghiệm]. Ngài thấy tin tưởng, sùng mộ và niềm tin với Đức Liên Hoa Sinh nhờ thực hành Padma Kathang – Biên Niên Sử Padma (Sheldrakma), một bản văn Terma với lời khuyêntiểu sử của Guru Rinpoche mà Orgyen Lingpa phát lộ từ Động Pha Lê.

Hai mươi ba tuổi, Ngài hạnh ngộ Đức Yukhok Chatralwa Choying Rangdrol[1] và thọ nhận nhiều giáo lý Dzogchen cùng với các chỉ dẫn khác. Sau đấy, Ngài được yêu cầu đến Dzachukha để gặp gỡ Bổn Sư Dongak Tenpe Nyima[2]. Trước khi khởi hành, Ngài được trao một bát sữa chua đầy tràn. Đây là dấu hiệu cho thấy Ngài sẽ thọ nhận mọi thứ từ vị thầy của Ngài, bao gồm cả vô vàn gia trì. Trong hành trình, Ngài được bảo hãy thực hành Văn Thù Sư Lợi và Độ Mẫu Tara để tiêu trừ chướng ngại và đem đến thành công và không được phép quên Đức Liên Hoa Sinh.

Ngài đã dành mười hai năm để nghiên cứu với Đức Dongak Tenpe Nyima, vị công nhận Ngài là tái sinh của Tôn giả Rongzom Chokyi Zangpo (Rongzompa[3]). Trong thời gian này, Ngài thọ nhận tất cả các bản văn của Tôn giả Longchenpa và Mipham Rinpoche[4]. Sau khi tu học với Đức Dongak Tenpe Nyima, sự áp bức từ Trung Quốc ngày càng dữ dội. Lúc này, chẳng có mấy đồ ăn và Khenchen Choying Khyabdal thực hành Chulen, thuật tách rút tinh túy. Ngài đã có thể sống sót mà chẳng ăn gì nhờ thực hành này và có thể cúng dường tiệc Tsok mỗi tháng bất chấp nạn đói. Bởi hình tướng bên ngoài của Khenchen Choying Khyabdal phản ánh sự thiếu thốn lương thực và y phục của Ngài, chính quyền Trung Quốc nghĩ rằng Ngài điên khùng và để mặc Ngài. Trong thời gian này, Ngài đã thực hành Dzochen và ban giáo lý rời rạc cho vài học trò một cách bí mật.

Năm 1979, tình hìnhTrung Quốc dần thay đổi và Ngài bắt đầu giảng dạy triết học Phật giáo một cách đều đặn. Khi danh tiếng lan rộng, Khenchen Choying Khyabdal tiếp tục sống cuộc đời khiêm nhường và khổ hạnh. Ngài hoàn toàn từ bỏ tám bận tâm thế tụcduy trì là một khất sĩ. Ngài sống trong ngôi nhà nhỏ, nơi chỉ đủ chỗ cho chiếc giường của Ngài. Ngài chẳng bao giờ giữ thứ gì cho bản thân hay xem trọng vẻ bề ngoài, chẳng hạn xây dựng chùa chiền lớn lao. Bất cứ khi nào người khác cúng dường, Ngài chấp nhận rồi trao lại cho các học trò. Ngài cúng dường bữa trưa cho các học trò mỗi ngày và ăn cùng với họ. Sau khi dùng bữa trưa, Ngài giảng dạy trong hai tiếng mà không dùng thêm đồ ăn. Ngài luôn bảo học trò rằng nếu họ muốn trở thành một hành giả tốt thì họ cần từ bỏ mọi thứ của cuộc đời này. Nếu họ còn bám chấp với luân hồi thì họ chẳng phải là hành giả tốt.

Khenchen Choying Khyabdal bày tỏ sự tận tụy lớn lao trong việc giảng dạy và Ngài đã giảng dạy cho đến ngày viên tịch. Ngài bảo học trò rằng cái chết của Ngài sắp đến và chuẩn bị một khóa lễ ba ngày để đem hạnh phúc đến cho tất cả. Ngài cúng dường đồ ăn ngon và những giáo lý. Vào ngày thứ ba, sau khi hoàn thành giáo lý cuối cùng, Ngài trở về nhà và viên tịch ở tuổi bảy mươi bảy với cầu vồng xuất hiện trên trời[5]. Ngài bảo học trò chỉ xây dựng một bảo tháp trắng nhỏ để tưởng nhớ Ngài, không gì khác nữa. Xuyên suốt cuộc đời và cả sự viên tịch, Ngài đã hiển bày sự xả ly chân chính.

