(Xem: 1785)
Giới luật là điều cần thiết nhất cho người xuất gia vì “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp. Giới luật còn thì Phật pháp còn”, giới luật là những điều ngăn cấm từ kim khẩu của Phật thuyết chế ra thành giới pháp, giới tướng để các chúng đệ tử Phật thực hành giới hạnh, nghiêm trì giới đức nhằm ngăn ngừa tất cả tội lỗi và giữ nhân phẩm gìn thân khẩu ý được thanh tịnh.
(Xem: 2195)
Sở dĩ tôi bối rối là vì trong tác phẩm này có quá nhiều nghi thức, nghi lễ mà chư tăng phải làm trong một năm như: chúc thánh, chúc quốc vương, vía chư Phật, bồ tát, la hán, tổ sư, chư thiên, anh hùng dân tộc, ông công, ông táo, những ngày rằm lớn như tháng giêng, tháng bảy, tháng mười, tết trung thu… Rồi cũng có nghi thức cúng cầu mưa, cầu mưa tạnh, cúng nhật thực, nguyệt thực, trừ sâu bọ…. Chúng ta nên nhớ rằng, đây là một thiền viện nên việc tu thiền phải là việc làm chính yếu. Hơn nữa, Tổ Bách Trượng Hoài Hải là một thiền sư đã giác ngộ thì ngài đâu có tin những chuyện nhật thực, nguyệt thực… có thể cầu cúng mà được. Cho dù ngài có tùy thuận phong tục thế gian thì cũng phải có mức độ. Chứ nếu mà chư tăng phải thực hiện hết những thứ này thì còn thì giờ đâu mà ngồi thiền nữa.
(Xem: 2647)
Giới đức Thánh Tăng không cất giữ tiền bạc đã xác định cho quý vị Hòa Thượng biết rằng: họ đã đánh mất Thánh hạnh của chính họ, khiến cho họ không còn xứng đáng là Thánh đệ tử của Phật nữa, họ đã biến mình thành người phá hoại Phật giáo mà không biết (Giới luật còn là Phật giáo còn, giới luật mất là Phật giáo mất), họ đã biến mình thành Ma Ba Tuần trong Phật giáo mà không hay. Thật đáng thương vậy!
(Xem: 3898)
Bài Văn Cảnh Sách này là do Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu (năm 771-853) soạn viết để cảnh giác và sách tấn đồ chúng dưới tòa của ngài, vì vậy nên gọi là bài văn Cảnh Sách. Bởi vì ngài khai sơn và ở núi Quy giáo hóa đồ chúng nên gọi là Quy Sơn.
(Xem: 4186)
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế, về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh...; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại tạng Tây Tạng, Nhật Bổn;
(Xem: 3628)
Bộ Tỳ Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu nầy là nền tảng của người phát ĐẠI ĐẠO TÂM, tu hạnh Bồ Tát, tự lợi, lợi tha. Nếu muốn trên cầu Phật Đạo, dưới cứu độ chúng sanh, công hạnh tròn đủ, thì phải giữ NHẤT TÂM. Vì vậy, bộ Tỳ Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu nầy, gồm những lời phát nguyện, đi theo trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc.
(Xem: 3715)
Phật qui định, người xuất gia 5 hạ về trước phải chuyên học và tinh tường về giới luật, 5 hạ về sau mới học hỏi giáo lý, tham cứu thiền học. Thế nên các vị sa di xuống tóc rồi, trước hết phải lãnh thọ 10 giới, kế đó mới bước lên giới đàn lãnh thọ cụ túc giới.
Kinh
(Xem: 5775)
Sách này là bản dịch Kinh Pháp Cú Tây Tạng. Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali. Phổ biến nhiều thứ nhì là Kinh Pháp Cú Hán Tạng. Duy ít nghe tới là Kinh Pháp CúTây Tạng (Tibetan Dharmapada), còn tên khác là Udanavarga; hiện chưa có bản Việt dịch nào.
(Xem: 2285)
– Này Bāhiya, con hãy thực hành như sau. Khi nhìn chỉ có cái được nhìn. | Khi nghe chỉ có cái được nghe. | Khi xúc chạm chỉ có cái được xúc chạm. | Khi biết chỉ có cái được biết. | Con hãy tự rèn luyện như vậy.
(Xem: 2644)
Toàn bộ bài thơ nói về ý tưởng quan trọng của Đạo Phật punabbhava, được tìm thấy trong đoạn thơ cuối cùng, thường được dịch là "kiếp sau (kiếp mới)" hoặc là "tái sinh" (một-lần-nữa trở thành)." Trong quá trình suy nghĩ đặc trưng của Phật Giáo, con người và sự vật không "tồn tại" mà họ "trở thành" (đây là một hình thức năng động hơn của động từ "sống") mà thường được người ta ưa thích dùng trong văn học. Cuộc đời nầy (mà chúng ta đang bám víu) chỉ là một đoạn ngắn nằm trong một vở kịch dài về sinh tử, mà chẳng bao giờ kết thúc. Cuộn phim "lặp đi lặp lại," từ kiếp nầy sang kiếp kia, và chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được điều nầy, cho đến khi chúng ta có một cái nhìn rộng rãi hơn về tình huống của chúng ta.
(Xem: 2431)
Đại Huệ! Thử suy nghiệm, vị xem tất cả hữu tình như con độc nhất như Ta làm sao có thể cho phép chúng Thanh văn ăn thịt đứa con độc nhất ấy, huống chi chính Ta ăn. Do vậy, Đại Huệ! Nói rằng Ta cho phép các Thanh văn ăn thịt, Ta cũng ăn thịt, đây thực tế không có bất kỳ căn cứ nào.
(Xem: 3346)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)."
(Xem: 2271)
Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta.
(Xem: 2542)
"Đại Kinh Xóm Ngựa" là bài kinh đức Thế Tôn giảng cho các vị Tỷ-kheo tại xã Assapura tức là xóm Ngựa nên gọi là "Kinh Xóm Ngựa". Bài kinh khá dài nên các Tổ xếp là "Đại Kinh"; chứ nội dung không hề đề cập gì đến loài ngựa.
(Xem: 1551)
Theo nghiên cứu của các học giả Abhidharma hiện đại, đại biểu như Đại sư Ấn Thuận, sáu túc luận A-tì-đạt-ma lấy Phát trí luận làm bản luận[1]. Việc nhóm tập sáu túc luận thành một tổ hợp hay nhóm mục, sớm nhất phải kể đến luận Đại trí độ, trong đây khi Long Thọ đề cập đến “lục phần A-tì-đàm”[2], đồng thời nói đến “thân nghĩa tì-đàm”[3]. Thân: ở đây chỉ cho Phát trí luận[4], nghĩa này Đại Tì-bà-sa luận nói rằng, thời đại của ngài Long Thọ đã thường gọi Phát trí luận là thân, sáu túc luận kia là chi phần. ....
