Kinh Người Ngu Muội

12/06/20144:24 CH(Xem: 2240)
Kinh Người Ngu Muội
KINH PHÁP CÚ HÁN TẠNG
Thích Nhất Hạnh Việt dịch
Thể kệ: Nguyên Định (chữ đậm)

Kinh Người Ngu Muội

Kẻ ngoan cố dù ở gần kẻ trí thì cũng như cái thìa múc canh, múc hoài hoài mà cái thìa không biết canh là ngon hay dở.
Có cơ hội gần được người trí thì cũng như cái lưỡi nếm được thức ăn, chỉ trong khoảnh khắc là biết được thức ăn ngon hay dở.

 

Ngu Ám Phẩm Pháp Cú Kinh đệ  thập tam
愚闇品法句經第十三

Kinh Người Ngu Muội
Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Phẩm thứ 13

 

Phẩm này có 21 bài kệ. Ngu ám đây là chỉ cho những kẻ si mê, ngu phu. Tiếng Pali là bala. Mỗi bài kệ trong phẩm này là một tiếng chuông chánh niệm cho người tại gia và cho cả người xuất gia. Bài kệ đầu nói về đêm sinh tử, một đêm kéo dài bất tận, bởi vì trong đêm dài ấy ánh sáng không chịu về. Ánh sáng đây là ánh sáng trí tuệ, hiểu biết, giác ngộ. Ánh sáng chưa chịu về thì đêm còn kéo dài mãi mãi. Mình phải tự hỏi mình có đang chìm đắm trong cái đêm sinh tử ấy không? Nếu chung quanh mình toàn là những người ngủ mê, chỉ biết bôn ba bận rộn về con cái và tài sản, về những tiện nghi vật chất và tình cảm hàng ngày, thì mình biết họ là những người đang đi trong trong đêm. Mình thử hỏi: mình có phải là một trong những người ấy không? Bài kệ thứ 6 cho ta biết: Nếu ta biết được ta là một trong những người đang mê ngủ thì đó là ta đã tỉnh dậy. Biển khổ tuy mênh mông, nhưng quay đầu lại thì thấy được bến bờ ngay. Bài kệ thứ 8 khuyên ta nên tìm cách gần gũi người có trí tuệ để có cơ hội thức tỉnh và nếm được hương vị của giác ngộ. Các bài kệ 17, 18, 19, 20 và 21 là đặc biệt để dành cho người xuất gia. Bài thứ 19 khuyên người xuất gia đừng đóng vai trò của một người sa môn tại gia nữa. Sa môn tại gia là một người chỉ có hình tướng xuất gia mà không có nội dung xuất gia.

 

Bài kệ 1

Bất mị dạ trường                           不  寐  夜  長

Bì quyền đạo trường                      疲  惓  道  長

Ngu sanh tử trường                        愚  生  死  長

Mạc tri chánh pháp                         莫  知  正  法

 Kẻ mất ngủ thấy đêm dài. Kẻ lữ hành mệt nhọc thấy đường xa hun hút. Đối với kẻ ngu muội, đêm sinh tử là dài nhất cũng bởi vì kẻ ấy không biết đến chánh pháp.

Mất ngủ đêm dài

Lữ hành mệt nhọc

Đường xa hun hút

Với kẻ ngu muội

Đêm dài sinh tử

Không biết chánh pháp.

 

 

 

 

Bài kệ 2

Si ý thường minh                           癡  意  常  冥

Thệ như lưu xuyên                         逝  如  流  川

Tại nhất hành cường                      在  一  行  彊

Độc nhi vô ngẫu                             獨  而  無  偶

 Tâm ý kẻ si mê mãi mãi mờ ám, trôi hoài như nước sông. Vì vậy, thà rằng mình đi một mình, đừng đi với những kẻ ngu muội.

Tâm ý si mê

Mãi mãi mờ ám

Trôi như nước sông;

Thà đi một mình

Hơn với kẻ ngu.

 

 

 

Bài kệ 3

Ngu nhân khán số                           愚  人  着  數

Ưu thích cửu  trường                      憂  慼  久  長

Dữ ngu cư khổ                                與  愚  居  苦

Ư ngã do oán                                  於  我  猶  怨

 Người ngu muội kẹt vào những con số, niềm lo lắng kéo dài, chung đụng với người ngu là khó, lại còn gây ra thêm oán hận.

