(Xem: 2026)
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Chẳng những thân không phạm, luôn cả cái “không phạm” cũng không còn", tức thân tâm đều dứt, luôn cả cái dứt cũng không có, như thế đối với vô thượng bồ đề mới có hy vọng.
(Xem: 3424)
Ngôi trường Vạn Hạnh, giờ đây vắng bóng thêm một bậc thầy giáo thọ kính yêu... Chúng con từ phương xa kính hướng về Vạn Hạnh, thành kính đảnh lễ nguyện cầu Giác linh Hòa Thượng tân viên tịch thượng phẩm thượng sanh, cao đăng Phật quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta bà, để tiếp tục công cuộc giáo dục hoằng Pháp lợi sanh.
(Xem: 1851)
Các tiêu chuẩn đạo đức và các hành vi đạo đức nhằm mục đích đem đến cho con người và xã hội một cuộc sống hạnh phúc. Ban zeladze, một tư tưởng gia phương Tây, viết: "Vấn đề lý tưởng tối cao và ý nghĩa của cuộc sống thực chất là vấn đề hạnh phúc. Con người là giá trị cao nhất, là cơ sở, là ngọn nguồn của mọi giá trị, mọi thứ đều là phương tiện cho con người và cuộc sống của con người
(Xem: 3716)
Giới là một trong ba môn học vô lậu của Giới, Định và Tuệ chỉ có trong giáo pháp của Đức Phật thường được hiểu là Giới hạnh và vị trí của nó đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo lý Phật giáo. Sự học tu tập về Giới là một việc rất đương nhiên đối với những ai khát khao sự thanh tịnh. Ở đây, thanh tịnh nên hiểu là Niết-bàn1
(Xem: 3037)
Quyển Tỳ-ni mà quý vị đang có đây, được tôi mở đầu bằng trọn bản Việt dịch ‚Phật Thuyết Hy Hữu Giảo Lượng Công Đức Kinh‛, đây là Kinh văn Đức Phật giảng giải về công đức thọ trì Giới pháp. Phần sau là Tỳ-ni và Giới bổn, do tôi biên dịch từ nguyên bản Hán văn ‚Tỳ-Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu‛ đã nói ở trên, đồng thời soạn lại bố cục, nội dung và lấy tựa đề là ‚Pháp Kệ Tỳ-Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu‛
(Xem: 3108)
Những quy tắc đạo đức có một vị trí rất quan trọng trong hầu hết các tôn giáo. Pháp luật hay các quy ước là đều cần thiết đối với bất cứ thành viên nào trong xã hội.Trong mỗi gia đình nếu không có quy tắc, gia đình đó sẽ xảy ra bất đồng; một quốc gia, nếu không có phép nước, thì quốc gia đó sẽ nổi loạn. Trong Phật giáo cũng vậy, giới luật đóng một vai trò vô cùng đặc biệt. Giới được xem là mạng mạch của đời sống Tăng già. Vì vậy, trong đời sống sinh họat của Tăng đoàn hầu hết các quy tắc đặt ra là để phòng hộ, ngăn chặn các hành vi, lời nói bất thiện của vị Tỳ kheo do tham lam, sân hận hay si mê chi phối. Giới là để chế ngự các bất thiện pháp, phụng hành các thiện sự, và thanh tịnh các tâm hành.
(Xem: 3024)
Đức Phật của chúng ta sau khi trải qua vô số kiếp thực hành các pháp toàn hảo và lần lượt tiếp nhận sự thọ ký của hai mươi bốn vị Phật tiền nhiệm rồi đã chứng quả Toàn Giác vào năm 623 trước Tây Lịch.
(Xem: 1823)
Tạng Luật (Vinayapitaka) được chia làm 3 phần chính là Suttavibhanga (Phân Tích Giới Bổn), Khandhaka (Hợp Phần), và Parivãra (Tập Yếu). Trong đó Suttavibhanga (Phân Tích Giới Bổn) gồm có hai bộ là Pãrãjikapãli và Pãcittiyapãli. Suttavibhaúga sẽ được in làm ba tập:
Kinh
(Xem: 293)
Bây giờ chúng ta hãy đi sang phẩm thứ 25, Phẩm Phổ Môn. Phổ môn là cánh cửa phổ biến, cánh cửa mở ra cho mọi loài đi vào. Cánh cửa này không chỉ mở ra cho một hay hai, ba hạng người, mà tất cả mọi loài đều có thể đi qua cánh cửa đó để vào Phật Pháp. Tiếng Anh là Universal Door. Đây là một Phẩm được tụng đọc nhiều nhất của kinh Pháp Hoa, và được gọi là kinh Phổ Môn (Samantamukha) hay là kinh Quán Âm.
(Xem: 383)
"Quán" là xem xét, "Thế Âm" là âm thanh của thế gian. Quán Thế Âm là xem xét âm thanh thế gian, tiêu biểu cho lòng từ bi của Bồ-tát. Ngài lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh, khởi lòng thương xót đến cứu độ cho hết khổ. "Phổ Môn" là cái cửa thông suốt khắp tất cả. Bồ-tát Quán Thế Âm tu hạnh từ bi, hay lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh mà hiện thân để hóa độ.
(Xem: 2889)
Thiền sư Đại Điên Bảo Thông (732 - 824) là tăng sĩ đời Đường, tác giả Bát nhã tâm kinh chú giải. Minh Châu Hương Hải (1628 - 1715), thiền sư Việt Nam thời Hậu Lệ, có viết tác phẩm Giải Tâm kinh Đại Điên, bằng chữ Nôm, tức là dịch Việt bản Tâm kinh chú giải của Đại Điên; bản dịch ấy mang ký hiệu AB. 530 của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm. Các bản Tâm kinh chú sớ từ Trung Hoa được chư Tổ VN thỉnh về từ thế kỷ 15 trở về sau, gồm có: Tâm kinh Thiêm túc của sa môn Hoằng Tán, Tâm kinh trực thuyết của đại sư Hám Sơn và Tâm kinh chú giải của hòa thượng Đại Điên.