(Xem: 1884)
Thế nào là Thế đệ nhất pháp? Bất cứ tâm, tâm sở pháp nào là đẳng vô gián nhập chánh tánh ly sinh, đó gọi là Thế đệ nhất pháp. Có thuyết nói: Hoặc năm căn là đẳng vô gián nhập chánh tánh ly sinh, đó gọi là Thế đệ nhất pháp. Ở trong nghĩa này, ý nói: Bất cứ tâm, tâm sở pháp là đẳng vô gián, nhập chánh tánh ly sinh, đó gọi là Thế đệ nhất pháp.
(Xem: 4186)
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế, về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh...; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại tạng Tây Tạng, Nhật Bổn;
(Xem: 3597)
Luận Duy thức tam thập tụng này được viết với mục đích khiến cho những ai có sự mê lầm ở trong nhân vô ngã và pháp vô ngã mà phát sinh nhận thức không điên đảo đối với nhân vô ngã và pháp vô ngã. Trong đây, do nhận thức không điên đảo về nhân pháp vô ngã, mà phiền não chướng và sở tri chướng được đoạn trừ.
(Xem: 2992)
Một thời, Thế Tôn du hành ở Lực sĩ sinh xứ[2], rồi đi dần đến ấp Ba-bà[3], trụ tại rừng Chiết-lộ-ca[4]. Bấy giờ, trong ấp ấy, chúng lực sĩ ở tại khoảng đông tâycủa thôn là nơi thường tụ họp giải trí, chỗ ngôi đền Ôn-bạt-nặc-ca[5], mới dựng một đài quán thanh nhã, chưa có vị Sa-môn, Bà-la-môn v.v… cùng các lực sĩ từng thọ dụng đài quán ấy.
(Xem: 3074)
Thế nào là Mười đại địa pháp?1. Thắng giải; 2. Niệm; 3. Tư; 4. Xúc; 5. Tác ý; 6. Dục; 7. Thắng giải; 8. Niệm; 9. Tam-ma-địa; 10. Tuệ. Thế nào là mười đại phiền não đại pháp? 1. Bất tín; 2. Giải đãi; 3. Thất niệm; 4. Tâm loạn; 5. Vô minh; 6. Bất chánh tri; 7. Phi lí tác ý; 8. Tà thắng giải; 9. Trạo cử; 10. Phóng dật.
(Xem: 2247)
Trong đây, thế nào là sắc uẩn? Bất cứ sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại; thuộc nội phần hay ngoại phần, thô hay tế, hạ liệt hay thắng diệu, xa hay gần, mà dồn chung lại, tổng hợp thành một khối. Gọi chung là sắc uẩn.
CHUYÊN ĐỀ
Tháng bảy này không như mọi năm, mấy năm trước thường thì chỉ có những cơn mưa rào chợt đến chợt đi. Năm nay trời mưa tầm tả suốt hơn mười ngày, bầu trời lúc nào cũng như sũng nước với một màu xám xịt, những đám mây đen vần vũ và những cơm mưa ào ạt đổ xuống tưởng không bao giờ dứt. Phố xá ngập nước lênh láng, như lời bài hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “phố bây giờ là dòng sông uốn quanh…”. Đầu tháng thì mưa ào ạt như thế nhưng những ngày giáp lễ Vu Lan thì trời bổng dưng tạnh ráo, nắng hanh vàng rực rỡ và những cơn gió mùa thu thổi mát rượi.
Câu chuyện viết từ Hà Nội nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu năm 2019: Tại trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người.. Vong linh một vị tướng quân đội nhập vào cô cháu gái, cười ha hả, mà giọng nói rất to, trầm hùng, lại pha chút khôi hài của vị tướng quân quen "ăn to nói lớn" nơi chiến trận. . Anh con trai (quân hàm thượng tá) hỏi: - Con đốt tiền biếu cho ba, ba có nhận được không? - Nhận được! - Con đốt quần áo biếu cho ba, ba có nhận được không? - Nhận được! - Con đốt ôtô biếu ba, ba có nhận được không? - Ôtô hả, mi đốt cả hai lần tao đều nhận được cả! Cả gia đình mừng mừng, tủi tủi vì không những được giao lưu trực tiếp với cha mình (tính tình giọng nói vẫn thế) mà ba còn nhận được quà biếu của con cháu nữa. Đột nhiên vị tướng chuyển sang giọng trang nghiêm và khôi hài: - Nhưng mà bọn mi đã hại tao!
Hôm nay, ở chùa Làng chúng con đang chuẩn bị Lễ Vu Lan và làm Bông Hồng Cài Áo cho lễ Báo Hiếu Mẹ. Chúng con là thế hệ G-3, G-4 vẫn thường thắc mắc rằng: Ngài Mục Kiền Liên là một vị đại đệ tử và đệ nhất thần thông của Đức Phật. Ngài cũng là đứa con chí hiếu đã cứu Mẹ mình ra khỏi địa ngục. Nhưng rồi cuối đời vẫn bị bọn cướp giết chết phanh thây khi Đức Phật đang còn tại thế. Như vậy là Phật không ĐỘ cho đệ tử của mình sao anh? Nhắc đến đây con lại vừa buồn cười vừa xót xa khi cái bài hát “Sao Phật độ ta mà không độ Nàng” ngày nào cũng nghe hát đủ kiểu trên đài, TV, online. Như thế thì chúng ta làm sao giải thích đây chú. Nhiều em đoàn sinh GĐPT hỏi quá mà con là huynh trưởng cũng bí luôn. Nhân dịp Vu Lan kính nhờ chú giúp con giải thích Phật Pháp nghe như quá mâu thuẫn nầy. Xin kính cám ơn chú và chúc tất cả đều hạnh phúc an vui trong mùa Vu Lan hiếu hạnh.
"Thầy về dự Lễ Vu Lan Môn đồ pháp quyến, đạo tràng cung nghinh Chừng như thấp thoáng bóng hình Chùa vang chuông mõ Hồi kinh đón Thầy!" & "Mẹ còn, còn cả Vầng Trăng Nguồn Thơ bất tận nhịp vần thăng hoa Mẹ yêu là Phật ở nhà Cài lên ngực áo đóa hoa sắc hồng..."
Tóm lại, tôi cho rằng kinh này không phải là ngụy tác, mà là một bản dịch từ một bản văn Ấn Độ được dịch bởi Trúc Pháp Hộ hoặc người nào đó trước thời Cưu-ma-la-thập.
