Kinh Mở Rộng Tầm Hiểu Biết

12/06/20143:33 CH(Xem: 2573)
Kinh Mở Rộng Tầm Hiểu Biết

KINH PHÁP CÚ HÁN TẠNG
Thích Nhất Hạnh Việt dịch
Thể kệ: Nguyên Định (chữ xanh đậm)

Kinh Mở Rộng Tầm Hiểu Biết

Người mù nhờ cái học mà có con mắt, cái học giúp cho ta dẫn đường được cho thế gian, như những người có mắt dẫn đường được cho những người không có mắt.

Đa Văn Phẩm Pháp Cú Kinh  đệ tam
多聞品法句經第三十
Kinh Mở Rộng Tầm Hiểu Biết
Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng
 
Phẩm thứ 3

Phẩm này có 19 bài kệ, nối tiếp chủ đề học hỏithực tập của phẩm trước và nhấn mạnh đến cái cần thiết của sự học hỏi. Tu thì phải học. Học hỏi đem tới ánh sáng của trí tuệ, có thể giải phóng cho ta ra khỏi lo lắngu mê (bài kệ thứ 17). Bài thứ 19 nói rõ: phải quyết tâm buông bỏ cái si ám, cái kiêu mạn và cái thích thú muốn làm giàu. Tư lương của ta phải là trí tuệ, sự nghiệp của ta là tuệ giác, không phải là cơ sở và tiền bạc. Đây là tuệ giác ‘‘Duy tuệ thị nghiệp’’ của kinh Bát Đại Nhân Giác.

Bài kệ 1

Đa văn năng trì cố                         多  聞  能  持  固

Phụng pháp vi viên tường            奉  法  為  垣  牆

Tinh tấn nan du hủy                      精  進  難  踰  毀

Tùng thị giới tuệ thành                  從  是  戒  慧  成

 Bền chí trong sự học hỏi thì có thể xây dựng được một bức tường thành vững chãi để phụng trì Phật pháp. Có được sự siêng năng ấy thì những vi phạm giới luật sẽ không xen vào được, và do đó mình thành tựu được giới và tuệ.

Bền chí học hỏi

Xây bức tường thành

Phụng trì Phật pháp

Siêng năng giữ giới

Thành tựu giới tuệ.

 

Bài kệ 2

Đa văn lệnh chí minh                    多  聞  令  志  明

minh trí tuệ tăng                        已  明  智  慧  增

Trí tắc bác giải nghĩa                      智  則  博  解  義

Kiến nghĩa hành pháp an              見  義  行  法  安

 Học rộng thì tâm trí khai minh. Tâm trí khai minh thì tuệ giác tăng trưởng. Có trí tuệ thì sự học hỏi nghĩa lý sẽ trở nên rộng rãi. Hiểu được giáo nghĩa thì sự thực tập giáo pháp sẽ đi đúng con đường và mang tới bình an.

Học rộng tâm khai

Tuệ giác tăng trưởng

Nghĩa lý rộng mở

Đi đúng con đường

Mang tới bình an.

 

Bài kệ 3

Đa văn năng trừ ưu                      多  聞  能  除  憂

Năng dĩ định vi hoan                     能  以  定  為  歡   

Thiện thuyết cam lộ pháp              善  說  甘  露  法

Tự trí đắc nê hoàn                       自  致  得  泥  洹

 Học rộng có thể giúp ta diệt trừ được lo lắng, sống hoan lạc trong định, thuyết giảng pháp cam lộ và tới được Niết Bàn.

Học rộng hết lo

Hân hoan nhập định

Thuyết giảng cam lộ

Tới được Niết bàn.

 

Bài kệ 4

Văn vi tri pháp luật                        聞  為  知  法  律

Giải nghi diệc kiến chánh              解  疑  亦  見  正

Tùng văn xả phi pháp                   從  聞  捨  非  法

Hành đáo bất tử xứ                      行  到  不  死  處

 Nhờ học mà biết rõ được giáo phápluật nghi, giải trừ được nghi ngờ, đạt tới chánh kiến, nhờ học mà bỏ được những điều phi pháp và biết cách hành trì để đi tới cõi bất tử.