(Xem: 3164)
- Dhammapada là tập hợp 423 bài kệ do đức Phật thuyết ra trong nhiều dịp khác nhau, được sắp xếp trong 26 phẩm. Mỗi bài kệ chứa đựng một nội dung tu học rất sâu sắc và phong phú, không thể nào chỉ đọc một lần mà hiểu hết được. Cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần, tra cứu các bản chú giải, và suy nghiệm từ các tu chứng tự thân thì mới mong thông ngộ và thấu đạt ý nghĩa của các lời dạy cao quý đó. Vì thế, bộ Chú giải Kinh Pháp Cú (Dhammapada-aṭṭhakathā) do đức Cố Trưởng lão Hòa Thượng Pháp Minh dịch trọn vẹn chia thành bốn bộ xem như là bộ Chú giải căn bản nhất được hoàn thiện tại Việt Nam. Nếu đọc qua bài kệ, chúng ta chưa hiểu được hết ý nghĩa sâu xa thì chắc chắn đọc qua bộ Chú giải này, chúng ta sẽ hiểu thêm được duyên sự câu kệ và cả ý nghĩa mà đức Phật muốn nói đến. Mỗi một bài kệ, mỗi một duyên sự là một đề tài tu tập, một hướng đi mới cho mỗi người con Phật trên con đường tu học để tiến đến đạo quả giải thoát.
(Xem: 3185)
Chủ yếu của kinh Lăng già là bàn về chân lý Tự chứng tự nội hay Tự chứng thánh trí mà được Như lai thể chứng, mang tư tưởng nhất quán là tư tưởng “Như lai tàng và Alaida thức” mà Alaida một mặt đồng nhất với Như lai tàng. Tuy nhiên, trong sự đồng nhất ở đây cũng có tính dị biệt, cho nên tất cả pháp đều từ Alaida mà lưu xuất.
(Xem: 3689)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 5575)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 3988)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 3862)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
(Xem: 3887)
“Thân tác chứng thành tựu và an trú tịnh giải thoát”: Thế nào là gia hành của tịnh giải thoát này? Tu quán hành giả do phương gì nhập tịnh giải thoát định? Khi người mới bắt đầu sự nghiệp tu quán, trước hết cần phải nắm lấy hình thái thanh thọ, như thanh hành, thanh chi, thanh diệp, thanh hoa, thanh quả, hoặc nắm lấy hình thái thanh y, thanh nghiêm cụ tướng, hoặc nắm lấy đa dạng thanh tướng nào khác. Khi đã nắm lấy các thanh tướng như thế rồi, do lực thắng giải, tư duy tưởng niệm, quan sát an lập, tín giải sắc này là thanh tướng ấy.
(Xem: 3173)
Bí-sô nên biết! ở đây, vị Thánh đệ tử, bằng đặc điểm như vậy tùy niệm chư Phật, nghĩa là vị Thế Tôn ấy là bậc Như Lai, A-la-hán, nói chi tiết cho đến: Phật Bạc-già-phạm”. Hoặc có vị Thánh đệ tử nào bằng đặc điểm như thế tùy niệm chư Phật, những gì là niệm tương ưng với kinh nghiệm nhận thức, mà kiến là căn bản: tùy niệm, chuyên niệm, ức niệm, không quên, không mất, không rơi sót, không rò rỉ, không mất trạng thái của Pháp, trạng thái ghi nhớ sáng suốt của tâm. Đó gọi là tùy niệm Phật.
(Xem: 3991)
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi Tử lại nói với đại chúng: Cụ thọ nên biết! Đức Phật đối với mười pháp sau khi đã tự mình khéo thông đạt, hiện đẳng giác, liền tuyên thuyết khai thị cho các đệ tử. Hôm nay chúng ta nên hòa hợp kết tập, để ngăn ngừa sau khi đức Phật diệt độ xảy ra sự tranh cãi, khiến cho pháp luật tùy thuận phạm hạnh được an trụ lâu dài mang lại lợi lạc cho vô lượng hữu tình; lại vì thương xót thế gian, chúng chư thiên và nhân loại, khiến cho họ có được nghĩa lợi an lạc thù thắng. Những gì là mười pháp? Ở đây khái lược có hai loại mười pháp, đó là mười biến xứ và mười pháp vô học.
(Xem: 4054)
Theo nghiên cứu của các học giả Abhidharma hiện đại, đại biểu như Đại sư Ấn Thuận, sáu túc luận A-tì-đạt-ma lấy Phát trí luận làm bản luận[1]. Việc nhóm tập sáu túc luận thành một tổ hợp hay nhóm mục, sớm nhất phải kể đến luận Đại trí độ, trong đây khi Long Thọ đề cập đến “lục phần A-tì-đàm”[2], đồng thời nói đến “thân nghĩa tì-đàm”[3]. Thân: ở đây chỉ cho Phát trí luận[4], nghĩa này Đại Tì-bà-sa luận nói rằng, thời đại của ngài Long Thọ đã thường gọi Phát trí luận là thân, sáu túc luận kia là chi phần. ....
CHUYÊN ĐỀ
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina). Nếu an cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền an cư (Purimikavassà), còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An Cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An Cư (Pacchimikāvassā). Truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi là ‘An cư kiết hạ’, tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Sau rằm tháng tư âm lịch Chư Tăng theo truyền thống Đại thừa bắt đầu kiết túc an cư, cho đến hết ngày mười bốn tháng bảy âm lịch, làm lễ tự tứgiải hạ kết thúc mùa an cư.
Hôm ấy là Mùa Vu Lan, các Chùa cứ thay phiên nhau làm lễ bông hồng cài áo. Tôi ngồi buồn thỉu, buồn thiu nhìn bông hoa hồng trắng cài trên áo. Nhớ ngày tôi mất mẹ mới thật thê thảm, vì chưa ngộ được lý vô thường nên tôi không chấp nhận được việc khi đi làm về vào phòng chào mẹ chẳng thấy bóng bà. Tôi vật vã, thương nhớ khôn nguôi.
Có phải bất công lắm không khi hằng năm vào dịp Vu Lan, trên thế gian này không biết bao nhiêu Văn nhân, Thi sĩ, Nhạc sĩ múa bút tán tụng tình Mẹ: Huyền thoại mẹ, Phật giáo tôn vinh giá trị những bà mẹ, lạm bàn về mẹ, tản mạn về mẹ..v.v..và..v.v... bên cạnh đó, dường như mọi người vô tình đã bỏ quên một thứ tình cũng nồng nàn không kém, đôi khi còn thắm thiết hơn, đó là tình cha. Vâng, tôi có một người cha như thế.
Chúng ta phải tập tánh nghe từ ngay trong chính mình. Tóm lại, xã hội chúng ta đang không biết lắng nghe. Chúng ta phóng tâm theo những chuyện bên ngoài nhiều quá, không lắng nghe quanh mình còn bao nhiêu tiếng thở than, bao nhiêu nỗi băn khoăn, bao nhiêu oan khuất, bao nhiêu trăn trở. Liệu có bao nhiêu người trong chúng ta về nhà hỏi han cha mẹ một lời, nghe các cụ tâm sự về nỗi đời riêng cần chia sẻ. Phần đông chúng ta sống thờ ơ, hững hờ.
