Kinh Quán Chiếu Vô Thường

12/06/20143:24 CH(Xem: 3982)
Kinh Quán Chiếu Vô Thường
KINH PHÁP CÚ HÁN TẠNG
Thích Nhất Hạnh Việt dịch
Thể kệ: Nguyên Định (chữ xanh đậm)

Kinh Quán Chiếu Vô Thường

Ngày nay đã qua
Đời sống ngắn lại
Hãy nhìn cho kỹ
Ta đã làm gì?
Đại chúng hãy cùng tinh tấn
Thực tập hết lòng
Sống cho sâu sắc và thảnh thơi
Hãy nhớ vô thường
Đừng để tháng ngày trôi đi oan uổng.

Vô thường phẩm  Pháp Cú kinh đệ nhất
無 常 品 法 句 經 第 一
Kinh Quán Chiếu Vô Thường
Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng
Phẩm thứ 1


Vô thường là một phép quán, giúp cho ta thấy được tính cách biến đổi thành hoại mau chóng của hình hài cũng như của mọi vật, trong đó có cả tâm ý. Quán vô thường giúp ta trân quý những gì đang có mặt và sống được sâu sắc mỗi giây phút của sự sống hằng ngày. Quán vô thường ta sẽ buông bỏ được những gì phù hoa, không thật, không đem lại bình an thật sự cho ta sau này. Vô thường cũng là một phép thiền định. Cái thấy vô thường đưa tới cái thấy vô ngãtháo gỡ được cho ta tất cả các phiền não như tham, giận, kiêu căng...

Tôi rất thích bài kệ đầu: Ý thức là mình vừa mới ngủ dậy thì nên mở tâm vui mừng. Ngày xưa tôi đã viết bài hát “Thức dậy hôm nay tôi thấy trời xanh, chắp tay tôi cám ơn đời mầu nhiệm…”. Tôi cũng đã viết bài kệ:

“Thức dậy mỉm miệng cười
Hăm bốn giờ tinh khôi
Xin nguyện sống trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc đời”.

Bài kệ thứ hai tóm thu được toàn bộ giáo lý đạo Bụt: đó là bài kệ nổi tiếng:

Chư hạnh vô thường
Thị sinh diệt pháp
Sinh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc”

Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, có sinh rồi thì phải có diệt. Nếu vượt được ý niệm sinh diệt thì tiếp xúc được với cái vui của Niết Bàn. Hai câu đầu nói về thế giới hiện tượng hữu vi, hai câu sau nói về thế giới bản thể vô vi. Niết BànSinh Diệt không phải là hai thực tại tách rời nhau.

Bài kệ thứ 13 đã được đưa vào Thiền Môn Nhật Tụng để xướng trong buổi công phu chiều: “Thị nhật dĩ quá, mạng diệc tùy giảm, như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc...”. Tại Làng Mai bài kệ vô thường đã được dựng lại như sau:

Ngày nay đã qua
Đời sống ngắn lại
Hãy nhìn cho kỹ
Ta đã làm gì?
Đại chúng hãy cùng tinh tấn thực tập hết lòng
Sống cho sâu sắc và thảnh thơi
Hãy nhớ vô thường
Đừng để tháng ngày trôi đi oan uổng.”

Bài kệ 1

Thụy miên giải ngụ                        睡  眠  解  寤
Nghi hoan hỉ tư                             宜  歡  喜  思
Thính ngã sở thuyết                     聽  我  所  說
Soạn kí Phật ngôn                      撰  記  佛  言
Ý thức là mình vừa ngủ dậy thì nên mở tâm vui mừng. Hãy lắng nghe những lời sau đây ghi chép lại giáo lý của Bụt.

Lúc vừa ngủ dậy
Mở tâm vui mừng
Lắng nghe những lời
Giáo lý của Bụt.

Bài kệ 2

Sở hạnh phi thường                        所  行  非  常
Vị hưng suy Pháp                           謂  興  衰  法
Phu sanh triếp tử                           夫  生  輙  死
Thử diệt vi lạc                                此  滅  為  樂

 Tất cả các hành đều vô thường, tất cả đều là những cái đã được hình thành và đều sẽ phải suy yếu. Hễ có sinh là phải có diệt. Vượt thoát được cái sinh cái diệt ấy là hạnh phúc lớn.

