(Xem: 2442)
Ngôi trường Vạn Hạnh, giờ đây vắng bóng thêm một bậc thầy giáo thọ kính yêu... Chúng con từ phương xa kính hướng về Vạn Hạnh, thành kính đảnh lễ nguyện cầu Giác linh Hòa Thượng tân viên tịch thượng phẩm thượng sanh, cao đăng Phật quốc và sớm tái sanh trở lại thế giới Ta bà, để tiếp tục công cuộc giáo dục hoằng Pháp lợi sanh.
(Xem: 1358)
Các tiêu chuẩn đạo đức và các hành vi đạo đức nhằm mục đích đem đến cho con người và xã hội một cuộc sống hạnh phúc. Ban zeladze, một tư tưởng gia phương Tây, viết: "Vấn đề lý tưởng tối cao và ý nghĩa của cuộc sống thực chất là vấn đề hạnh phúc. Con người là giá trị cao nhất, là cơ sở, là ngọn nguồn của mọi giá trị, mọi thứ đều là phương tiện cho con người và cuộc sống của con người
(Xem: 3223)
Giới là một trong ba môn học vô lậu của Giới, Định và Tuệ chỉ có trong giáo pháp của Đức Phật thường được hiểu là Giới hạnh và vị trí của nó đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo lý Phật giáo. Sự học tu tập về Giới là một việc rất đương nhiên đối với những ai khát khao sự thanh tịnh. Ở đây, thanh tịnh nên hiểu là Niết-bàn1
(Xem: 2531)
Quyển Tỳ-ni mà quý vị đang có đây, được tôi mở đầu bằng trọn bản Việt dịch ‚Phật Thuyết Hy Hữu Giảo Lượng Công Đức Kinh‛, đây là Kinh văn Đức Phật giảng giải về công đức thọ trì Giới pháp. Phần sau là Tỳ-ni và Giới bổn, do tôi biên dịch từ nguyên bản Hán văn ‚Tỳ-Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu‛ đã nói ở trên, đồng thời soạn lại bố cục, nội dung và lấy tựa đề là ‚Pháp Kệ Tỳ-Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu‛
(Xem: 2709)
Những quy tắc đạo đức có một vị trí rất quan trọng trong hầu hết các tôn giáo. Pháp luật hay các quy ước là đều cần thiết đối với bất cứ thành viên nào trong xã hội.Trong mỗi gia đình nếu không có quy tắc, gia đình đó sẽ xảy ra bất đồng; một quốc gia, nếu không có phép nước, thì quốc gia đó sẽ nổi loạn. Trong Phật giáo cũng vậy, giới luật đóng một vai trò vô cùng đặc biệt. Giới được xem là mạng mạch của đời sống Tăng già. Vì vậy, trong đời sống sinh họat của Tăng đoàn hầu hết các quy tắc đặt ra là để phòng hộ, ngăn chặn các hành vi, lời nói bất thiện của vị Tỳ kheo do tham lam, sân hận hay si mê chi phối. Giới là để chế ngự các bất thiện pháp, phụng hành các thiện sự, và thanh tịnh các tâm hành.
(Xem: 2619)
Đức Phật của chúng ta sau khi trải qua vô số kiếp thực hành các pháp toàn hảo và lần lượt tiếp nhận sự thọ ký của hai mươi bốn vị Phật tiền nhiệm rồi đã chứng quả Toàn Giác vào năm 623 trước Tây Lịch.
(Xem: 1434)
Tạng Luật (Vinayapitaka) được chia làm 3 phần chính là Suttavibhanga (Phân Tích Giới Bổn), Khandhaka (Hợp Phần), và Parivãra (Tập Yếu). Trong đó Suttavibhanga (Phân Tích Giới Bổn) gồm có hai bộ là Pãrãjikapãli và Pãcittiyapãli. Suttavibhaúga sẽ được in làm ba tập:
(Xem: 2745)
Tạng Luật (Vinayapiṭaka) thuộc về Tam Tạng (Tipiṭaka) là những lời dạy và quy định của đức Phật về các vấn đề có liên quan đến cuộc sống và sự sinh hoạt của các thành viên cũng như các công việc của hội chúng, trong đó chủ yếu đề cập đến tỳ khưu, một phần dành cho tỳ khưu ni, đồng thời một số vấn đề có thể áp dụng cho hàng tại gia cư sĩ cũng được tìm thấy.
Kinh
(Xem: 171582)
Giáo lý của Phật giáo được xem là rất khó hiểu. Một trong những lý do chính cho nhận định này là các kinh Phật thì khó hiểu. Điều này là tự nhiên vì đầu tiên các kinh được viết bằng các ngôn ngữ Ấn Độ, như Sanskrit và Pàli, cách đây khoảng hai ngàn năm, sau đó được du nhập vào Trung Quốc rồi được dịch ra Hoa văn, và những bản dịch Hoa văn về các bộ kinh được truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản.
(Xem: 2304)
Chủ yếu của kinh Lăng già là bàn về chân lý Tự chứng tự nội hay Tự chứng thánh trí mà được Như lai thể chứng, mang tư tưởng nhất quán là tư tưởng “Như lai tàng và Alaida thức” mà Alaida một mặt đồng nhất với Như lai tàng. Tuy nhiên, trong sự đồng nhất ở đây cũng có tính dị biệt, cho nên tất cả pháp đều từ Alaida mà lưu xuất.
(Xem: 1019)
Đối chiếu ba bản kinh văn Tứ Thập Nhị Chương: Cao Ly tạng bản (高麗藏版), Thủ Toại bản (守遂本) và Tống Chân Tông chú bản (宋真宗註本).
(Xem: 17811)
Thi hóa toàn bộ Trường Bộ Kinh hoàn tất ngày 15. 07. 2011 với tổng cộng gần 1.500 trang, nên chúng tôi chia làm 3 tập :
(Xem: 1625)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo. Bức thông điệp của bài kinh này phù hợp với những lời dạy căn bản của Đức Phật.