Học rộng nắm rõ

Giáo pháp giới luật

Giải trừ nghi ngờ

Đạt tới chánh kiến

Bỏ điều phi pháp

Biết cách hành trì

Tới cõi bất tử.

 

Bài kệ 5

Vi năng sư hiện đạo                       為  能  師  現  道

Giải nghi lệnh học minh                  解  疑  令  學  明

Diệc hưng thanh tịnh bổn               亦  興  清  淨  本

Năng phụng trì pháp tạng              能  奉  持  法  藏

 Nhờ học mà làm được bậc thầy, thấy được đạo, hóa giải được nghi ngờ, làm cho tam học sáng chói. Cái học làm cho gốc rễ thanh tịnh được hưng khởi và giúp ta phụng trì được kho tàng chánh pháp.

Học được làm thầy

Thấy rõ con đường

Hóa giải nghi ngờ

Ba học sáng chói

Thanh tịnh gốc rễ

Phụng trì chánh pháp.

 

Bài kệ 6

Năng nhiếp vi giải nghĩa                 能  攝  為  解  義

Giải tắc nghĩa bất xuyên               解  則  義  不  穿

Thọ pháppháp giả                      受  法  猗  法  者

Tùng thị tật đắc an                         從  是  疾  得  安

 Nhờ có khả năng tập hợp kiến thức nên có thể giải bày được nghĩa lý của giáo pháp. Giải bày được thì nghĩa lý ấy không bị xuyên tạc, nhờ thế mà những người đang học hỏi giáo pháp với mình mau đạt tới chỗ an lạc.

Tập hợp kiến thức

Giải bày giáo lý

Tránh bị xuyên tạc

Giúp đạt an lạc.

 

Bài kệ 7

Nhược đa thiểu hữu văn                 若  多  少  有  聞

Tự đại dĩ kiêu nhân                        自  大  以  憍  人

Thị như manh chấp chúc                 是  如  盲  執  燭

Chiếu bỉ bất tự minh                   照  彼  不  自  明

 Có những kẻ vừa thu lượm được một mớ kiến thức mà đã tự kiêu tự đại. Họ cũng giống như người mù cầm đuốc, đuốc soi cho người khác nhưng chính mình lại không thấy đường.

Một mớ kiến thức

Tự kiêu tự đại

Như mù cầm đưốc

Soi cho người khác

Mình không thấy đường.

 

Bài kệ 8

Phu cầu tước vị tài                        夫  求  爵  位  財

Tôn quý thăng thiên phước            尊  貴  升  天  福

Biện tuệ thế gian hãn                     辯  慧  世  間  悍

Tư văn vi đệ nhất                         斯  聞  為  第  一

 Ở đời, nhờ sức học mà người ta tìm cầu được chức tước, địa vị, sự giàu sang, sự tôn kính của kẻ khác và cả những phúc đức được siêu sinh lên cõi trời. Bởi vì cái học hỏi có khả năng đưa tới trí huệ, biện tàithế lực trong nhân gian.

Học cho chức tước

Địa vị giàu sang

Tôn kính phúc đức

Sinh lên cõi trời;

Học cho trí huệ

Biện tài, thế lực.

 

Bài kệ 9

Đế vương sính lễ văn                     帝  王  聘  禮  聞

Thiên thượng thiên diệc nhiên         天  上  天  亦  然

Văn vi đệ nhất tạng                       聞  為  第  一  藏

Tối phú lữ lực cường                   最  富  旅  力  強

Chính vua chúa cũng kính trọng người học rộng, chư thiêncõi trời cũng thế. Kiến thức là kho tàng quý giá bậc nhất. Đó là một kho tàng, một sức mạnh.

Vua kính người học

Chư thiên cũng thế

Kiến thức quý nhất

Kho báu sức mạnh.

 

Bài kệ 10

Trí giả vi văn khuất                         智  者  為  聞  屈

Hảo đạo giả diệc lạc                       好  道  者  亦  樂

Vương giả tận tâm sự                    王  者  盡  心  事

Tuy Thích Phạm diệc nhiên             雖  釋  梵  亦  然

 Các bậc trí giả cũng kính nể người có học. Kẻ mến đạo cũng ưa thích người có học. Các bậc vương giả cũng hết lòng giúp đỡ kẻ có học. Những bậc Thích tửPhạm Chí cũng thế.