Sau khi đắc quả A-la-hán, Tôn giả Mục-kiền-liên vận thần thông đi khắp các cõi tìm người mẹ đã khuất. Thấy mẹ đang chịu đói khát khổ sở trong kiếp ngạ quỷ, Ngài đau lòng vô cùng, vội dâng lên mẹ bát cơm. Lòng bỏn sẻn tham lam chưa dứt, bà sợ chúng ma cướp giật nên đưa tay che bát cơm. Nhưng cơm đã hóa thành lửa đỏ!
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.
Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật! Kính bạch Chư Tôn Đức Tăng Ni! Kính thưa quý vị Phật tử! Nhân mùa Vu-lan năm 2020, con xin đảnh lễ, kính chúc chư Tôn đức Tăng Ni thêm một tuổi đạo, thành công hơn nữa trong các Phật sự, nhằm mang lại lợi íchphúc lạc cho nhân sinh. Con kính chúc các bậc làm cha mẹ thêm một tuổi đời, làm nền tảng đạo đứchạnh phúc cho con cháu trong gia đình và họ tộc. Con kính chúc tất cả các anh chị, các cháu thanh thiếu niên, đề cao đạo lý hiếu kính cha mẹ ông bà, thể hiện tinh thần tự lập, xa lánh các thói hư tật xấu, các thói quen nghiện ngập, hưởng thụ ăn chơi, để sống một cuộc đời hữu ích, và làm cho cha mẹ được hạnh phúc hiện tiền. Nhờ đó, có một tương lai tươi sáng.
Lễ báo hiếu cha mẹvăn hóa ứng xử của những người con thảo, cháu hiền trên giáo lý tri ân, báo ân. Năm 2020, đại dịch COVID-19 2 lần xuất hiện tại Việt Nam buộc toàn thể Giáo hội Phật giáo Việt Nam bất đắc dĩ triển khai các công tác tổ chức Đại lễ Phật đảnĐại lễ Vu-lan ONLINE – một điều chưa từng có trong suốt 2.564 Phật lịch
Mẹ thân mến, mẹ âu yếm bảo vệ khi con còn nhỏ, Mẹ dạy dỗ bằng tình yêu thương và nói với con những lời dịu ngọt, Mong con dẫn dắt mẹ trên con đường của Quán Thế Âm. OM MANI PADME HUM HRIH
Nhân mùa Hiếu hạnh tôi xin kể mọi người câu chuyện về một bà Mẹ ở Miền Trung, vùng sông Hương núi Ngự. - Chồng mất sớm, bà ở vậy nuôi con được 25 năm, lúc con gái khôn lớn sang Mỹ sống và thành công ở Mỹ, tháng nào cũng gởi về cho bà một lá thư và vài trăm usd để bà tiêu xài. Thời gian cứ mãi trôi đi, hết Xuân nầy đến Xuân kia. Cô con gái luôn viện cớ nầy cớ nọ, không một lần về thăm người Mẹ ở quê nhà.
Vu Lan về… Vu Lan cũng như Giáng Sinh, không còn là ngày lễ riêng tôn giáo. Đó là những dấu son thời gian của nhân văn ghi đậm nét cảm xúc của con người. Nếu Giáng Sinh là ngày lễ của Ân Tình thì Vu Lan là ngày lễ Nhớ Mẹ.
Tháng 7 là mùa Vu Lan báo hiếu. Đó là câu chuyện về một đại đệ tử của Đức Phật: Tôn Giả Mục Kiền Liên đã cứu thoát mẹ mình là bà Thanh Đề thoát ra khỏi ngục tối. Câu chuyện của người con chí hiếu Mục Kiền Liên đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận suốt mấy nghìn năm qua, để rồi, Phật Giáo truyền đến đâu thì cùng với tinh thần từ bi, hỉ xả, vô ngã, vị tha, những người con của Đức Phật noi theo tấm gương hiếu hạnh của Mục Kiền Liên để đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục.
Mỗi độ tháng bảy âm lịch về, người con phật laị nao nức chuẩn bị cho mùa hiếu hội. Vu Lan báo hiếu đã trở thành một lễ hội quan trọng trong đạo Phật cũng như truyền thống văn hoá của dân tộc. Một năm có nhiều ngày lễ nhưng với với con Phật có lẽ ngày tết, ngày lễ Phật đản sanh và lễ Vu Lan là quan trọng nhất
Thời nay mà còn nói đến chữ “hiếu” sẽ có người cho là cổ hủ, lỗi thời. Kỳ thực, đạo hiếu, đạo làm con (1) thời xưa đã bị chê là lỗi thời theo sự xuống trào, mất ảnh hưởng của Việt-Nho từ giữa thế kỷ 19 rồi, không phải đợi đến ngày nay.
NEW POSTING
Kể từ vô thỉ, chúng con đã lang thang trong đại dương khổ não của 3 cõi luân hồi, ấy là vì chúng con không nhận ra chính bản tâm mình. Chúng con không nhận ra chính bản tâm mình vì những sự che khuất. Những che chướng đến từ việc không biết đến tích lũy công đức. Không biết tích lũy vì thiếu niềm tin, chúng con thiếu niềm tin vì không nhớ về cái chết.
Tu viện Mộc Lan nằm ở vùng Red Hill thuộc thành phố Batesville Mississippi. Vào trung tuần tháng 3 năm 2010, tôi được Thầy dạy về đó để xây dựng chúng xuất sĩ thường trú. .../...Thầy tôi thường dạy rằng, một truyền thống tâm linh muốn được tồn tại và giữ được bản sắc riêng của nó, thì phải hội nhập và học hỏi văn hóa bản địa. Đó cũng là một nhân duyên khiến thiền đường Hải Triều Lên không thiết trí tượng Bụt như những ngôi chùa, tu viện theo truyền thống Á đông. Có những vị Phật tử Á đông trong thời gian đầu đã nhận xét: “Sao giống Chúa quá”, hoặc hỏi: “Sao thiền đường không có tượng Bụt. Bụt đâu để con lạy?”. Tôi từ tốn chia sẻ cho các vị ấy hiểu. May mắn thay, các vị mở lòng lắng nghe, đón nhận và cảm thấy thoải mái hơn. Tâm các vị an bình, nhẹ nhàng có được giây phút lắng yên khi được ngồi, được thở, được bước đi những bước chân đã về đã tới nơi mảnh đất Mộc Lan.
Từ xưa đến nay, hàng xuất gia (Sa-môn, Bà-la-môn) tu hành không trực tiếp lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất nên đời sống phụ thuộc vào sự bố thí, cung cấp, cúng dường của hàng tín đồ tại gia. Dĩ nhiên, sự phát tâm cao thượng, cho đi một phần tài sản của mình với lòng tin trong sạch sẽ mang đến cho các tín chủ tại gia quả phước vô lượng.
