Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại

04/07/20163:31 SA(Xem: 1331)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại
KINH PHÁP CÚ HÁN TẠNG
Thích Nhất Hạnh Việt dịch
Thể kệ: Nguyên Định (chữ đậm)

Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại

 

Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết Bàn (Nirvana, Nibbana). Trong bản dịch, có chữ trời phương ngoạiTrời phương ngoại là cái không gian vượt ra ngoài không gian, chữ Hán gọi là thiên ngoại thiên hay phương ngoại phương.  Phương là không gian, phương ngoại là ngoài không gian, nghĩa là không gian nằm ngoài không gianRong chơi trời phương ngoại là đi chơi trong thế giới không gian ngoài không gian.  Trong không gian này không có sinh, không có diệt, khống có tới, không có đi, không có còn, không có mất, không có ta, không có người, không có sự phân biệt kỳ thị.  Không gian đó bao la vô cùng, gọi là Niết Bàn.

 

Nê Hoàn Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập lục
泥洹品法句經第三十六
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại
Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng
Phẩm thứ 36

 

Phẩm này có 36 bài kệ. Nê HoànNiết Bàn, kinh này không có trong văn bản Pháp Cú Pali. Các kinh còn lại cũng thế.

 

Bài kệ 1

Nhẫn vi tối tự thủ                        忍  為  最  自  守
Nê hoàn Phật xưng thượng         泥  洹  佛  稱  上
Xả gia bất phạm giới                  捨  家  不  犯  戒
Tức tâm vô sở hại                     息  心  無  所  害

 

Nhẫn là biện pháp hay nhất để tự bảo hộ.
Niết bàn là cái mà Bụt khen ngợi là cao đẹp nhất.
Buông bỏ nếp sống trần tục, sống đời phạm hạnh, không phạm giới,
Làm lắng dịu được tâm ý, thì không có gì có thể xâm phạm được đến mình.

Nhẫn nhục hay nhất

Để tự bảo hộ

Niết bàn cao nhất

Mà Bụt khen ngợi

Bỏ nếp trần tục

Sống đời phạm hạnh

Không vi phạm giới

Lắng dịu tâm ý

Không gì xâm phạm.

 

 

 

Bài kệ 2

Vô bệnh tối lợi                無  病  最  利
Tri túc tối phú                 知  足  最  富
Hậu vi tối hữu                 厚  為  最  友
Nê hoàn tối khoái           泥  洹  最  快

 

Không bệnh là cái lợi tức lớn nhất
Tri túc là cái giàu có to nhất
Trung thực là người bạn tốt nhất
Niết bàn là cái hạnh phúc cao nhất.

Không bệnh lợi nhất

Tri túc giàu nhất

Trung thực tốt nhất

Niết bàn cao nhất.

 

 

 

Bài kệ 3

Cơ vi đại bệnh                        飢  為  大  病

Hành vi tối khổ                       行  為  最  苦
Dĩ đế tri thử                           已  諦  知  此
Nê hoàn tối lạc                       泥  洹  最  樂

Đói là cái bệnh khó chịu đựng nhất.
Các pháp hữu vi là cái gây khổ đau nhiều nhất.
Cứ nhìn vào sự thực mà tìm hiểu
Thì Niết bàn là cái lạc thú lớn nhất.

 

Đói khó chịu nhất

Hành vi khổ nhất;

Tìm hiểu sự thực

Thấy Niết bàn

Lạc thú lớn nhất.


Bài kệ 4

Thiểu vãng thiện đạo              少  往  善  道
Thú ác đạo đa                       趣  惡  道  多
Như đế tri thử                        如  諦  知  此
Nê hoàn tối an                       泥  洹  最  安

 Ở đời, ít người được đi trên nẻo thiện,
Trong khi ấy, kẻ đi trên đường ác thì nhiều.
Cứ nhìn vào sự thực mà tìm hiểu
Thì Niết bàn là nơi an toàn nhất.