Vạn pháp vô thường
Hình thành suy yếu
Có sinh có diệt
Vượt thoát đem vui.

Bài kệ 3

Thí như đào gia                            譬  如  陶  家
Duyên thực tác khí                       埏  埴  作  器
Nhất thiết yếu hoại                        一  切  要  壞
Nhân mạng diệc nhiên                   人  命  亦  然

Như người thợ gốm sử dụng khuôn và đất sét để nặn ra các vật dụng, tất cả những gì được tạo tác ra cuối cùng cũng đều phải bị hư hoại. Mạng sống con người cũng thế.

Như người thợ gốm
Nặn ra vật dụng
Rồi sẽ hư hoại
Mạng người cũng thế.

Bài kệ 4

Như hà sử lưu                               如  河  駛  流
Vãng nhi bất phản                          往  而  不  返
Nhân mạng như thị                         人  命  如  是
Thệ giả bất hoàn                            逝  者  不  還
Như con sông chảy xiết, đi mà không trở lại, mạng sống con người cũng như thế, một khi đi qua thì không trở về, già đi thì không trẻ trở lại.

Như sông chảy xiết
Đi không trở về
Mạng người cũng thế
Già đến trẻ lùi.

Bài kệ 5

Thí nhân thao trượng                     譬  人  操  杖
Hành mục thực ngưu                      行  牧  食  牛
Lão tử do nhiên                             老  死  猶  然
Diệc dưỡng mạng khứ                    亦  養  命  去
Như kẻ mục đồng cầm gậy lùa bò đi ăn cỏ, cái già và cái chết cũng lùa mạng sống của chúng ta đi về nẻo chết.

Như kẻ cầm gậy
Lùa bò ăn cỏ
Già chết cũng lùa
Mạng sống chúng ta
Đi về nẻo chết.

Bài kệ 6

Thiên bách phi nhất                       千  百  非  一
Tộc tính nam nữ                             族  姓  男  女
Trữ tụ tài sản                                貯  聚  財  產
Vô bất suy tang                              無  不  衰  喪
Bất cứ ai, bất cứ là nam hay là nữ, bất cứ thuộc dòng họ nào, trăm ngàn như một, dù có chất chứa tài sản nhiều cách mấy cũng không ai thoát khỏi sự suy tàn.

Trăm họ như một
Dù nam hay nữ
Tích tụ tài sản
Sao khỏi suy tàn.

Bài kệ 7

Sanh giả nhật dạ                            生  者  日  夜
Mạng tự công tước                        命  自  攻  削
Thọ chi tiêu tận                              壽  之  消  盡
Như huỳnh xuyên thủy                     如  熒  穿  水
Mỗi ngày mỗi đêm, sinh mạng tự giảm xuống, tuổi thọ cứ tiêu hao dần dần cho đến hết, như nước cạn trong hồ.

Mỗi ngày mỗi đêm
Sinh mạng tự giảm
Tuổi thọ tiêu dần
Như nuớc trong hồ.

Bài kệ 8

Thường giả giai tận                         常  者  皆  盡
Cao giả diệc đọa                            高  者  亦  墮
Hợp hội hữu  ly                              合  會  有  離
Sanh giả hữu tử                             生  者  有  死

Cái còn dù có dài lâu cách mấy cuối cùng cũng phải trở thành cái hết, cái cao trở thành cái thấp, cái phối hợp đi tới cái ly tan, cái sinh đưa tới cái tử.

Dài lâu cũng hết
Cao trở thành thấp
Phối hợp sẽ tan
Sinh rồi cũng chết.

Bài kệ 9

Chúng sanh tướng khắc                 眾  生  相  剋
Dĩ tang kỳ mạng                            以  喪  其  命
Tùy hành sở đọa                            隨  行  所  墮
Tự thọ ương phước                       自  受  殃  福
Các loài chúng sanh thường xung đột với nhau, do đó mà mạng sống bị tan vỡ, tùy theo hành động của mình mà bị sa đọa hoặc nhận chịu tai ương hoặc thừa hưởng phúc báo.

Chúng sinh xung đột
Mạng sống vỡ tan
Sa đọa tai ương
Phúc báo do mình.