Trí giả kính học

Mến đạo cũng ưa

Vương giả giúp đỡ

Thích Phạm cũng thế.

 

Bài kệ 11

Tiên nhân thường kính văn             仙  人  常  敬  聞

Huống quý cự phú nhân                  況  貴  巨  富  人

Thị dĩ tuệ vi quý                             是  以  慧  為  貴

Khả lễ vô quá thị                            可  禮  無  過  是

 Cả hai giới thiên và nhân đều kính nể người có học huống là giới cự phú. Do đó ta biết kiến thức là cái quý giá và cung kính người có học không phải là một cái gì quá đáng.

Trời người cự phú

Kính người có học

Kiến thức quý giá

Không gì quá đáng.

 

Bài kệ 12

Sự nhật vi minh cố                         事  日  為  明  故

Sự phụ vi ân cố                             事  父  為  恩  故

Sự quân dĩ lực cố                          事  君  以  力  故

Văn cố sự đạo nhân                      聞  故  事  道  人

 Thờ mặt trời tại vì mặt trời cho ánh sáng, thờ vua vì vua có quyền lực, thờ cha vì cha có ân sinh thànhnuôi dưỡng, quy kính bậc đạo nhân vì bậc đạo nhân có học.

Tôn thờ mặt trời

Vì cho ánh sáng

Thờ vua quyền lực

Thờ cha ân sinh

Quy kính đạo nhân

Vì người có học.

 

Bài kệ 13

Nhân vi mạng sự y                         人  為  命  事  醫

Dục thắng y hào cường                  欲  勝  依  豪  強

Pháp tại trí tuệ xứ                          法  在  智  慧  處

Phước hạnh thế thế minh                 福  行  世  世  明

 Vì mạng sống mà người ta phải cầu khẩn lương y, vì muốn thắng cho nên người ta phải dựa vào kẻ mạnh, giáo pháp có mặt nơi nào tuệ giác có mặt, nhờ thế mà phước đức đời đời chiếu sáng.

Vì giữ mạng sống

Cầu khẩn lương y

Vì muốn thắng lợi

Dựa vào kẻ mạnh;

Giáo pháp có mặt

Tuệ giác có mặt

Phước đức chiếu đời.

 

Bài kệ 14

Sát hữu tại vi mưu                         察  友  在  為  謀

Biệt bạn tại cấp thời                      別  伴  在  急  時

Quán thê tại phòng lạc                  觀  妻  在  房  樂

Dục tri trí tại thuyết                      欲  知  智  在  說

 Tìm hiểu bằng hữu bằng cách nhận diện mưu trí của họ, phân biệt được bạn hay thù là nhờ ở những lúc nguy cấp, xem mặt vợ tương lai là ở những lúc đang xảy ra sự vui chơi, biết được ai là kẻ trí là do khi nghe họ nói.

Tìm hiểu bằng hữu

Nhận diện mưu trí

Phân biệt bạn thù

Những lúc nguy cấp

Xem vợ tương lai

Lúc đang vui chơi

Biết được kẻ trí

Khi nghe họ nói.

 

Bài kệ 15

Văn vi kim thế lợi                           聞  為  今  世  利

Thê tử côn đệ hữu                         妻  子  昆  弟  友

Diệc trí hậu thế phước                   亦  致  後  世  福

Tích văn thành thánh trí                 積  聞  成  聖  智

 Học hỏi là có lợi ích cho kiếp sống hiện tại, nhờ đó mà tìm được vợ hiền, có được con khôn, anh em và bè bạn tốt. Học hỏi cũng để lại phước đức cho đời sau. Nhờ học hỏi liên tục mà người ta đạt tới thánh trí.

Học hỏi đem lợi

Vợ hiền con khôn

Anh em bạn bè

Lưu phước đời sau

Học đạt thánh trí.