Đạo Phật lấy đạo đức làm trọng, đức lấy lòng hiếu thảo làm gốc. Mùa Báo hiếu gợi lại trong tâm tư mỗi người con Phật công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Lẽ ra hiếu thảo chỉ dành cho người thế tục, còn người xuất gia phải lo việc cao siêu hơn là độ chúng sanh thoát khỏi trầm luân sanh tử. Thế nhưng, ngài Mục Kiền Liên tuy đã chứng quả A-la-hán vẫn nhớ đến người mẹ ngày xưa chưa biết đạo đức, muốn cứu mẹ thoát khỏi cảnh thống khổ. Bởi vậy ngài được nhân gian xưng tánĐại hiếu Mục Kiền Liên, một gương hạnh tu hành đầy đủ công đức và thâm đạt đạo lý siêu thoát.
Khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam, những lời Phật dạy không trái với truyền thống của dân tộc Việt, vì các nhà truyền giáo đắc đạo, với tâm trí sáng suốt, luôn ứng dụng tinh ba của giáo pháp thích hợp với đất nước, với tình cảm và sinh hoạt của nhân dân ta.
Muốn độ thoát cha mẹ của mình, trong “kinh Phạm Võng” lại nhấn mạnh: Phải xem hết thảy người nữ là mẹ mình, hết thảy người nam là cha mình, phải độ hết thảy bà con, phải lợi ích tất cả chúng sanh, đó mới là đại hiếu. Nếu là đại hiếuphạm vi rộng thì phải hết sức hiếu thuận đối với tất cả dân tộc, tất cả chúng sanh.
Vu Lan không xuất phát từ thời Phật giáo Nguyên thủyThiền sư Thông Lạc đã bài xich, theo người cho rằng do chư Tổ Trung quốc bày đặt, và cũng cho rằng Vu Lan báo hiếulừa đảo trong thời chế độ phong kiến…mà Phật giáo Phát triển lạc dẫn quần chúng vào con đường ngoại đạo, nghĩa là PG phát triển tức PG Đại thừatà giáo ngoại đạo.
Vu Lan về muốn bảo toàn Hiếu Nghĩa | Bao năm rồi vẫn mãi miết lo toan | Tạo cho Cha có cuộc sống huy hoàng | Đầy uy tín quê hương cùng Tộc họ
Sáng nay thức dậy | Lòng bỗng vui mừng | Bao lâu rồi chưa được thấy người mình thương | Mơ màng hay mộng mị cũng không | Nhưng hôm nay sao sự thực hiển nhiên | Đứa con cưng nhiều đời nhiều kiếp | Nhân duyên đẹp hay tình mẹ con đẹp | Con chỉ biết ngắm nhìn mẹ và nói | Ôi hỡi!
Ngày xưa, có một cậu bé ở với mẹ trong một túp lều ven rừng. Ngày ngày cậu đi vào rừng hái củi bán để nuôi mẹ. Mẹ cậu ở nhà nấu cơm, vá áo, chăm sóc những luống rau. Hai mẹ con sống nghèo nàn hẩm hút, nhưng không kém vẻ đầm ấm, bởi vì tình thương của mẹ vốn đã là điều kiện cần và đủ cho một con người.
THIỀN SƯ Nhập trần, vạn sự quy Như Cư trần lạc đạo. Huyễn hư mộng dài… Thoát ra u mặc, u hoài Đèn cầy té ngã sóng soài ngộ không!
Tháng bảy lại về bắt đầu mùa Vu Lan báo hiếu, mùa trăng hiếu hạnh, mùa của những người con hướng về công ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ cha.
Tôi là Phật tử, có tìm hiểu Phật pháp. Theo như tôi biết, khi con người chết đi sẽ tùy theo nhân duyên, nghiệp lực đã gây tạo mà sinh về các nơi như sau: Tốt nhất là vãng sinh về Cực lạc của Đức Phật A Di Đà. Thứ nhì là được sinh làm trời, a-tu-la, người. Thứ ba là sinh vào ngạ quỷ, súc sinh. Thấp nhất là bị đày ải ở địa ngục (chưa được tái sinh). Tôi thắc mắc là: Tại sao người thân của ta khi chết đi rồi, hàng năm con cháu phải đốt áo quần, đồ đạc, tiền vàng, nhà cửa, xe cộ… cho họ? Bởi họ đang ở các cõi trên như Cực lạc, cõi trời thì không cần; nếu sinh làm người, vật,… thì có gia đình, quyến thuộc chăm sóc; hoặc bị giam cầm ở địa ngục thì có Diêm phủ lo. Nếu đúng như vậy thì tại sao hiện nay cứ đến tháng Bảy, mùa Vu lan báo hiếu người ta lại nô nức sắm sanh nhà cửa, xe cộ, đồ đạc… đốt gửi cho ông bà, bố mẹ, con cháu đã qua đời. Những người Phật tử có nên làm theo chăng? Rất mong quý Báo giải thích giúp tôi.
NEW POSTING
Môt trong những lời dạy quý giá nhất của Đức Phật là sự vô thường. Nếu biết sống hài hòa với sự thật đó thì bạn sẽ nhận được hạnh phúc rất lớn…
Chuyện kể về một người đã thành đạt, một hôm cùng đứa con trai về làng thăm thầy cũ. Đến một căn nhà tranh đơn sơ, hai cha con gặp một ông lão mắt đã lòa, chống gậy dò từng bước quanh sân. Người cha vội tiến đến cầm tay ông lão, thưa rằng:
Âu Châu nầy mỗi năm có 4 mùa rõ rệt. Đó là Xuân, Hạ, Thu và Đông. Mùa Xuân thường bắt đầu sau những tháng ngày lạnh giá của tháng Giêng, tháng Hai... Lúc ấy cây cỏ xanh tươi, cây cối đâm chồi nẩy lộc và muôn hoa đua sắc thắm. Chim đua nhau chuốt giọng trên cành, ong bướm tha hồ bay liệng đó đây để đón Chúa Xuân sang. Khung cảnh ở đây mấy mươi năm nay đều như thế. Mùa Hè bắt đầu với những đêm hầu như không bao giờ tối, và những ngày mới bắt đầu đón nhận ánh thái dương có khi từ hai hay ba giờ sáng cũng là chuyện thường tình.
Thiền, tự đầu nguồn như tính chất của dòng nước uyên nguyên, chưa có tên tuổi và không mang tính đặc thù của nền văn hóa nào. Tuy nhiên nước đi xa nguồn càng phân nhánh, họp lưu với nhiều dòng nước địa phương để mang dấu ấn, tên tuổi của vùng miền mà nó chảy qua. Thiền, do đó khi hội ngộ với từng vùng đất nước đã có tên thiền Nhật Bản, thiền Trung Hoa, thiền Việt Nam... Mỗi dân tộc khi tu thiền đều khoác lên mình chiếc áo vừa kích cỡ của mình, phong phú, đa dạng nhưng vẫn có một tính chung là tính giác ngộ. Tập sách này đưa chúng ta đến một không khí đặc biệt của thiền Nhật Bản vào đầu thế kỷ XIV. Công phu biên soạn của tác giả Kenneth Kraft giúp chúng ta có thêm một tư liệu quý giá về Quốc sư Đại Đăng, người được xem như hậu thân của tổ Vân Môn Văn Yển.