Ở đời ít người

Đi trên nẻo thiện

Trong khi kẻ đi

Đường ác thì nhiều;

Tìm hiểu sự thực

Thấy Niết bàn

Nơi an toàn nhất

 


Bài kệ  5

Tùng nhân sanh thiện                 從  因  生  善
Tùng nhân đọa ác                      從  因  墮  惡
Do nhân nê hoàn                        由  因  泥  洹
Sở duyên diệc nhiên                   所  緣  亦  然

 

Các cõi trời do tạo tác nhân lành mà mình được sinh lên,
Các ác đạo cũng do ác nhân mà mình bị đọa xuống
Niết bàn cũng như thế
Do nhân duyên tu tập mà có Niết bàn.

 

Nhân lành, mình sinh

Nhân ác, mình đọa;

Do nhân Niết bàn

Nhân duyên tu tập

Đạt tới Niết bàn.

 

 

 

Bài kệ 6

 Mi lộc y dã                              麋  鹿  依  野
Điểu y hư không                      鳥  依  虛  空
Pháp quy kỳ báo                      法  歸  其  報
Chân nhân quy diệt                   真  人  歸  滅

Hươu nai nương đồng quê.
Chim chóc nương trời mây.
Sự vật nương phân biệt mà biểu hiện.
Các bậc chân nhân nương vào Niết bàn để sống thảnh thơi.

 

Nai nương đồng quê

Chim nương trời mây

Sự vật nương theo

Phân biệt biểu hiện;

Chân nhân nương vào

Niết bàn thảnh thơi.

 

 


Bài kệ 7

Trong Đại Tạng Tân Tu:
Thỉ vô như bất                   始  無  如  不
Thỉ bất như vô                   始  不  如  無
Thị vi vô đắc                      是  為  無  得
Diệc vô hữu tư                  亦  無  有  思

 

Trong một bản in khác:
Thỉ vô thỉ phủ                             始  無  始  否
Như bất như vô                          如  不  如  無
Thị vi vô đắc                              是  為  無  得
Diệc vô hữu tư                           亦  無  有  思

 

Thấy được cái không trước, không sau
Không là, không không
Cái đó là vô đắc
Cũng là cái không thể tư duy được.

 

Thấy cái không là

Cùng không không

Không trước không sau

Đó là vô đắc

Không thể tư duy.

 


Bài kệ 8

Tâm nan kiến tập khả đổ                  心  難  見  習  可  覩
Giác dục giả nãi cụ kiến                    覺  欲  者  乃  具  見
Vô sở lạc vi khổ tế                            無  所  樂  為  苦  際
Tại ái dục vi tăng thống                      在  愛  欲  為  增  痛

 

Tâm khó thấy, nhưng thói quen có thể nhận ra,
Kẻ nhận diện được dục ý thấy được đầy đủ rằng
Không tìm thú vui trong dục lạc thì tránh được mọi thứ khổ
ái dục luôn luôn làm tăng trưởng niềm đau.

 

Tâm khó nhận thấy

Thói quen nhận ra

Nhận diện dục ý

Không tìm thú vui

Tránh mọi thứ khổ

Ái dục luôn luôn

Tăng trưởng niềm đau.
 

 

 

Bài kệ 9

Minh bất thanh tịnh năng ngự                  明  不  清  淨  能  御
Vô sở cận vi khổ tế                                無  所  近  為  苦  際
Kiến hữu kiến văn hữu văn                      見  有  見  聞  有  聞
Niệm hữu niệm thức hữu thức                  念  有  念  識  有  識

 

Trong một bản in khác:

Minh bất nhiễm tịnh năng ngự                       明  不  染  淨  能  御
Vô sở cận vi khổ tế                                     無  所  近  為  苦  際
Kiến hữu kiến văn hữu văn                           見  有  見  聞  有  聞
Niệm hữu niệm thức hữu thức                      念  有  念  識  有  識

 

Sáng suốt, không để cho tâm ý bị nhiễm ô
Một khi đã được thanh tịnh hóa thì chế ngự được mọi dục ý.
Lúc ấy không còn phải tiếp cận với thế giới đau khổ nữa
Tuy rằng thấy thì vẫn thấy, nghe thì vẫn nghe,
Nhớ thì vẫn nhớ, và biết thì vẫn biết.

 

Sáng suốt không để

Tâm ý nhiễm ô

Nhờ thanh tịnh hóa

Chế ngự dục ý

Không còn tiếp cận

Thế giới đau khổ;

Thấy thì vẫn thấy

Nghe thì vẫn nghe

Nhớ thì vẫn nhớ

Biết thì vẫn biết.