(Xem: 2561)
Bộ Luận Đại Trí Độ tiếng Việt gồm 5 tập, mỗi tập 20 quyển là bản dịch từ chữ Hán của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không. Sau gần 5 năm làm việc liên tục mới phiên dịch hoàn tất từ Hán Văn ra Việt Văn với sự trợ giúp nhuận bút và biên tập của Pháp Sư Thích Thiện Trí (Giáo Sư của Giảng Sư Cao cấp PGVN & Học viện PGVN) và Cư Sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm.
(Xem: 5134)
"Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúng là đệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi".
(Xem: 3450)
Viên mãn nên biết! Ở thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại. Kẻ kia đã tạo các thân, ngữ, ý hành có tổn hại rồi, thì tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại. Kẻ kia đã tích tập tăng trưởng các pháp có tổn hại rồi, thì chiêu cảm được tự thể có tổn hại. Kẻ kia đã chiêu cảm được tự thể có tổn hại rồi, tức sinh trong thế gian có tổn hại. Kẻ kia do sinh trong thế gian có tổn hại rồi, nên xúc chạm với xúc có tổn hại. Kẻ kia đã xúc chạm với xúc có tổn hại rồi, tức cảm nghiệm các thọ có tổn hại, hoàn toàn không đáng yêu, hoàn toàn không đáng thích, hoàn toàn không đáng vui, hoàn toàn không vừa ý, như các loại hữu tình Na-lạc-ca. Kẻ ấy do loại này, nên có loại sinh này, sinh rồi lại xúc chạm loại xúc như thế. Do đó Ta nói: các hữu tình kia tùy thuận nghiệp tự tạo. Viên mãn nên biết! Đó gọi là nghiệp đen dị thục đen
(Xem: 3474)
Bốn phi thánh ngôn: 1. Không thấy nói thấy; 2. Không nghe nói nghe; 3. Không cảm nhận nói cảm nhận; 4. Không nhận biết nói nhận biết. Bốn Thánh ngôn: 1. Không thấy nói không thấy; 2. Không nghe nói không nghe; 3. Không cảm nhận nói không cảm nhận; 4. Không nhận biết nói không nhận biết
(Xem: 3494)
“Thân tác chứng thành tựu và an trú tịnh giải thoát”: Thế nào là gia hành của tịnh giải thoát này? Tu quán hành giả do phương gì nhập tịnh giải thoát định? Khi người mới bắt đầu sự nghiệp tu quán, trước hết cần phải nắm lấy hình thái thanh thọ, như thanh hành, thanh chi, thanh diệp, thanh hoa, thanh quả, hoặc nắm lấy hình thái thanh y, thanh nghiêm cụ tướng, hoặc nắm lấy đa dạng thanh tướng nào khác. Khi đã nắm lấy các thanh tướng như thế rồi, do lực thắng giải, tư duy tưởng niệm, quan sát an lập, tín giải sắc này là thanh tướng ấy.
(Xem: 2838)
Bí-sô nên biết! ở đây, vị Thánh đệ tử, bằng đặc điểm như vậy tùy niệm chư Phật, nghĩa là vị Thế Tôn ấy là bậc Như Lai, A-la-hán, nói chi tiết cho đến: Phật Bạc-già-phạm”. Hoặc có vị Thánh đệ tử nào bằng đặc điểm như thế tùy niệm chư Phật, những gì là niệm tương ưng với kinh nghiệm nhận thức, mà kiến là căn bản: tùy niệm, chuyên niệm, ức niệm, không quên, không mất, không rơi sót, không rò rỉ, không mất trạng thái của Pháp, trạng thái ghi nhớ sáng suốt của tâm. Đó gọi là tùy niệm Phật.
(Xem: 3634)
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi Tử lại nói với đại chúng: Cụ thọ nên biết! Đức Phật đối với mười pháp sau khi đã tự mình khéo thông đạt, hiện đẳng giác, liền tuyên thuyết khai thị cho các đệ tử. Hôm nay chúng ta nên hòa hợp kết tập, để ngăn ngừa sau khi đức Phật diệt độ xảy ra sự tranh cãi, khiến cho pháp luật tùy thuận phạm hạnh được an trụ lâu dài mang lại lợi lạc cho vô lượng hữu tình; lại vì thương xót thế gian, chúng chư thiên và nhân loại, khiến cho họ có được nghĩa lợi an lạc thù thắng. Những gì là mười pháp? Ở đây khái lược có hai loại mười pháp, đó là mười biến xứ và mười pháp vô học.
(Xem: 3597)
Theo nghiên cứu của các học giả Abhidharma hiện đại, đại biểu như Đại sư Ấn Thuận, sáu túc luận A-tì-đạt-ma lấy Phát trí luận làm bản luận[1]. Việc nhóm tập sáu túc luận thành một tổ hợp hay nhóm mục, sớm nhất phải kể đến luận Đại trí độ, trong đây khi Long Thọ đề cập đến “lục phần A-tì-đàm”[2], đồng thời nói đến “thân nghĩa tì-đàm”[3]. Thân: ở đây chỉ cho Phát trí luận[4], nghĩa này Đại Tì-bà-sa luận nói rằng, thời đại của ngài Long Thọ đã thường gọi Phát trí luận là thân, sáu túc luận kia là chi phần. ....
CHUYÊN ĐỀ
“Chỉ khi tình nhân loại cùng chung sống trong đại gia đình trên hành tinh này đồng tâm hợp lực làm việc, các quốc gia mới có thể ngăn chặn sự lây lan, phục hồi từ ác quỷ Virus corona gây chết người”.
Thay mặt cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tôi hy vọng các cộng đồng Phật giáo khắp nơi trên thế giới, và tất cả những người quan sát, trọn hưởng kỷ niệm Ngày Quốc tế lễ Vesak PL. 2564 (2020) vô lượng phúc đức cát tườnghạnh phúc.
Thủ tướng Chính phủ Ấn Độ Premier Modi nói rằng: “Đức Phật kính yêu của chúng ta luôn nêu cao tinh thần vô ngã vị tha, sự phục vụcống hiến cho nhân loại. Những người đang tham gia phục vụ nhân loại bất kể thời gian, không gian, mọi lúc mọi nơi, là những người con yêu quý của Đức Phật”.