Sống trên đời này, ai cũng đều có chỗ thấy biết, đó là một điểm không thể chối cãi. Và lâu nay chúng ta ai cũng như ai thường tự hài lòng với chỗ “thấy biết của ta”,
Đây là một tuyển tập truyện ngắn hoàn toàn hư cấu nhưng mang tính tư tưởng và triết lý. Nói “hư cấu” nhưng đều dựa vào những sự kiện có thật trong cuộc sống vì không một đạo học, tư tưởng, triết lý hay thơ, truyện nào mà không liên quan đến cuộc sống. Tuyển tập bao gồm những chủ đề như: Tự ái của con người, diễn dịch ý chỉ của thần linh theo ý muốn của giáo sĩ, ảo tưởng về sự thành thật, nỗi buồn của Thần Chết, ảo tưởng của con người về một thế giới toàn là tu sĩ, thân phận của đàn ông khoảng nửa thế kỷ sau, cuộc sống ở Thiên Đàng ra sao. Và sau hết là một số chuyện ma để mua vui cho đời.
Huyền thoại thường nghe: tu thiền dễ bệnh khùng khùng điên điên. Sự thực: y khoa Hoa Kỳ từ nhiều thập niên đưa ra các cuộc nghiên cứu chứng tỏ lợi ích của thiền tập. Sự thực nữa: trong hàng chục triệu người khùng khùng điên điên trên khắp thế giới, đại đa số không biết gì về Phật giáo. Thêm sự thực nữa: Phật giáo gần với khoa học hơn bao giờ hết, trong khi hầu hết các tôn giáo khác đều hoang tưởng với các tín lý vô căn cứ… và hoang tưởng là một dấu hiệu của bệnh tâm thần phân liệt.
(1). Tôi muốn biết mục tiêu của đời sống là gì và ngài có tin tưởng vào định mệnh hay không? Nếu có, thế thì vai trò của định mệnh trong đời sống là gì?....(2). Ngài nói rằng tiền bạc không ban cho hạnh phúc – Tôi đồng ý. Nhưng tôi tin rằng tiền bạc có thể mua những thứ để làm cho đời sống của ta thoải mái. Cho nên, theo tâm lý học Phật giáo, ngài có thể đề nghị một phương cách đưa đến sự cân bằng giữa việc có được sự giàu có và làm cho ta hạnh phúc không? (3). Có phải ngớ ngẩn để nghĩ rằng tôn giáo có thể trở thành một nguyên nhân cho một cuộc chiến tranh không? Trong trường hợp ấy, tôn giáo trở thành một người bạn của chiến tranh hay hòa bình? Sẽ có hòa bình hơn nếu nó bị bãi bỏ? ....
Ta hỏi kiến nơi nào Cõi Tịnh, Ngoài hư không có dấu chim bay? Từ tiếng gọi màu đêm đất khổ, Thắp tâm tư thay ánh mặt trời.
Tháng bảy này không như mọi năm, mấy năm trước thường thì chỉ có những cơn mưa rào chợt đến chợt đi. Năm nay trời mưa tầm tả suốt hơn mười ngày, bầu trời lúc nào cũng như sũng nước với một màu xám xịt, những đám mây đen vần vũ và những cơm mưa ào ạt đổ xuống tưởng không bao giờ dứt. Phố xá ngập nước lênh láng, như lời bài hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “phố bây giờ là dòng sông uốn quanh…”. Đầu tháng thì mưa ào ạt như thế nhưng những ngày giáp lễ Vu Lan thì trời bổng dưng tạnh ráo, nắng hanh vàng rực rỡ và những cơn gió mùa thu thổi mát rượi.
Mẹ là chiếc lá phiến mây | Có đây khoảnh khắc gió bay về trời | Mẹ là hoa cải tinh khôi | Vàng ươm sắc nắng một thời xuân xanh | Cải cho thơm bát canh lành
Đức Phật là đấng đạo sư, là bậc thầy của nhân loại, nhưng ngài cũng là nhà luận lý phân tích, nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại. Kinh tạng Pāli cho chúng ta thấy rõ về các phương pháp giảng dạy của đức Phật một cách chi tiết. Tùy theo từng đối tượng nghe pháp mà Ngài có phương thức truyền đạt khác nhau. Chúng sanhvô lượng trần lao, phiền não, thì Phật phápvô lượng pháp môn tu.
Câu chuyện viết từ Hà Nội nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu năm 2019: Tại trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người.. Vong linh một vị tướng quân đội nhập vào cô cháu gái, cười ha hả, mà giọng nói rất to, trầm hùng, lại pha chút khôi hài của vị tướng quân quen "ăn to nói lớn" nơi chiến trận. . Anh con trai (quân hàm thượng tá) hỏi: - Con đốt tiền biếu cho ba, ba có nhận được không? - Nhận được! - Con đốt quần áo biếu cho ba, ba có nhận được không? - Nhận được! - Con đốt ôtô biếu ba, ba có nhận được không? - Ôtô hả, mi đốt cả hai lần tao đều nhận được cả! Cả gia đình mừng mừng, tủi tủi vì không những được giao lưu trực tiếp với cha mình (tính tình giọng nói vẫn thế) mà ba còn nhận được quà biếu của con cháu nữa. Đột nhiên vị tướng chuyển sang giọng trang nghiêm và khôi hài: - Nhưng mà bọn mi đã hại tao!
Hôm nay, ở chùa Làng chúng con đang chuẩn bị Lễ Vu Lan và làm Bông Hồng Cài Áo cho lễ Báo Hiếu Mẹ. Chúng con là thế hệ G-3, G-4 vẫn thường thắc mắc rằng: Ngài Mục Kiền Liên là một vị đại đệ tử và đệ nhất thần thông của Đức Phật. Ngài cũng là đứa con chí hiếu đã cứu Mẹ mình ra khỏi địa ngục. Nhưng rồi cuối đời vẫn bị bọn cướp giết chết phanh thây khi Đức Phật đang còn tại thế. Như vậy là Phật không ĐỘ cho đệ tử của mình sao anh? Nhắc đến đây con lại vừa buồn cười vừa xót xa khi cái bài hát “Sao Phật độ ta mà không độ Nàng” ngày nào cũng nghe hát đủ kiểu trên đài, TV, online. Như thế thì chúng ta làm sao giải thích đây chú. Nhiều em đoàn sinh GĐPT hỏi quá mà con là huynh trưởng cũng bí luôn. Nhân dịp Vu Lan kính nhờ chú giúp con giải thích Phật Pháp nghe như quá mâu thuẫn nầy. Xin kính cám ơn chú và chúc tất cả đều hạnh phúc an vui trong mùa Vu Lan hiếu hạnh.