Ngu muội kẹt số

Lo lắng kéo dài

Đừng đụng kẻ ngu

Gây thêm oán hận.

 

Bài kệ 4

Hữu tử hữu tài                                有  子  有  財

Ngu duy cấp cấp                           愚  惟  汲  汲

Ngã thả phi ngã                              我  且  非  我

Hà ưu tử tài                                    何  憂  子  財

 Người ngu muội cứ bôn ba bận rộn (về con cái và tài sản). "Đây là con trai của tôi. Đây là tài sản của tôi." Cái thân này chưa chắc là của ta, huống nữa là con cái và tài sản.

Người ngu bận rộn

Con cái tài sản

“Đây là con tôi

Đây là của tôi”

Thân này chưa chắc

Huống là con của.

 

 

 

Bài kệ 5

Thử đương chỉ thử                        暑  當  止  此

Hàn đương chỉ thử                        寒  當  止  此

Ngu đa vụ lự                                  愚  多  務  慮

Mạc tri lai biến                               莫  知  來  變

 Nóng quá, làm sao cho hết nóng. Lạnh quá, làm sao cho hết lạnh. Kẻ ngu phu lo từ chuyện này tới chuyện khác, không biết cái gì sẽ xảy ra trong tương lai.

Sao cho hết nóng

Sao cho hết lạnh

Ngu lo đủ thứ

Đâu biết cái gì

Xảy ra tương lai.

 

 

 

Bài kệ 6

Ngu mông ngu cực                          愚  曚  愚  極

Tự vị ngã trí                                    自  謂  我  智

Ngu nhi thắng trí                              愚  而  勝  智

Thị vị cực ngu                                  是  謂  極  愚

 Kẻ ngu mà cho mình là kẻ trí, đó là ngu tới mức cùng cực. Kẻ ngu mà biết là mình ngu thì đó đã là kẻ trí rồi.

Ngu tưởng là trí

Ngu mức cùng cực

Ngu biết là ngu

Đó là kẻ trí.

 

 

 

 

 

Bài kệ 7

Ngoan ám cận trí                           頑  闇  近  智

Như biều châm vị                           如  瓢  斟  味

Tuy cửu hiệp tập                            雖  久  狎  習

Do bất tri Pháp                              猶  不  知  法

 Kẻ ngoan cố dù ở gần kẻ trí thì cũng như cái thìa múc canh, múc hoài hoài mà cái thìa không biết canh là ngon hay dở.

Ngu gần kẻ trí

Như thìa múc canh

Cứ múc hoài hoài

Chả biết ngon dở.

 

 

 

 

Bài kệ 8

Khai đạt cận trí                               開  達  近  智

Như thiệt thường vị                         如  舌  嘗  味

Tuy tu du tập                                  雖  須  臾  習

Tức giải đạo yếu                             即  解  道  要

 Có cơ hội mà gần được người trí thì cũng như cái lưỡi nếm được thức ăn, chỉ trong khoảnh khắc mà biết được thức ăn ngon hay dở.

Gần được người trí

Như lưỡi nếm canh

Chỉ trong khoảnh khắc

Biết ngon hay dở.

 

 

 

 

 

Bài kệ 9

Ngu nhân thí hành                          愚  人  施  行

Vi thân chiêu hoạn                          為  身  招  患

Khoái tâm tác ác                             快  心  作  惡

Tự trí trọng ương                            自  致  重  殃

 Hành động của kẻ ngu muội đem lại tai hoạn cho bản thân mình, vì ưa làm việc ác cho nên tự đưa mình đến tai ương.

Kẻ ngu hành động

Đem nạn cho mình

Ưa làm việc ác

Tự đón tai ương.

 

 

Bài kệ 10

Hành vi  bất thiện                           行  為  不  善

Thoái kiến hối lẫn                           退  見  悔  悋

Trí thế lưu diện                               致  涕  流  面

Báo do túc tập                               報  由  宿  習

 Làm xong một cái gì bất thiện, nhìn lại thấy hối hận rồi thì khóc thương đầm đìa nước mắt, quả báo đến từ thói quen lâu đời dồn lại.

Làm điều bất thiện

Nhìn lại hối hận

Khóc thương đầm đìa

Quả báo dồn lại.