Vào thời điểm thiên tai dịch họa này, chúng ta hãy quyết tâm cứu nguy quốc gia dân tộc bằng cách thực hành những giáo huấn của Đức Phật, và tuân thủ các biện pháp phòng chống đại dịch Virus corona. Tôi hy vọng rằng, Quốc tế lễ Vesak này, dẫn đến sự an lạc hạnh phúc về sức khỏe thể chấttinh thần của nhân dân , cũng như các huynh đệ cùng chung sống trên mái ấm đại gia đình trên toàn thế giới.
Cách đây hai nghìn sáu trăm bốn mươi tư năm, vào ngày trăng tròn tháng Tư âm lịch, tại khu vườn Lâm Tỳ Ni, xứ Ca Tỳ La Vệ thuộc miền Bắc Ấn Độ xuất hiện một sự kiện vĩ đại làm rung chuyển cõi nhân thiên. Đó chính là sự kiện Bồ-tát Hộ Minh từ cung trời Đâu Suất đản sinh xuống trần gian qua hình hài Thái tử Tất Đạt Đa, con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da. Kinh sử miêu tả sự kiện hy hữu này, khi vừa lọt lòng mẹ, Ngài đã thị hiện tính vĩ đại của một bậc Giác giả.
Khi Phật giáo đồ trên khắp thế giới chuẩn bị đón mừng Quốc tế lễ Vesak PL. 2.564 (2020), kỷ niệm ba sự kiện trọng đại trong cuộc đời Đức Phật, Đản sinh, Thành đạoNiết bàn. Hàng triệu Phật giáo đồ trên khắp năm châu, nhiều người sống dưới sự khóa chặt nguy cơ lây bệnh bên ngoài khoanh vùng dập dịch triệt để, và tuân theo các quy tắc nghiêm ngặt về giãn cách xã hội do đại dịch Covid-19, sẽ đánh dấu ngày thiêng liêng tại tư gia, hoặc kết nối với cộng đồng của họ một cách khôn khéo, bằng cách tham gia các quan sát trực tuyến về ngày đại lễ Phúc đức Cát tường nhất của Phật giáo.
Vào ngày Quốc tế lễ Vesak, chúng ta hãy tôn vinh ánh quang minh trí tuệ của Đức Phật, bằng cách quên mình vì người trong hành động với từ bi tâm và đoàn kết, hòa hợp, và bằng cách làm mới cam kết của chúng ta để cùng nhau xây dựng một thế giới an lạc, hòa bình, hạnh phúc.
Khâm thừa ủy thác của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống, tôi tự xét bản thân, lão lai tài tận, đức mỏng chướng dày, khó có thể đơn độc chu toàn sứ mệnh cao cả ấy trong muôn một. Vậy nên, cúi đầu kính lễ Chư Tôn Trưởng Lão, Chư Đại đức thanh tịnh Tăng-già, vì sự nghiệp tu trì Chánh Đạo, vì an lạc của muôn dân đang chìm đắm trong dòng khổ lụy nhân sinh, thỉnh cầu Chư Tôn vận tâm bình đẳng, y Luật hành trì, thể hiện bản thệ thanh tịnh hòa hiệp của Tăng-già, nêu cao ngọn đèn Chánh Pháp trong một thế giới tối tăm nguy hiểm vì những tham sân điên đảo. Bằng tâm nguyện chí thành khẩn thiết này, cầu nguyện chúng đệ tử Phật, trong mùa Phật đản 2564 này, nhiếp tâm thanh tịnh lắng nghe đồng vọng trong hư không Pháp âm vi diệu hân hoan đón mừng Đức Thích Tôn thị hiện đản sinh:
Chúng tôi rất hân hoan với quý đạo hữu Phật tử vào dịp Quốc tế lễ Vesak PL. 2.564 (2020), kỷ niệm ba sự kiện trọng đại trong cuộc đời Đức Phật, Đản sinh, Thành đạonhập Niết bàn; Đại lễ kỷ niệm này là một niềm vui và tràn đầy hạnh phúc và hòa bình....Thay mặt tất cả những người Công giáo Singapore, chúng tôi chân thành chúc quý đạo hữu Phật tử một ngày Quốc tế lễ Vesak PL. 2564 hạnh phúc và luôn đạt thành về mặt tâm linh.
Tháng tư mùa Phật đản về / Mang thương yêu đến khắp trời Á-Âu / Thắp lên ánh sáng nhiệm mầu / Gióng chuông tỉnh thức toàn cầu ngân vang / Triệu người con Phật hân hoan / Truyền trao thông điệp lạc an hoà bình.
Trong một ngày trăng tròn cách đây 2644 năm, một con người bất diệt của thế giới đã thị hiện đó là Đấng Như Lai Chính đẳng Chính giácThích Ca Mâu Ni Phật. Ngài là một con người phi thường xuất hiện trên thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi íchhạnh phúc cho chư thiênloài người.
Tôi chân thành gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến với tất cả các Quốc tế lễ Vesak, một dịp thiêng liêng cho hàng triệu người trên khắp thế giới. Vào ngày Đại lễ này đánh dấu sự Đản sinh, Thành đạonhập Niết bàn của Đức Phật, tất cả chúng ta, những người theo đạo Phật và không theo đạo Phật, đều có thể suy ngẫm về cuộc đời của mình, và lấy cảm hứng từ những lời vàng ngọc của Đức Phật giáo huấn.
Toàn thế giới tràn ngập nước mắt tang thương trước cơn Đại dịch COVID-19 hiện nay. Chúng tôi tha thiết kêu gọi những người con Phật nhất tâm vận chuyển năng lượng từ bi cứu khổ để hóa giải oan khiên này. Chưa lúc nào như hiện nay, loài người đồng hướng về một điểm: Cùng xô đẩy, chống lại con vi trùng bé nhỏ đầy kinh hãi như vậy. Định lựcTrí lực sẽ thay đổi nghiệp lựcma lực. Đức Phật Thích Ca đã đi qua con đường ấy trên đường giác ngộ, đặc biệt trong đêm thành Đạo, nhờ Định lựcTrí lực mà Ngài đã điềm nhiên trong bao trận cuồng phong thách đố của ma vương trước giờ thành Phật.
