Kinh Bậc Minh Triết

12/06/20144:28 CH(Xem: 2188)
Kinh Bậc Minh Triết
KINH PHÁP CÚ HÁN TẠNG
Thích Nhất Hạnh Việt dịch
Thể kệ: Nguyên Định (chữ đậm)

Kinh Bậc Minh Triết

Người bắn cung điều phục góc độ, người đi biển điểu phục sóng thuyền, người thợ mộc điều phục gỗ, kẻ trí giả điều phục tự thân.

 

Minh Triết Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập tứ
明哲品法句經第十四

Kinh Bậc Minh Triết
Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Phẩm thứ 14

 

Phẩm này có 17 bài kệ, bài kệ nào cũng như một tiếng chuông trong, một viên bảo châu sáng ngời. Bậc minh triết là bậc hiền giả, có tuệ giáctình thương. Tiếng Pali là pandita. Bài kệ thứ 6 nói đến bậc minh triết như một vầng trăng hiện giữa các vì sao, chiếu sáng cả thế gian. Bài kệ thứ 7 so sánh bậc minh triết với người bắn cung, biết điều phục góc độ để bắn cho trúng đích, với người đi biển biết điều phục các con sóng để thuyền đi tới và người thợ mộc điều phục được các khúc gỗ: bậc minh triết điều phục được tự thân. Bài thứ 8 ví bậc minh triết với một tảng đá lớn không bị các cơn gió thổi làm lay động. Bài kệ thứ 9 ví bậc minh triết với một mặt hồ tĩnh lặng. Toàn là những hình ảnh rất đẹp.

 

Bài kệ 1

Thâm quán thiện ác                       深  觀  善  惡

Tâm tri úy kị                                 心  知  畏  忌

Úy nhi bất phạm                            畏  而  不  犯

Chung cát vô ưu                            終  吉  無  憂

 Nhìn sâu vào bản chất thiện ác, tâm mình biết sợ hãi. Nhờ sợ hãi mà mình không phạm lỗi, cuối cùng được an lành, không lo lắng ưu phiền.

Nhìn sâu thiện ác

Tâm biết sợ hãi

Nên không phạm lỗi

Cuối cùng an lành

Không lo ưu phiền.

 

Bài kệ 2

Cố thế hữu phước                          故  世  有  福

Niệm tư thiệu hành                        念  思  紹  行

Thiện trí kỳ nguyện                        善  致  其  願

Phước lộc chuyển thắng                福  祿  轉  勝

 Cho nên những người có phước trên đời biết thực tập chánh niệmchánh tư duy, tiếp tục hành trì để khéo thành tựu được ý nguyện của mình.

Những ai có phước

Thực tập chánh niệm

chánh tư duy

Khéo thành ý nguyện.

 

 

Bài kệ 3

Tín thiện tác phước                        信  善  作  福

Tích  hành bất yếm                         積  行  不  厭

Tín tri âm đức                                信  知  陰  德

Cửu nhi tất chương                        久  而  必  彰

 Tin vào điều lành và tạo tác phước đức, tiếp tục đi tới không chịu bỏ cuộc, niềm tin ấy dựa vào âm đức, lâu dàisáng tỏ.

Tin vào điều lành

Tạo tác phước đức

Không chịu bỏ cuộc

Dựa vào âm đức

Lâu dài sáng tỏ.

 

 

Bài kệ 4

Thường tị vô nghĩa                        常  避  無  義

Bất thân ngu nhân                         不  親  愚  人

Tư tùng hiền hữu                           思  從  賢  友

Áp phụ thượng sĩ                           押  附  上  士

 Thường tránh những nghị luận vô bổ, không thân cận với kẻ ngu phu, tâm tư hướng về bạn hiền, đi theo cận kề các bậc thượng sĩ.

Tránh chuyện vô bổ

Không gần người ngu

Hướng về bạn hiền

Gần các thượng sĩ.

 

Bài kệ 5

Hỉ Pháp ngọa an                            喜  法  臥  安

Tâm duyệt ý thanh                         心  悅  意  清

Thánh nhân diễn Pháp                    聖  人  演  法

Tuệ thường lạc hành                       慧  常  樂  行

 Yêu thích chánh pháp thì đêm ngủ rất yên, tâm vui ý trong. Thường nghe các bậc thánh nhân giảng bày chánh pháp thì sẽ có tuệ giác và luôn luôn bước đi trong hạnh phúc.