Bài kệ 10

Lão kiến khổ thống                         老  見  苦  痛
Tử tức ý khứ                                  死  則  意  去
Lạc gia phược ngục                      樂  家  縛  獄
Tham thế bất đoạn                         貪  世  不  
Tuổi già phải gánh chịu đau nhức, khi chết, trước khi tâm thức lìa bỏ thân xác thì lại bị sự tham tiếc gia đình ràng buộc như nơi chốn tù ngục, như vậy thì không thể chấm dứt được luân hồi trong thế gian.

Tuổi già đau nhức
Tâm thức lìa thân
Lúc chết tham tiếc
Gia đình vây hãm
Lìa thế được sao.

Bài kệ 11

Đốt ta lão chí                                 咄  嗟  老  至
Sắc biến tác mạo                           色  變  作  耄
Thiểu thời như ý                             少  時  如  意
Lão kiến đạo tạ                              老  見  蹈  藉
Thương biết bao nhiêu! Khi tuổi già đến, nhan sắc biến đổi, suy tàn, ít có điều như ý, tuổi già chỉ thấy dẫm chân tại chỗ.

Thương thay tuổi già
Nhan sắc suy tàn
Ít điều vừa ý
Giẫm chân tại chỗ.

Bài kệ 12

Tuy thọ bách tuế                             雖  壽  百  歲
Diệc tử quá khứ                             亦  死  過  去
Vi lão sở yếm                                為  老  所  厭
Bệnh điều chí tế                             病  條  至  際
Dù có sống tới một trăm tuổi rồi cũng phải chết, tuổi già hay trở nên ngán ngẩm, bệnh tật liên miên cho đến hết đời.

Dù sống trăm tuổi
Rồi cũng phải chết
Tuổi già ngán ngẫm
Bệnh tật liên miên.

Bài kệ 13

Thị nhật dĩ quá                              是  日  已  過
Mạng tức tùy giảm                        命  則  隨  減
Như thiểu thủy ngư                        如  少  水  魚
Tư hữu hà lạc                               斯  有  何  樂
Ngày hôm nay đã qua, mạng sống theo đó mà rút ngắn lại, tình trạng giống tình trạng con cá thiếu nước, còn có cái vui gì?

Mỗi ngày qua đi
Mạng sống ngắn lại
Như cá thiếu nuớc
Có gì vui đâu.

Bài kệ 14

Lão tắc sắc suy                               老  則  色  衰
Sở bệnh tự hoại                               所  病  自  壞
Hình bại hủ hủ                                  形  敗  腐  朽
Mạng chung tự nhiên                        命  終  自  然
Tuổi già thì nhan sắc tàn phai, bệnh tật hủy hoại cơ thể, hình hài suy yếu hư nát, tất nhiên phải chết.

Tuổi già sắc phai
Bệnh tật hủy hoại
Hình hài hư nát
Tất nhiên phải chết.

Bài kệ 15

Thị thân hà dụng                           是  身  何  用
Hằng lậu xú xứ                             恒  漏  臭  處
Vi bệnh sở khốn                           為  病  所  困
Hữu lão tử hoạn                           有  老  死  患
Thân này cần được sử dụng như thế nào? Từ đó chảy ra những chất bất tịnh, bị bệnh tật đưa vào tình trạng khốn đốn. Cái nạn già và chết luôn luôn có đó.

Thân này là gì
Bao hôi hám chảy
Bệnh tật vây quanh
Già chết tất đến.

Bài kệ 16

Thị dục tự tứ                                  嗜  欲  自  恣
Phi pháp thị tăng                            非  法  是  增
Bất kiến văn biến                           不  見  聞  變
Thọ mạng vô thường                      壽  命  無  常
Cứ mặc ý phóng túng trong vòng tham dục thì những điều trái với đạo lý càng ngày càng dồn chứa thêm. Chưa từng thấy cái nghe về sự vô thường biến thiên của vạn pháp cho nên người ta không biết là thọ mạng cũng vô thường.

Phóng túng tham dục
Sai trái càng tăng
Sao không nghe thấy
Mạng sống vồ thường.

Bài kệ 17

Phi hữu tử thị                                非  有  子  恃
Diệc phi phụ huynh                       亦  非  父  兄
Vi tử sở bách                                為  死  所  迫
Vô thân khả hỗ                              無  親  可  怙
Dù có con cháu, dù có cha anh ở đấy đi nữa thì khi thần chết đến mời, không người thân nào có thể nương tựa giúp giữ  mình ở lại.