NEW POSTING
Giáo lý của Phật giáo được xem là rất khó hiểu. Một trong những lý do chính cho nhận định này là các kinh Phật thì khó hiểu. Điều này là tự nhiên vì đầu tiên các kinh được viết bằng các ngôn ngữ Ấn Độ, như Sanskrit và Pàli, cách đây khoảng hai ngàn năm, sau đó được du nhập vào Trung Quốc rồi được dịch ra Hoa văn, và những bản dịch Hoa văn về các bộ kinh được truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản.
“Quán” là xem xét, “Thế Âm” là âm thanh của thế gian. Quán Thế Âmxem xét âm thanh thế gian, tiêu biểu cho lòng từ bi của Bồ-tát. Ngài lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh, khởi lòng thương xót đến cứu độ cho hết khổ.
Phải biết Quán Thế Âm Bồ-tát là dùng con mắt để nghe chứ không phải dùng lỗ tai, nếu chúng ta dùng con mắt nghe được mới là Quán Thế Âm, đạt đến cảnh giới này tất cả khổ đều được giải thoát.
Với mong muốn cống hiến cho Phật phápcuộc đời, hai Sư cô Thích nữ Huyền Linh, Thích nữ Tịnh Chúc đã bỏ công cần mẫn biên soạn và cho ra đời quyển Tranh minh họa kinh Vu lan & Báo hiếu, song ngữ Anh-Việt.
Chúng ta đều cần cầu nguyện đến Phật Vô Lượng Quang A Di Đà [Amitabha] rằng chúng ta sẽ sinh trong cõi Cực Lạc [Dewachen] khi chết. Khi cầu nguyện đến Phật A Di Đà, một số người có lẽ nghĩ rằng có một bức tượng Phật A Di Đà to lớn ở đâu đó; nhưng mọi chuyện không phải vậy. Thực sự, có nhiều Phật A Di Đà như số lượng hữu tình chúng sinhhình tướng Hóa thân bên ngoài của Phật A Di Đà cần được quán tưởng trên đỉnh đầu chúng ta. Ở cấp độ bên trong, tâm chúng taPhật tính cũng như tâm của tất cả hữu tình chúng sinh. Sự quán tưởng Hóa thân bên ngoài là rất quan trọng. Khi con quán tưởng Phật A Di Đà, lợi lạc là gì?
Dưới sự đắp đổi của thời gian, trong cái quy luật khắc nghiệt của tạo hoá, mọi vật rồi sẽ bị vùi chôn theo năm tháng nếu chúng ta không biết trân trọng, giữ gìntiếp nối. Nếu hôm nay chúng ta không kịp ghi chép lại sự hành đạo của chư Tổ thì tất cả sẽ chìm vào quên lãng, mà mai này các thế hệ sau sẽ không tỏ tường được nguồn cội của tông môn là điều không tránh khỏi. Từ những trăn trở đó, trong những năm qua chúng tôi cố gắng sưu tầm hành trạng của chư Tổ, chư Tăng dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại các tỉnh thành, đồng thời hệ thống lại và biên soạn thành một tập sử liệu, tạm lấy tên Lịch Sử Truyền Thừa Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh không ngoài mục đích vừa nêu.
Sống trên đời không ai là khỏe mạnh luôn luôn mà không bệnh, chỉ là bệnh ít hay bệnh nhiều, bệnh nặng hay bệnh nhẹ mà thôi. Trong bốn cái khổ của con ngườisinh lão bệnh tử thì bệnh lại là khổ nạn cần trải qua trong đời. Vậy cái gì chiêu cảm nên bệnh, và bệnh lấy gì làm thực sống hay phát triển? Và cái gì làm giảm bệnh tật hay trừ được bệnh tật?
Chúng ta cần phải lắng nghe các nhà khoa học và chuyên gia. Tiếng nói và kiến thức của họ rất quan trọng. Và người tôn giáo nên chú ý nhiều hơn đến các nhà khoa học thay vì chỉ cầu nguyện, cầu nguyện, và cầu nguyện. Trong truyền thống Phật giáo Nalanda cổ đại, mà người Tây Tạng chúng tôi theo, mọi thứ đều được điều tra và không được chấp nhận bởi đức tin một mình. Nếu thông qua lý luậnchúng tôi tìm thấy một số mâu thuẫn, ngay cả trong lời nói của Đức Phật, thì chúng tôi có quyền từ chối chúng. Từ nhỏ, tôi luôn tham gia vào rất nhiều cuộc tranh luận. Suy nghĩ của chúng tôi không dựa trên đức tin mà là lý luận.
Khổ đau nào lớn nhất, Là khổ đau của mẹ, Có người mẹ nào không đau khổ? Nước mắt nào xót xa nhất,
Phật giáo đã có hơn hai ngàn năm truyền thừa và đóng góp to lớn cho đất nước phát triển, nay là một đoàn thể xã hội trực thuộc Ban Tôn giáo Chính Phủ và Mặt Trận Tổ Quốc, nên không thể phát huy nguồn lực. Trong khi giáo dục lạc lốiđạo đức suy đồi, Phật giáo lo phát triển cho chủ nghĩa xã hội và kinh doanh tâm linh; nhập thế cho sự phát triển hồn dân tộc qua hoằng dương đạo pháp nhiệm mầu chỉ là niềm hy vọng. Trước nguy cơ ngoại thù xâm lược, nội thù lũng đoạn, dân tộc điêu linhđạo pháp suy vi, Phật giáo chưa tĩnh thức để cải cách triệt để hầu làm sống lại hào khí Diên Hồng, bản sắc tinh hoa của đạo pháp trong các thời đại Lý, Trần và dân tộc Việt, hiểm hoạ diệt vong là một thực trạng báo động.