Trước khi qua đời, một Thiền Sư dạy chúng đệ tử rằng: “Con à, có những điều thầy mong con ghi nhớ: Đừng biến chùa thành nghĩa trang và cả đời con chỉ loanh quanh trong việc độ đám. Đạo Phật là để giác ngộ và đem lại hạnh phúc cho chúng ta ngay trong thực tại. Hãy dạy cho Phật tử thấy rõ lý vô thường, vô ngã để buông xả bám chấp. Riêng con đừng lấy phương tiện làm cứu cánh.
Tôi vốn không ưa thích biển vì biển đơn điệu và u buồn quá. Phong cảnh của biển mở toạc nhanh như lật một trang giấy, chẳng chút giấu diếm, chẳng chút thẹn thùng; Nhất là tiếng nói của nó. Tiếng sóng vỗ rì rào không ngừng nghỉ ấy luôn gợi trong tôi những nỗi buồn xa vắng.
Pháp Sư Đạo Chứng (1956 - 2003), từng là bác sĩ Tây y với thế danh Quách Huệ Trân, được sinh ra tại Đài Trung, Đài Loan trong một gia đìnhtruyền thống y học. Năm 1987, sau khi mắc bệnh nan y, nhờ lòng tín tâm với Tam Bảo, bà rũ sạch vạn duyên xuất gia với pháp danh Đạo Chứng. Sau khi xuất gia, Pháp Sư đã chuyên tâm tu tập, nghiên cứu Phật pháp, thực hành lạy Phật đồng thời tìm phương pháp hoá giải bệnh tật để cứu giúp chính mình và nhân sinh.
Bây giờ chúng ta hãy đi sang phẩm thứ 25, Phẩm Phổ Môn. Phổ môn là cánh cửa phổ biến, cánh cửa mở ra cho mọi loài đi vào. Cánh cửa này không chỉ mở ra cho một hay hai, ba hạng người, mà tất cả mọi loài đều có thể đi qua cánh cửa đó để vào Phật Pháp. Tiếng Anh là Universal Door. Đây là một Phẩm được tụng đọc nhiều nhất của kinh Pháp Hoa, và được gọi là kinh Phổ Môn (Samantamukha) hay là kinh Quán Âm.
"Quán" là xem xét, "Thế Âm" là âm thanh của thế gian. Quán Thế Âm là xem xét âm thanh thế gian, tiêu biểu cho lòng từ bi của Bồ-tát. Ngài lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh, khởi lòng thương xót đến cứu độ cho hết khổ. "Phổ Môn" là cái cửa thông suốt khắp tất cả. Bồ-tát Quán Thế Âm tu hạnh từ bi, hay lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh mà hiện thân để hóa độ.
Nắng hạn cũng qua đi, mưa bão cũng chấm dứt, lũ lụt tẩy xóa mọi ô trược trong cuộc sống cũng phải có thời gian nhất định theo chu kỳ của tạo hóa; Nhưng riêng năm Canh Tý, 2020 mọi sự đảo lộn mà khoa học cũng không thể giải thích những hiện tượng thời tiết ví sao thất thường.
Đọc qua là nghe không thuận tai? Nhưng tác giả vẫn phải cứ viết, biết đâu chừng trong nội dung bài viết này sẽ ẩn dụ thứ gì đó mà chúng ta nghe là (nghịch nhĩ) trái tai quá. Thuở đời này, học theo giáo lý Phật đà nghĩa là: chúng ta phải xả thân cứu người khi gặp hoạn nạn hay là từ bihỷ xả, “cứu người như cứu lửa…” Chớ đâu có mà ích kỹ chỉ lo cho mình trước cái đã, rồi mới giúp người khác sau…Thật là vô lý, vô cùng như thế mà cũng nói lên cho bằng được!
Bài pháp thoại đầu tiên sẽ đánh thức quý vị khỏi giấc ngủ dài lâu trong căn phòng của sự vô minh – nơi không biết gì đến các sự khác biệt giữa điều thật sự thiện và điều thật sự bất thiện. Bài pháp thoại cũng sẽ làm sáng tỏ cho quý vị thấy rằng thật khó để được tái sanh làm người sau khi đã sống và chết như một con người. Hy vọng nó sẽ giúp cho quý vị có được chánh tríchánh tư duy về những việc mà quý vị đang làm và có thể gợi cho quý vị câu hỏi sâu sắc về những việc mà quý vị cần phải làm.
Do không thỏa mãn với các Thánh điển Veda và cảm nhận sự phiền toái của việc tế tự hình thức, ở Ấn Độ vào thế kỷ VI (tr.TL) đã xuất hiện một phong trào tôn giáo nằm ngoài truyền thống Bà-la-môn, đó là phong trào Sa-môn; giáo đoàn của Đức Phật cũng thuộc về phong trào này.
Nếu có một địa ngục trên trần gian thì người ta sẽ tìm ra nó trong trái tim của một người ưu phiền đau khổ
Chúng ta đang trong giai đoạn “dầu sôi lửa bỏng” khi dịch bệnh hoành hành, gây nên vô số hệ lụy trong đời sống. Trên khắp thế giới và cả trong nước, các mặt kinh tế - xã hội đều ngổn ngang những vấn đề..../...Trong bài pháp cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển, Đức Phật đã nói về Chánh ngữ như sau: “Chỉ được nói thật, không nên bịa đặt, không nên nói xấu người khác, phải kiềm chế sự vu khống, không nên buông những lời giận dữthóa mạ đến người khác, ...
Ngày tôi hay tin V. - con cô Thanh (một bạn đạo lớn tuổi của mình) mất, tôi không tin, vì cậu ấy còn trẻ quá, mới 27 tuổi. Điều tôi lo hơn nữa, V. là con trai duy nhất của cô, được đầu tư cho đi học ở nước ngoài. V. mất khi khóa học còn vài năm, với bao dự định xa hơn, như học lên tiến sĩ. Làm sao cô Thanh có thể chịu nổi nỗi đau mất mát này...
Thân tứ đại là đất, nước, lửa, gió, khi đã trút hơi thở cuối cùng thì cũng trở về với tứ đại, chẳng còn gì để suy viễn ở tương lai. Chỉ có chú trọng vào nghiệp thức, để khuyến cáo người đời lánh xa các điều ác, thực hiện các việc lành, tái sinh vào cõi thánh thiện. Nên lúc nào cũng khuyến khích các gia đình thiêu xác chết, quan trọng là chỗ phụng thờ, nhưng vì thời điểm chưa phù hợp nên người phật tử chưa thực hiện đó thôi. Thật ra việc thiêu xác chết không ảnh hưởng gì đến gia đình, con cháu hiện tại cũng như kiếp lai sinh.