Dù có con cháu
Cha anh vây quanh
Khi thần chết đến
Không ai giúp được.

Bài kệ 18

Trú dạ mạn nọa                            晝  夜  慢  惰
Lão bất chỉ dâm                             老  不  止  婬
Hữu tài bất thí                               有  財  不  施
Bất thọ Phật ngôn                          不  受  佛  言
Hữu thử tứ tệ                               有  此  四  弊
Vi tự xâm khi                                 為  自  侵  欺
Đêm ngày kiêu mạn, lười biếng, cho đến già rồi vẫn còn giữ thói dâm dật, có của mà không chịu chia sẻ cho kẻ thiếu thốn, chẳng biết vâng làm theo lời Bụt dạy, chính những cái thói xấu ác này sẽ làm hại chính mình.

Đêm ngày kiêu ngạo,
Lười biếng dâm dật
Có của không chia
Không vâng lời Bụt
Bốn điều xấu này
Làm hại chính mình.

 Bài kệ 19

Phi không phi hải trung                非  空  非  海  中
Phi nhập sơn thạch gian              非  入  山  石  間
Vô hữu địa phương sở                無  有  地  方  所
Thoát chi bất thọ tử                     脫  之  不  受  死
 Dù có đi trốn tới một địa phương nào đi nữa, trên không trung, dưới đáy biển hay trong hốc núi cũng không thể nào thoát được cái chết.

Dù trốn ở đâu
Đáy biển, hốc núi
Không một nơi nà
Giúp thoát cái chết.

Bài kệ 20

Thị vụ thị ngô tác                          是  務  是  吾  作
Đương tác lệnh trí thị                   當  作  令  致  是
Nhân vi thử táo nhiễu                   人  為  此  燥  擾
Lý tiễn lão tử ưu                        履  踐  老  死  憂

Sự việc xảy ra như đã xảy ra trong hiện tại, là do tự ta gây ra, sự việc sẽ xảy ra trong tương lai cũng thế, là do tự ta cả. Con người lâm vào tình trạng nhiễu loạn thảm thương như thế cho nên cứ phải mãi mãi đi tới với nỗi lo âu về cái già và cái chết.

Sự việc hôm nay
Do ta gây ra
Ngày mai cũng thế
Đời người nhiễu loạn
Mãi lo già chết.

Bài kệ 21

Tri thử năng tự tịnh                       知  此  能  自  淨
Như thị kiến sanh tận                    如  是  見  生  盡
Tỳ-kheo yếm ma binh                    比  丘  厭  魔  兵
Tùng sanh tử đắc độ                     從  生  死  得  度
Biết được như thế ta phải cương quyết tự thanh tịnh hóa thân tâm và làm khô cạn chất liệu luân hồi. Vị khất sĩ làm được như vậy mới mong thoát được vòng vây của binh đội ma vương và vượt thoát được lưới sinh tử.

Nên tự thanh tịnh
Khô dòng luân hồi
Đẩy lùi ma vương
Thoát lưới sinh tử.










 

Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 113582)
Khóa tu lần này được sự quang lâm chứng minh của Hòa Thượng Thích Minh Hồi - Viện chủ Như Lai Thiền Tự và dưới sự hướng dẫn của Sư Giác Minh Luật cùng quý Đại Đức Giảng sư trẻ như: ĐĐ. Thích Châu Đạt, Thích Đạt Tín, Thích Vui Mừng, Thích Bắt Hải, Ven. Guan Zhen... cũng đồng trở về chứng minh, tiếp sức và hướng dẫn Giáo thọ cho khóa tu học.
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận. Đối với Phật tử, tinh thần thượng võ đã nằm sẵn trong năm giới, vì nếu không thượng võ, có nghĩa là đi trộm hào quang của đấu thủ khác, của đội tuyển khác, của quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu giữ được thượng võ mà thiếu vắng từ bi, cũng không đúng Chánh pháp. Bởi vì từ bi do vì muôn dân mà làm, chứ không vì kiêu mạn.
Đó là danh hiệu đồng đội tặng cho Anh mỗi khi tập trung cùng Đội Tuyển Quốc Gia Ý thi đấu quốc tế ,đặc biệt ở những kỳ World Cup ,và Anh thường được tín nhiệm giao đeo băng đội trưởng .