Làng Phương Lang là một làng cổ của vùng đất Thuận Hóa, cách đây trên 500 năm, anh em nhà họ Võ, là Võ Công Lữ và Võ Công Đường (Khổng Công Đường) người làng Trường Cát, Phù Anh Đô, xứ Nghệ An Trung đô đã đến khai hoang lập làng theo chiếu chỉ của Vua Lê Thánh Tông sức dân vao nam lập nghiệp. Người dân Việt dù đi đâu, ở đâu cũng luôn mang theo tín ngưỡng, tôn giáo thờ cúng Tổ tiên, tôn kính Thần, Phật và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng,…bởi ngoài vật chất, con người còn có tinh thần, niềm tin và đã trở thành truyền thống lâu đời trong dân gian, đó là những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.
Theo Thế Tôn có năm thứ quý báu hơn tài bảo ở thế gian. Đầu tiên, Như Lai xuất hiện ở đời là cực kỳ hy hữu. Kế đến là người có thể giảng thuyết Chánh pháp của Như Lai rất khó có được. Phải chăng Như Lai đã tiên liệu trước việc này khi mà hiện nay mạnh ai nấy thuyết pháp theo tư kiến, khiến người sơ học ngẩn ngơ chẳng biết đâu là Chánh pháp để nương tựa và tin theo. Tin hiểu và thành tựu pháp mà Như Lai diễn thuyết quả là rất khó. Thành ra người tu Phật thì như đất trên địa cầu, còn người thành tựu chỉ là chút đất nơi đầu móng tay mà thôi.
Toàn bộ kinh điển đức Phật dạy chúng ta tu hành chủ yếu là dứt trừ vọng niệm để trở về chân tâm thanh tịnh Ở đó mọi sự rổng rang không còn ý niêm tranh chấp. Đó là con đường tuyệt đối nhất để hội nhập Niết Bàn chấm dứt sự đau khổ.
Tại Việt Nam có một thiền phái rất quan trọng, được gọi là thiền phái Trúc Lâm, xuất phát từ núi Yên Tử, miền Bắc Việt Nam. Trúc Lâm có nghĩa là rừng tre, Đứng về phương diện hình thức thì tổ sư của thiền phái này là vua Trần Nhân Tông, hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ. Như vậy vị khai tổ của phái Trúc Lâm là một vị vua đã xuất gia.
New Posting:Bài 14 - Sự xuất hiện của bodhicitta và Bài 15- Bốn yếu tố của Vasubandhu: Phương pháp phát huy bodhicitta của Vasubandhu mang nhiều khía cạnh triết học hơn so với phương pháp của Shantideva, và gồm có bốn thành phần.
Sư bà Thích Nữ Diệu Không là một trong những gương mặt đặc biệt của Phật giáo Việt Nam, của ni giới Việt Nam trong thế kỷ XX. Sư bà Diệu Không cùng với các bà Đạm Phương, Tùng Chi là những người đã có công lao trong việc thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thành lập Viện Đại học Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam (Đại học Vạn Hạnh); .....
Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Nơi Phật không thêm, nơi phàm không thiếu. Ai cũng đang sống trên nó, nhưng bận theo trần cảnh do đó bỏ sót, tạm mê, luống chịu các khổ. Từ bản thể ấy, thương cho nỗi khổ chúng sinh, đức Phật đã thị hiện nói ra muôn lời ngàn lời giáo hóa độ sanh, để đưa người người trở về nhận lại tánh Phật sẵn đủ nơi chính mình, thoát khỏi biển khổ trầm luân sanh tử.
Trong cuộc sống đời thường có nhiều người vì phải đối diện với những bế tắc, khổ đau cùng cực không thể vượt qua được để rồi tìm đến cái chết xem như một giải pháp duy nhất mà họ có thể lựa chọn để thoát khỏi tình cảnh đen tối trong hiện tại. Do sự phẩn uất cao độ, lý trí mù mờ, hoặc bế tắc trong đời sống nên nhất thời họ hành động sai lầm dẫn đến sự kết liễu bản thân bằng cái chết. Cái chết này kéo theo nhiều hệ lụy cho người thân cũng như xã hội.
Tâm Bồ Đềtâm giác ngộ, tâm thấy được bản mặt thật của chư pháp, tâm tin nơi nhân quảPhật tánh nơi chúng sanh cũng như luôn dụng công tu hành hướng về quả vị Phật. Bồ Đề Tâm liên hệ tới hai chiều hướng: Thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Đi đến rồi đi về Quay về để loay hoay Bút lực đẫm mực thề Chim trời xoải cánh bay... Từng bậc xuống bậc lên Bước theo vần sám nguyện Vạch lối giữa đêm đen Lung linh đèn hướng Thiện...
Cuốn sách này là tập hợp ghi lại những chia sẻ của sư Chân Tuệ trong những năm gần đây, chủ yếu dành cho thiền sinh hành thiền trong các khóa tu tích cực cũng như nhóm một số bạn trẻ muốn áp dụng thiền Minh Sát trong thực tiễn đời sống.
Tâm thức được ví như nhà hát nơi diễn ra các vở kịch/ tuồng khá hấp dẫn. Những biến hiện trong tâm thứccon người bình thường ý thức được phần lớn là ảo giác. Thức uẩn đóng vai trò như một nhà ảo thuật tài ba, có thể tạo ra mọi thứ từ không có gì. Vì lý do này mà một số trường phái Phật giáo, nhất là phái Duy Thức học, tuyên bố thế giới thực ra không tồn tại, chỉ có sự biến hiện của tâm thức, tạo nên các ma cảnh mà thôi!
Chưa có khi nào Phật cười to như thế, cười sảng khoái, “cười hùng mạnh như vua sư tử…” giữa đêm trăng Lăng Già cùng với chúa đảo Ravana và thần dân của ông, với sự có mặt của hàng ngàn Bồ tát.
“Dấu chân trên cát” là tác phẩm được dịch giả Nguyên Phong phóng tác kể về xã hội Ai Cập thế kỷ thứ XIV trước CN, qua lời kể của nhân vật chính – Sinuhe. – một y sĩ có biệt danh là Y sĩ cô độc sống ở Ai Cập vào thế kỷ thứ XIV trước Công Nguyên. Đây là tác phẩm hàm chứa nhiều triết lý nhân sinhquan niệm sâu sắc về thế giới tâm linh. Giống như những tác phẩm khác của GS. John Vũ như Hành trình về phương Đông, Hoa trôi trên sóng nước, Huyền thuật và các đạo sĩ Tây tạng, Bên rặng tuyết sơn… câu chuyện của Sinuhe cũng là ẩn dụ về sự trưởng thành trong hành trình tâm linh – khi con người đi theo sứ mệnh, trải qua nhiều thử thách nhận ra sự kết nối giữa mình và vũ trụ.