Giữa rừng người từ khi chu du nhiều nơi đây đó rồi về San Diego tạo dựng Dharma Mountain ẩn dật vui thú vui nơi thôn dã cũng đà sắp xỉ ngót mười năm. Người người say mê tạo dựng, nhưng tôi về ẩn tại chốn Non cao, ngày ngày làm vườn nấu nước pha Trà, khép mình trong cái tĩnh. Ban ngày ra vườn, ban tối đọc sách viết vài đoạn, rồi buông thư ngồi tĩnh tọa hít thở, rảnh rỗi thì hái rau vui với Suối Rừng Hoa lá,
Bất cứ thành viên Tăng đoàn nào có cơ hội thực hành nhập thất đều vô cùng may mắn. Có nhiều kiểu nhập thất trên thế giới này, nhưng trong bối cảnh của Giáo Pháp, thuật ngữ “nhập thất” rất ý nghĩa. Một đời người với các tự dothuận duyên thì cực kỳ quý báu và nếu con sử dụng thân người chỉ cho đời này, bị xao lãng bởi những mối bận tâm của đời này, đời người quý báu sẽ trở nên vô nghĩa. Con sẽ tay trắng từ giã thế giới này, chẳng hoàn thành được điều gì. Sau đấy, theo nghiệp và khí nghiệp của con, con sẽ chỉ tiếp tục trải qua các kiểu hạnh phúc và khổ đau khác nhau.
Đó là nơi quyền lực Trung Quốc bị lu mờ trước sức mạnh chính nghĩa của những người tỵ nạn Tây Tạng tay không tấc sắt: các đại hội phim ảnh quốc tế. Dù vậy, dòng phim của người Tây Tạng lưu vong hoàn toàn không phải là những lời sách động trần gian – đây chính là các thước phim xuất thế gian từ những người bị rượt đuổi ra khỏi quê nhà đang đưa lên thật cao những lý tưởng của từ bi, thương yêu, tha thứ và hòa bình.
Sau 6 tuần chiến đấu với một kẻ thù vô hình trong thầm lặng và đau đớn để được sống còn, người anh họ của tôi, Thông Nguyễn mà chúng tôi đã gọi một cách thân thương là Toutou, cha của 2 đứa con và là một cán sự y tế (préposé aux bénéficiaires) tại BV Jean Talon từ 17 năm qua, đã phải bỏ mạng vì Covid-19 vào ngày 11/06/2020 lúc 11:55, giờ mà các máy móc để hỗ trợ sự sống cho anh đã bị tháo gỡ ra…
Như chúng ta thấy, sự tức giận là sức mạnh tinh thần bất thiện dẫn con người vào những hoàn cảnh khó chịu và đau khổ khác nhau. Suy thoái xã hội, kinh tế, thể chấttinh thần gây ra bởi sự tức giận. Xu hướng tự hủy diệt (attantapa) và hủy diệt xã hội (parantapa) được hiểu là phản ứng của cá nhân thù hận (dosa carita) đối với những thất bại của mình.
Sống chếtvấn đề lớn nhất của đời người. Trong đạo Phật, chữ sanh tử (sống chết) là một từ được nhắc đến thuộc loại nhiều nhất, bởi vì đạo Phật không là gì khác hơn là con đường thoát khỏi sanh tử, dập tắt sanh tử khổ đau. Và trái ngược với sanh tử là Niết-bàn, tạm hiểu là thoát khỏi sanh tử.
Quyển sách “Rèn Tập Thơ Văn” này đã được soạn thảo trên dưới 25 năm, chư sư và đại chúng cần biết thế nào là viết một câu thơ hay một câu văn. Không những phải đúng ngữ pháp mà câu văn ấy phải có chất văn. Chất văn là gì? Người ta hay nói văn chương. Văn là vẻ đẹp, chương là vẻ sáng. Đầu tiên chúng ta phải lập ý, vẻ đẹp, vẻ sáng đó có từ thiên nhiên vạn vật. Trong thiên nhiên vạn vật cái gì là đẹp cái gì là sáng...
Như thường lệ, sau cơm chiều hai người bạn trẻ tản bộ trên đường nhỏ, quanh nơi cư ngụ. Đúng ra, là họ cùng kinh hành niệm Phật vì họ im lặng đi bên nhau, niệm Phật thầm. Dân cư quanh vùng nhiều người cũng đã quen với hình ảnh hai thanh niên Việt Nam mà họ đoán biết là Phật tử thuần thành vì cách chắp tay, khẽ cúi đầu khi đáp lại lời chào của hàng xóm. Trên khúc quanh rẽ về nhà, cả hai cảm thấy như có những bước chân rất nhẹ, đang bước theo họ.
Hiện nay số lượng sách nói về cuộc đời Đức Phật nhiều như một đám rừng. Cuốn sách nhỏ bé này chỉ có mục đích khiêm tốn là giới thiệu một cách vắn tắt cuộc đời Đức Phật cho các bạn trẻ qua hình thức Hỏi-Đáp.
Video and drawings by Nguyên Giác - Music: Song “Pretend” composed and performed by Trần Duy Đức. With photos from Pixabay.com Music in the video's first half; Text recitation in the second half -- Nửa phần đầu video là nhạc; Nửa phần sau là giọng đọc. This video is made to help those in Vietnam who want to study English and Buddhism. Below is the text in video.
Sau mùa An Cư Kiết Hạ năm nay, Phật lịch 2564 (2020), Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước được đón nhận lời pháp thoại của Thầy Tuệ Sỹ qua Thư Khánh Tuế đầy tâm huyết trước thực trạng “tình đời và lẽ đạo” hiện nay của Đạo Phật Việt Nam với hai hình thức tổ chức giáo hội song hành: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN).
Đạo Phật vốn là tôn giáo vô ngã, phá chấp, không có tín điều, và tuyệt đối tôn trọng sự thực; do đó, chấp nhận hay không chấp nhận những lời tuyên bố của Đức Phật hoàn toàn thuộc quyên tự do tư tưởng của mỗi chúng ta chứ không phải ai khác.
Tổng hợp hàng trăm cuốn sách song ngữ Việt Anh dạng Ebook PDF
- Đạo Phật là Đạo đối diện với Sinh Tử, không bi quan, cũng chẳng lạc quan, mà là hiện quán với thực trạng tất yếu của cuộc đời.. Nếu là Phật tử, hãy quán niệm (Sati) từng ngày về '' ngọn lửa cuối cùng '' này bạn nhé! Quán niệm để nghe đời mình nhẹ tênh như một áng tơ chiều.. '' Đã biết chốn ni là quán trọ Hơn thưa, hờn oán để mà chi Thử ra ngồi xuống bên.. giàn hỏa Hỏi họ mang theo được những gì?''
