Kinh Lợi Dưỡng

04/07/20163:25 SA(Xem: 879)
Kinh Lợi Dưỡng
KINH PHÁP CÚ HÁN TẠNG
Thích Nhất Hạnh Việt dịch
Thể kệ: Nguyên Định (chữ đậm)

Kinh Lợi Dưỡng

 

Dù trời có rơi mưa thất bảo xuống thì cái ham muốn của con người cũng không thỏa mãn. Cái vui ít mà cái khổ thì nhiều, biết được như thế thì có thể trở thành bậc hiền nhân.

 

Lợi Dưỡng Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập tam
利養品法句經第三十三
Kinh Lợi Dưỡng
Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng
Phẩm thứ 33

 

Phẩm này có 20 bài kệ. Phẩm này không có trong bản Pháp Cú tiếng Pali. Trong Xuất Diệu Kinh (Đại Chánh 212), phẩm này là phẩm thứ 14, và trong Pháp Tập Yếu Tụng Kinh (Đại Chánh 213) phẩm này là phẩm thứ 13.

Lợi dưỡng ở đây là sự hưởng thụ tiện nghi. Người tu phải để hết thì giờtâm lực để tìm cầu giải thoát, chứ không phải để chạy theo lợi dưỡng. Hai mươi bài kệ trong kinh này là hai mươi tiếng chuông chánh niệm cho người xuất gia. Bài kệ thứ 20 dạy: thà nuốt viên sắt cháy, thà uống nước đồng sôi, còn hơn là phá giới mà cứ tiếp tục tiếp nhận của tín thí cúng dường. Tăng đoàn xuất gia phải được tổ chức và giáo hóa cho hết lòng và khéo léo mới tránh được sự hư hỏng của người xuất gia, dù lớn tuổi hay còn nhỏ tuổi

 

Bài kệ 1

Ba tiêu dĩ thật tử                                 芭  蕉  以  實  死

Trúc lô thật diệc nhiên                          竹  蘆  實  亦  然

Cự lư tọa nhâm tử                                詎  驉  坐  妊  死

Sĩ dĩ tham tự tang                                士  以  貪  自  喪

 Cây chuối có hoa có trái rồi chết, cây tre và cây lau có hoa rồi cũng chết, con lừa có thai cũng chết. Con ngườitham lam cũng tự chôn mình.

Cây chuối có hoa

Có trái rồi chết

Tre lau có hoa

Rồi cũng chết đi

Con lừa có thai

Rồi cũng chết đi;

Con người tham lam

Cũng tự chôn mình.

 

 

Bài kệ 2

Như thị tham vô lợi                        如  是  貪  無  利

Đương tri tùng si sanh                   當  知  從  癡  生

Ngu vi thử hại hiền                         愚  為  此  害  賢

Thủ lãnh phần vu địa                     首  領  分  于  地

 Tham như vậy là thực sự không có lợi ích. Cái tham do cái si sinh ra. Người u mêtham lam mà đang tâm làm hại người hiền. Cả đến các vị thủ lĩnh cũng đã phải rơi rụng như thế.

Tham vậy vô ích

Tham do si sinh;

Người ngu tham lam

Làm hại người hiền

Thủ lĩnh cũng rơi.

 

 

Bài kệ 3

Thiên vũ thất bảo                           天  雨  七  寶

Dục do vô yếm                               欲  猶  無  厭

Lạc thiểu khổ đa                             樂  少  苦  多

Giác giả vi hiền                               覺  者  為  賢

 Dù trời có rơi mưa thất bảo xuống thì cái ham muốn của con người cũng không thỏa mãn. Cái vui ít mà cái khổ thì nhiều, biết được như thế thì có thể trở thành bậc hiền nhân.

Trời mưa thất bảo

Lòng tham chưa thỏa;

Vui ít khổ nhiều

Hiền nhân biết vậy.

 

 

Bài kệ 4

Tuy hữu thiên dục                             雖  有  天  欲

Tuệ xả vô tham                                 慧  捨  無  貪

Lạc ly ân ái                                      樂  離  恩  愛

Vi Phật đệ tử                                   為  佛  弟  子

 Tuy có những cõi trờidục giới, nhưng người có trí tuệ vẫn biết buông bỏ mà không ham sinh lên. Biết vui cái vui của sự xa lìa ân ái, đó mới là đệ tử của Bụt.

Cõi trời dục giới

Người trí buông bỏ

Không ham sinh lên;

Vui lìa ân ái

Ấy là con Bụt.

 

 

Bài kệ 5

Viễn đạo thuận tà                            遠  道  順  邪

Tham dưỡng Tỳ-kheo                      貪  養  比  丘

Chỉ hữu san ý                                 止  有  慳  意

Dĩ cung bỉ tính                                以  供  彼  姓

 Đi theo hướng tà, tham đắm lợi dưỡng, chỉ có ý mong cầu được người ta cúng dường cho mình, vị Tỳ-khưu dần dần bỏ xa con đường đạo.