Yêu thích chánh pháp

Đêm ngủ rất yên

Tâm vui ý thanh

Thường nghe giảng pháp

Dần có tuệ giác

Đi trong hạnh phúc.

 

 

Bài kệ 6

Nhân nhân trí giả                           仁  人  智  者

Trai giới phụng đạo                        齋  戒  奉  道

Như tinh trung nguyệt                     如  星  中  月

Chiếu minh thế gian                       照  明  世  間

 Là bậc hiền trí biết trai giới phụng đạo thì cũng như vầng trăng hiện giữa các vì sao, chiếu sáng cả thế gian.

Các bậc hiền trí

Trai giới phụng đạo

Vầng trăng giữa sao

Chiếu sáng thế gian.

 

 Bài kệ 7

Cung công điều giác                       弓  工  調  角

Thủy nhân điều thuyền                    水  人  調  船

Tài tượng điều mộc                        材  匠  調  木

Trí giả điều thân                             智  者  調  身

 Người bắn cung điều phục góc độ, người đi biển điều phục sóng thuyền, người thợ mộc điều phục gỗ, kẻ trí giả điều phục tự thân.

Người bắn chỉnh góc

Đi biển chỉnh hướng

Thợ mộc uốn gỗ

Người trí chỉnh thân.

 

 

 

Bài kệ 8

Thí như hậu thạch                          譬  如  厚  石

Phong bất năng di                          風  不  能  移

Trí giả ý trọng                                智  者  意  重

Hủy dự bất khuynh                          毀  譽  不  傾

 Như tảng đá lớn gió không thể dời, kẻ có trí tâm ý vững vàng không bị lời khen chê  khuynh đảo.

Như tảng đá lớn

Gió không thể dời

Tâm ý vững vàng

Khen chê không lay.

 

 

 

 

Bài kệ 9

Thí như thâm uyên                       譬  如  深  淵

Trừng tĩnh thanh minh                    澄  靜  清  明

Tuệ nhân văn đạo                          慧  人  聞  道

Tâm tịnh hoan nhiên                       心  淨  歡  然

 Cũng như đầm sâu lắng tĩnh trong sáng, kẻ tuệ nhân nhờ học đạo mà tâm ý thanh tịnh và hoan lạc.

Cũng như đầm sâu

Lắng tĩnh trong suốt

Kẻ trí nhờ học

Tâm tịnh hân hoan.

 

Bài kệ 10

Đại nhân thể vô dục                         大  人  體  無  欲

Tại sở chiếu nhiên minh                    在  所  照  然  明

Tuy hoặc tao khổ lạc                        雖  或  遭  苦  樂

Bất cao hiện kỳ trí                           不  高  現  其  智

 Các bậc đại nhân bản lĩnh vốn là vô dục, ở đâu cũng chiếu sáng ngời, dù có gặp khổ vui, tâm các vị cũng không lên không xuống.

Các bậc đại nhân

Bản lĩnh vô dục

Đâu cũng sáng ngời

Dù gặp khổ vui

Tâm không xao động.

 

 

 Bài kệ 11

Đại hiềnthế sự                             大  賢  無  世  事

Bất nguyện tử tài quốc                      不  願  子  財  國

Thường thủ giới tuệ đạo                    常  守  戒  慧  道

Bất tham tà phú quý                         不  貪  邪  富  貴

 Bậc đại hiền nhân không màng thế sự, không mong cầu con trai, tài sản, vương quốc, chỉ giữ giới tu đạođi theo con đường tuệ giác, không ham phú quý thế gian.

Bậc đại hiền nhân

Không màng thế sự

Không cầu con trai

Tài sản vương quốc

Chỉ giữ giới tu

Theo đường tuệ giác

Không ham phú quý.

 

Bài kệ 12

Trí nhân tri động dao                        智  人  知  動  搖

Thí như sa trung thọ                         譬  如  沙  中  樹

Bằng hữu chí vị cường                     朋  友  志  未  強

Tùy sắc nhiễm kỳ tố                         隨  色  染  其  素

 Kẻ trí nhân biết cách hành xử, như cây đứng trong bãi cát, đối với các bằng hữu mà ý chí chưa vững mạnh thì tùy theo từng người mà giúp ảnh hưởng họ.

Kẻ trí hành xử

Như cây trong cát

Bằng hữu yếu đuối

Tùy người mà giúp.

