Kinh Đối Chiếu

12/06/20144:01 CH(Xem: 2218)
Kinh Đối Chiếu
KINH PHÁP CÚ HÁN TẠNG
Thích Nhất Hạnh Việt dịch
Thể kệ: Nguyên Định (chữ xanh đậm)

Kinh Đối Chiếu

Không cần chê trách kẻ khác, chỉ biết tu tỉnh lại thân tâm mình, ai biết được pháp hành xử này thì viễn viễn sẽ không còn tai họa.

 

Song  Yếu Phẩm  Pháp Cú Kinh đệ cửu
雙要品法句經第九二十有二章

Kinh Đối Chiếu
Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Phẩm thứ 9

 

Phẩm này có 22 bài kệ. Bên phía tiếng Pali thì chỉ có 20 bài. Bắt đầu từ phẩm này ta có thể tham chiếu với kinh Pháp Cú tiếng Pali. Đối chiếu ở đây có nghĩa là so sánh các nghiệp thân, khẩu và ý về hai phía thiện ác. Cái thiện đưa tới cái tốt lành, cái ác đưa tới cái xấu xa.

Bốn bài kệ đầu nói về vai trò lãnh đạo của tâm ý. Hành động và lời nói bao giờ cũng đi theo tư duy. Cho nên, chánh tư duythực tập căn bản. Hai bài kệ trước nói về tâm. Hai bài sau nói về ý. Hai bài sau (bài 3 và 4, không có trong bản Pali – các bài 13 và 14 cũng nói về ý). Hình ảnh mái nhà bị dột, bị nước mưa lọt vào ví dụ cho tâm ý không được nhiếp phục, để cho các hành vi phóng đãng lọt vào, là một hình ảnh rất thực.

Hai bài kệ thứ 15 và 16 nói đến sự gần gũi người hiền; gần kẻ ngu phu thì lây thói mê lầm và làm điều sai trái. Hai bài kệ này cũng thiếu trong văn bản Pali.

 

Bài kệ 1

Tâm vi pháp bản                            心  為  法  本

Tâm tôn tâm sử                              心  尊  心  使

Trung tâm niệm ác                         中  心  念  惡

Tức ngôn tức hành                         即  言  即  行

Tội khổ tự truy                                罪  苦  自  追

Xa lịch vu triệt                                車  轢  于  轍

 Tâm là gốc các pháp, tâm làm chủ, tâm sai sử. Nếu tâm nghĩ ác thì lời nói và hành động làm theo, tội ác và khổ đau tự khắc đi theo sau đó như bánh xe lăn trên đường tạo thành vệt bánh xe.

Tâm gốc các pháp

Tâm chủ sai sử

Nếu tâm nghĩ ác

Nói làm đi theo

Tội ác khổ đau

Tự khắc đi theo

Như bánh xe lăn

Trên vết bánh xe.

 

 

Bài kệ 2

Tâm vi pháp bản                            心  為  法  本

Tâm tôn tâm sử                              心  尊  心  使

Trung tâm niệm thiện                     中  心  念  善

Tức ngôn tức hành                         即  言  即  行

Phước lạc tự truy                           福  樂  自  追

Như ảnh tùy hình                          如  影  隨  形

 Tâm là gốc các pháp, tâm làm chủ, tâm sai sử. Nếu tâm nghĩ thiện thì lời nói và hành động làm theo, phước lạc tự khắc đi theo như bóng đi theo hình.

Tâm gốc các pháp

Tâm chủ sai sử

Nếu tâm nghĩ thiện

Nói làm đi theo

Phước lạc tự theo

Như bóng theo hình.

 

 

Bài kệ 3

Tùy loạn ý hành                             隨  亂  意  行

Câu ngu nhập minh                       拘  愚  入  冥

Tự đại vô pháp                             自  大  無  法

Hà giải thiện ngôn                          何  解  善  言

 Ý đi theo đường loạn, xui người u mê đi vào chỗ tối. Tự tôn tự đại không có phép tắc gì, thì làm sao mà hiểu, làm sao mà nói được lời lành?

Ý theo đường loạn

Xui người u mê

Đi vào chỗ tối;

Tự tôn tự đại

Làm sao mà hiểu

Nói được lời lành.

 

 

Bài kệ 4

Tùy chánh ý hành                          隨  正  意  行

Khai giải thanh minh                     開  解  清  明

Bất vi đố tật                                 不  為  妬  嫉

Mẫn đạt thiện ngôn                        敏  達  善  言

 

Ý đi theo đường chính, thì sẽ có khả năng khai mở đi vào nơi trong sáng. Không còn tật đố, có khả năng nói được lời lành.

Ý theo đường chính

Khai mở trong sáng

Không còn tật đố

Nói được lời lành.