Thân, tâm này vốn dĩ bất tịnhnhiễm ô, luôn nhuốm màu dục vọng. Nhưng chúng ta có thể tự thanh lọc thân tâm khiến cho ba nghiệp thân khẩu ý trở thành thanh tịnh. Tất cả đều bắt nguồn từ tâm ý, nếu thú hướng bất tịnhnhiễm ô là cội nguồn của khổ đau, ngược lại hướng về thanh tịnhvô nhiễm là nền tảng của an lạc.
Đọc một truyện xưa để nghĩ tới chuyện đời nay. So sánh người cầm quyền xưa với người có thế lực đời bây giờ. Sách xưa có vài chỗ từ ngữ và cách nói xưa, tôi mạn phép giải thích cho dễ hiểu. (Nguyễn Văn Sâm)
Đây cũng là một tác phẩm chuyên đề về giáo dục, về đạo đức, luân lý. Mà cũng có thể là một quyển sách hướng dẫn về cách sống cho mọi người, nếu ai đó thấy thích hợp. Vì lẽ cuộc sống hôm nay và cuộc sống ngày trước có nhiều thay đổi quá, khiến cho lương tâm con người thật khó phân biệt, đâu là chánh, đâu là tà. Phải nên nghe theo ai, phải nên bỏ ai v.v... Cuối cùng rồi nhiều khi chính mình lại mâu thuẫn với mình nữa. Do vậy mà tác phẩm nầy cần góp mặt với cuộc đời.
Giáo sư Rhys Davids đã nói rằng: “Dầu là Phật tử hay không Phật tử, tôi nghiên cứu từng hệ thống tôn giáo lớn trên thế gian, và trong tất cả, tôi không tìm thấy trong tôn giáo nào có cái gì cao đẹp và toàn vẹn hơn Bát Chánh Đạo của Đức Phật. Tôi chỉ còn có một việc làmthu xếp nếp sống cho phù hợp với con đường ấy”. Trong con đường ấy, KHÔNG có chỗ cho những mê lầm chấp tín, KHÔNG có chỗ cho những lễ bái cầu xin, càng KHÔNG có chỗ cho những niềm tin mù quáng.
"Thầy về dự Lễ Vu Lan Môn đồ pháp quyến, đạo tràng cung nghinh Chừng như thấp thoáng bóng hình Chùa vang chuông mõ Hồi kinh đón Thầy!" & "Mẹ còn, còn cả Vầng Trăng Nguồn Thơ bất tận nhịp vần thăng hoa Mẹ yêu là Phật ở nhà Cài lên ngực áo đóa hoa sắc hồng..."
Tóm lại, tôi cho rằng kinh này không phải là ngụy tác, mà là một bản dịch từ một bản văn Ấn Độ được dịch bởi Trúc Pháp Hộ hoặc người nào đó trước thời Cưu-ma-la-thập.
“Pháp tu để an tâmtăng thượng tâm do Đức Phật dạy từ hơn 2500 năm qua là một trong những phương pháp thành công để đạt được nội tâm an bình. Đó là một kho báu vô giá của nhân loại.
Lịch sử Thiền tông Trung Hoa sơ kỳ xuất hiện với hai tên tuổi tiêu biểu. Một vị đương nhiên là Sơ Tổ Bồđề Đạt-ma2, người khai sáng Thiền tông Trung Hoa, và vị thứ hai là Lục Tổ Huệ Năng, người định hướng dòng mạch Thiền tông bắt nguồn từ Tổ Đạt-ma. Nếu không có Tổ Huệ Năngmôn đệ trong tông môn của Ngài thì Thiền tông không thể nào phát huy và hưng thịnh vào đầu đời Đường Trung Hoa
“Bộ luận Thành Duy Thức này là bộ luận Cương yếu của môn Duy thức học, trình bày lý Duy thức theo luận pháp Nhân minh với những từ ngữ mới lạ, giản ước, nghĩa lý khúc chiết, ý kiến của các Luận sư đan xen chằng chịt, hỏi đáp không phân ranh giới rõ ràng, có khi câu hỏi ẩn trong câu đáp, dùng nhiều đại danh từ bỉ, thử, do dó thật khó lòng hiểu cho chu đáo. Đúng như lời tán thán của luận Duy thức xu yếu: “Vạn tượng hàm ư nhất tự, thiên huấn giảng ư nhất ngôn“. (*Trích lời tựa THÀNH DUY THỨC LUẬN của cố Trưởng lão THÍCH THIỆN SIÊU)
Đạo Phật lấy đạo đức làm trọng, đức lấy lòng hiếu thảo làm gốc. Mùa Báo hiếu gợi lại trong tâm tư mỗi người con Phật công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Lẽ ra hiếu thảo chỉ dành cho người thế tục, còn người xuất gia phải lo việc cao siêu hơn là độ chúng sanh thoát khỏi trầm luân sanh tử. Thế nhưng, ngài Mục Kiền Liên tuy đã chứng quả A-la-hán vẫn nhớ đến người mẹ ngày xưa chưa biết đạo đức, muốn cứu mẹ thoát khỏi cảnh thống khổ. Bởi vậy ngài được nhân gian xưng tánĐại hiếu Mục Kiền Liên, một gương hạnh tu hành đầy đủ công đức và thâm đạt đạo lý siêu thoát.
Khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam, những lời Phật dạy không trái với truyền thống của dân tộc Việt, vì các nhà truyền giáo đắc đạo, với tâm trí sáng suốt, luôn ứng dụng tinh ba của giáo pháp thích hợp với đất nước, với tình cảm và sinh hoạt của nhân dân ta.
Nhật báo Libération chạy hàng tựa « Khí hậu : Trước hết bắt đầu từ mâm cơm » trên nền hình toàn một mầu xanh của các loại thực phẩm, từ rau đến đậu.
Hồi ký của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 có tên “My Land and People” (Quốc Thổ và Quốc Dân tôi) do Chánh Quang dịch và đăng trên Tạp chí Từ Quang số 182 (tháng 10-1967). Bài viết chỉ gồm 6 trang nhưng đã cho thấy nhiều minh chứng về một số sự kiện liên quan đến việc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tổ chức đánh Tây Tạng bằng vũ lực vào năm 1950, mặc dù chính quyền Trung Quốc cho là họ giải phóng hòa bình Tây Tạng, hay hợp nhất Tây Tạng.
