Kinh Điều Phục Chính Mình

04/07/20163:10 SA(Xem: 1023)
Kinh Điều Phục Chính Mình
KINH PHÁP CÚ HÁN TẠNG
Thích Nhất Hạnh Việt dịch
Thể kệ: Nguyên Định (chữ đậm)

Kinh Điều Phục Chính Mình


Là người tu phải như voi ra trận, không sợ trúng tên. Đã có chí nguyệnđức tin thì không còn e ngại những khó khăn trên con đường học đạo.

 

Tượng Dụ Phẩm Pháp Cú Kinh đệ tam thập nhất
象喻品法句經第三十一十有八章
Kinh Điều Phục Chính Mình
Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng
Phẩm thứ 31

 

Phẩm này có 18 bài kệ. Tượng là con voi. Voi và ngựa là những loài có thể được huấn luyện để phục vụ cho con người. Có những con voi rất giỏi và có những con ngựa rất giỏi, có thể ra trận, có thể chiến thắng, có thể giúp con người làm được những gì con người không làm nổi. Bài kệ thứ nhất nói rằng, là người tu ta phải như voi ra trận, không sợ trúng tên. Đã có chí nguyệnđức tin thì không còn e ngại những khó khăn trên con đường học đạo. Bài kệ thứ hai dạy ta là muốn trở thành pháp khí thì phải đi qua một quá trình luyện tập, như những con voi đã được huấn luyện thành thục mới để cho vua cỡi lên. Bài thứ ba lại nói: những con voi con ngựa đã được điều phục ấy dù có hay có giỏi mấy cũng không so sánh được với cái hay cái giỏi của người điều phục được chính mình. Bài thứ 14 cho ta thấy rằng trong quá trình tu tập, ta chế tác được nhiều hạnh phúc để nuôi dưỡng ta. Bài thứ 17 dạy rằng chính nhờ cái hạnh phúc ấy mà hành giả thực tập thành công các thiền định. Tu thiềnhạnh phúc chứ không phải là khổ hạnh. Đó là ý chỉ của hai chữ thiền duyệt.

 

Bài kệ 1

Ngã như tượng đấu                        我  如  象  鬪

Bất khủng trung tiễn                       不  恐  中  箭

Thường dĩ thành tín                       常  以  誠  信

Độ vô giới nhân                             度  無  戒  人

 Là người tu, ta phải như voi ra trận, không sợ súng tên. Phải biết sử dụng tâm thànhđức tin để độ cho được những người không biết hành trì giới luật.

Như voi ra trận

Không sợ súng tên

Sử dụng thành tín

Độ được những người

Không trì giới luật.

 

 

Bài kệ 2

Thí tượng điều chánh                     譬  象  調  正

Khả trung vương thừa                    可  中  王  乘

Điều vi tôn nhân                             調  為  尊  人

Nãi thọ thành tín                            乃  受  誠  信

 Những con voi đã được huấn luyện thuần thục mới để cho vua cưỡi lên. Những ai có trải qua sự luyện tập mới thành được bậc tôn quý, mới trở nên đối tượng của tâm thànhđức tin.

Voi luyện thuần thục

Vua mới cưỡi lên;

Luyện tập thành công

Nên bậc tôn quý

Có đủ thành tín.

 

 

 

Bài kệ 3

Tuy vi thường điều                          雖  為  常  調

Như bỉ tân trì                                  如  彼  新  馳

Diệc tối thiện tượng                    亦  最  善  象

Bất như tự điều                             不  如  自  調

 Những con ngựa và những con voi kia tuy đã được huấn luyện thật hay, thật giỏi, nhưng những cái hay, cái giỏi ấy cũng không sánh được bằng cái hay, cái giỏi có được khi mình tự điều phục được chính mình.

Huấn luyện voi ngựa

Thật hay thật giỏi

Nhưng không sánh bằng

Tự điều phục mình.

 

 

Bài kệ 4

Bỉ bất năng thích                             彼  不  能  適

Nhân sở bất chí                              人  所  不  至

Duy tự điều giả                               唯  自  調  者

Năng đáo điều phương                    能  到  調  方

 Những phương tiện chuyên chở kia dù có hay giỏi cách mấy cũng không đưa mình tới được nơi mình muốn tới. Chỉ khi nào mình tự điều phục được mình thì mình mới có thể tới được nơi ấy.

Voi ngựa dù giỏi

Cũng không đưa đến

Nơi mình muốn tới;

Chỉ tự điều phục

Mới có thể tới.