 

 

Bài kệ 5

Uấn ư oán giả                                慍  於  怨  者

Vị thường vô oán                           未  嘗  無  怨

Bất uấn tự trừ                                不  慍  自  除

Thị đạo khả tông                            是  道  可  宗

 Đối với người đang oán hận mình, biết sử dụng cái không hận thù, không oán giận mới có thể diệt trừ được cái hận thù, cái oán giận. Đó là con đường đạo, đáng làm tông chỉ cho mọi hành động.

Người đang oán hận

Dùng không hận thù

Dùng không oán giận

Diệt trừ hận thù

con đường đạo

Tông chỉ hành động.

 

 

 

Bài kệ 6

Bất hảo trách bỉ                              不  好  責  彼

Vụ tự tỉnh thân                               務  自  省  身

Như hữu tri thử                              如  有  知  此

Vĩnh diệt vô hoạn                         永  滅  無  患

 Không cần chê trách kẻ khác, chỉ biết tu tỉnh lại thân phận mình, ai biết được phép hành xử này thì vĩnh viễn sẽ không còn tai họa.

Không chê trách người

Tu tỉnh thân mình

Theo hành xử này

Tai họa không đến.

 

 

Bài kệ 7

Hành kiến thân tịnh                        行  見  身  淨

Bất nhiếp chư căn                         不  攝  諸  根

Ẩm thực bất tiết                             飲  食  不  節

Mạn đọa khiếp nhược                    慢  墮  怯  弱

Vi tà sở chế                                  為  邪  所  制

Như phong mị thảo                        如  風  靡  草

 Kẻ nào không thấy được thân là bất tịnh, không thu nhiếp được các căn, ăn uống không chừng mực, kiêu mạn, đọa lạc, khiếp nhược, kẻ ấy sẽ bị cái tà chế ngự như gió thổi làm cho cỏ nằm rạp xuống.

Kẻ không thấy được

Thân là bất tịnh

Không thu nhiếp căn

Ăn uống quá mức

Kiêu mạn đọa lạc

Thái độ khiếp nhược:

Kẻ ấy bị tà

Chế ngự như gió

Thổi cỏ nằm rạp.

 

 

Bài kệ 8

Quán thân bất tịnh                         觀  身  不  淨

Năng nhiếp chư căn                       能  攝  諸  根

Thực tri tiết độ                              食  知  節  度

Thường lạc tinh tấn                       常  樂  精  進

Bất vi tà động                               不  為  邪  動

Như phong đại sơn                        如  風  大  山

 Kẻ nào quán được thân là bất tịnh, có khả năng thu nhiếp được các căn, ăn uống biết chừng mực, thường có hạnh phúc trong sự tinh tiến tu học, kẻ ấy sẽ không bị cái tà lay chuyển, như ngọn núi cao không bị gió làm cho lay động.

Quán thân bất tịnh

Thu nhiếp các căn

Ăn uống điều độ

Thường có hạnh phúc

Tinh tấn tu học

Kẻ ấy không bị

Tà lay chuyển như

Núi cao không bị

Gió làm lay động.

 

 

Bài kệ  9

Bất thổ độc thái                              不  吐  毒  態

Dục tâm trì sính                              欲  心  馳  騁

Vị năng tự điều                               未  能  自  調

Bất ưng Pháp y                               不  應  法  衣

 Kẻ nào không lấy ra khỏi tự thân những chất độc hại, lòng dục còn rong ruổi, chưa có khả năng điều phục được tự thân thì kẻ ấy không xứng đáng được khoác lên chiếc áo pháp.

Không lấy chất độc

Ra khỏi tự thân

Lòng dục rong ruổi

Không điều phục thân

Không xứng cà sa.

 

 

 

Bài kệ 10

Năng thổ độc thái                         能  吐  毒  態

Giới ý an tĩnh                                戒  意  安  靜

Hàng tâm dĩ điều                           降  心  已  調

Thử ưng Pháp y                             此  應  法  衣

 Kẻ nào lấy ra được khỏi tự thân những chất độc hại, giữ giới luật và tâm ý thanh tịnh, an ổn, hành phục được tâm mình và chế ngự được thân mình, kẻ ấy xứng đáng được khoác lên chiếc áo pháp.

Lấy độc khỏi thân

Giữ gìn giới luật

Tâm ý thanh tịnh

Làm chủ thân tâm

Xứng mặc cà sa.

 

 

Bài kệ 11

Dĩ chân vi ngụy                              以  真  為  偽

Dĩ ngụy vi chân                              以  偽  為  真

Thị vi tà kế                                     是  為  邪  計

Bất đắc chân lợi                             不  得  真  利

 Cho chân là ngụy, cho ngụy là chân, đó là kẻ đi theo tà tư duy, không bao giờ đạt tới lợi ích chân thực.