 

 

 


Bài kệ 10

Đố vô trước diệc vô thức                           覩  無  著  亦  無  識
Nhất thiết xả vi đắc tế                                 一  切  捨  為  得  際
Trừ thân tưởng diệt thống hành                   除  身  想  滅  痛  行
Thức dĩ tận vi khổ cánh                              識  已  盡  為  苦  竟

 

Đạt được cái vô trướcvô phân biệt,
Một khi buông bỏ được mọi ý niệm rồi thì sẽ vào được cõi ấy
Vượt thắng được ý niệm về ngã,
Điều phục được các tâm hànhtác dụng gây đau nhức
Và dứt bỏ được hoàn toàn cái tập khí nhận thức phân biệt kỳ thị, thì khổ đau không còn.

 

Đạt được vô trước

vô phân biệt

Buông bỏ ý niệm

Sẽ vào được cõi

Vượt thắng chấp ngã

Điều phục tâm hành

Dứt bỏ tập khí

Phân biệt kỳ thị

Khổ đau không còn.


Bài kệ 11

Ỷ tắc động hư tắc tịnh                     猗  則  動  虛  則  淨
Động phi cận phi hữu lạc                  動  非  近  非  有  樂
Lạc vô cận vi đắc tịch                      樂  無  近  為  得  寂
Tịch dĩ tịch dĩ vãng lai                      寂  已  寂  已  往   來

 

Trong một bản in khác:

Ỷ tắc động hư tắc tĩnh                        猗  則  動  虛  則  静
Động phi cận phi hữu lạc                     動  非  近  非  有  樂
Lạc vô cận vi đắc tịch                         樂  無  近  為  得  寂
Tịch dĩ tịch vô vãng lai                        寂  已  寂  無  往  來

 

Ở trong hoàn cảnh động mà giữ được tâm thanh hư thì vẫn là tĩnh
Trong cái động, không tiếp cận được Niết bàn, cũng không có an lạc
Ý niệm về cái vui và cái khổ đã vượt qua rồi thì mới thực sự có cái tịch tĩnh
Vượt qua được cái ý niệm tịch tĩnh thì sẽ không còn cái qua lại nữa.

 

Ở trong cảnh động

Giữ tâm thanh hư

Thì vẫn là tĩnh

Trong động không yên

Cũng không an lạc;

Vượt qua vui khổ

Mới có tịch tĩnh

Vượt qua tịch tĩnh

Không còn qua lại.

 

 

 


Bài kệ 12

Vãng lai tuyệt vô sanh tử                 往  來  絕  無  生  死
Sanh tử đoạn vô thử bỉ                    生  死  斷  無  此  彼
Thử bỉ đoạn vi lưỡng diệt                 此  彼  斷  為  兩  滅
Diệt vô dư vi khổ trừ                        滅   無  餘  為  苦  除

 

Cái qua lại đã hết, thì cái sinh tử cũng hết
Sinh tử hết thì làm gì còn phân biệt cái này cái kia?
Cái này và cái kia, cả hai ý niệm đều được chấm dứt
Cái tịch diệt tuyệt đối là cái vắng mặt của cảnh giới đau khổ.

 

Qua lại đã hết

Sinh tử cũng hết

Sinh tử hết rồi

Sao còn phân biệt

Cái này cái kia

Cái này kia hết

Cả hai biến mất

Tịch diệt tuyệt đối

Đau khổ vắng mặt.

 


Bài kệ 13
Tỳ-kheo hữu thế sanh                比  丘  有  世  生
Hữu hữu hữu tác hành               有  有  有  作  行
Hữu vô sanh vô hữu                  有  無  生  無  有
Vô tác vô sở hành                     無  作  無  所  行

 

Này các vị Tỳ Kheo, trên đời này có cái sinh, có cái hữu, có cái tác, có cái hành. Nhưng cũng có cái không sinh, có cái không hữu, có cái không tác, có cái không hành để làm nẻo thoát cho những cái có sinh, có hữu, có tác, có hành ấy.

 

Đời có sinh hữu

Có tác có hành

Nhưng cũng có cái

Không sinh không hữu

Không tác không hành

Để làm nẻo thoát

Có sinh có hữu

Có tác có hành.