Đi theo hướng tà

Tham đắm lợi dưỡng

Mong cầu cúng dường

Tỳ khưu xa đạo.

 

 

Bài kệ 6

Vật y thử dưỡng                              勿  猗  此  養

Vi gia xả tội                                     為  家  捨  罪

Thử phi chí ý                                   此  非  至  意

Dụng dụng hà ích                             用  用  何  益

 Đừng vì phẩm vật cúng dường mà làm lễ cầu an xả tội cho người tại gia. Làm như thế không đúng đạo pháp và không đem lại lợi ích nào cho cả hai phía.

Đừng vì cúng dường

Cầu an xá tội

Không đúng đạo pháp

Không lợi hai phía.

 

Bài kệ 7

Ngu vi ngu kế                                 愚  為  愚  計

Dục mạn dụng tăng                         欲  慢  用  增

Dị tai thất lợi                                   異  哉  失  利

Nê hoàn bất đồng                           泥  洹  不  同

 Những kẻ si mê thì tính toán một cách u mê, do đó cái tham dục và cái kiêu mạn càng ngày càng tăng. Tính toán như vậy thì thật là lạ quá, bởi vì làm như thế thì lợi ích chân thực cũng không đạt đượcNiết Bàn cũng trở nên xa vời.

Kẻ si tính toán

Tham kiêu càng tăng

Tính toán lệch lạc

Đâu đạt lợi ích

Niết bàn càng xa.

 

 

Bài kệ 8-9

Đế tri thị giả                                    諦  知  是  者

Tỳ-kheo Phật tử                              比  丘  佛  子

Bất lạc lợi dưỡng                            不  樂  利  養

Nhàn cư khước ý                           閑  居  却  意

Tự đắc bất thị                                 自  得  不  恃

Bất tòng tha vọng                           不  從  他  望

Vọng bỉ Tỳ-kheo                             望  彼  比  丘

Bất chí chánh định                          不  至  正  定

 Người thấy được sự thực đó mới là một vị Tỳ-khưu đích thực, đệ tử của Bụt. Người ấy không tìm cái vui nơi sự tìm cầu lợi dưỡng; trái lại, biết sống thong dong một mình, dẹp bỏ dục ý, tự mình là mình, không nhờ cậy ai, cũng không mong cầu cái gì từ một kẻ khác. Một vị Tỳ-khưu mà cứ trông cầu nơi người khác thì không bao giờ đạt được chánh định.

Thấy sự thực đó

Đích thực tỳ kheo

Không cầu lợi dưỡng

Thong dong một mình

Dẹp bỏ dục ý;

Tự mình là mình

Không nhờ cậy ai

Trông cầu người khác

Không đạt chánh định.

 

 

Bài kệ 10

Phu dục an mạng                              夫  欲  安  命

Tức tâm tự tỉnh                                 息  心  自  省

Bất tri kế số                                     不  知  計  數

Y phục ẩm thực                                衣  服  飲  食

 Nếu muốn an tâm lập mạng phải biết tự tỉnh, làm lắng dịu tâm ý, đừng quá lo lắng về chuyện ăn uốngy phục.

An tâm lập mạng

Phải biết tự tỉnh

Lắng dịu tâm ý

Đừng quá lo lắng

Ăn uống y phục.

 

 

Bài kệ 11

Phu dục an mạng                           夫  欲  安  命

Tức tâm tự tỉnh                             息  心  自  省

Thủ đắc tri túc                                取  得  知  足

Thủ hành nhất pháp                         守  行  一  法

 Nếu muốn an tâm lập mạng phải biết tự tỉnh, làm lắng dịu tâm ý, biết tri túc khi tiếp nhận cúng dường, quyết tâm bảo hộhành trì một phép tri túc ấy.

An tâm lập mạng

Phải biết tự tỉnh

Lắng dịu tâm ý

Phải biết tri túc

Tiếp nhận cúng dường

Quyết giữ tri túc.

 

 

Bài kệ 12

Phu dục an mạng                            夫  欲  安  命

Tức tâm tự tỉnh                               息  心  自  省

Như thử tạng huyệt                          如  鼠  藏  穴

Tiềm ẩn tập giáo                             潛  隱  習  教

 Nếu muốn an tâm lập mạng, thì phải như con chuột đất ẩn mình trong hang để chuyên lo thực tập.

An tâm lập mạng

Phải như chuột đất

Ẩn mình trong hang

Chuyên lo thực tập.

 

 

Bài kệ 13

Ước lợi ước nhĩ                               約  利  約  耳

Phụng giới tư tánh                            奉  戒  思  惟

Vi tuệ sở xưng                                 為  慧  所  稱

Thanh cát vật đãi                              清  吉  勿  怠

 Đừng thọ dụng nhiều, đừng nghe và nói chuyện thế gian, phải sử dụng thì giờthực tập giới luậtthiền định. Đừng có lười biếng thì mới xứng đáng với đời sống phạm hạnh và mới có cơ hội đạt được tuệ giác.