 

Bài kệ 11

Hành vi đức thiện                           行  為  德  善

Tiến đổ hoan hỉ                              進  覩  歡  喜

Ưng lai thọ phước                          應  來  受  福

Hỉ tiếu duyệt tập                             喜  笑  悅  習

 Làm được một điều gì hiền thiện, nhìn lại thấy hoan hỉ, biết rằng mình sẽ tiếp nhận phước đức, niềm vui và nụ cười sẽ đến với mình.

Làm điều hiền thiện

Nhìn lại hoan hỉ

Tiếp nhận phước đức

Niềm vui nụ cười.

 

 

Bài kệ 12

Quá tội vị thục                                過  罪  未  熟

Ngu dĩ điềm đàm                           愚  以  恬  惔

Chí kỳ thục xứ                                至  其  熟  處

Tự thọ đại tội                               自  受  大  罪

 Lỗi lầm làm trong quá khứ chưa đến lúc chín, kẻ ngu muội vì thế cứ việc nhởn nhơ, nhưng khi nghiệp quả đã chín muồi thì sẽ tự mình nhận chịu tội báo lớn.

Lỗi lầm quá khứ

Chưa đến lúc chin

Kẻ ngu nhởn nhơ

Nghiệp quả chin muồi

Chịu tội báo lớn.

 

 

 

Bài kệ 13

Ngu sở vọng xứ                              愚  所  望  處

Bất vị thích khổ                              不  謂  適  苦

Lâm đọa ách địa                             臨  墮  厄  地

Nãi tri bất thiện                               乃  知  不  善

 Chỗ sai lầm của người ngu là không nhận diện được cái khổ là cái khổ, khi nào rơi vào tình trạng nguy ngập thì mới biết là mình đã làm sai.

Người ngu sai lầm

Không biết là khổ

Rơi vào nguy ngập

Biết mình đã sai.

 

 

Bài kệ 14

Ngu xuẩn tác ác                             愚  憃  作  惡

Bất năng tự giải                             不  能  自  解

Ương truy tự phần                         殃  追  自  焚

Tội thành sí nhiên                           罪  成  熾  燃

 Ngu xuẩn làm ác, không có khả năng tự biết, tai ương do đó đi theo đốt cháy chính mình, tội báo cháy bùng.

Ngu xuẩn làm ác

Lại không tự biết

Tai ương đi theo

Đốt cháy chính mình

Tội báo cháy bùng.

 

Bài kệ 15

Ngu hảo mỹ thực                           愚  好  美  食

Nguyệt nguyệt tư thậm                   月  月  滋  甚

Ư thập lục phần                             於  十  六  分

Vị nhất tư Pháp                              未  一  思  法

 Người ngu chỉ biết lo ăn ngon, chỉ biết hưởng thụ, càng ngày càng đi sâu vào lầm lỗi, trong mười sáu phần hạnh phúc đích thực, người ngu không hưởng được đến một phần.

Người ngu lo ăn

Chỉ biết hưởng thụ

Càng sâu lầm lỗi

Trong mười sáu phần

Hạnh phúc đích thực

Không được một phần.

 

 

Bài kệ 16

Ngu sanh niệm lự                           愚  生  念  慮

Chí chung vô lợi                             至  終  無  利

Tự chiêu đao trượng                      自  招  刀  杖

Báo hữu ấn chương                       報  有  印  章

 Cái ngu sinh ra cái lo lắng, cuối cùng chẳng có lợi lạc gì, và người ngu tự chuốc lấy đao trượng (hình phạt) của báo ứng, có chứng cớ rõ ràng không thể chối cãi.

Ngu si sinh lo

Chẳng lợi lạc

Tự chuốc báo ứng

Chứng cớ rõ ràng.

 

 

Bài kệ 17

Quán xứ tri kỳ ngu                           觀  處  知  其  愚

Bất thí nhi quảng cầu                       不  施  而  廣  求

Sở đọa vô đạo trí                            所  墮  無  道  智

Vãng vãng hữu ác hành                   往  往  有  惡  行

 Quán sát ngay tại chỗ và nhận diện ra sự có mặt của kẻ ngu mê: đó là những người không tu tập mà chỉ biết đòi hỏi, những kẻ ấy sẽ đọa lạc vào chỗ vô đạothường thường làm những điều xấu ác.