 

 

Bài kệ 14

Phu duy vô niệm giả                     夫  唯  無  念  者
Vi năng đắc tự trí                         為  能  得  自  致
Vô sanh vô phục hữu                    無  生  無  復  有
Vô tác vô hành xứ                        無  作  無  行  處


Chỉ khi đạt được vô niệm
Mới có thể tới được Niết bàn
Nếu đã là vô sinh thì không còn hữu nữa
Lúc ấy không còn tác, cũng không còn hành

 

Khi đạt vô niệm

Mới tới Niết bàn

Nếu đã vô sinh

Không còn hữu nữa

Tức không còn tác

Cũng không còn hành.

 

 


Bài kệ 15

Sanh hữu tác hành giả                         生  有  作  行  者
Thị vi bất đắc yếu                                是  為  不  得  要
Nhược dĩ giải bất sanh                        若  已  解  不  生
Bất hữu bất tác hành                           不  有  不  作  行


Thấy có sinh, có hữu, có tác, có hành
Là chưa đạt tới chỗ thiết yếu
Nếu hiểu được thế nào là bất sinh
Thì không thấy còn hữu cũng không còn nhu yếu tác và hành.

 

Thấy sinh có hữu

Có tác có hành

Chưa đạt thiết yếu;

Hiểu được bất sinh

Thấy không còn hữu

Cũng không tác hành.
 

 

 

Bài kệ 16

Tắc sanh hữu đắc yếu                     則  生  有  得  要
Tùng sanh hữu dĩ khởi                    從  生  有  已  起
Tác hành trí tử sanh                       作  行  致  死  生
Vi khai vi pháp quả                         為  開  為  法  果


Vì hữu nên mới phải có sinh
Và vì sinh cho nên hữu lại tiếp tục
Có tác, có hành, thì tử rồi lại sinh
Đó là cánh cửa sinh tử mở ra, để đưa đến sự phát khởi của các pháp.

 

Vì hữu có sinh

Vì sinh, hữu có
Có tác có hành

Tử rồi lại sinh

Cửa sinh tử mở

Phát khởi các pháp.

 

 

 

 

Bài kệ 17

Tùng thực nhân duyên hữu                 從  食  因  緣  有
Tùng thực trí ưu lạc                           從  食  致  憂  樂


Nhi thử yếu diệt giả                            而  此  要  滅  者
Vô phục niệm hành tích                      無  復  念  行  迹

 

Cái gì cũng do thức ăntồn tại
Ngay cả cái buồn, cái vui cũng phải cần thức ăn mới có
Nếu cái chất liệu thiết yếu ấy không còn
Thì không còn dấu vết nào của hành mà mình có thể nhận diện.

 

Tất cả tồn tại

Nhờ vào thức ăn

Cái buồn cái vui

Cũng cần thức ăn

Nếu chất ấy mất

Đâu còn dấu vết

Của hành mà mình

Có thể nhận diện.

 

 

 


Bài kệ 18

Chư khổ pháp dĩ tận                    諸  苦  法  已  盡
Hành diệt trạm nhiên an               行  滅  湛  然  安
Tỷ-khưu ngô dĩ tri                       比  丘  吾  已  知
Vô phục chư nhập địa                  無  復  諸  入  地 


Nếu khổ đau đã hết và các hành đã diệt
Thì hạnh phúc sẽ có mặt một cách lặng lẽ và sẽ có bình an
Này các vị Tỳ-kheo, tôi  đã thực chứng điều này
Cho nên tôi  không cần phải tìm đi vào một cõi nào nữa.

 

Khổ đau đã hết

Các hành đã diệt

Hạnh phúc có mặt

Sẽ có bình an;

Ta đã chứng vậy

Nên không cần tìm

Vào cõi nào nữa.

 


Bài kệ 19

Vô hữu hư không nhập                    無  有  虛  空  入
Vô chư nhập dụng nhập                   無  諸  入  用  入
Vô tưởng bất tưởng nhập                無  想  不  想  入
Vô kim thế hậu thế                          無  今  世  後  世

 

Không đi vào cõi hư không
Không có cái nơi đi vào để đi vào
Không đi vào cõi tưởng hay cõi vô tưởng
Không đi vào đời này hay đời sau.

 

Không vào hư không

Không nơi đi vào

Không vào cõi tưởng

Hay cõi vô tưởng

Không vào đời này

Hay vào đời sau.

