Giới Thiệu Tổng Quát

18/07/20163:47 CH(Xem: 3301)
Giới Thiệu Tổng Quát

VIỆN  NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
HỢP  TUYỂN LỜI   PHẬT   DẠY
TỪ  KINH TẠNG  PALI 

In The Buddha’s Words
An Anthology of Discourses from the Pali Canon

By
BHIKKHU  BODHI
Wisdom Publications – 2005
Việt dịch : Nguyên Nhật Trần Như Mai
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG  ĐỨC 2015

 

GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT

 

KHAI  MỞ  CẤU TRÚC 

NỘI  DUNG  LỜI  PHẬT  DẠY

 

          Mặc dù lời Phật dạy rất có hệ thống, không có một bài kinh nào được cho là của Đức Phật mà trong đó Ngài đã xác định rõ ràng cấu trúc của Giáo Pháp, một sự dàn dựng Ngài đã sắp xếp  để diễn đạt một giáo lý nào đó của Ngài. Trong suốt thời gian dài hoằng pháp, Đức Phật đã giảng dạy theo nhiều phương cách khác nhau tùy thuộc vào cơ hội và hoàn cảnh. Đôi lúc Ngài diễn tả thật rõ ràng những nguyên tắc bất biến trong cốt lõi của bài giảng. Đôi lúc Ngài  thay đổi lời giảng dạy cho thích hợp với khuynh hướng và căn cơ của những người tìm đến Ngài để xin được chỉ giáo. Đôi lúc Ngài điều chỉnh lời thuyết giảng để phù hợp với hoàn cảnh đòi hỏi một đáp ứng đặc biệt nào đó. Nhưng xuyên suốt qua những tuyển tập kinh điển được truyền lại cho chúng ta như những “Lời Dạy Chính Thức Của Đức Phật’’, chúng ta không tìm thấy một  bài kinh nào, một pháp thoại nào trong đó Đức Phật đã kết nối tất cả những yếu tố của lời Ngài giảng dạy và sắp đặt chúng vào vị trí thích hợp trong một hệ thống đầy đủ trọn vẹn .

          Với một nền văn hóa đọc viết trong đó tư tưởnghệ thống được đánh giá cao thì sự thiếu vắng một văn bản có chức năng thống nhất có thể được xem như một khiếm khuyết, nhưng trong một nền văn hóa hoàn toàn truyền khẩu – như nền văn hóa thời Đức Phật đã sinh sống và du hành – thì sự thiếu vắng một khuôn mẫu có tính mô tả tổng quát về Giáo pháp không được xem là có ý nghĩa  quan trọng. Trong nền văn hóa này, cả thầy lẫn trò đều không nhắm đến sự chính xác trọn vẹn về mặt khái niệm. Vị thầy không có ý định trình bày một hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh; và học trò cũng không có nguyên vọng học một hệ  tư tưởng hoàn chỉnh. Mục đích kết nối thầy trò trong quá trình học tập – một quá trình truyền đạt – là sự rèn luyện thực tế, sự chuyển hóa tự thân, sự giác ngộ chân lý, và sự giải thoát bất thối chuyển của tâm. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là lời giảng dạy luôn luôn được thay đổi cho thích hợp với tình huống ngay trước mặt. Thỉnh thoảng Đức Phật cũng trình bày những quan điểm bao quát hơn về Giáo Pháp, kết hợp nhiều thành tố của đạo trong một cấu trúc có sắp xếp theo thứ tự hay thuộc một phạm vi rộng lớn. Nhưng mặc dù có nhiều bài kinh phơi bày một phạm vi rộng lớn, chúng vẫn không bao gồm mọi yếu tố của Giáo pháp trong một hệ thống tổng quát.

          Mục đích của cuốn sách này là để triển khai và đưa ra ví dụ điển hình về một kế hoạch như thế. Trong sách này tôi thử cung cấp một hình ảnh đầy đủ  về lời Phật dạy bằng cách kết hợp nhiều bài kinh khác nhau vào một cấu trúc có hệ thống. Tôi hy vọng cấu trúc này sẽ làm sáng tỏ khuôn mẫu có chủ đích tiềm ẩn bên dưới sự hình thành Giáo pháp của Đức Phật và như vậy cung cấp cho độc giả những hướng dẫn để hiểu được Phật giáo Nguyên Thủy một cách tổng quát. Tôi đã tuyển chọn các bài kinh hầu hết từ bốn bộ  Nikaya của kinh tạng Pali, mặc dù tôi cũng có đưa vào một số bài từ Kinh Udāna và Kinh Itivuttaka, là hai tập nhỏ trong tuyển tập thứ năm, tức là Tiểu Bộ Kinh. Mỗi chương mở đầu với lời giới thiệu, trong đó tôi giải thích những khái niệm căn bản của Phật giáo Nguyên Thủybài kinh tiêu biểu, và trình bày cho thấy các bài kinh đã diễn đạt những tư tưởng ấy như thế nào.