 

 

 

Bài kệ 5

Như tượng danh tài thủ                 如  象  名  財  守

Mãnh hại nan cấm chế                  猛  害  難  禁  制

Hệ bán bất dữ thực                    繫  絆  不  與  食

Nhi do bạo dật tượng                    而  猶  暴  逸  象

 Con voi Dhanapalaka khi phát dục, trở nên hung hăng không thể kiềm chế, dù bị trói lại, dù bị bỏ đói.

Con voi phát dục

Trở nên hung hăng

Không thể kiềm chế

Dù bị trói lại

Dù bị bỏ đói.

 

 

Bài kệ 6

Một tại ác hành giả                         沒  在  惡  行  者

Hằng dĩ tham tự hệ                       恒  以  貪  自  繫

Kỳ tượng bất tri yếm                      其  象  不  知  厭

Cố số nhập bào thai                       故  數  入  胞  胎

 Những kẻ tự đánh mất mình trong hành động xấu ác là do họ lấy sợi dây tham dục mà tự trói lấy mình, cũng như con voi hoang hung hăng không biết dừng lại, do đó cứ tiếp tục đi vào sinh tử.

Tự đánh mất mình

Hành động xấu xa

Vì lấy tham dục

Tự trói lấy mình

Như voi hung hăng

Không biết dừng lại

Đi vào sinh tử.

 

 

 

Bài kệ 7

Bản ý vi thuần hành                       本 意  為  純  行

Cập thường hành sở an                 及  常  行  所  安

Tất xả hàng phục kết                     悉  捨  降  伏  結

Như câu chế tượng điều                如  鉤  制  象  調

 Bản nguyện của ta là thực tập cho thuần thục, để có được sự an ổn bất cứ nơi nào ta tới, vì vậy ta phải buông bỏ tất cả những thói hư tật xấu, hàng phục các kết sử như người luyện voi sử dụng móc và xích để điều phục con voi.

Thực tập thuần thục

Để có an ổn

Nơi nào ta tới

Buông bỏ tất cả

Thói hư tật xấu

Hàng phục kiết sử

Như nài luyện voi

Dùng móc và xích

Điều phục con voi.

 

 

Bài kệ 8

Lạc đạo bất phóng dật                   樂  道  不  放  逸

Năng thường tự hộ tâm                能  常  自  護  心

Thị vi bạt thân khổ                         是  為  拔  身  苦

Như tượng xuất vu thao                 如  象  出  于  塪

 Có niềm vui trong đời sống tu tập, không phóng dật, thường xuyên bảo hộ tâm ý mình thì có thể nhổ được mọi gốc rễ của khổ đau bản thân, như con voi ra khỏi hố sình lầy.

Vui sống tu tập

Giữ không buông lung

Bảo hộ tâm ý

Nhổ gốc khổ đau

Như voi rời lầy.

 

 

Bài kệ 9

Nhược đắc hiền năng bạn               若  得  賢  能  伴

Câu hành hành thiện hãn                 俱  行  行  善  悍

Năng phục chư sở văn                     能  伏  諸  所  聞

Chí đáo bất thất ý                           至  到  不  失  意

 Nếu may mắn có được một bậc hiền nhân làm bạn thì hãy cùng với người ấy dũng mãnh đi trên con đường hành trì tốt đẹp, để có thể nắm vững được tất cả những điều mình có cơ duyên học hỏiđể tâm ý đạt tới được trạng thái không còn thất niệm.

Gặp được người hiền

Hãy cùng hành trì

Học hỏi điều hay

Đạt điều như ý.

 

 

Bài kệ 10

Bất đắc hiền năng bạn                    不  得  賢  能  伴

Câu hành hành ác hãn                    俱  行  行  惡  悍

Quảng đoạn vương ấp lý               廣  斷  王  邑  里

Ninh độc bất vi ác                          寧  獨  不  為  惡

 Nếu không đủ may mắn có được một bậc hiền nhân làm bạn thì không nên làm bạn với kẻ xấu để sự hành trì càng lúc càng trở nên tồi tệ. Thà rằng ở một mình để đừng đi vào con đường xấu, như một ông vua mất nước cần bỏ thành trì của mình mà ra đi.

Không gặp người hiền

Đừng theo kẻ xấu

Hành trì tồi tệ;

Thà rằng một mình

Như vua mất nước

Bỏ thành mà đi.

 

Bài kệ 11

Ninh độc hành vi thiện                    寧  獨  行  為  善

Bất dữ ngu vi lữ                           不  與  愚  為  侶

Độc nhi bất vi ác                         獨  而  不  為  惡

Như tượng kinh tự hộ                    如  象  驚  自  護

 Thà sống một mình để có thể tiếp tục đi trên con đường lành hơn là có bạn đồng hành không tốt, như con voi trong cơn nguy biến biết sống một mình trong rừng để tự bảo hộ lấy mình.

Thà sống một mình

Đi tiếp đường lành

Hơn bạn kẻ xấu

Như voi gặp nạn

Sống riêng một mình.