Có lần khi nói về tám thức tâm vương trong Duy thức học, một người hỏi rằng “con người lo sợ là do thức nào?”. Trước đó tôi chưa nghĩ tới chuyện này, nhưng cũng thông minh đột xuất mà trả lời rằng “là do thức thức mạt-na thứ 7, vì nó chấp ngã cho nên mới có lo sợ”.
Sự khác biệt giữa "Trời" và "Thượng đế" dường như là một điều thắc mắc trong tâm trí của nhiều người. Sự khác biệt ấy nếu có thì phải chăng cũng chỉ là tên gọi mà thôi? Thế nhưng nếu là tên gọi thì lại liên hệ đến ngôn ngữ, truyền thống, văn hóa, v.v. Hơn nữa, từ cổ chí kim chưa có ai từng trông thấy Trời hay Thượng đế cả, chẳng qua cũng vì đấy chỉ là một ý niệm trừu tượng, hiện ra trong tâm trí con người.
Kính Thưa Quý Thiện Nam, Tín Nữ! “Đại sĩ Quan Âm rất tuyệt vời Cánh tay cứu độ hiện ngàn khơi Không đâu cầu thỉnh mà không ứng Biển khổ thuyền dong cứu độ đời” Thật vậy, đức Bồ Tát Quán Thế Âm hiện thân của bậc đại sĩ cứu khổ ban vui. Một trong những hình tượng gần gũi nhất với hầu hết tín đồ Phật giáo, dù ở bất cứ nơi đâu, dù thuộc tầng lớp nào. Ngài là biểu tượng của lòng Đại Bi, nền tảng của mọi công hạnh tu tập, mà cũng là chỗ nương cậy mong cầu cứu khổ của tất cả chúng sinh. Vì thế, các bậc hành giả khi tu tập đều quy hướng về Ngài như một tấm gương sáng để noi theo, và tất cả chúng sinh đang khổ đau cũng quy hướng về Ngài để được chở che, dắt dẫn. Cho nên, chúng ta cũng không lấy gì làm lạ khi từ kẻ quê mùa cho đến hàng trí giả, ai ai cũng thường cung kính niệm tưởng đến Ngài và gọi Ngài một cách thân thiện, gần gủi bằng hai tiếng “Mẹ Hiền”.
Trong Kinh Tạng có hai bài Kinh Gaddulabaddha (Dây Trói Buộc) và hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu cả hai bài kinh này để hiểu rõ những gì Đức Phật muốn nói. Bài Kinh Thứ Nhất Một thời Đức Thế Tôn ở tại Sāvatthi. Ở đó Đức Thế Tôn gọi các vị Tỳ-kheo và nói như vầy: “Này các Tỳ-kheo, khởi đầu của vòng luân hồi (samsara) này là không thể khám phá ra được. Điểm bắt đầu không thể nêu rõ đối với các chúng sinh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, phải lưu chuyểnxoay quanh trong vòng luân hồi (saṃsāra).”
“ Buddho là một cái gì đó thật tĩnh lặng và mát lành. Nó chính là con đường đưa đến an lạcbình ancon đường duy nhất sẽ giải phóng chúng ta ra khỏi mọi đau khổ trên thế gian này.” Cuốn sách này là một hướng dẫn thiền đơn giảnthiết thực theo trường phái thiền chỉ quán do Thiền sư Ajahn Thate giảng dạy, sử dụng đề mục niệm Buddho làm cho tâm trở nên định tĩnh, vắng lặng đến mức cần thiết khiến cho tuệ giác sanh khởi.
Tu hành, nói đến niệm Phật, chúng ta thường nghĩ là niệm Phật A Di Đà, nhưng thực sự niệm Phật là nghĩ tới hạnh nguyện của tất cả các Đức Phật, vì tất cả các Đức Phật đều có hạnh nguyện cao tột viên mãn, cho nên chúng ta theo nguyện nào, hạnh nào của Đức Phật cũng đều tốt.
Một trong những đặc trưng khu biệt của văn học Phật giáo với những dòng văn học khác chính là ở cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật. Với quan niệm “ngôn ngữ đạo đoạn”, lời nói, ngôn từ hữu hạn ở đây không thể diễn tả trọn vẹn và đầy đủ cái chân lý vô cùng, thể hiện rõ nét quan điểm mỹ học phương Đông.
Y vàng tuệ đức cửa thiền sáng soi Sắc màu tươi thắm hoa khai Cúng dường Sám hối Đón ngày Vu Lan Hoa thơm cung kính hai hàng Chắp tay sen nở đạo tràng nam mô Nhạc thiền hòa nhịp cùng thơ Tâm thành gửi gắm vào giờ báo ân...
Cách trung tâm thành phố biển Nha Trang 33km, Chùa Kỳ Viên Khánh Phú tọa lạc trên một vùng đất đỏ hoang vắng, hàng xóm chung quanh đa số là đồng bào dân tộc thiểu số Raglai còn nghèo khó lam lũ, thiếu thốn không chỉ cái ăn cái mặc mà còn đói khát văn hóa, đói khát pháp thiện pháp lành... Chính vì lẽ đó, Lễ Vu Lan Báo Hiếu - Cúng Dường Trai Tăng được cử hành nơi mái chùa vùng sâu vùng xa muộn hơn so với những tự viện ở miền xuôi, phố thị...
Tập truyện cực ngắn này của nhiều nhà văn tên tuổi Trung Quốc do dịch giả Vũ Công Hoan biên dịch. Điểm nổi bật của tập truyện này là sự ngắn gọn, xúc tích, nhiều tầng lớp ý nghĩa gói gọn trong một số lượng câu chữ ít ỏi. Truyện ngắn nhất chỉ có hơn 200 chữ, truyện dài nhất chỉ tương đương một truyện ngắn thông thường. Đó là những câu chuyện mang đầy tính nhân văn và tình người
Con đường xưa…! và con đường nay bây giờ có khác gì không nhỉ? Có những lúc mình đi trên con đường sỏi đá chông gai, nhưng cũng có những con đường mòn làng quê nhỏ bé, dưới bóng mát của lũy tre làng hay là dọc bãi biển, bờ sông hàng dừa xanh bát ngát thật tuyệt diệu vô cùng. Đi đâu cũng là dấu chân muôn người, dấu chân bước đến đâu nó sẽ in đậm đến đó, mà còn là mốc thời gian ở đó lãng đãng phiêu bồng năm tháng đậm nét thơ ngây gói trọn nhiều kỷ niệm của một thời thơ ấu đã qua…!
