Kinh Quả Báo

13/06/20143:23 SA(Xem: 2422)
Kinh Quả Báo
KINH PHÁP CÚ HÁN TẠNG
Thích Nhất Hạnh Việt dịch
Thể kệ: Nguyên Định (chữ đậm)

Không phải ở trên trời cao, không phải ở dưới biển sâu, không phải ở trong hốc núi đá mà có thể tránh được nghiệp báo tai ương mình đã tạo ra.

 

Ác Hành Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập thất
惡行品法句經第十七
Kinh Quả Báo
Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng
Phẩm thứ 17

 

Phẩm này có 22 bài kệ. Ác hành (pāpa) là hành động xấu ác.

 

Bài kệ 1

Kiến thiện bất tùng                         見  善  不  從

Phản tùy ác tâm                             反  隨  惡  心

Cầu phước bất chánh                    求  福  不  正

Phản lạc tà dâm                             反  樂  邪  婬

 Thấy cái lành không đi theo, lại để tâm đi theo cái ác, đi tìm hạnh phúc một cách sai lạc thì đã không có hạnh phúc mà lại còn bị lạc vào chuyện tà dâm.

Không đi theo thiện

Lại đi theo ác

Cầu phước sai lạc

Lạc chuyện tà dâm.

 

 

Bài kệ 2

Phàm nhân vi ác                            凡  人  為  惡

Bất năng tự giác                            不  能  自  覺

Ngu si khoái ý                                愚  癡  快  意

Lệnh hậu uất độc                           令  後  欝  毒

 Thường thường, người làm điều sai trái thì không có khả năng tự giác, kẻ ngu si cứ tiếp tục chạy theo khoái lạc, sau này sẽ hứng chịu sự dồn chứa của những cái độc hại.

Làm điều sai trái

Không biết tự giác

Kẻ ngu khoái lạc

Hứng chịu báo hại.

 

 

Bài kệ 3

Hung nhân hành ngược                   凶  人  行  虐

Trầm tiệm sác sác                          沈  漸  數  數

Khoái dục vi nhân                           快  欲  為  人

Tội báo tự nhiên                             罪  報  自  然

 Kẻ hung ác cứ tiếp tục làm điều bạo ngược và có thích thú trong khi làm như thế thì tội báo sẽ tự nhiên tới.

Kẻ ác bạo ngược

Tiếp tục thích thú

Hành động như thế

Tội báo sẽ tới.

 

 

Bài kệ 4

Cát nhân hành đức                        吉  人  行  德

Tướng tùy tích tăng                       相  隨  積  增

Cam tâm vi chi                               甘  心  為  之

Phước ưng tự nhiên                       福  應  自  然

 Người hiền làm chuyện phúc đức, càng ngày càng tích lũy thêm điều lành, có niềm vui khi làm như thế thì phúc đức sẽ tự nhiên tới.

Người hiền làm phúc

Tích tụ điều lành

Niềm vui khi làm

Phúc đức sẽ tới.

 

 

Bài kệ 5

Yêu nghiệt kiến phước                    妖  孽  見  福

Kỳ ác vị thục                                 其  惡  未  熟

Chí kỳ ác thục                                至  其  惡  熟

Tự thọ tội ngược                             自  受  罪  虐

 Mình làm việc yêu nghiệt mà tưởng là đang có phúc, trong khi các quả báo xấu của hành động ác kia chưa chín. Khi nó chín rồi thì mình mới nhận chịu tội báo.

Làm việc yêu nghiệt

Tưởng đang có phúc

Khi quả chưa chin;

Chin rồi thì phải

Nhận chịu tội báo.

 

 

 

Bài kệ 6

Trinh tường kiến họa                     貞  祥  見  禍

Kỳ thiện vị thục                              其  善  未  熟

Chí kỳ thiện thục                            至  其  善  熟

Tất thọ kỳ phước                            必  受  其  福

 

Làm việc lành mà vẫn thấy phải chịu đựng hoàn cảnh khó khăn, đó là kết quả việc lành chưa chín. Khi nó chín rồi thì mình sẽ được hưởng cái phúc báo của việc làm ấy đem lại.