 

 

Bài kệ 20                                                                                                                                   

Diệc vô nhật nguyệt tưởng            亦  無  日  月  想
Vô vãng vô sở huyền                    無  往  無  所  懸
Ngã dĩ vô vãng phản                     我  已  無  往  反
Bất khứ nhi bất lai                        不  去  而  不  來

 

Cũng không có ý niệm về mặt trờimặt trăng đang có mặt
Không đi cũng không ở lại
Không có một cái ngã để đi và để về
Thì không có cái đi và cái về.

 

Không có ý niệm

Mặt trời mặt trăng

Không đi không ở

Không có cái ngã

Để đi để về

Đi về cũng không.

 

 

Bài kệ 21

Bất một bất phục sanh                  不  沒  不  復  生
Thị tế vi nê hoàn                           是  際  為  泥  洹
Như thị tượng vô tượng                如  是  像  無  像
Khổ lạc vi dĩ giải                         苦  樂  為  以  解

 

Nơi không có cái mất đi cũng không có cái còn sinh ra
Nơi ấy là Niết bàn.
Như thế thì vấn đề có đối tượng tri giác hay không có đối tượng tri giác
vấn đề bản chất của cái khổ và cái vui, mình đã hiểu thấu.

 

Không có mất đi

Không có sinh ra

Đó là Niết bàn;

Thấy có hay không

Đối tượng tri giác

Bản chất khổ vui

Mình đã hiểu thấu.

 

 

 


Bài kệ 22

Sở kiến bất phục khủng            所  見  不  復  恐
Vô ngôn ngôn vô nghi               無  言  言  無  疑
Đoạn hữu chi xạ tiễn                斷  有  之  射  箭
Cấu ngu vô sở y                      遘  愚  無  所  猗

 

Cái mình thấy không còn làm cho mình sợ hãi nữa
Không còn nghi ngờ gì nữa về ngôn từ hay không ngôn từ
Mũi tên bắn rơi được cái hữu rồi
Thì khi gặp kẻ ngu muội không cần diễn bày gì nữa cả.

 

Cái mình được thấy

Không gây sợ hãi

Nói hay không nói

Không còn nghi ngờ

Mũi tên bắn rơi

Được cái hữu rồi

Gặp kẻ ngu muội

Không cần diễn bày.

 

 

 


Bài kệ 23

Thị vi đệ nhất khoái                            是  為  第  一  快
Thử đạo tịch vô thượng                      此  道  寂  無  上

Thọ nhục tâm như địa                         受  辱  心  如  地
Hành nhẫn như môn quắc                    行  忍  如  門  閾

 

Đó là cái lạc thú đệ nhất
Con đường tịch diệt này không có gì cao hơn
Lúc bấy giờ mình có khả năng nhẫn chịu được, tâm mình cũng như đất
Và cái hành nhẫn cũng như một thành quách.

 

Lạc thú đệ nhất

Con đường tịch diệt

Không đường cao hơn

Tâm nhẫn như đất

Thành quách bao bọc.

 

 


Bài kệ 24

Tịnh như thủy vô cấu                    淨  如  水  無  垢
Sanh tận vô bỉ thọ                        生  盡  無   彼  受
Lợi thắng bất túc thị                     利  勝  不  足  恃
Tuy thắng do phục khổ                 雖  勝  猶  復  苦

 

Thanh tịnh như nước trong không còn chút cấu uế
Hết chất liệu luân hồi (sở sinh) thì không tiếp nhận cái kia nữa
Cái thắng và cái lợi không còn làm tiêu chuẩn để đi theo
Bởi vì dù có thắng có lợi nhưng cái khổ vẫn còn đó.

 

Thanh tịnh như nước

Không chút ô uế

Hết chất luân hồi

Thắng lợi không còn

Dù có thắng lợi

Khổ vẫn còn đó.

 

 

Bài kệ 25

Đương tự cầu khứ thắng                 當  自  求  去  勝
Dĩ thắng vô sở sanh                       已  勝  無  所  生
Tất cố bất tạo tân                          畢  故  不  造  新
Yếm thai vô dâm hành                    厭  胎  無  婬  行

 

Chỉ nên tự cầu cái thắng lợi về Pháp
Đã có pháp thắng thì không còn sở sinh
Hết sở sinh rồi thì không tạo tác thêm nữa
Muốn không còn luân hồi thì đừng nên có những hành động phóng đãng

 

Chỉ nên tự cầu

Thắng lợi về Pháp

Đã có pháp thắng

Không còn sở sinh

Hết sở sinh rồi

Không tạo tác thêm

Muốn không luân hồi

Không được buông lung.