Muốn độ thoát cha mẹ của mình, trong “kinh Phạm Võng” lại nhấn mạnh: Phải xem hết thảy người nữ là mẹ mình, hết thảy người nam là cha mình, phải độ hết thảy bà con, phải lợi ích tất cả chúng sanh, đó mới là đại hiếu. Nếu là đại hiếuphạm vi rộng thì phải hết sức hiếu thuận đối với tất cả dân tộc, tất cả chúng sanh.
Sách đã quý một tấm lòng hướng đến Cả cuộc đời sống đẹp với tha nhân Gần bẳy mươi nhưng chí nguyện chuyên cần Phụng Tam Bảo âm thầm không toan tính.
Đại Nghi là một kỹ sư trẻ, chuộng khoa học, luận lý lại đọc quá nhiều tư tưởng, triết học Đông-Tây, rồi bị tiêm nhiễm cho nên có tật là hoài nghi tất cả mọi chuyện trên đời. Chẳng hạn đối với người đang hăng say hoạt động thì anh cho rằng biết đâu đó chỉ là kẻ háo danh, lấy cớ ”phục vụ cộng đồng” để thủ lợi riêng hoặc chuẩn bị ra “ứng cử”. Còn đối với kẻ nhiệt tâm, nhiệt tình quyên góp tiền bạc của đồng bào cho công tác thiện nguyện, dự án này, chiến dịch nọ, thì chàng lại nghi ngờ cho rằng, tiền quyên góp một nửa sẽ chui vào “túi áo khỉ”. Quan niệm của anh chàng là “Thời buổi bây giờ làm gì có thánh nhân. Tất cả đều vì cơm áo, gạo tiền, danh vọng nhưng che dấu bằng những mỹ từ thánh thiện, cao đẹp”.
Các học giả tại hội thảo “Phật giáo vùng Mê-kông” đã nghiên cứu một cách hệ thống những lời Phật dạy về bảo vệ môi trường và ứng xử với môi trường, góp phần mang lại hòa bình trong khu vực, tăng trưởng sự phát triển kinh tế theo hướng bền vữngthân thiện với môi trường. Theo tôi, ngoài những hợp tác chặt chẽ của chính phủ của các nước tiểu vùng Mê-kông, các Giáo hộicộng đồng Phật giáo trong khu vực cần hợp tác chặt chẽ, góp phần duy trì hòa bình, bảo vệ môi trường, giữ gìn các di sản văn hóa, phát triển bền vững trong khu vực và trên thế giới.
Tháng bảy Vu Lan đã đến rồi Sương chiều mộ đá, lặng đời côi… Duyên trần cứ cạn đâu vần đổi! Nẻo phận còn nong chẳng thể bồi. Nhớ cảnh quê nghèo thời xót nỗi, Hờn tìm sữa thiếu lúc nằm nôi. Chưa lần báo đáp Người đi vội, Vạn kiếp ân sâu nghĩa khó hồi…
Tôi có một ký ức rõ ràng về cảm giác chân thành trong việc quan tâmthích thú sâu sắc về cả nền văn hóaPhật giáo Tây Tạng của Tổng thống Venkataraman. Ngài quả là một người thật sự tuyệt vời – một cựu tổng thống của xứ sở vĩ đại này nhưng rất khiêm tốn và giản dị. Tôi nhớ lại vị tổng thống Ấn Độ đầu tiên, Rajendra Prasad, người cũng giống như vậy. Tôi cảm thấy rất hạnh phúc.
Life transformation through Vipassana, one of the world’s most ancient meditation techniques. By Venerable Thich Thien Tri, a Buddhist monk and a meditation lecturer at Loyola University Date & Time: Saturday, September 28 • 8 am–6 pm – Sunday, September 29 • 8 am–4 pm Location: Thanh Tu Meditation Center, 2493 S Black Horse Pike, Williamstown, NJ 08094 Fees: Free of charge. Cushions and vegetarian meals for breakfast and lunch will be provided. If you would like to donate, you can do so at the end of the retreat.
Trong tự nhiên, nước là chất lỏng mềm ướt, vậy mà nước dưới áp lực cao có thể cắt đứt mọi thứ. Nước còn khắc chế được hỏa hoạn, dập tắt lửa dù nó có hung bạo tới đâu.
Mùa hạ chiều phương ngoaị đẹp lắm, đẹp đến nao lòng. Trời xanh mây trắng vẫn bay như ngàn xưa…Mình đến để rồi đi, nhưng đi về đâu? Có bao giờ tự nhủ lòng như thế chăng? Nhà Phật vẫn thường cảnh tỉnh:” Sinh ư hà xứ, tử ư hà quy”. Nếu em còn thao thức ắt phải tìm lời giải của câu hỏi khó mà trả lời này!
Vu Lan không xuất phát từ thời Phật giáo Nguyên thủyThiền sư Thông Lạc đã bài xich, theo người cho rằng do chư Tổ Trung quốc bày đặt, và cũng cho rằng Vu Lan báo hiếulừa đảo trong thời chế độ phong kiến…mà Phật giáo Phát triển lạc dẫn quần chúng vào con đường ngoại đạo, nghĩa là PG phát triển tức PG Đại thừatà giáo ngoại đạo.
Vu Lan về muốn bảo toàn Hiếu Nghĩa | Bao năm rồi vẫn mãi miết lo toan | Tạo cho Cha có cuộc sống huy hoàng | Đầy uy tín quê hương cùng Tộc họ
Sáng nay thức dậy | Lòng bỗng vui mừng | Bao lâu rồi chưa được thấy người mình thương | Mơ màng hay mộng mị cũng không | Nhưng hôm nay sao sự thực hiển nhiên | Đứa con cưng nhiều đời nhiều kiếp | Nhân duyên đẹp hay tình mẹ con đẹp | Con chỉ biết ngắm nhìn mẹ và nói | Ôi hỡi!
Đại học Cornell và Harvard đã chứng minh lượng thịt lí tưởng nên tiêu thụ để đạt được chế độ ăn khỏe mạnh là hoàn toàn 0! Nước sạch được ví như dầu mỏ mới, rồi sớm muộn các quốc gia cũng gây chiến vì nước. Những tầng đất giữ nước từng mất hàng triệu năm để hình thành nay đang dần cạn kiệt; Vậy mà cần đến 50 nghìn lít nước mới có thể sản xuất được một kí thịt bò. Mỗi ngày có 1 tỷ người khổ sở vì đói ăn, 20 triệu người có thể chết vì thiếu dinh dưỡng.