Hỏi “đi tu là đi đâu?” nghe có vẻ dư thừa. Tuy nhiên không phải ai cũng có thể trả lời được câu hỏi này. Vì thật tế cho thấy rằng có những người sau khi xuất gia rồi không biết mình nên làm gì.
Trong thuật ngữ nhà Phật, không có từ tiêu diệt, triệt tiêu, loạt trừ, khống chế, áp đặt, cấm đoán… Trước những tập khí, bản chất xấu, nhân xấu, người học Phật cần nhận thức rõ những tính chất tiêu cực làm cản trở bước thăng tiến tâm linh, có nhiều hình thứcpháp môn để chuyển hóa những hạt giống đó mà không sử dụng những ngôn từ hoặc hình thức mang tính bạo lực.
Ngày xưa chúng đệ tử của Đức Phật có nhiều hạng người khác nhau. Tùy theo căn cơ của mỗi người, Đức Phật áp dụng phương pháp giáo hóa khác nhau. Pháp thực hành ban đầu có khác, nhưng tất cả đều nhắm đến mục tiêu cuối cùng. Đó là giúp cho mỗi hành giả thân tâm được thanh tịnh. Nhờ tâm thanh tịnh nên dễ dàng phát sanh trí huệ, đi đến chỗ hoàn toàn giải thoát giác ngộ. Vì thế, Giáo pháp của Đức Phật nhìn chung có nhiều pháp môn, nhưng xem xét kỷ lại thì không ra ngoài ba yếu tố căn bản là “Giới, Định, Huệ”.
Theo Phật giáo, buông bỏ hay buông xả có nghĩa là nội tâm bình đẳng và không có chấp trước, một trong những đức tính quan trọng trong tu tập, buông bỏ sẽ đưa đến trạng thái hửng hờ trước những vui khổ hay độc lập với cả hai thứ nầy. Tuy nhiên, đối với hạng phàm phu, nhất là những người tại gia như chúng ta, những buông bỏ trước mắt phải là tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, sát, đạo, dâm, và vọng bởi vì chúng là những nhân tố chính khiến cho chúng ta ngày càng u mê tăm tối để phải lún sâu vào chỗ gây thêm tội tạo thêm nghiệp.
Con là phật tử và chồng con là một người có đạo. Thật sự gia đình chúng con không có vấn đề phức tạp nhiều về tôn giáo vì chúng con đều tôn trọng lẫn nhau. Chồng con cũng thích nghiên cứu Phật giáo và con cũng hay đi nhà thờ với chồng con. Tuy nhiên thật sự chúng con đang có vấn đề không biết nên trang hoàng bàn thờ như thế nào cho đúng. Chúng con sống ở nhà riêng không phụ thuộc vào hai gia đình.
Bài viết này để bổ túc cho một băng video chủ đề Tuệ Trung Thượng Sỹ trên YouTube (1) do nhóm Wisdom Today thực hiện, trong đó Tiến sĩ Phật học Nguyễn Thúy Loan đã phỏng vấn Hòa Thượng Thích Phước Tịnh và bản thân người viết là Cư sĩ Nguyên Giác.
Có lần, tôi và vài người bạn bị lạc nhiều ngày trong rừng mà không còn thức ăn. Ra khỏi rừng, được người qua đường tốt bụng biếu cho một quả táo thì mừng muốn rớt nước mắt. Bốn anh em chia nhau cắn một quả táo trong sự cẩn trọngthưởng thức như chưa bao giờ được ăn táo. Đến nỗi, chúng tôi ăn luôn cả hạt táo. Chúng tôi đã quả quyết rằng, trên đời này chưa có quả táo nào ngon như quả táo đó cả.
Là một Phật tử, tôi nương theo lời dạy của Đức Phật không thù ghét, không kỳ thị bất cứ chủng tộc nào. Tại Hoa Kỳ, người Da Trắng đang là đa số cho nên họ lãnh đạo đất nước là chuyện đương nhiên. Thế nhưng nếu có một ông Da Đen hay Da Màu (như Việt Nam, Đại Hàn, Phi Luật Tân…) nổi bật lên và được bầu vào chức vụ lãnh đạo thì điều đó cũng bình thườngcông bằng thôi. Đức Phật dạy rằng muôn loài chúng sinh đều có Phật tánh và đều thành Phật. Giá trị của con người không phải ở màu da, sự thông minh, mà là đạo đức và sự đóng góp của cá nhân ấy cho nhân loại, cho cộng đồng, đất nước.
New Posting: Tập san Chánh Pháp số 104 tháng 7 năm 2020
Trong cuộc sống hiện thực có rất nhiều người không hề biết trân quý một cái bánh bao, một bát cơm, một tờ giấy hay một ly nước. Họ cho rằng bỏ đi một chút thức ăn, nước uống cũng chỉ là chuyện nhỏ mà thôi. Nhưng, hôm nay chúng ta lãng phí một chút, ngày mai lại lãng phí một chút, cả một đời tích cóp lại sẽ là một con số không nhỏ.
Gần đây theo một thống kê tín đồ tôn giáoViệt Nam thì con số tín đồ Phật giáo nay đứng thứ hai sau Công giáo (*). Tôi có ít nhất là 10 người bạn tri thức, từ các gia đình là gốc Phật giáo lâu đời, lớn lên từng là đoàn viên Gia Đình Phật tử thuần thành, nay cải đạo theo Thiên Chúa Giáo (cả Tin lành lẫn Công giáo). Thân nhân, bạn hữu, và ngay cả chính họ, tôi nghĩ, cũng không hiểu tại sao.