 




Bài kệ 26

Chủng tiêu bất phục sanh        種  燋  不  復  生
Ý tận như hỏa diệt                 意  盡  如  火  滅
Bào thai vi uế  hải                  胞  胎  為  穢  海
Hà vi lạc dâm hành                何  為  樂  婬  行

 

Hạt giống một khi bị đốt cháy rồi thì không sinh lại
Tâm ý đã dừng lại rồi thì cũng như lửa đã tắt
Chốn dâm căn là một biển ô uế
Tại sao lại đi tìm lạc thú ở nơi ấy?

 

Đốt cháy hạt giống

Thì không sinh lại

Tâm ý dừng lại

Như lửa đã tắt

Chốn dâm căn là

Một biển ô uế

Sao tìm lạc thú.

 

 

Bài 27

Tuy thượng hữu thiện xứ                   雖  上  有  善  處
Giai mạc như nê hoàn                      皆  莫  如  泥  洹
Tất tri nhất thiết đoạn                       悉  知  一  切  斷
Bất phục trước thế gian                    不  復  著  世  間

 

Tuy phía trên kia có những cõi trời
Nhưng cũng không đâu bằng Niết bàn
Đã có nhất thiết trí thì cắt bỏ được tất cả
Ta không còn vướng mắc nữa vào thế gian.

 

Có những cõi trời

Ở phía trên kia

Đâu bằng Niết bàn

nhất thiết trí

Cắt bỏ tất cả

Đâu còn vướng mắc.

 

 

Bài kệ 28

Đô khí như diệt độ                                 都  棄  如  滅  度
Chúng đạo trung tư thắng                       眾  道  中  斯  勝
Phật dĩ hiện đế pháp                              佛  以  現  諦  法
Trí dũng năng phụng trì                           智  勇  能  奉  持


Buông bỏ hết, đã qua bờ diệt độ
Trong các con đường, đây là con đường đẹp nhất
Bụt đã diễn bày pháp chân đế
Kẻ có trí và có dũng có thể làm theo.

 

Đã buông bỏ hết

Qua bờ diệt độ

Đây đường đẹp nhất

Bụt nói chân đế

Kẻ có trí dũng

Có thể làm theo.

 

 

Bài kệ 29
Hành tịnh vô hà uế                             行  淨  無  瑕  穢
Tự tri độ thế an                                 自  知  度  世  安
Đạo vụ tiên viễn dục                           道  務  先  遠  欲
Tảo phục Phật giáo giới                     早  服  佛  教  戒

 

Sống phạm hạnh, không một vết nhơ
Tự biết mình, vượt thời gian, đạt an ổn
Trong nếp sống tu tập, trước hết là xa lánh ái dục
Phải tự trang bị mình bằng giới luật của Bụt ngay tự bây giờ.

 

Sống đời phạm hạnh

Không một vết nhơ

Tự biết chính mình

Đạt tới an ổn

Chuyên tâm tu tập

Xa lánh ái dục

Tuân thủ luật Bụt

Ngay tự bây giờ.

 

 

 

Bài kệ 30

Diệt ác cực ác tế                              滅  惡  極  惡  際
Dị như điểu thệ không                       易  如  鳥  逝  空
Nhược dĩ giải pháp cú                      若  已  解  法  句
Chí tâm thể đạo hành                       至  心  體  道  行

 

Diệt phiền não, thoát ra khỏi thế giới hệ lụy
Dễ như con chim cất cánh bay lên không trung
Nếu hiểu được pháp cú này
Thì hãy đem hết lòng mà đi tới trên con đường đạo

 

Tận diệt phiền não

Thoát khỏi hệ lụy

Như chim cất cánh

Bay lên không trung

Hiểu pháp cú này

Hãy đem hết lòng

Đi trên đường đạo.