Cho chân là ngụy

Cho ngụy là chân

Theo tà tư duy

Không bao giờ đạt

Lợi ích chân thực.

 

 

Bài kệ 12

Tri chân vi chân                             知  真  為  真

Kiến ngụy tri ngụy                         見  偽  知  偽

Thị vi chánh kế                              是  為  正  計

Tất đắc chân lợi                           必  得  真  利

 Biết chân là chân, thấy ngụy là ngụy, đó là kẻ đi theo chánh tư duy, chắc chắn sẽ đạt tới lợi ích chân thực.

Biết chân là chân

Thấy ngụy là ngụy

Theo chánh tư duy

Đắc lợi chân thực.

 

Bài kệ 13

Cái ốc bất mật                                蓋  屋  不  密

Thiên vũ tắc lậu                              天  雨  則  漏

Ý bất duy hành                               意  不  惟  行

Dâm dật vi xuyên                            淫  泆  為  穿

 Mái lá không kín, nước mưa lọt vào, nếu không nhiếp phục tâm ý để hành trì thì những hành vi phóng đãng sẽ lọt vào được.

Mái lá không kín

Nước mưa lọt vào

Không nhiếp tâm ý

Phóng đãng lọt vào.

 

Bài kệ 14

Cái ốc thiện mật                             蓋  屋  善  密

Vũ tắc bất lậu                                 雨  則  不  漏

Nhiếp ý duy hành                            攝  意  惟  行

Dâm dật bất sanh                           淫  泆  不  生

 Mái lá lành kín, mưa không lọt vào, nếu biết nhiếp phục tâm ý để hành trì thì những hành vi phóng đãng sẽ không phát sinh.

Mái lá lành kín

Mưa không lọt vào

Nhiếp phục tâm ý

Phóng đãng không sinh.

 

Bài kệ 15

Bỉ phu nhiễm nhân                           鄙  夫  染  人

Như cận xú vật                              如  近  臭  物

Tiệm mê tập phi                              漸  迷  習  非

Bất giác thành ác                            不  覺  成  惡

 Thân cận với những người hủ lậu, thô bỉ thì sẽ bị ảnh hưởng xấu như ngồi gần vật thối bị lây mùi hôi, sẽ từ từ đi vào mê lầm và học thói quen sai trái.

Thân cận hủ lậu

Bị ảnh hưởng xấu

Như gần vật thối

Bị lây mùi hôi

Đi vào mê lầm

Quen thói sai trái.

 

 

 

Bài kệ 16

Hiền phu nhiễm nhân                    賢  夫  染  人

Như cận hương huân                    如  近  香  熏

Tiến trí tập thiện                            進  智  習  善

Hành thành  khiết phương               行  成  潔  芳

 Thân cận những bậc hiền giả thì được ảnh hưởng tốt, như gần hương hoa được thấm mùi thơm, trí tuệ tăng trưởng, học được thói lành, công hạnh sẽ tinh khiết và thơm tho.

Thân cận người hiền

Được ảnh hưởng tốt

Như gần hương hoa

Thẩm mùi thơm tho

Trí tuệ tăng trưởng

Học được thói lành

Công hạnh tinh khiết.

 

 

Bài kệ 17

Tạo ưu hậu ưu                              造  憂  後  憂

Hành ác lưỡng ưu                          行  惡  兩  憂

Bỉ ưu duy cụ                                彼  憂  惟  懼

Kiến tội tâm cụ                             見  罪  心  懼

 Tạo ưu phiền đưa tới ưu phiền, làm điều ác đức lại khiến cho lo buồn tăng gấp đôi. Sau cái lo buồn lại còn có cái sợ hãi, thấy mình gây tội thì tâm mình lo sợ.

Tạo ưu phiền sẽ

Đưa tới ưu phiền

Làm điều ác đức

Lo buồn gấp đôi

Còn thêm sợ hãi

Thấy mình gây tội

Tâm mình đâm lo.

 

 

Bài kệ 18

Tạo hỉ hậu hỉ                                 造  喜  後  喜

Hành thiện lưỡng hỉ                       行  善  兩  喜

Bỉ hỉ duy hoan                               彼  喜  惟  歡

Kiến phước tâm an                        見  福  心  安

 Tạo niềm vui sẽ có niềm vui đi theo, làm điều lành sẽ khiến cho hạnh phúc tăng gấp đôi. Sau niềm vui lại còn có nỗi mừng, thấy mình làm được chuyện phước đức thì tâm mình an ổn.

Tạo niềm vui sẽ

Có vui đi theo

Làm điều lành khiến

Hạnh phúc gấp đôi;

Sau vui có mừng

Thấy mình làm phước

Tâm được an ổn.