 

 

Bài kệ 12

Sanh nhi hữu lợi an                       生  而  有  利  安

Bạn nhuyễn hòa vi an                    伴  軟  和  為  安

Mạng tận vi phước an                   命  盡  為  福  安

Chúng ác bất phạm an                  眾  惡  不  犯  安

 Sống có ích cho đời là hạnh phúc, có bạn hiền là hạnh phúc, được làm chuyện phúc thiện cho đến cuối đời là hạnh phúc, không bao giờ bị buộc phải làm chuyện ác đứchạnh phúc.

Sống ích cho đời

Có được bạn hiền

Làm chuyện phúc thiện

Không làm điều ác

Hạnh phúc lắm thay.

 

 

Bài kệ 13

Nhân gia hữu mẫu lạc                    人  家  有  母  樂

Hữu phụ tư diệc lạc                        有  父  斯  亦  樂

Thế hữu sa môn lạc                        世  有  沙  門  樂

Thiên hạ hữu đạo lạc                      天  下  有  道  樂

 Được chăm sóc mẹ là hạnh phúc, được phục vụ cho cha là hạnh phúc, được cúng dường cho các bậc sa mônhạnh phúc, được chia sẻ sự thực tập đạo lý giải thoát với người trong xã hộihạnh phúc.

Chăm sóc cha me

Cúng dường sa môn

Chia sẻ đạo lý

Hạnh phúc lắm thay.

 

 

Bài kệ 14

Trì giới chung lão an                       持  戒  終  老  安

Tín chánh sở chánh thiện                信  正  所  正  善

Trí tuệ tối an thân                           智  慧  最  安  身

Bất phạm ác tối an                         不  犯  惡  最  安

 Được hành trì giới luật suốt đờihạnh phúc, được có niềm tin và đi trên con đường chánh là hạnh phúc, đạt được trí tuệ để sống an ổnhạnh phúc, không bị ép buộc phải làm điều tàn ác là hạnh phúc.

Trì giới suốt đời

Được có niềm tin

Đi đường chánh đạo

Trí tuệ an ổn

Không làm diều ác

Hạnh phúc lắm thay.

 

 

Bài kệ 15

Như mã điều nhuyễn                        如  馬  調  軟

Tùy ý sở như                                  隨  意  所  如

Tín giới tinh tấn                              信  戒  精  進

Định pháp yếu cụ                             定  法  要  具

 Như con ngựa đã được điều phục thuần thục, biết ý của chủ, người hành giả có đủ các pháp như niềm tin, giới luật, tinh tiếnthiền định.

Như ngựa thuần thục

Biết ý của chủ

Người tu có đủ

Niềm tin, giới luật

Tinh tiến, thiền định.

 

 

Bài kệ 16

Minh hạnh thành lập                       明  行  成  立

Nhẫn hòa ý định                             忍  和  意  定

Thị đoạn chư khổ                           是  斷  諸  苦

Tùy ý sở như                                隨  意  所  如

 Đã có đủ cái hiểu, cái hành, cái kiên nhẫn, cái an hòa và cái định tâm thì hành giả sẽ đoạn diệt được mọi khổ đau và thảnh thơi tùy ý rong chơi.

Có đủ hiểu, hành

Kiên nhẫn an định

Đoạn diệt khổ đau

Thảnh thơi rong chơi.

 

 

Bài kệ 17

Tùng thị vãng định                         從  是  往  定

Như mã điều ngự                           如  馬  調  御

Đoạn khuể vô lậu                           斷  恚  無  漏

Thị thọ thiên lạc                             是  受  天  樂

 Nhờ hạnh phúc đó mà hành giả đi tới và thành tựu được các thiền định, như con ngựa đã thuần, diệt trừ được sân hận, đạt tới vô lậu và hưởng thụ được niềm vui của các cõi trời.

Nhờ hạnh phúc đó

Hành giả đi tới

Thành tựu thiền định

Như ngựa đã thuần

Diệt trừ sân hận

Đạt tới vô lậu

Hưởng thụ niềm vui

Của các cõi trời.

 

Bài kệ 18

Bất tự phóng tứ                             不  自  放  恣

Tùng thị đa ngụ                              從  是  多  寤

Luy mã bỉ lương                             羸  馬  比  良

Khí ác vi hiền                                棄  惡  為  賢

 Nhờ không lười biếng mà hành giả đạt được giác ngộ, như con ngựa giỏi, lìa bỏ được phiền não, trở nên bậc hiền nhân.

Nhờ không lười biếng

Hành giả giác ngộ

Như con ngựa giỏi

Lìa bỏ phiền não

Trở nên hiền nhân.






Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 113248)
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.