 

 Bài kệ 13

Thế giai một uyên                             世  皆  沒  淵

Tiên khắc độ ngạn                            鮮  尅  度  岸

Như hoặc hữu nhân                          如  或  有  人

Dục độ tất bôn                                 欲  度  必  奔

 Người đời đa số đều tự đánh mất mình trong cơn lũ tham dục, ít ai qua được bờ bên kia, chỉ quanh quẩn ở bờ bên này.

Người tự đánh mất

Trong lũ tham dục

Ít qua bờ kia

Quanh quần bờ này.

 

 

 

 

Bài kệ 14

Thành tham đạo giả                      誠  貪  道  者

Lãm thọ chánh giáo                       覽  受  正  教

Thử cận bỉ ngạn                           此  近  彼  岸

Thoát tử vi thượng                         脫  死  為  上

 Những kẻ thành tâm ưa thích đạo lý tiếp thu được chánh giáo sẽ tới gần được bờ bên kia, xem cái liễu sinh thoát tử là mục đích cao nhất.

Thành tâm ưa đạo

Làm theo chánh giáo

Đến bờ bên kia

Liễu sinh thoát tử

Mục đích cao nhất.

 

 

 

 

Bài kệ 15

Đoạn ngũ uẩn Pháp                       斷  五  陰  法

Tĩnh tư trí tuệ                               靜  思  智  慧

Bất phản nhập uyên                       不  反  入  淵

Khí y kỳ minh                                 棄  猗  其  明

 Đoạn trừ năm thủ uẩn, thiền tập để đạt tới tuệ giác, không trở vào lại dòng lũ lụt thì buông bỏ sự bám víu và đạt tới minh triết.

Đoạn trừ năm uẩn

Thiền tập tuệ giác;

Không vào dòng lũ

Buông bỏ bám víu

Đạt tới minh triết.

 

 

Bài kệ 16

Ức chế tình dục                               抑  制  情  欲

Tuyệt lạc vô vi                                 絕  樂  無  為

Năng tự chửng tế                            能  自  拯  濟

Sử ý vi tuệ                                      使  意  為  慧

 Chế ngự tình dục, dứt bỏ đam mê, học theo vô vi, có khả năng tự độ, sử dụng tâm ý để đạt tới tuệ giác.

Chế ngự tình dục

Dứt bỏ đam mê

Học theo vô vi

Khả năng tự độ

Đạt được tuệ giác.

 

 

Bài kệ 17

 

Học thủ chánh trí                             學  取  正  智

Ý duy chánh đạo                             意  惟  正  道

Nhất tâm thọ đế                              一  心  受  諦

Bất khởi vi lạc                                 不  起  為  樂

Lậu tận tập trừ                                漏  盡  習  除

Thị đắc độ thế                                 是  得  度  世

 Tu tập để đạt tới chánh trí, tâm ý chỉ nương vào chánh đạo, một lòng tìm cầu chân lý, không đi tìm dục lạc thì đạt tới lậu tậndiệt trừ được tập khí và vượt được thời gian.

Tu tập chánh trí

Nương vào chánh đạo

Tìm cấu chân lý

Không tìm dục lạc

Đạt tới lậu tận

Diệt trừ tập khí

Vượt được thời gian.

 

 

 






Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 113591)
Trước hiểm họa mất nước mà nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chuẩn bị Dự luật thành lập ba đặc khu kinh tế:Vân Đồn-Quảng Ninh, Bắc Vân Phong-Khánh Hòa, Phú Quốc-Kiên Giang, thời hạn cho thuê đất có thể lên đến 99 năm như một sự đổ bộ của Trung Quốc với mục tiêu mở rộng ảnh hưởng và bành trướng chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Bắc Kinh,
Khóa tu lần này được sự quang lâm chứng minh của Hòa Thượng Thích Minh Hồi - Viện chủ Như Lai Thiền Tự và dưới sự hướng dẫn của Sư Giác Minh Luật cùng quý Đại Đức Giảng sư trẻ như: ĐĐ. Thích Châu Đạt, Thích Đạt Tín, Thích Vui Mừng, Thích Bắt Hải, Ven. Guan Zhen... cũng đồng trở về chứng minh, tiếp sức và hướng dẫn Giáo thọ cho khóa tu học.
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận. Đối với Phật tử, tinh thần thượng võ đã nằm sẵn trong năm giới, vì nếu không thượng võ, có nghĩa là đi trộm hào quang của đấu thủ khác, của đội tuyển khác, của quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu giữ được thượng võ mà thiếu vắng từ bi, cũng không đúng Chánh pháp. Bởi vì từ bi do vì muôn dân mà làm, chứ không vì kiêu mạn.