          Tôi sẽ cung cấp ngắn gọn những thông tin căn bản về tạng kinh Nikāya vào phần sau của lời giới thiệu này. Tuy nhiên, trước tiên, tôi muốn nói sơ lược bố cục mà tôi đã hoạch định để sắp xếp các bài kinh. Dù cách sử dụng đặc biệt của tôi về bố cục này có thể là mới lạ, nó không phải hoàn toàn là sự cách tân, mà là dựa trên các bài luận giải tiếng Pāli  đã phân biệt ba kiểu lợi lạc mà  hành giả đạt được từ việc thực hành Giáo pháp: (1) an lạc hạnh phúc ngay trong đời này; (2) an lạc hạnh phúc trong các đời sau; và (3) hạnh phúc tối thượng, Niết Bàn.

          Ba chương mở đầu được sắp xếp để đưa đến những kết quả tiêu biểu cho hệ thống ba kiểu  lợi lạc này.

          Chương I  là một cuộc khảo sát về thân phận con người như hiện nay,  riêng biệt với sự xuất hiện của Đức Phật trong cõi đời. Có lẽ đây là hình ảnh đời sống con người đã phơi bày trước mắt Bồ Tát – vị Phật tương lai – khi Ngài ở cung trời Đâu Suất nhìn xuống cõi trần gian, chờ cơ hội thuận tiện để giáng trần và thọ sinh vào kiếp người cuối cùng. Chúng ta nhìn thấy một thế giới trong đó con người đang bị cuốn đi một cách tuyệt vọng đến tuổi già và cái chết; trong đó họ bị hoàn cảnh xoay chuyển để phải hứng chịu những đau đớn thể xác, bị ngã gục trước những thất bại và bất hạnh, bị lo âusợ hãi trước những biến dịchsuy tàn . Đó là một thế giới mà con người có nguyện vọng được sống trong hòa hợp, nhưng vì những cảm xúc không được chế ngự đã liên tục buộc họ phải lao đầu vào những cuộc xung đột mãi leo thang tới mức bạo độngphá hoại toàn diện,  đi ngược lại với nguyện vọng tốt đẹp của họ.  Cuối cùng, nhìn theo một quan điểm bao quát nhất, đấy là một thế giới trong đó các loài hữu tình bị thúc đẩy bởi sự si mêdục vọng của chính mình, để trôi lăn từ đời này sang đời khác một cách mù quáng trong vòng luân hồi sinh tử được gọi là samsara.

          Chương II tường thuật lại sư kiện đản sinh của Đức Phật vào thế gian này. Ngài đã đến  như “một con người”, xuất hiệnlòng từ bi đối với thế gian, sự xuất hiện của Ngài trong thế gian này là “biểu hiện của một  ánh sáng vĩ đại”. Chúng ta theo dõi câu chuyện về việc Ngài thọ sanh, về việc Ngài từ bỏ gia đình và tìm cầu giải thoát, về việc Ngài  giác ngộ Giáo pháp, và việc Ngài quyết định giáo hóa chúng sanh. Chương này kết thúc với bài thuyết pháp đầu tiên cho năm tu sĩ đệ tử của Ngài, tại vườn Lộc Uyển, gần thành Ba-la-nại (Baranasi).

          Chương III nhắm mục đích phác họa những nét đặc biệt trong lời dạy của Đức Phật, và trong đó  hàm ý về thái độ của  một người học Phật tương lai cần có  khi tiếp cận giáo pháp ấy. Các bài kinh cho chúng ta biết Giáo pháp không phải là lời dạy bí truyền hay mang mật nghĩa, nhưng là lời dạy “soi sáng  khi được giảng giải công khai ”. Giáo pháp này không đòi hỏi đức tin mù quáng vào những kinh điển độc đoán,  những mặc khải siêu nhiên, hay những giáo điều tuyệt đối dúng, mà  mời gọi hành giả điều tra nghiên cứu và trải nghiệm cá nhân như là tiêu chuẩn  cuối  cùng để xác định giá trị của Giáo pháp. Giáo pháp này nói về sự sinh khởichấm dứt khổ đau, mà mỗi người có thể tự mình quan sát qua kinh nghiệm bản thân. Giáo pháp này thậm chí không dựng lên một Đức Phật như một đấng uy quyền tuyệt đối bất khả nghi, nhưng mời gọi chúng ta quan sát Ngài để xác định xem ngài có hoàn toàn xứng đáng với lòng tin cậy của chúng ta hay không. Cuối cùng, giáo pháp ấy cung cấp cho chúng ta phương pháp để từng bước áp dụng thử nghiệm lời giảng dạy, và bằng cách đó tự mình giác ngộ chân lý rốt ráo.