 

Bài kệ 16

Thị năng tán ưu khuể                    是  能  散  憂  恚

Diệc trừ bất tường suy                   亦  除  不  祥  衰

Dục đắc an ổn cát                          欲  得  安  隱  吉

Đương sự đa văn giả                     當  事  多  聞  者

 Nếu muốn vượt lo lắnghoạn nạn, nếu muốn tránh những điều rủi ro, suy nhược, nếu muốn được an lànhmay mắn thì phải biết thân cận người có học.

Muốn vượt lo lắng

Rủi ro suy nhược

An lành may mắn

Nên gần người tu.

 

Bài kệ 17

 

Chước sang vô quá ưu                   斫  創  無  過  憂

Xạ tiễn vô quá ngu                         射  箭  無  過  愚

Thị tráng mạc năng bạt                  是  壯  莫  能  拔

Duy tùng đa văn trừ                     唯  從  多  聞  除

 Không có thương tích nào đau nhức bằng sự lo lắng, không có mũi tên nào cắm sâu bằng cái u mê. Nếu khôngsức mạnh của kiến thức học hỏi thì không thể nhổ được những cái ấy ra khỏi cơ thể.

Không đau thương nào

Bằng sự lo lắng

Không mũi tên nào

Cắm sâu như mê;

Không nhờ kiến thức

Sao thoát ra được.

 

Bài kệ 18

Manh tùng thị đắc nhãn                盲  從  是  得  眼

Ám giả tùng đắc chúc                 闇  者  從  得  燭

Diệc đạo thế gian nhân                 亦  導  世  間  人

Như mục tương vô mục               如  目  將  無  目

 Người mù nhờ cái học mà có con mắt, sự tối ám nhờ cái học mà có ngọn đuốc, cái học giúp cho ta dẫn đường được cho thế gian như người có mắt đưa đường được cho những người không có mắt.

Người mù nhờ học

Mà có con mắt

Người tối nhờ học

Mà có ngọn đuốc

Cái học dẫn đường

Như người mắt sáng.

 

Bài kệ 19

Thị cố khả xả si                            是  故  可  捨  癡

Ly mạn hào phú lạc                     離  慢  豪  富  樂

Vụ học sự văn giả                        務  學  事  聞  者

Thị danh tích tụ đức                      是  名  積  聚  德

 Vì vậy cho nên ta phải quyết tâm buông bỏ cái si ám, cái kiêu mạn và cái thích thú muốn làm giàu, hết lòng học hỏi và thân cận các bậc tri thức. Đây mới thật là công việc tu nhân tích đức.

Buông bỏ si mê

Kiêu mạn thích giàu

Hết lòng học hỏi

Thân cận người trí

Tu nhân tích đức.











Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 113591)
Trước hiểm họa mất nước mà nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chuẩn bị Dự luật thành lập ba đặc khu kinh tế:Vân Đồn-Quảng Ninh, Bắc Vân Phong-Khánh Hòa, Phú Quốc-Kiên Giang, thời hạn cho thuê đất có thể lên đến 99 năm như một sự đổ bộ của Trung Quốc với mục tiêu mở rộng ảnh hưởng và bành trướng chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Bắc Kinh,
Khóa tu lần này được sự quang lâm chứng minh của Hòa Thượng Thích Minh Hồi - Viện chủ Như Lai Thiền Tự và dưới sự hướng dẫn của Sư Giác Minh Luật cùng quý Đại Đức Giảng sư trẻ như: ĐĐ. Thích Châu Đạt, Thích Đạt Tín, Thích Vui Mừng, Thích Bắt Hải, Ven. Guan Zhen... cũng đồng trở về chứng minh, tiếp sức và hướng dẫn Giáo thọ cho khóa tu học.
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận. Đối với Phật tử, tinh thần thượng võ đã nằm sẵn trong năm giới, vì nếu không thượng võ, có nghĩa là đi trộm hào quang của đấu thủ khác, của đội tuyển khác, của quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu giữ được thượng võ mà thiếu vắng từ bi, cũng không đúng Chánh pháp. Bởi vì từ bi do vì muôn dân mà làm, chứ không vì kiêu mạn.