Đối với những người Phật giáo, ngoài việc giữ giới cấm sát sinh như giới luật nhà Phật qui định, ăn chay còn là một phương thức tu tập hằng ngày, gieo trồng hạt giống từ bi và phát triển tâm từ bi đến với muôn loài chúng sinh từ gần đến xa, từ lớn đến nhỏ..(KInh Từ Bi)
Bằng cách viết lời giới thiệu cho quyển sách này, sau những vần kệ mở đầu ở trên, tôi muốn nói ít lời về vị Đạo sư được gọi là Acharya (Đạo sư) Kamalashila (Liên Hoa Giới) tại Thánh Địa Ấn Độ, và ở Tây Tạng được gọi là Padampa Sangye.
Tác giả Người Long Hồ vừa hoàn tất một tác phẩm khá vĩ đại về vùng đất và con người của Miền Nam Việt Nam. Tác giả đã chọn một nhan đề rất ý nghĩa là “Đất Phương Nam” cho tác phẩm nầy. Tác phẩm gồm hai tập, Tập Một có 34 bài từ bài 1 đến bài 34 và Tập Hai 30 bài từ bài 35 đến bài 64, với tất cả hơn 1.600 trang khổ lớn (8 ½-11). Đất Phương Nam có thể xem như một loại địa chí, nói về lịch sử hình thành, về vị trí địa dư, về các danh lam thắng cảnh, các đền chùa, lăng miếu... “Đất Phương Nam” là một công trình biên khảo to tát, có giá trị đáng kể, rất cần có trong mọi gia đình Việt Nam nếu muốn bảo tồn di sản văn hóa tốt đẹp của cha ông.
Đây là câu chuyện về việc trùng tu sự hỗ trợ tuyệt vời cho Ý Giác NgộMặt trời ngọc báu của lòng bi mẫn tuyệt diệu, nhờ đó, Đức Phật hoàn hảo từ ái chăm lo cho những chúng sinh đang trôi lăn, Thứ chiếu tỏa ánh sáng của lợi lạchạnh phúc rất cần thiết Lên hữu tình chúng sinh và những giáo lý của Đức Phật.
Phù Nam là vùng đất rất dễ thươnghiền hòa bên dòng sông Cửu Long, mặc dù tên không còn nữa, nhưng hình ảnh của Phù Nam không dễ xoá mờ trong trí của người Việt Nam khi nghĩ về hoặc nhắc đến. Lịch sử đã chứng minh nó thuộc về vùng đất Việt Nam, nhưng những nước chung quanh vẫn muốn dành trong lịch sử của họ. Như vậy nó thuộc về ai, thực sự nó tên gì? Bài viết này khơi lại lịch sử một vùng đất Phật đầu tiên của Việt Nam, mặc dù thời đó nó thuộc về đế quốc Phù Nam.
Thuật ngữ chỉ cho văn hóa Phù Nam chính thức được khai sinh trong một bối cảnh có nhiều quan điểm còn trái ngược nhau về việc xác định quốc gia cổ đại này.
Văn hóa Óc Eo là một phức hệ văn hóa đa dạng, vốn sản sinh từ yếu tố nội sinh kết hợp với nguồn năng lực văn hóa ngoại sinh đã thực hiện tạo nên văn minh sông nước rực rỡ. Nền văn minh ấy được phôi bào trong yếu tố miền cảng thị, hấp thu tinh thần văn hóa Ấn Độ đã để lại cho nhân loại những nguồn di sản vô cùng quý giá. Trong nguồn di sản vô cùng quý giá ấy, Phật giáo đã đóng một vai trò không nhỏ vào sự phát triển của nền văn minh, văn hóa này.
Nhẹ gánh ưu phiền là quyển sách thứ hai của tác giả Như Nhiên Thích Tánh Tuệ sau An nhiên giữa những thăng trầm. Với mong muốn tiếp tục góp thêm một đầu sách giúp quý độc giả vơi nhẹ gánh ưu phiền, tận hưởng niềm hạnh phúc, an lạc ngay trong từng hơi thở, tác giả tiếp tục tập hợp các bài văn, bài thơ vào cuốn sách thứ hai này nhằm truyền tải thông điệp chính: hạnh phúc không ở đâu xa xôi, hạnh phúc đang ở đây, ngay lúc này. Điều quan trọng là đôi mắt bạn có nhìn ra, trái tim bạn có cảm nhận được những niềm hạnh phúc ấy không. Đó cũng chính là giá trịlợi ích thiết thực của sự tu tập trong Phật giáo. Tu không phải để ngày mai ngày kia sẽ hạnh phúc mà tu lúc nào là hạnh phúc ngay lúc đó.
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ.
Vào đêm trăng rằm tháng bảy năm Mậu Tuất (1082), Tô Đông Pha (1037-1101), một trong tám vị đại văn hào đời Đường Tống (Đường Tống bát đại gia), đang lúc bị lưu đày ở Hoàng Châu, đã cùng bạn chèo thuyền ngắm trăng, dạo chơi dưới chân núi Xích Bích. Trong cảnh gió mát trăng thanh, đàn hát vui vẻ, bỗng có một vị khách thổi lên một khúc tiêu ai oán. Tô Đông Pha hỏi lý do. Vị khách này giải thích vì tức cảnh sinh tình, chèo thuyền bên dưới ngọn núi Xích Bích nên nhớ lại trận chiến Xích Bích năm xưa, nơi Chu Du đã dùng hỏa công phá tan đội quân hùng mạnh của Tào Tháo. Anh hùng như Tào Tháo, thao lược như Chu Du mà nay có còn đâu?
Ngày xưa, có một cậu bé ở với mẹ trong một túp lều ven rừng. Ngày ngày cậu đi vào rừng hái củi bán để nuôi mẹ. Mẹ cậu ở nhà nấu cơm, vá áo, chăm sóc những luống rau. Hai mẹ con sống nghèo nàn hẩm hút, nhưng không kém vẻ đầm ấm, bởi vì tình thương của mẹ vốn đã là điều kiện cần và đủ cho một con người.
“Sách Pháp Uyển Châu Lâm (một trăm quyển. Chùa Thiên Ninh ở Thường Châu phân thành ba mươi tập) bàn luận chi tiết về nhân quả, Lý – Sự cùng nêu, rành mạch phân minh. Đọc đến khiến người không lạnh mà rét buốt; dẫu ở trong nhà tối, phòng kín thường như đối trước Phật, trời, chẳng dám chớm một tí ác niệm. Thượng trung hạ căn đều được lợi ích, trọn chẳng đến nỗi lầm lẫn đường nẻo, chấp lý phế sự, rớt vào thói tệ thiên lệch, tà vạy, cuồng vọng.”
Tương lai của mỗi con người dều phụ thuộc vào sự tác nghiệp của chính họ trong hiện tại. Vì vậy, mỗi người con Phật phải tự quyết định lấy tương lai của chính mình bằng cách trang nghiêm phước báo tự thân, thọ trì bảy cấm giới.