 

Làm việc lành nhưng

Phải chịu khó khăn

Do quả chưa chin

Chin rồi thì được

Thọ hưởng phúc báo.

 

 

 

 

Bài kệ 7

Kích nhân đắc kích                          擊  人  得  擊

Hành oán đắc oán                           行  怨  得  怨

Mạ nhân đắc mạ                             罵  人  得  罵

Thí nộ đắc nộ                                  施  怒  得  怒

 Đánh người thì bị người đánh, gây oán thì chịu oán, mắng chửi người thì bị người mắng chửi lại, giận người thì bị người giận lại.

Đánh người thì bị

Người đánh trả lại

Gây oán chịu oán

Mắng người thì bị

Người mắng chửi lại

Giận người thì bị

Người giận trả lại.

 

 

Bài kệ 8

Thế nhân vô văn                            世  人  無  聞

Bất tri chánh pháp                         不  知  正  法

Sanh thử thọ thiểu                         生  此  壽  少

Hà nghi vi ác                                  何  宜  為  惡

 Người đời vì không học hỏi cho nên không biết chánh pháp. Phải biết rằng mạng sống trong đời ngắn ngủi, tại sao mình lại đi làm chuyện ác độc?

Người đời không học

Không biết chánh pháp;

Mạng sống ngắn ngủi

Sao lại ác độc.

 

 

 

Bài kệ 9

Mạc khinh tiểu ác                           莫  輕  小  惡

Dĩ vi vô ương                              以  為  無  殃

Thủy đế tuy vi                                水  渧  雖  微

Tiệm doanh đại khí                        漸  盈  大  器

Phàm tội sung mãn                        凡  罪  充  滿

Tùng tiểu tích thành                       從  小  積  成

 

Đừng xem thường những cái ác nhỏ, cho chúng là không nguy hiểm. Nước nhỏ giọt tuy ít nhưng dần dần bình lớn cũng đầy tràn. Thói thường cái ác mà đầy tràn là do những cái ác nhỏ hàng ngày tích tụ mà thành.

 

Đừng khinh ác nhỏ

Cho không nguy hiểm

Nước giọt tuy ít

Làm bình cũng tràn

Tội ác đầy tràn

Do những ác nhỏ

Hàng ngày tích tụ.

 

 

 

 

Bài kệ 10

Mạc khinh tiểu thiện                      莫  輕  小  善

Dĩ vi vô phước                              以  為  無  福

Thủy tích tuy vi                              水  滴  雖  微

Tiệm doanh đại khí                        漸  盈  大  器

Phàm phước sung mãn                  凡  福  充  滿

Tùng tiêm tiêm tích                        從  纖  纖  積

 Đừng xem thường cái thiện nhỏ, cho nó là không phải phước đức. Nước giọt tuy ít nhưng lâu cũng đầy bình lớn, nếu phước đức sung mãn là do tích lũy từng chút lâu ngày.

Đừng khinh thiện nhỏ

Cho không phước đức

Nước giọt tuy ít

Làm bình cũng tràn

Phước đức sung mãn

Tích lũy lâu ngày.

 

 

 

 

 

Bài kệ 11

Phu sĩ vi hành                                 夫  士  為  行

Hảo chi dữ ác                                 好  之  與  惡

Các tự vi thân                                 各  自  為  身

Chung bất bại vong                          終  不  敗  亡

 Những kẻ phàm phu ưa làm việc ác, phải biết hành động ác nào cũng trở về tự thân, không có cái nào rơi mất.

Phàm phu làm ác

Phải biết ác độc

Trở về tự hại

Không cái nào rơi.

 

Bài kệ 12

Hảo thủ chi sĩ                                  好  取  之  士

Tự dĩ vi khả                                    自  以  為  可

Một thủ bỉ giả                                  沒  取  彼  者

Nhân diệc một chi                           人  亦  沒  之

 Những bậc hảo nhân tự mình làm hết khả năng của mình, không mưu toan chiếm đoạt của kẻ khác thì kẻ khác cũng sẽ không mưu toan chiếm đoạt của mình.