 

Kết Nối Của Tôi Với Bổn Sư

“Tôi đã sống một năm cùng Khenchen Choying Khyabdal. Tôi là người hạnh phúc nhất khi ấy dẫu cho thiếu thức ăn và các nhu yếu phẩm khác. Tôi đã tận hưởng thời gian bên những tu sĩ khác, cùng dùng trà và trò chuyện trong bữa trưa và vô cùng xúc động trước cuộc đời xả ly giản dị mà Bổn Sư của tôi đã sống”.

Khenpo Sherab Sangpo

 

Nguồn Anh ngữ: https://www.bodhicittasangha.org/khenchen-choying-chapdal/.

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.



[3] Theo Rigpawiki, Rongzom Chokyi Zangpo hay Rongzompa, Rongzom Pandita sống vào thế kỷ 11. Ngài thường được cho là sinh năm 1012 và mất năm 1088. Ngài sinh ra ở Tsang-rong và đã gặp gỡ Tổ Atisha khi còn trẻ. Ngài đã làm chủ những giáo lý của cả truyền thống Nyingma và Sarma. Ngài đã dịch nhiều tác phẩm về Mật thừa, một vài trong số đó được giữ gìn trong Tengyur và một số thì không còn tồn tại. Giống như vậy, nhiều trước tác ban đầu của Ngài đã bị mất, nhưng trong số những tác phẩm còn được tìm thấy hiện nay có luận giải về Mật điển Guhyagarbha, lời giới thiệu về Đại thừa được gọi là Giới Thiệu Con Đường Đại Thừa và bản văn Thiết Lập Mọi Hình Tướng Là Linh Thiêng nổi tiếngLuận giải của Ngài về Mật điển Guhyagarbha bắt đầu bằng dòng: “Bản chất của Tam Bảo là tâm giác ngộ” và vì thế, nó được biết đến là Bảo Luận.

Bên cạnh sự uyên bác phi thường, Ngài cũng hiển bày nhiều dấu hiệu của sự chứng ngộ sâu sắc. Sử gia Go Lotsawa nói về Ngài như sau: “Ở Xứ Tuyết Tây Tạng, chưa từng xuất hiện học giả nào sánh ngang với Ngài”. Tổ Atisha công nhận Ngài Rongzom là một hóa hiện của đại thành tựu giả Krishnacharya xứ Ấn Độ.

[5] Theo Rigpawiki, Khenpo Choying Khyabdal đã viên tịch vào ngày Ba tháng Ba năm Hỏa Sửu (1997).

Tạo bài viết
Giáo sư Richard Gombrich là một nhà Phật học, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ Pali, Sankrit tài ba. Ông đã dành hơn bốn mươi năm để nghiên cứu, giảng dạy và thực hành Phật giáo. Có thể nói ông là một Phật tử lớn, một học giả nghiên cứu Phật học lớn của thời đại hôm nay, đặc biệt là nghiên cứu ngôn ngữ cổ: Pali và Sankrit, đây cũng là hai ngôn ngữ chính của kinh điển Phật giáo. Ngày 17.7/2021 này, giáo sư sẽ tròn tám mươi tư tuổi
Được biết đến như một vị “đại sư” cao tay trong vùng, song người đàn ông Indonesia này lại “thách đấu” với virus corona để chứng minh đại dịch chỉ là “tin đồn”.
Tình cờ, tôi được biết trên internet, dạo gần đây có một nhóm người truyền dạy nhau cách niệm số, đọc dãy số 126002600 kèm với Nam-mô Dược Sư Phật để trị bệnh Covid-19. Một nhóm khác thì truyền dạy nuốt trùn đất sống (địa long) cũng để phòng trị dịch bệnh Covid-19. Điều đáng nói là cả hai nhóm này đều bàn đến triết lý và tu hành Phật giáo, thậm chí mặc y phục của cư sĩ và tu sĩ Phật giáo. Xin hỏi quan điểm của Phật giáo về vấn đề này thế nào?