Kinh Phụng Trì

13/06/20143:35 CH(Xem: 2199)
Kinh Phụng Trì
KINH PHÁP CÚ HÁN TẠNG
Thích Nhất Hạnh Việt dịch
Thể kệ: Nguyên Định (chữ đậm)

Kinh Phụng Trì

Người tu đích thực đang thực sự phục trì chánh pháp không hẳn là người đang nói nhiều về Phật pháp. Có thể kiến thức Phật pháp của người ấy còn ít, nhưng người ấy đang thật sự nương tựa vào chánh pháp để hành trì.

 

Phụng Trì Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập thất
奉持品法句經第二十七
Kinh Phụng Trì
Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng
Phẩm thứ 27

 

Phẩm này có 15 bài kệ. Phụng trì có nghĩa là vâng theo lời chỉ giáo và thực tập theo những lời chỉ giáo ấy. Các bài kệ thứ 3 và thứ 4 dạy ta thực tập mà đừng ham lý luận và phô trương kiến thức, dù là kiến thức Phật học. Bài 12 dạy rằng sự im lặng chưa hẳn đã là dấu hiệu của minh triết: im lặng chỉ là cái vỏ minh triết nếu bên trong tâm ý còn có những dự tính không trong sáng. Bài 13 định nghĩa một vị Mâu ni: đạt được vô vi, tâm ý thanh khiết, không còn vướng bận, an trú Niết bàn trong giây phút hiện tại.

Các bài 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 cho thấy thế nào là một vị xuất gia đích thực.

 

Bài kệ 1

Hảo kinh đạo giả                             好  經  道  者

Bất cạnh ư lợi                                 不  競  於  利

Hữu lợi vô lợi                                  有  利  無  利

Vô dục bất hoặc                              無  欲  不  惑

 Người ưa thích học kinh và hành đạo thì không ham tranh đua về mặt lợi lộc. Dù những cái kia có lợi hay không có lợi thì mình cũng không ham muốn chạy theo, không bị mê hoặc bởi chúng.

Học kinh, hành đạo

Không ham tranh đua

Về mặt lợi lộc

Có lợi hay không

Cũng đừng chạy theo.

 

Bài kệ 2

Thường mẫn hảo học                      常  愍  好  學

Chánh tâm dĩ  hành                         正  心  以  行

Ủng hoài  bảo tuệ                           擁  懷  寶  慧

Thị vị vi đạo                                   是  謂  為  道

 Thường có tâm lân mẫn, ưa tu tập học hỏi, đem tâm chính trực của mình để hành trì, ôm ấp chí nguyện đạt tới kho tàng quý báu của tuệ giác, như thế mới gọi là kẻ hành đạo chân chính.

Tâm thường lân mẫn

Ưa tu học hỏi

Đem tâm hành trì

Mong đạt tuệ giác

Hành đạo chân chính.

 

 

Bài kệ 3

Sở vị trí giả                                      所  謂  智  者

Bất tất biện ngôn                             不  必  辯  言

Vô khủng vô cụ                               無  恐  無  懼

Thủ thiện vi trí                                 守  善  為  智

 Người có trí không phải là người ưa biện luận. Không hề sợ hãi, luôn luôn biết bảo hộ cái thiện, đó mới là người trí.

Người trí không phải

Người ưa biện luận

Không hề sợ hãi

Bảo hộ điều thiện

Đó là người trí.

 

 

Bài kệ 4

Phụng trì Pháp giả                         奉  持  法  者

Bất dĩ đa ngôn                                不  以  多  言

Tuy tố thiểu văn                               雖  素  少  聞

Thân y Pháp hành                           身  依  法  行

 Người tu đích thực đang thực sự phụng trì chánh pháp không hẳn là người đang nói nhiều về Phật pháp. Có thể kiến thức Phật pháp của người ấy còn ít, nhưng người ấy đang thực sự nương tựa vào chánh pháp để hành trì.

Người tu đích thực

Phụng trì chánh pháp

Không hẳn nói nhiều;

Kiến thức còn ít

Nhưng nuơng tựa vào

Chánh pháp hành trì.

 

 

Bài kệ 5

Thủ đạo bất kị                                  守  道  不  忌

Khả vị phụng Pháp                           可  謂  奉  法

Sở vị lão giả                                    所  謂  老  者

Bất tất niên kì                                 不  必  年  耆

Hình thục phát bạch                         形  熟  髮  白

Xuẩn ngu nhi dĩ                               憃  愚  而  已

 Không xao lãng công phu tu tập mới là người phụng trì chánh pháp. Không phải do sống lâu mà người ta trở thành một vị trưởng lão trong Phật pháp. Tuy có hình tướng thân già tóc bạc, nhưng người ấy không phải là một vị đạo cao đức trọng, mà vẫn chỉ là một kẻ ngu phu.