 

 

 


Bài kệ 31

Thị độ sanh tử ngạn                                    是  度  生  死  岸
Khổ tận nhi vô hoạn                                     苦  盡  而  無  患
Đạo phápthân sơ                                   道  法  無  親  疎
Chánh bất vấn doanh cường                        正  不 問  羸  強


Đó là con đường vượt qua bờ sinh tử
Đưa tới chỗ chấm dứt khổ đau hoạn nạn
Trong đạo pháp, không còn sự phân biệt thân sơ
Không còn hỏi ai có thế lực nhiều, ai không có thế lực.

 

Đó là con đường

Vượt bờ sinh tử

Chấm dứt khổ đau

Không phân thân

Bất kể thế lực.

 

Bài kệ 32

Yếu tại vô thức tưởng                   要  在  無  識  想
Kết giải vi thanh tịnh                      結  解  為  清  淨
Thượng trí yếm hủ thân                 上  智  饜  腐  身
Nguy thúy phi thật chân                 危  脆  非  實  真


Quan trọng nhất là đừng bám vào tri giác
Khi cả hai cái cột và mở đều đã thanh tịnh
Thì bậc thượng trí không còn bị kẹt vào cái hình hài dễ tan vỡ này
Và thấy nó là một cái gì không chắc thật.

 

Đừng bám tri giác

Mở khép thanh tịnh

Bậc thượng trí không

Kẹt vào hình hài

Dể tan vỡ này

Vốn không chắc thật.


Bài kệ 33

Khổ đa nhi lạc thiểu                         苦  多  而  樂  少
Cửu khổng vô nhất tịnh                   九  孔  無  一  淨
Tuệ dĩ nguy mậu an                        慧  以  危  貿  安
Khí y thoát chúng nạn                     棄  猗  脫  眾  難

 

Hình hài này đem lại khổ lụy nhiều mà an vui ít
Trong chín kẻ hở, không một kẻ hở nào thanh khiết
Người có trí tuệ biết bỏ nguy, giữ an
Chấm dứt ba hoa, trút được mọi khổ nạn.

 

Hình hài này đem

Khổ nhiều vui ít

Trong chín kẻ hở

Không gì thanh khiết

Người có trí tuệ

Bỏ nguy giữ an

Chấm dứt ba hoa

Trừ mọi khổ nạn.

 

 

Bài kệ 34

Hình hủ tiêu vi mạt                              形  腐  銷  為  沫
Tuệ kiến xả bất tham                          慧  見  捨  不  貪
Quán thân vi khổ khí                           觀  身  為  苦  器
Sanh lão bệnh vô thống                       生  老  病  無  痛

 

Hình hài này một khi đã hủy hoại sẽ trở thành tro bụi
Kẻ có tuệ biết buông bỏ không bám víu
Quán chiếu thấy được thân này là một công cụ mang toàn hệ lụy
Thì sinh, lão, bệnh, tử sẽ không còn là chuyện đau buồn.

 

Hình hài hủy hoại

Trở thành tro bụi

Buông bỏ không bám;

Quán thân hệ lụy

Sinh lão bệnh tử

Không còn đau buồn.

 

 


 

Bài kệ 35

Khí cấu hành thanh tịnh                   棄  垢  行  清  淨 
Khả dĩ hoạch đại an                       可  以  獲  大  安
Y tuệ dĩ khước tà                          依  慧  以  却  邪 
Bất thọ lậu đắc tận                         不  受  漏  得  盡


Buông bỏ được cấu uế, đi trên đường thanh tịnh
Thì có thể đạt tới cái an tĩnh lớn
Nương tuệ giác, bỏ tà kiến
Không tiếp nhận gì nữa thì đạt được tới lậu tận.

 

Buông bỏ cấu uế

Đi đường thanh tịnh

Đạt tới an tĩnh

Nương vào tuệ giác

Rời bỏ tà kiến

Không nhận gì nữa

Đạt tới lậu tận.

 

 

Bài kệ 36
Hành tịnh trí độ thế                     行  淨  致  度  世 
Thiên nhân mạc bất lễ                 天  人  莫  不  禮


Sống thanh tịnh, vượt thoát được thời gian,
Thì cả hai giới thiên nhân đều nghiêng mình kính nể.

 

Nếp sống thanh tịnh

Vượt thoát thời gian

Hai giới trời người

Nghiêng mình kính nể.







Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 114119)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.