Trong sâu thẳm của tâm hồn, ai cũng biết rõ ràng đời mình rồi phải có lúc kết thúc và sự chết có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Mặt khác, ai cũng đồng ý rằng giá trị đời người không phải là sự hiện hữu dài hay ngắn mà nằm ở chỗ con người có làm được điều gì tốt cho bản thân và cho cuộc đời.
Vào năm 1988, lúc lâm bệnh lao phổi sau thời gian lao động nặng đào kênh phá đá, ăn uống thiếu dinh dưỡng lại còn... "hút thuốc lá như giặc", tôi đã phát nguyện chép sao lại với chữ to nét tròn cho dễ đọc, chỉ phần "Kinh" đã dịch nghĩa, không chép các phần Giải, Sám và Hán tự, và được chép từ quyển “Dược Sư” (kinh& sám) của Hòa thượng Trí Quang dịch giải, in lần Thứ Nhất – Phật lịch 2518 (1974).
Stephen Hawking không phải chỉ là môt nhà khoa học lớn mà cuộc đời của ông đầy rẫy những cố gắng không ngừng nghỉ, những nỗ lực vô biên hòng vượt qua căn bệnh quái ác, chiến thắng định mệnh khắc nghiệt để trở thành một nhà khoa học tên tuổi đã cống hiến những công trình vĩ đại về vũ trụ học cho nhân loại.
“Muôn kiếp nhân sinh” là tác phẩm do Giáo sư John Vũ – Nguyên Phong viết từ năm 2017 và hoàn tất đầu năm 2020 ghi lại những câu chuyện, trải nghiệm tiền kiếp kỳ lạ từ nhiều kiếp sống của người bạn tâm giao lâu năm, ông Thomas – một nhà kinh doanh tài chính nổi tiếng ở New York. Những câu chuyện chưa từng tiết lộ này sẽ giúp mọi người trên thế giới chiêm nghiệm, khám phá các quy luật về luật Nhân quả và Nhân hồi của vũ trụ giữa lúc trái đất đang gặp nhiều tai ương, biến động, khủng hoảng từng ngày.
Trong bài thuyết trình “Chỗ đứng của đạo Phật trong tiết học ở Hoa Kỳ hiện nay” Giáo sư đi sâu chuyên đề: “Chuyển luân thứ tư” tức vấn đề đổi mới đạo Phật theo xu thế phát triển của Phật giáo hiện nay.
Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ giác ngộ, nổi tiếng vào thế kỷ 13 dưới triều đại nhà Trần. Trong thời kỳ được coi là Hoàng Kim của Phật giáo Việt Nam. Đặc biệt dịch có phỏng vấn Hòa Thượng Phước Tịnh và Cư Sĩ Nguyên Giác. Tuệ Trung Thượng Sĩ is a renowned enlightened layperson from the 13th century, during the Trần Dynasty. This time period was considered the Golden Age of Vietnamese Buddhism. A special interview with Ven. Thích Phước Tịnh and Layperson Nguyên Giác.
Theo Phật giáo, bờ bên nầy hay thử ngạn là bờ của luân hồi sanh tử. Bờ bên kia hay bỉ ngạn là bên kia bờ của dòng luân hồi sanh tử hay Niết Bàn. Bỉ ngạn hay trạng thái giải thoát vượt ra ngoài vòng luân hồi sanh tử. Qua Bờ Bên Kia hay Ba La Mật, theo Phạn ngữ, có nghĩa là Đáo Bỉ Ngạn. Ba La Mật là những pháp đưa chúng sanh qua biển sanh tử để đi đến Niết Bàn
Nhiều tư liệu cho thấy rừng Đại lâm với tinh xá bên ao Di hầu (Markaṭa-hrada-vihāra) là một, nhưng luận Đại trí độ lại ghi nhận tại thành Tỳ-xá-li có hai trú xứ mà Đức Phật từng cư trú. Luận ghi “Thành Tỳ-xá-li có hai trú xứ, một là Đại lâm; hai là tinh xá bên ao Di hầu.”[6]
Đức Phật khi tuổi đã 80, sắp nhập Niết-bàn mà vẫn thực hành an cư là một trong những tấm gương sáng ngời cho người xuất gia hậu thế. Trong mùa an cư cuối cùng này, Đức Phật đã dạy hai điều cốt yếu: Một là, Pháp và Luật đã được Ngài trao truyền trọn vẹn cho chúng Tăng; Pháp và Luật sẽ là thầy dẫn đường tối thượng cho các hội chúng Tỳ-kheo sau khi Như Lai nhập diệt. Hai là, mỗi vị đệ tử hãy tự mình thắp sáng nơi Pháp, hãy tự mình nương tựa Pháp mà trọng tâmtu tập tứ niệm xứ.
Ngay từ thuở nhỏ ta được dạy nói cảm ơn khi ai đó giúp mình. Lời cảm ơn không phải để xã giao mà thật sự biểu lộ lòng biết ơn chân thành của mình đối với người đó.Thế nhưng có lẽ chưa bao giờ ta được dạy nói cảm ơn ta vì nhiều khi ta coi chuyện cảm ơn mình là một điều gì đó lố bịch, kỳ cục, không cần thiết! Trái lại nhiều khi ta còn có khuynh hướng nói xấu mình, bất mãn với mình, thậm chí…nguyền rủa mình.
Viết XỨ TRẦM HƯƠNG, tôi chỉ làm một việc mà nhiều người có thể làm được, nếu muốn, là ghi chép lại những gì đã thấy, đã nghe, đã cảm trong mấy mươi năm sống cùng non nước Khánh Hòa. Ghi chép lại vì nhận thấy đẹp, thấy hay, thấy thú, thấy đáng yêu đáng quý, đáng ra công gìn giữ cho đoàn hậu tiến có lòng cùng non nước.