Từ ngày vào chùa ở với sư cụ, chú Nhị Bảo ít khi được về thăm gia đình, mặc dù từ chùa về nhà không xa lắm, chỉ băng qua một cánh đồng, một khu rừng đầy thông reo là đến con đường lớn dẫn thẳng về nhà
New Posting: Bài 16 - Lời nguyện của người bồ-tát: ...Trong lãnh vực tư tưởng, văn hóa hay xã hội luôn có những quan điểm tương phản hay đối nghịch nhau, nói chung đó là các xu hướng đa dạng của con ngườixã hội nói chung. Câu chuyện Bồ-đề Đạt-ma ngồi thiền nhìn vào một bức tường trong suốt 9 năm, không nói một lời nào, là một sự tương phản hoàn toàn đối với 48 lời nguyện năng độngtích cực của vị Bồ-tát Dharmakara. Nếu Tịnh độ nêu lên một lý tưởng không bao giờ thực hiện được, thì Thiền học lại cho rằng "Ngộ" (Satori) là một sự đột khởi mang tính cách trực giác. Sự đối nghịch trên cả hai phương diện thực hànhlý thuyết trên đây là một trong các nét nổi bật nhất của Phật giáo Trung quốc. Nói chung cả hai xu hướng đó không hoàn toàn trung thực với Giáo huấn của Đức Phật trong thung lũng sông Hằng.
Đời và Đạo, tuy hai mà một. tất cả chỉ là một
Khi loài người chúng ta bắt đầu giải quyết mọi vấn đề, chúng ta không quan tâm theo một phương cách cẩn thận chu đáo, đây là một điều dễ nhận ra. Nhưng chúng ta không quan tâm tới cái gì? Tôi tin chắc, vấn đề căn bản là, ở nơi mỗi phương diện đều cần đến cân bằng nhưng chúng ta đang quá chăm chú tới các phương diện vật chất, hướng ngoại của đời sống trong khi đó lại không xét đến luân lý đạo đức và các giá trị nội tâm.
Sau khi phổ biến “Thư Khánh Tuế” Viện Tăng Thống GHPGVNTN của Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, chúng tôi nhận được một số điện thư của độc giả nói là nội dung thư sử dụng nhiều từ Phật giáo cổ xưa nên hơi khó hiểu như khánh tuế, hậu ca-đề, thánh gỉa, thánh phàm đồng trụ, vô khả nại hà, khâm thừa, khế thủ, sự biến Lương Sơn…rồi có vị độc giả ở trong nước thắc mắc GHPGVNTN ở đâu, tổ chức như thế nào và cũng có vị độc giả Phật tử ngoài nước hỏi tổ chức Phật Giáo trong nước thuộc ai, thuộc chính quyền hay thuộc về Phật tử lập nên… Chúng tôi xin góp ý như sau:
Theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo lịch Ấn Độ cổ đại, bắt đầu Vũ Kỳ An Cư (Vassavāsa) từ ngày 16 tháng 6 (tháng Āsālha) và kết thúc vào ngày 16 tháng 9 (tháng Āssina). Nếu an cư được bắt đầu vào ngày 16 tháng 6 thì gọi là Tiền an cư (Purimikavassà), còn nếu như có duyên sự không thực hiện Tiền An Cư được mà phải dời lại một tháng sau, tức bắt đầu từ ngày 16 tháng 7 và kết thúc vào ngày 16 tháng 10 thì gọi là Hậu An Cư (Pacchimikāvassā). Truyền thống Phật giáo Việt Nam thường gọi là ‘An cư kiết hạ’, tức kiết túc an cư trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật giáo Bắc tông. Sau rằm tháng tư âm lịch Chư Tăng theo truyền thống Đại thừa bắt đầu kiết túc an cư, cho đến hết ngày mười bốn tháng bảy âm lịch, làm lễ tự tứgiải hạ kết thúc mùa an cư.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Khi tôi còn nhỏ, tôi thường có cơn ác mộng kinh hoàng về việc bị chôn sống trong một chiếc quan tài kính. Tôi có thể nhìn thấy mọi người đi lại ở phía trên mình và tôi đã hét lên để xin sự giúp đỡ nhưng người ta không thể nghe thấy tôi. (Tôi cho rằng đây là một cảnh trong một bộ phim nào đó nhưng không thể nhớ ra nổi.) Gần đây tôi đã vô cùng kinh ngạc khi biết rằng có những người đang thực sự bị mắc kẹttrạng thái này, nói một cách tượng trưng là: trạng thái siêu "khoá trong", khi người ta hoàn toàn tỉnh táo nhưng không có cách nào giao tiếp với thế giới bên ngoài được.
Hôm ấy là Mùa Vu Lan, các Chùa cứ thay phiên nhau làm lễ bông hồng cài áo. Tôi ngồi buồn thỉu, buồn thiu nhìn bông hoa hồng trắng cài trên áo. Nhớ ngày tôi mất mẹ mới thật thê thảm, vì chưa ngộ được lý vô thường nên tôi không chấp nhận được việc khi đi làm về vào phòng chào mẹ chẳng thấy bóng bà. Tôi vật vã, thương nhớ khôn nguôi.
Có lần một vị Bà La Môn hỏi Đức Phật, Thưa Ngài! Biết có kiếp sau hay không mà Ngài khuyên răn chúng tôi làm thiện. Đức Phật trả lời! Nếu khôngkiếp sau, mà kiếp này ngươi làm thiện thì ngươi sẽ được an vui hạnh phúc, còn nếu có kiếp sau thì ngươi vẫn được an vui hạnh phúc trong kiếp này và kiếp sau. Cho nên hãy sống thiện để có lợi ích.
Duyên khởi là trong những ngày gần đây có một số vị Hòa thượng, Thượng tọa khá nổi danh giảng Phật Pháp trên internet nói một số điều không đúng, rất nguy hiểm, như có vị cho rằng trong các cõi chỉ có cõi người, cõi động vật, cõi A tu la và cõi chư Thiên; không có cõi địa ngục và cõi ngạ quỷ. Họ cho rằng cảnh giới địa ngục và ngạ quỷ không có thật trong Phật Giáo và A tu la chỉ là chúng sanh ở hệ tinh cầu khác…Nghe tiếp bài giảng Phật Học Căn Bản ngày thứ nhật 29/08/2020
CỬA TỪ BI VẪN RẠNG NGỜI Cung kính dâng tặng Sư Thiện Chiếu, chùa Kỳ Quang 2 _Gò Vấp – Sài Gòn (Tin mới nhất: Ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM thống nhất quyết định tạm ngưng chức vụ trụ trì chùa Kỳ Quang 2 đối với HT.Thích Thiện Chiếu; đồng thời cử TT.Thích Quang Thạnh (thế danh Trần Xuân Nhàn) thay HT.Thích Thiện Chiếu chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động tu học, tín ngưỡngxã hội của chùa Kỳ Quang 2 kể từ hôm nay, 5-9-2020.)