THIỀN SƯ Nhập trần, vạn sự quy Như Cư trần lạc đạo. Huyễn hư mộng dài… Thoát ra u mặc, u hoài Đèn cầy té ngã sóng soài ngộ không!
Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại bước vào một kỷ nguyên đầy biến động với đà phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Nhìn một cách tổng thể chúng ta thấy rằng trình độ dân tríđời sống vật chất được nâng cao đáng kể, nhưng đời sống tinh thần có nhiều lúc lại rơi vào khủng hoảng.
Bài này sẽ giới thiệu và tóm lược tác phẩm “Vivid Awareness: The Mind Instructions of Khenpo Gangshar” (sẽ viết tắt là: VA) của đại sư Khenchen Thrangu, dựa vào bản Anh dịch của David Karma Choephel, ấn bản 2011, nhà xuất bản Shambhala. Sách này nói về một Thiền pháp của Kim Cang Thừa. Lý do chọn sách này vì qua đây có thể hiểu được và thâm nhập được Thiền Tông – tức là Thiền Trúc Lâm của Việt Nam.
Tháng bảy lại về bắt đầu mùa Vu Lan báo hiếu, mùa trăng hiếu hạnh, mùa của những người con hướng về công ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ cha.
Hành giả tùy niệm Như Lai khi tâm không bị tham chi phối, tâm không bị sân chi phối, tâm không bị si chi phối, được nghĩa tín thọ, pháp thọ, tâm hân hoan đến pháp do dựa vào Như Lai. Đây là cách niệm Phật mà Đức Thích Tôn đã chỉ dạy cho cư sỹ Mahànàma trong chương Sáu Pháp, Tăng Chi Bộ (Pali). Khi tâm không bị tham sân si chi phối do dựa vào Đức Phật, tức là hành giả xả bỏ tâm tự ngã (không tham, không sân, không si) khi Niệm Phật, Niệm ân đức Như Lai.
...Chánh niệm nói ở trên, theo tôi nên để dành cho các bậc thánh tăng, đại sĩ tu thành Phật, Bồ TátA La Hán. Trong Thiền Luận, Đại Sư Suzuki nói rằng Phật Thừa, Bồ Tát Thừa, A La Hán Thừa, Bích Chi Phật đối với chúng ta chỉ là ảo vọng. Do đó chúng ta phải hạ thấp xuống một tầng và đặt kỳ vọng vào Nhân Thừa… còn gọi là ”đạo Phật thực tiễn” , “đạo Phật nhập thế” hay đạo Phật ứng dụng trong cuộc sống. Theo tôi, Phật tử phàm phu như chúng ta thì “chánh niệm” phải thiết thực. Đối với chúng ta, khi còn sinh hoạt với đời thì không thể nào “Sắc tức thị không. Không tức thị sắc được”. Đồng bạc phải là đồng bạc, không thể nào không là đồng bạc. Tiền cúng chùa phải là tiền chứ không thể không là tiền.
Trong khóa thiền vừa rồi, khi nói về luật Nghiệp báo tôi đã gởi đến các bạn một đoạn văn về Nghiệp báo. Đoạn văn này nói: “Ta không hề dạy rằng Nghiệp đã tạo có thể bị tiêu diệt không phải trả các quả trong đời sống này, trong đời sống kế tiếp hay trong đời sống kế tiếp nữa”. Những điều Đức Phật dạy là: “Ta không dạy rằng có thể chấm dứt Nghiệp đã tạo, đã tích lũy, mà không phải nhận chịu hậu quả của chúng”, điều này có nghĩa là “Nghiệp sẽ không bị tiêu diệt khi chưa được trả quả trong đời sống này, trong đời sống kế tiếp, hay trong các đời sống kế tiếp nữa”.
Âu Châu nầy mỗi năm có 4 mùa rõ rệt. Đó là Xuân, Hạ, Thu và Đông. Mùa Xuân thường bắt đầu sau những tháng ngày lạnh giá của tháng Giêng, tháng Hai... Lúc ấy cây cỏ xanh tươi, cây cối đâm chồi nẩy lộc và muôn hoa đua sắc thắm. Chim đua nhau chuốt giọng trên cành, ong bướm tha hồ bay liệng đó đây để đón Chúa Xuân sang. Khung cảnh ở đây mấy mươi năm nay đều như thế. Mùa Hè bắt đầu với những đêm hầu như không bao giờ tối, và những ngày mới bắt đầu đón nhận ánh thái dương có khi từ hai hay ba giờ sáng cũng là chuyện thường tình.
Sáng ngày 30/07/2019 (nhằm ngày 28/06 Kỷ Hợi) tại hội trường Vạn Phật Quang Đại Tòng Lâm Tự đã diễn ra Hội thi diễn giảng các trường hạ toàn tỉnh mùa An cư PL. 2563.
Life transformation through Vipassana, one of the world’s most ancient meditation techniques. By Venerable Thich Thien Tri, a Buddhist monk and a meditation lecturer at Loyola University Date & Time: Saturday, September 28 • 8 am–6 pm – Sunday, September 29 • 8 am–4 pm Location: Thanh Tu Meditation Center, 2493 S Black Horse Pike, Williamstown, NJ 08094 Fees: Free of charge. Cushions and vegetarian meals for breakfast and lunch will be provided. If you would like to donate, you can do so at the end of the retreat.
Từ Thứ Sáu Ngày 13 đến Thứ Ba Ngày 17 Tháng 9 Năm 2019 Dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Thích Pháp Hòa Với khí hậu trong lành, mát mẻthiên nhiên đã ban tặng sẽ giúp chúng ta có những ngày tu học có nhiều niềm vui và trị liệu.Chúng tôi trân trọng kính mời quý đồng hương Phật tử sắp xếp thời gian về tham dự khóa tu này để nuôi lớn tình thương và gặt hái nhiều điều lợi lạc.
Lịch trình Pháp Hội: Ngày 3/9: diễn tập Pháp Hội (nhận thẻ An ninh, kinh sách và nhận thông báo quan trọng về pháp hội) Ngày 4-6/9: các ngày diễn ra Pháp hội Sáng: Thánh Đức DaLai Lama XIV thuyết giảng pháp Chiều: ôn tập, do ngài Tu viện trưởng Thamthok Rinpoche hoặc các vị Tiến sĩ phật học của tu viện Namgyal chủ trì.
tại TỰ VIỆN LIÊN HOA, 2014 Rose St. Irving TX 75061 ngày Thứ Bảy 3 AUG 2019 dưới sự chứng minh của Hòa Thượng Thích Pháp Nhẫn, Tăng Thống Phật giáo Nguyên Thủy Hải Ngoại.