Người tốt tự mình

Làm hết khả năng

Không mưu chiếm đoạt

Kẻ khác cũng không

Mưu toan chiếm đoạt.

 

 

 

Bài kệ 13

Ác bất tức thời                                惡  不  即  時

Như cấu ngưu nhũ                           如  搆  牛  乳

Tội tại ấm từ                                   罪  在  陰  祠

Như hôi phúc hỏa                            如  灰  覆  火

 Kết quả của cái ác không đến tức thời như sữa không đóng thành tô ngay được. Tội ác nằm âm ỉ như lửa nằm trong bếp tro.

Kết quả cái ác

Không đến tức thời

Như sữa không đông

Thành tô ngay được;

Tội ác âm ỉ

Như lửa bếp tro.

 

 

 

Bài kệ 14

 

Hí tiếu vi ác                                    戲  笑  為  惡

Dĩ tác thân hành                            以  作  身  行

Hiệu khấp thọ báo                          號  泣  受  報

Tùy hành tội chí                            隨  行  罪  至

 Vui giỡn trong khi làm ác, tự mình tạo tác, sau này sẽ phải khóc than mà nhận chịu quả báo của cái tội đi theo cái hành động ác của mình.

Vui giỡn làm ác

Tự mình tạo tác

Sau này khóc than

Khi nhận quả báo

Đi theo hành dộng.

 

 

Bài kệ 15

Tác ác bất phú                                作  惡  不  覆

Như binh sở tiệt                              如  兵  所  截

Khiên vãng nãi tri                            牽  往  乃  知

Dĩ đọa ác hành                               已  墮  惡  行

Hậu thọ khổ  báo                            後  受  苦  報

Như tiền sở tập                              如  前  所  習

Làm ác không che giấu cũng như một toán quân sau khi bị chận đánh và áp giải làm tù binh mới biết là mình bị thua. Những hành động tàn ác thế nào cũng đưa tới quả báo khổ đau sau này.

 

Ác không che giấu

Như quân thất trận

Bắt làm tù binh

Mới biết mình thua;

Hành động tàn ác

Đưa tới quả báo

Khổ đau sau này.

 

 

Bài kệ 16

Như độc ma sang                           如  毒  摩  瘡

Thuyền nhập hồi phúc                   船  入  洄  澓

Ác hành lưu diễn                            惡  行  流  衍

Mĩ bất thương khắc                        靡  不  傷  尅

Như vết thương bị chất độc thấm vào, như chiếc thuyền đang đi vào vùng biển nguy hiểm, hành động độc ác cứ tiếp tục lưu diễn, không nơi nào là không tạo ra xung khắcđau thương.

 

Vết thương bị độc

Như thuyền gặp nguy

Tiếp tục làm ác

Tạo thêm đau thương.

 

 

Bài kệ 17

 

Gia ác vu võng nhân                        加  惡  誣  罔  人

Thanh bạch do bất ô                       清  白  猶  不  污

Ngu ương phản tự cập                    愚  殃  反  自  及

Như trần nghịch phong bộn              如  塵  逆  風  坌

 Người ác vu cáo muốn làm hại người thanh bạch và không ô nhiễm thì tai ương sẽ trở lại hại mình, như tung bụi vào người khác khi ngược gió.

Người ác vu cáo

Muốn làm hại người

Tai ương trở lại

Hại mình như khi

Tung bụi ngược gió.

 

 

 

 

 

 

Bài kệ 18

Quá thất phạm phi ác                    過  失  犯  非  惡

Năng truy hối vi thiện                    能  追  悔  為  善 

Thị minh chiếu thế gian                  是  明  照  世  間

Như nhật vô vân ê                         如  日  無  雲  曀

 Người nào trong quá khứ đã lỡ có lỗi lầm, đã lỡ làm những điều không phải, mà bây giờ có khả năng hối hận bỏ ác làm lành, thì cũng như một mặt trời vượt ra khỏi các đám mây, chiếu sáng được cho thế gian.