Đừng thọ dụng nhiều

Nghe nói chuyện đời

Chuyên tâm thực tập

Giới luật, thiền định;

Đừng có lười biếng

Giữ nếp phạm hạnh

Đạt được tuệ giác.

 

 

Bài kệ 14

Như hữu tam minh                           如  有  三  明

Giải thoát vô lậu                               解  脫  無  漏

Quả trí tiên thức                               寡  智  鮮  識

Vô sở ức niệm                                 無  所  憶  念

 Phải nuôi ý đạt cho được tam minh và đi đến quả vị giải thoát vô lậu. Nếu kiến thức hẹp hòi và trí tuệ thô lậu thì sẽ không ghi nhớ được những gì mình học hỏi.

Nuôi ý đạt được

Tam minh, quả vị

Giải thoát vô lậu;

Kiến thức hẹp hòi

Trí tuệ thô lậu

Sẽ không nhớ gì.

 

 

Bài kệ 15

Kỳ ư thực ẩm                                其  於  食  飲

Tùng nhân đắc lợi                          從  人  得  利

Nhi hữu ác pháp                            而  有  惡  法

Tùng cúng dường tật                     從  供  養  嫉

 Những kẻ chỉ vì ẩm thực, chỉ đi theo người để tìm cầu lợi dưỡng sẽ làm phát sinh ra nhiều điều xấu. Bởi vì cái ganh ghét cũng được phát sinh từ sự tranh giành lợi dưỡng.

 

Chỉ vì ẩm thực

Tìm cầu lợi dưỡng

Phát sinh điều xấu;

Ganh ghét phát sinh

Tranh giành lợi dưỡng.

 

 

Bài kệ 16

Đa kết oán lợi                                 多  結  怨  利

Cường phục pháp y                       強  服  法  衣

Đãn vọng ẩm thực                          但  望  飲  食

Bất phụng Phật giáo                       不  奉  佛  教

 Tranh giành, tìm cầu lợi dưỡng tạo thành nhiều oán hận. Khoác chiếc pháp y mà chỉ cầu chuyện lợi dưỡng thì không thể nào nói rằng mình đang phụng hành theo lời Bụt dạy.

Tranh giành lợi dưỡng

Tạo nhiều oán hận

Mặc áo cà sa

Chỉ cầu lợi dưỡng

Đâu phải phụng hành

Theo lời Bụt dạy.

 

 

Bài kệ 17

Đương tri thị quá                            當  知  是  過

Dưỡng vi đại úy                             養  為  大  畏

Quả thủ vô ưu                                寡  取  無  憂

Tỳ-kheo thích tâm                          比  丘  釋  心

 Phải biết hành xử như thế là một lỗi lầm rất lớn, phải biết sợ hãi khi thấy có người hành xử như thế. Vị Tỳ-khưu chỉ cần tiếp nhận phẩm vật cúng dường một cách chừng mực, do đó mà luôn luôn được mãn ý và đạt tới vô ưu.

Hành xử như thế

Lỗi lầm rất lớn

Phải biết sợ hãi

Khi thấy như vậy;

Tỳ kheo tiếp nhận

Phẩm vật cúng dường

Một cách chừng mực

Nên được mãn ý

Đạt tới vô ưu.

 

 

Bài kệ 18

Phi thực mạng bất tế                      非  食  命  不  濟

Thục năng bất sủy thực                  孰  能  不  揣  食

Phu lập thực vi tiên                        夫  立  食  為  先

Tri thị bất nghi tật                          知  是  不  宜  嫉

 Đã đành rằng không có thức ăn thì không có sinh mạng, ai cũng cần phải ăn mới sống. Dù phải công nhận nguyên tắc “dĩ thực vi tiên”, nhưng nếu ta biết thực hành phép tri túc thì không bao giờ còn có xảy ra sự ganh ghét.

Không có thức ăn

Không có sinh mạng

Cần ăn mới sống;

Thực hành tri túc

Không còn ganh ghét.

 

 

Bài kệ 19

Tật tiên sang kỷ                              嫉  先  創  己

Nhiên hậu sang nhân                       然  後  創  人

Kích nhân đắc kích                          擊  人  得  擊

Thị bất đắc trừ                               是  不  得  除

 Cái ganh ghét hại ta trước rồi lại hại người. Đánh người thì bị người đánh, điều đó bao giờ cũng đúng.

Ganh ghét hại ta

Rồi mới hại người;

Đánh đập người ta

Thì bị đánh lại.

 

 

Bài kệ 20

Ninh đạm thiêu thạch                     寧  噉  燒  石

Thôn ẩm dương đồng                    吞  飲  洋  銅

Bất dĩ vô giới                               不  以  無  戒

Thực nhân tín thí                           食  人  信  施

 Thà nuốt viên sắt cháy, thà uống nước đồng sôi, còn hơn phá giới mà cứ tiếp nhận của tín thí cúng dường.

Thà nuốt sắt cháy

Thà uống nước sôi

Còn hơn phá giới

Mà cứ tiếp nhận

Tín thí cúng dường.




Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 113247)
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.