Xem biết kẻ ngu:

Không lo tu tập

Chỉ biết đòi hỏi

Lạc vào vô đạo

Làm điều xấu ác.

 

 

 

Bài kệ 18

Viễn đạo cận dục giả                      遠  道  近  欲  者

Vi thực tại học danh                        為  食  在  學  名

Tham y gia cư cố                           貪  猗  家  居  故

Đa thủ cúng dị tính                          多  取  供  異  姓

 Xa đạo, gần kẻ nhiều tham dục, mang tên là người tu mà chỉ nghĩ tới chuyện ăn, cứ la cà nơi nhà người cư sĩ để mong cầu sự cúng dường càng nhiều càng tốt.

Không lo tu tập

Gần kẻ tham dục

Chỉ nghĩ chuyện ăn

La cà nhà người

Mong cúng dường nhiều.

 

 

Bài kệ 19

Học mạc đọa nhị vọng                     學  莫  墮  二  望

Mạc tác gia sa môn                        莫  作  家  沙  門

Tham gia vi Thánh giáo                  貪  家  違  聖  教

Vi hậu tự quỹ phạp                         為  後  自  匱  乏

Tu thì đừng để tự rơi vào ba cái sai lầm. Đừng đóng vai trò vị sa môn tại gia, la cà nhà cư sĩ là sai với lời Bụt dạy, sau này sẽ cảm thấy thiệt thòi.

 

Tránh ba điều sai:

Sa môn tại gia

La cà nhà người

Sai lời Bụt dạy

Sẽ thấy thiệt thòi.

 

 

 

 

Bài kệ 20

Thử hành dữ ngu đồng                   此  行  與  愚  同

Đãn lệnh dục mạn tăng                 但  令  欲  慢  增

Lợi cầu chi nguyện dị                     利  求  之  願  異

Cầu đạo ý diệc dị                         求  道  意  亦  異

 Hành xử như trên thì thấy chẳng khác gì cách hành xử của kẻ ngu phu, chỉ làm cho dục vọngkiêu mạn tăng trưởng. Cái ước nguyện chỉ là cái tài lợi, không phải là tâm ý cầu đạo thành khẩn.

Hành xử như trên

Khác gì ngu phu

Làm cho dục vọng

Kiêu mạn tăng trưởng

Chỉ là cầu lợi

Đâu phải cầu đạo.

 

 

Bài kệ 21

Thị dĩ hữu thức giả                         是  以  有  識  者

Xuất vi Phật đệ tử                           出  為  佛  弟  子

Khí ái xả thế tập                             棄  愛  捨  世  習

Chung bất đọa sanh tử                   終  不  墮  生  死

 Cho nên đã là bậc thức giả, là người xuất gia đệ tử Bụt thì phải buông bỏ ái dục và những tập khí ngoài đời, cuối cùng mới khỏi đọa vào sinh tử.

Là bậc thức giả

Xuất gia con Bụt

Buông bỏ ái dục

Tập khí ngoài đời

Không còn sinh tử.







Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 113582)
Khóa tu lần này được sự quang lâm chứng minh của Hòa Thượng Thích Minh Hồi - Viện chủ Như Lai Thiền Tự và dưới sự hướng dẫn của Sư Giác Minh Luật cùng quý Đại Đức Giảng sư trẻ như: ĐĐ. Thích Châu Đạt, Thích Đạt Tín, Thích Vui Mừng, Thích Bắt Hải, Ven. Guan Zhen... cũng đồng trở về chứng minh, tiếp sức và hướng dẫn Giáo thọ cho khóa tu học.
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận. Đối với Phật tử, tinh thần thượng võ đã nằm sẵn trong năm giới, vì nếu không thượng võ, có nghĩa là đi trộm hào quang của đấu thủ khác, của đội tuyển khác, của quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu giữ được thượng võ mà thiếu vắng từ bi, cũng không đúng Chánh pháp. Bởi vì từ bi do vì muôn dân mà làm, chứ không vì kiêu mạn.
Đó là danh hiệu đồng đội tặng cho Anh mỗi khi tập trung cùng Đội Tuyển Quốc Gia Ý thi đấu quốc tế ,đặc biệt ở những kỳ World Cup ,và Anh thường được tín nhiệm giao đeo băng đội trưởng .