 

 

Bài kệ 19

Kim hối hậu hối                              今  悔  後  悔

Vi ác lưỡng hối                              為  惡  兩  悔

Quyết vi tự ương                           厥  為  自  殃

Thọ tội nhiệt não                            受  罪  熱  惱

 Bây giờ hối thì sau này cũng hối, làm điều ác đức thì sẽ khiến cho cái hối hận tăng gấp đôi. Điều này tạo tai ương cho bản thân mình, trong tương lai mình sẽ phải nhận chịu tội báo nóng bức.

Bây giờ hối hận

Sau này cũng hối

Làm điều ác đức

Hối hận gấp đôi;

Tạo tai ương rồi

Sẽ nhận quả báo.

 

 

Bài kệ 20

Kim hoan hậu hoan                   今  歡  後  歡

Vi thiện lưỡng hoan                       為  善  兩  歡

Quyết vi tự hữu                             厥  為  自  祐

Thọ phước duyệt dự                      受  福  悅  豫

Bây giờ hoan hỷ thì sau hoan hỷ, làm điều lành thì mừng vui tăng gấp đôi. Điều này đem tới an tường cho bản thân, trong tương lai mình sẽ nhận được nhiều phước đức và niềm vui sống.

 

Bây giờ hoan hỷ

Sau cũng hoan hỷ

Làm điều tốt lành

Mừng vui gấp đôi

An vui bản thân;

Nhận nhiều phước đức

Thêm niềm vui sống.

 

 

Bài kệ 21

Xảo ngôn đa cầu                           巧  言  多  求

Phóng đãng vô giới                       放  蕩  無  戒

Hoài dâm nộ si                            懷  婬  怒  癡

Bất duy chỉ quán                           不  惟  止  觀

Tụ như quần ngưu                         聚  如  群  牛

Phi Phật đệ tử                              非  佛  弟  子

 Nói lời xảo trá, ham muốn nhiều điều, sống phóng đãng không nghiêm trì giới luật, mang trong người tham, sân và si thì không có Chỉ cũng không có Quán. Tụ họp như một đàn trâu, không phải là đệ tử Bụt.

Nói lời xảo trá

Ham muốn nhiều điều

Phóng đãng bỏ giới

Đầy tham sân si

Không chỉ không quán

Sống như đàn trâu

Không phải con Bụt.

 

 

Bài kệ 22

Thời ngôn thiểu cầu                      時  言  少  求

Hành đạo như pháp                      行  道  如  法

Trừ dâm nộ si                              除  婬  怒  癡

Giác chánh ý giải                          覺  正  意  解

Kiến đối bất khởi                        見  對  不  起

Thị Phật đệ tử                              是  佛  弟  子

 Nói năng đúng thời đúng lúc, sống thiểu dục, hành đạo như pháp, trừ tâm sân si, biết được con đường chánh và tâm ý có liễu giải, khi bị chống đối không khởi tâm sân hận, đó mới đích thực là đệ tử Bụt.

Nói năng đúng lúc

Sống đời thiểu dục

Hành đạo như pháp

Trừ tâm sân si

Biết con đường chánh

Khi bị chống đối

Không khởi sân hận

Đích thực con Bụt.









Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 113584)
Trước hiểm họa mất nước mà nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chuẩn bị Dự luật thành lập ba đặc khu kinh tế:Vân Đồn-Quảng Ninh, Bắc Vân Phong-Khánh Hòa, Phú Quốc-Kiên Giang, thời hạn cho thuê đất có thể lên đến 99 năm như một sự đổ bộ của Trung Quốc với mục tiêu mở rộng ảnh hưởng và bành trướng chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Bắc Kinh,
Khóa tu lần này được sự quang lâm chứng minh của Hòa Thượng Thích Minh Hồi - Viện chủ Như Lai Thiền Tự và dưới sự hướng dẫn của Sư Giác Minh Luật cùng quý Đại Đức Giảng sư trẻ như: ĐĐ. Thích Châu Đạt, Thích Đạt Tín, Thích Vui Mừng, Thích Bắt Hải, Ven. Guan Zhen... cũng đồng trở về chứng minh, tiếp sức và hướng dẫn Giáo thọ cho khóa tu học.
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận. Đối với Phật tử, tinh thần thượng võ đã nằm sẵn trong năm giới, vì nếu không thượng võ, có nghĩa là đi trộm hào quang của đấu thủ khác, của đội tuyển khác, của quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu giữ được thượng võ mà thiếu vắng từ bi, cũng không đúng Chánh pháp. Bởi vì từ bi do vì muôn dân mà làm, chứ không vì kiêu mạn.