Tạp chí Tư Tưởng ra đời năm 1967 và kết thúc năm 1975, cùng với sự kết thúc của Viện Đại học Vạn Hạnh, cơ quan chủ quản của nó. Hòa thượng Thích Minh Châu làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, các thầy Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát phụ tá. Đội ngũ cộng tác là những giáo sư danh tiếng thường tham gia dạy tại Vạn Hạnh: Thích Minh Châu, Nguyễn Đăng Thục, Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, Ngô Trọng Anh, Lê Mạnh Thát, Lê Tôn Nghiêm, Kiêm Định, Thạch Trung Giả, Tôn Thất Thiện…
Một chuyến du Nam vãn cảnh bái Phật hai ngôi chùa nổi tiếng trên đất Thủ Dầu Một - Bình Dương: HỘI KHÁNH CỔ TỰ & TÂY TẠNG TỰ Trân trọng giới thiệu đôi nét về hai chốn già lam này qua hình ảnh và thông tin tóm lược.
Người Việt định cư nơi đất khách quê người mà đứng vững được đã là điều khó, xây dựng được một ngôi chùa còn khó hơn, đem hình ảnh ngôi chùa, đem giáo pháp Phật dạy vào trong trái tim của mọi người, để họ gởi gắm tâm hồn họ vào đó lại là điều vô cùng khó khăn.
Như vậy, dù kiết hạ hay kiết đông an cư thì mục đích chính vẫn là thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức. Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào không quan tâm đến việc tu tập thiền định để bồi dưỡng trí tuệ thì thật không xứng đáng là bậc mô phạm tỉnh thức. Sự khắt khe này cũng chỉ vì Đức Phật muốn bảo hộ sức sống của Tăng-già bằng việc triển khai năng lực tu tập của mỗi cá nhân.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đang cách ly an toàn với coronanvirus tại tư thất của ông ấy ở vùng núi cao Hy Mã Lạp Sơn, nhưng nhờ công nghệ thông tin đã giúp ông ấy kết nối với mọi nơi trên thế giới. Chúng tôi đã nói chuyện với ông qua ứng dụng truyền thông liên kết video về lòng từ bi, sự phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ và về Tổng thống Trump, trong số các vấn đề khác.
Tịnh tánh ở trong vọng là trong vọng có tánh, trong tánh có tịnh. Tịnh tánh là không khởi chấp vọng hay chấp trước. Không khởi chấp vọng không phải là đoạn vọng hay không có vọng mà là tuy có vọng nhưng không chấp vọng thì tịnh tánh hiện tiền.
Từ khi đất đá cỗi già Quyện sâu hồn xác, chan hòa máu xương Khuya nghe uềnh oạc ễnh ương Một trang huyền thoại thơm hương tỏa ngời…
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Là một Phật tử, tôi nương theo lời dạy của Đức Phật không thù ghét, không kỳ thị bất cứ chủng tộc nào. Tại Hoa Kỳ, người Da Trắng đang là đa số cho nên họ lãnh đạo đất nước là chuyện đương nhiên. Thế nhưng nếu có một ông Da Đen hay Da Màu (như Việt Nam, Đại Hàn, Phi Luật Tân…) nổi bật lên và được bầu vào chức vụ lãnh đạo thì điều đó cũng bình thườngcông bằng thôi. Đức Phật dạy rằng muôn loài chúng sinh đều có Phật tánh và đều thành Phật. Giá trị của con người không phải ở màu da, sự thông minh, mà là đạo đức và sự đóng góp của cá nhân ấy cho nhân loại, cho cộng đồng, đất nước.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đang cách ly an toàn với coronanvirus tại tư thất của ông ấy ở vùng núi cao Hy Mã Lạp Sơn, nhưng nhờ công nghệ thông tin đã giúp ông ấy kết nối với mọi nơi trên thế giới. Chúng tôi đã nói chuyện với ông qua ứng dụng truyền thông liên kết video về lòng từ bi, sự phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ và về Tổng thống Trump, trong số các vấn đề khác.
Chúng tôi – Chúng con đã trực tiếp liên lạc với Hiệp hội văn bản Pali, trong phạm vi công cộng được sự đồng ý của Hiệp hội văn bản Pali Nhà xuất bản - Dharma Mountain Publishing với mục đích xuất bản bộ Đại Tạng hoàn toàn phi lợi nhuận - phi thương mại với Giấy phép – Licence: Attribution-NonCommercial 3.0 (CC BY-NC 3.0). Tham gia với chúng tôi – chúng con để trở thành người hỗ trợ trong các dự án dưới đây: 1). Dự án xuất bản Tam tạng Kinh điển tiếng Anh hỗ trợ sự truyền bá Phật giáo tại Hoa Kỳ 2). Xuất bản Tam Tạng tiếng Việt, do Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tiếng Pali 3). Xuất bản Bộ Chơn Lý do Sư Tổ Minh Đăng Quang trước tác 4). Xuất bản Kinh điển đọc tụng hàng ngày 5). Xuất bản sách ứng dụng Thiền chánh niệm
Như thông lệ hàng năm với 4 khóa tu Xuân - Hạ - Thu - Đông, Khóa Tu Mùa Hạ năm nay được chùa Sắc Tứ Kim Sơn tổ chức vào các ngày 16,17,18,19/7/2020.
Khi nghe nói: nghiệp phải chuyển, tâm phải khai, mình có cảm giác như đó là hai thứ đối nghịch nhau. Chúng ta đang ở trong vòng của nghiệp chi phối và thường rất ngán nghiệp. Nghe nói đến nghiệp, hoặc đổ nghiệp, là sợ rồi, và nghe nói khai tâm thì cũng muốn hướng về. Nhưng thật ra, hai cái này có phải là hai hay không? Hay chỉ do mình mê lầm bị nghiệp chi phối mà không biết, và nghiệp che đi tâm Phật vốn có sẵn nơi mình. Do chỗ không tự biết này mà thành như có hai. Thật ra chỉ là một tâm.
Vê dự buổi tu học có Thầy Tường Nhân từ chùa Pháp Luân-Huế Việt Nam và Thầy Bhipunanda (Bhidan Bhipu) Bangladhesh Monk đến từ Moreno Valley. Cả hai thầy đều từng tu học ở Thai lan trên 10 năm nên biết nhau từ trước, một ngưòi từ trời tây, một ngưòi từ phưong đông, thế mà gặp lại thì nói chuyện với nhau bằng tiếng Thái làu làu nghe thật thich