Tu tập miên mật

Phụng trì chánh pháp

Không phải sống lâu

Trở thành trưởng lão;

Thân già tóc bạc

Không tu cũng ngu.

 

 

Bài kệ 6

Vị hoài đế Pháp                              謂  懷  諦  法

Thuận điều từ nhân                         順  調  慈  仁

Minh viễn thanh khiết                      明  遠  清  潔

Thị vi Trưởng lão                           是  為  長  老

 Ôm được chánh pháp vào lòng, tu tập theo nếp sống nhân từ, người có đạo hạnh chiếu sáng và thấy xa, nếp sống thanh khiết, mới có thể được gọi là một vị thượng tọa, đại đức hay trưởng lão.

Ôm được chánh pháp

Nếp sống nhân từ

Chiếu sáng thấy xa

Nếp sống thanh khiết

Mới gọi trưởng lão.

 

 

Bài kệ 7

Sở vị đoan chánh                             所  謂  端  政

Phi sắc như hoa                              非  色  如  花

Xan tật hư sức                                慳  嫉  虛  飾

Ngôn hành hữu vi                            言  行  有  違

 Như một bông hoa chỉ có sắc không hương, xan lẫn, tật đố, chỉ có giả trang hình tướng bên ngoài, lời nói và hành động đi ngược lại với nhau thì chưa có thể gọi là một người thực sự đoan chính.

Hoa sắc không hương

Xan tham tật đố

Giả trang bên ngoài

Nói làm trái ngược

Không phải đoan chính.

 

 

 

Bài kệ 8

Vị năng xả ác                                  謂  能  捨  惡

Căn nguyên dĩ đoạn                         根  原  已  斷

Tuệ nhi vô khuể                               慧  而  無  恚

Thị vị đoan chánh                            是  謂  端  政

Sở vị Sa môn                                  所  謂  沙  門

Phi tất trừ phát                               非  必  除  髮

Vọng ngữ tham thủ                         妄  語  貪  取

Hữu dục như phàm                        有  欲  如  凡

 Buông bỏ được tà hạnh, cắt đứt được gốc rễ của ác, có tuệ giác, không còn sân nhuế, đó mới thực sự là người đoan chính. Một người cạo tóc mà còn vọng ngữ, tham đắm, chấp thủ, có nhiều tham dục như một kẻ phàm tục, thì không phải là một vị Sa môn đích thực.

Buông bỏ tà hạnh

Cắt đứt rễ ác

Không còn sân hận

Đúng người đoan chính;

Một người cạo tóc

Mà còn vọng ngữ

Tham đắm chấp thủ

Không diệt tham dục

Đâu phải sa môn.

 

 

Bài kệ 9

Vị  năng chỉ ác                                  謂  能  止  惡

Khôi khuếch hoằng đạo                     恢  廓  弘  道

Tức tâm diệt ý                                 息  心  滅  意

Thị vi Sa môn                                   是  為  沙  門

 Chấm dứt được những hành động sai trái, làm sống dậy và quảng bá được chánh pháp, làm lắng dịu nội tâmdiệt trừ được mọi tà ý, đó mới thật là một vị Sa môn.

Không làm việc ác

Quảng bá chánh pháp

Lắng dịu nội tâm

Diệt trừ tà ý

Đích thực sa môn.

 

 

Bài kệ 10

Sở vị Tỳ-kheo                                  所  謂  比  丘

Phi thời khất thực                            非  時  乞  食

Tà hành dâm bỉ                               邪  行  婬  彼

Xưng danh nhi dĩ                             稱  名  而  已

 Là một vị Tỳ khưu mà đi khất thực phi thời, mà vẫn còn tà hạnhvọng ngữ thì chỉ là một vị Tỳ khưu hữu danh vô thực.

Khất thực phi thời

Tà hạnh vọng ngữ

Chỉ là tỳ khưu

Hữu danh vô thực.

 

Bài kệ 11

Vị xả tội phước                               謂  捨  罪  福

Tịnh tu phạm hạnh                          淨  修  梵  行

Tuệ năng phá ác                           慧  能  破  惡

Thị vi Tỳ-kheo                                是  為  比  丘

 Buông bỏ được ý niệm về tội phúc, tu tập thanh tịnh theo nếp sống phạm hạnh, tuệ giác đủ lớn để phá trừ được mọi ác kiến, đó mới đích thực là một vị Tỳ-khưu.