Ngôi chùa tọa lạc lưng chừng ngọn núi, sau rừng sồi, cũng tương tự như bao ngôi chùa nhỏ, xa nơi đô thị. Nhưng nơi đây, những ngày Lễ Vía Chư Phật, Chư Bồ Tát, người dân ở những thôn xóm quanh dưới núi đều rủ nhau sắm sửa hương hoa, lễ vật, lên chùa cúng dường, trước là lễ Phật, sau là vấn an Sư Trụ Trì
Có phải bất công lắm không khi hằng năm vào dịp Vu Lan, trên thế gian này không biết bao nhiêu Văn nhân, Thi sĩ, Nhạc sĩ múa bút tán tụng tình Mẹ: Huyền thoại mẹ, Phật giáo tôn vinh giá trị những bà mẹ, lạm bàn về mẹ, tản mạn về mẹ..v.v..và..v.v... bên cạnh đó, dường như mọi người vô tình đã bỏ quên một thứ tình cũng nồng nàn không kém, đôi khi còn thắm thiết hơn, đó là tình cha. Vâng, tôi có một người cha như thế.
Đối với người xuất gia tu tập thiền định nhằm đạt đến giải thoát tối hậulìa bỏ mọi trói buộc để được tự tại, giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, cởi bỏ trói buộc của nghiệp hoặc, thoát ra khỏi những khổ đau phiền não của nhà lửa tam giới. Trong khi đó, đối với người tại gia, ưu tiên tu tập thiền định trong cuộc sống hằng ngày là nhằm giúp họ thanh tịnh thân tâm ngay trong những giây phút hiện tại của cuộc sống này, để có được cuộc sống an lạc, tỉnh thứchạnh phúc.
Chúng ta phải tập tánh nghe từ ngay trong chính mình. Tóm lại, xã hội chúng ta đang không biết lắng nghe. Chúng ta phóng tâm theo những chuyện bên ngoài nhiều quá, không lắng nghe quanh mình còn bao nhiêu tiếng thở than, bao nhiêu nỗi băn khoăn, bao nhiêu oan khuất, bao nhiêu trăn trở. Liệu có bao nhiêu người trong chúng ta về nhà hỏi han cha mẹ một lời, nghe các cụ tâm sự về nỗi đời riêng cần chia sẻ. Phần đông chúng ta sống thờ ơ, hững hờ.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.
Có lẽ chưa khi nào vấn đề sùng bái trở nên khủng khiếp như hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã lên tiếng: sùng bái đang dẫn dắt nhiều người xa rời văn minh, tiến bộ xã hội.
Người bạn thân của chúng tôi là một bác sĩ đã nghỉ hưu, cho chúng tôi biết kinh nghiệm thành công của ông trong việc điều trị bệnh Covid-19 cho vợ chồng cô em ruột tuổi 50 và 52, hiện hành nghề dược sĩ tại thành phố Covina bang California. Cả vợ lẫn chồng đều bị lây nhiễm Covid-19.
Tu viện Mộc Lan nằm ở vùng Red Hill thuộc thành phố Batesville Mississippi. Vào trung tuần tháng 3 năm 2010, tôi được Thầy dạy về đó để xây dựng chúng xuất sĩ thường trú. .../...Thầy tôi thường dạy rằng, một truyền thống tâm linh muốn được tồn tại và giữ được bản sắc riêng của nó, thì phải hội nhập và học hỏi văn hóa bản địa. Đó cũng là một nhân duyên khiến thiền đường Hải Triều Lên không thiết trí tượng Bụt như những ngôi chùa, tu viện theo truyền thống Á đông. Có những vị Phật tử Á đông trong thời gian đầu đã nhận xét: “Sao giống Chúa quá”, hoặc hỏi: “Sao thiền đường không có tượng Bụt. Bụt đâu để con lạy?”. Tôi từ tốn chia sẻ cho các vị ấy hiểu. May mắn thay, các vị mở lòng lắng nghe, đón nhận và cảm thấy thoải mái hơn. Tâm các vị an bình, nhẹ nhàng có được giây phút lắng yên khi được ngồi, được thở, được bước đi những bước chân đã về đã tới nơi mảnh đất Mộc Lan.
Giữa rừng người từ khi chu du nhiều nơi đây đó rồi về San Diego tạo dựng Dharma Mountain ẩn dật vui thú vui nơi thôn dã cũng đà sắp xỉ ngót mười năm. Người người say mê tạo dựng, nhưng tôi về ẩn tại chốn Non cao, ngày ngày làm vườn nấu nước pha Trà, khép mình trong cái tĩnh. Ban ngày ra vườn, ban tối đọc sách viết vài đoạn, rồi buông thư ngồi tĩnh tọa hít thở, rảnh rỗi thì hái rau vui với Suối Rừng Hoa lá,
Lớp học 15 tuần (1 semester), bắt đầu 24/8 – 13/12/2020 - Tài liệu : Song Ngữ - Mỗi tuần 2 giờ qua zoom: Hỏi đáp - Giảng sư: Tiến sĩ Lancaster, nghiên cứu Phật Giáo 60 năm, và dạy Phật Học 36 năm tại University of California, Berkeley – Gồm 2 phụ Giảng: Tiến Sĩ Thích Thiện TâmTiến Sĩ Nguyễn Thúy Loan
Chúng tôi – Chúng con đã trực tiếp liên lạc với Hiệp hội văn bản Pali, trong phạm vi công cộng được sự đồng ý của Hiệp hội văn bản Pali Nhà xuất bản - Dharma Mountain Publishing với mục đích xuất bản bộ Đại Tạng hoàn toàn phi lợi nhuận - phi thương mại với Giấy phép – Licence: Attribution-NonCommercial 3.0 (CC BY-NC 3.0). Tham gia với chúng tôi – chúng con để trở thành người hỗ trợ trong các dự án dưới đây: 1). Dự án xuất bản Tam tạng Kinh điển tiếng Anh hỗ trợ sự truyền bá Phật giáo tại Hoa Kỳ 2). Xuất bản Tam Tạng tiếng Việt, do Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pali 3). Xuất bản Bộ Chơn Lý do Sư Tổ Minh Đăng Quang trước tác 4). Xuất bản Kinh điển đọc tụng hàng ngày 5). Xuất bản sách ứng dụng Thiền chánh niệm