Đã lỡ lầm lỗi

Làm điều không phải

Bây giờ hối hận

Bỏ ác làm lành

Cũng như mặt trời

Ra khỏi đám mây

Chiếu sáng thế gian.

 

 

 

Bài kệ 19

Phu sĩ sở dĩ hành                            夫  士  所  以  行

Nhiên hậu thân tự kiến                     然  後  身  自  見

Vi thiện tắc đắc thiện                       為  善  則  得  善

Vi ác tắc đắc ác                              為  惡  則  得  惡

 Nhìn vào hành động của mình, mình có thể tự thấy được sự thực: làm thiện thì được thiện, làm ác thì gặp ác.

Nhìn vào hành động

Tự thấy sự thực:

Làm thiện được thiện

Làm ác gặp ác.

 

 

 

Bài kệ 20

Hữu thức đọa bào thai                 有  識  墮  胞  胎

Ác giả nhập địa ngục                     惡  者  入  地  獄

Hành thiện thượng thăng thiên        行  善  上  昇  天

Vô vi đắc nê hoàn                        無  為  得  泥  洹

 Thần thức đi luân hồi, kẻ ác vào địa ngục, người hiền sinh lên cõi trời. Thực tập đi vào được trạng thái vô vi thì chứng đắc Niết bàn.

Thần thức luân hồi

Kẻ ác địa ngục

Người hiền cõi trời

Thực tập vô vi

Chứng đắc Niết bàn.

 

 

Bài kệ 21

Phi không phi hải trung                    非  空  非  海  中

Phi ẩn sơn thạch gian                     非  隱  山  石  間 

Mạc năng ư thử xứ                        莫  能  於  此  處

Tị miễn túc ác ương                       避  免  宿  惡  殃

 Không phải ở trên trời cao, không phải ở dưới biển sâu, không phải ở trong hốc núi đá mà có thể tránh được nghiệp báo tai ương mình đã tạo ra.

Không ở trời cao

Không ở biển sâu

Không phải hốc núi

Không ở nơi nào

Tránh được nghiệp báo

Do mình tạo ra.

 

 

 

 

Bài kệ 22

Chúng sanh hữu khổ não                    眾  生  有  苦  惱

Bất đắc miễn lão tử                           不  得  免  老  死

Duy hữu nhân trí giả                          唯  有  仁  智  者

Bất niệm nhân phi ác                         不  念  人  非  惡

 Chúng sinhkhổ não chưa thoát ra khỏi cái già cái chết, chỉ có bậc nhân trí mới vượt thoát được ý niệm về thiện ác.

Chúng sinh khổ não

Chưa thoát già chết

Chỉ bậc trí nhân

Thoát niệm thiện ác.






Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 113584)
Trước hiểm họa mất nước mà nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chuẩn bị Dự luật thành lập ba đặc khu kinh tế:Vân Đồn-Quảng Ninh, Bắc Vân Phong-Khánh Hòa, Phú Quốc-Kiên Giang, thời hạn cho thuê đất có thể lên đến 99 năm như một sự đổ bộ của Trung Quốc với mục tiêu mở rộng ảnh hưởng và bành trướng chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Bắc Kinh,
Khóa tu lần này được sự quang lâm chứng minh của Hòa Thượng Thích Minh Hồi - Viện chủ Như Lai Thiền Tự và dưới sự hướng dẫn của Sư Giác Minh Luật cùng quý Đại Đức Giảng sư trẻ như: ĐĐ. Thích Châu Đạt, Thích Đạt Tín, Thích Vui Mừng, Thích Bắt Hải, Ven. Guan Zhen... cũng đồng trở về chứng minh, tiếp sức và hướng dẫn Giáo thọ cho khóa tu học.
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận. Đối với Phật tử, tinh thần thượng võ đã nằm sẵn trong năm giới, vì nếu không thượng võ, có nghĩa là đi trộm hào quang của đấu thủ khác, của đội tuyển khác, của quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu giữ được thượng võ mà thiếu vắng từ bi, cũng không đúng Chánh pháp. Bởi vì từ bi do vì muôn dân mà làm, chứ không vì kiêu mạn.