Buông bỏ tội phúc

Tu tập thanh tịnh

Nếp sống phạm hạnh

Tuệ giác đủ lớn

Phá trừ ác kiến

Đích thực Tỳ khưu.

 

 

Bài kệ 12

Sở vị nhân minh                             所  謂  仁  明

Phi khẩu bất ngôn                         非  口  不  言

Dụng tâm bất tịnh                          用  心  不  淨

Ngoại thuận nhi dĩ                          外  順  而  已

 Nhà minh triết không phải là một kẻ chỉ biết im lặng không nói, trong khi đó thì tâm mình vẫn còn có những chủ ý không sạch. Im lặng như thế chỉ là cái vỏ bề ngoài.

Minh triết không phải

Chỉ biết im lặng

Nhưng tâm không sạch

Chỉ là vỏ ngoài.

 

 

Bài kệ 13

Vị tâm vô vi                                    謂  心  無  為

Nội hành thanh hư                          內  行  清  虛

Thử bỉ tịch diệt                              此  彼  寂  滅

Thị vi nhân minh                             是  為  仁  明

 Nội tâm thực sự đã đạt tới vô vi, thanh khiết, không còn vướng bận gì, biết an trú Niết Bàn, đó mới thật là một bậc Mâu ni.

Nội tâm vô vi

Thanh khiết không vướng

An trú Niết bàn

Mới thật Mâu ni.

 

 

Bài kệ 14

Sở vị hữu đạo                                 所  謂  有  道

Phi cứu nhất vật                              非  救  一  物

Phổ tế thiên hạ                                普  濟  天  下

Vô hại vi đạo                                   無  害  為  道

 Không phải chỉ biết lo cứu độ cho một người, mà biết lo cứu độ cho tất cả mọi loài trong thiên hạ, không bao giờ làm tổn hại đến ai, đó mới thật là một bậc đạo hạnh.

Không phải chỉ lo

Cứu độ một người

Mà lo mọi loài

Không tổn hại ai

Đúng bậc đạo hạnh.

 

 

Bài kệ 15

Giới chúng bất ngôn                         戒  眾  不  言

Ngã hành đa thành                           我  行  多  誠

Đắc định ý giả                                  得  定  意  者

Yếu do bế tổn                                 要  由  閉  損

Ý giải cầu an                                   意  解  求  安

Mạc tập phàm nhân                         莫  習  凡  人

Sử kết vị tận                                   使  結  未  盡

Mạc năng đắc thoát                        莫  能  得  脫

 Dù có giữ giới, có thực tập tịnh khẩu, dù có thành khẩn tu tập, đạt được các định nhưng vẫn còn giữ thái độ cầu an, vẫn còn có nhu yếu khép kín, sợ tổn hại đến mình, vẫn còn giữ tập khí của người đời, thì kẻ ấy vẫn không thể nói là đã đạt tới giải thoát thật sự.

Dù có giữ giới

Thực tập tịnh khẩu

Thành khẩn tu tập

Đạt được các định

Nhưng vẫn cầu an

Thái độ khép kín

Sợ hại đến mình

Vẫn còn tập khí

Không thể nói là

Giải thoát thật sự.






Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 113734)
Người con Phật nghĩ gì về án tử hình? Đứng về phương diện cá nhân, rất minh bạch rằng không Phật tử nào ủng hộ án tử hình. Đứng về phương diện quốc gia, thực tế là rất nhiều quốc gia -- nơi Phật giáo gần như quốc giáo, như Thái Lan, Miến Điện, Sri Lanka… -- vẫn duy trì và thực hiện án tử hình.
Vừa qua, được sự ủy nghiệm của Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới từ ngày 08 tháng 7 đến 15 tháng 7 năm 2018 tại Như Lai Thiền Tự, San Diego đã trang nghiêm tổ chức khóa An Cư Kiết Hạ 2018 với gần 200 Chư Tôn Đức Tăng –Ni đến từ các truyền thống Phật giáo trở về cấm túc an cư tu học.
Chùa Hương Sen hôm cuối tuần đã nhận một món quà tặng quý giá: 120 thùng sách Phật học. Đó là toàn bộ thư viện Phật học của Cư sĩ Mật Nghiêm Đặng Nguyên Phả lưu giữ trong nhiều thập niên tu học, hoạt động.