          Với chương IV, chúng ta học những bài kinh nói đến lợi lạc đầu tiên trong ba loại lợi lạcGiáo pháp của Đức Phậtý định đem lại cho chúng ta. Điều này được gọi là “ niềm an lạchạnh phúc rõ ràng ngay trong đời này” ( diṭṭha-dhamma-hitasukha), hạnh phúc đến từ việc tuân theo những chuẩn mực đạo đức trong quan hệ gia đình, trong nghề nghiệp, và trong sinh hoạt cộng đồng. Mặc dù Phật giáo Nguyên Thủy thường được mô tả như là một phương pháp cấp tiến rèn luyện hành giả chối bỏ cuộc đời để hướng đến một mục tiêu siêu xuất thế gian, tạng kinh Nikaya đã hé lộ cho thấy Đức Phật là một vị thầy rất thực tiển và từ bi, ngài có ý định quảng bá một trật tự xã hội trong đó mọi người có thể sống chung an bìnhhòa hợp theo những đường lối hướng dẫn đạo đức. Phật giáo Nguyên Thủy đã rất rõ ràng về phương diện này trong những lời dạy của Đức Phật về bổn phận của con cái đối với cha mẹ,  bổn phận giữa vợ chồng đối với nhau, về nghề nghiệp chân chánh, về  bổn phận của nhà lãnh đạo đất nước đối với dân chúng, và những nguyên tắc sống chung  hòa hợptôn trọng lẫn nhau trong cộng đồng.

          Chủ đề của chương V là loại lợi lạc thứ hai mà gíáo pháp Đức Phật đem lại, được gọi là an lạc hạnh phúc thuộc về đời sau ( samparāyika-hitasukha ). Đây là hạnh phúc đạt được nhờ  sự tái sinh may mắnthành công trong các đời sau qua việc tích lũy nhiều công đức của hành giả. Từ ngữ “công đức”( puñña) dùng để chỉ thiện nghiệp, xét theo khả năng phát sinh những kết quả thuận lợi trong vòng tái sinh. Tôi bắt đầu chương này với việc tuyển chọn những bài kinh giảng dạy về nghiệp và tái sinh. Việc này dẫn chúng ta đến những bài kinh tổng quát về ý niệm công đức , theo sau là những bài tuyển chọn về “ba nền tảng chính của công đức ” đã được công nhận trong các bài thuyết giảng của Đức Phật : bố thí ( dāna), trì giới ( sila), và thiền định ( bhāvanā). Vì thiền định là phần quan trọng nổi bật trong loại lợi lạc thứ ba, kiểu thiền định được nhấn mạnh ở đây, như là nền tảng của công đức, là thứ thiền định phát sinh ra những kết quả phong phú nhất của thế gian, đó là “ tứ vô lượng tâm” ((brahma-vihāra), đặc biệt là sự phát triển lòng từ bi .

          Chương VI là chương chuyển tiếp, có ý định dọn đường cho các chương tiếp theo. Trong lúc chứng minh rằng việc thực hành lời Phật dạy quả thật dẫn đến hạnh phúcmay mắn trong phạm vi cuộc sống thế gian, để hướng dẫn quần chúng vượt qua các giới hạn đó, Đức Phật đã phơi bày những nguy hiểm và bất xứng trong tất cả mọi pháp hữu vi. Ngài chỉ cho chúng ta những bất toàn trong các dục lạc thuộc giác quan, những khuyết điểm của sự thành công vật chất, cái chết không thể tránh khỏi, và tính vô thường của tất cả mọi cảnh giới tồn tại hữu vi. Để khơi nguồn cảm hứng cho các đệ tử của Ngài hướng đến mục đích hạnh phúc tối thượngNiết Bàn, Đức Phật đã  nhiều lần nhấn mạnh những hiểm nguy của cõi luân hồi. Vì vậy chương này đạt đến cao điểm với hai bài kinh diễn giảng về nỗi khổ đau của sự ràng buộc vào vòng luân hồi sinh tử liên tục không bao giờ dứt.

Bốn chương tiếp theo dành cho kiểu an lạc thứ ba mà lời Phật dạyý định mang lại:  hạnh phúc tối thượngchứng đắc Niết Bàn.

           Phần thứ nhất là Chương VII, cho chúng ta một khái niệm tổng quát về con đường giải thoát, được trình bày bằng cách phân tích qua những định nghĩa về các chi phần của Bát Thánh Đạo và thật năng động qua lời tường thuật việc rèn luyện tăng chúng. Một bài kinh dài về con đường tu tập theo từng bước, đã quan sát việc rèn luyện tăng chúng từ bước khởi đầu đời sống xuất gia cho đến khi đắc quả  A-la-hán, là mục tiêu cuối cùng.

          Chương VIII tập trung vào việc điều phục tâm, là  điểm nhấn mạnh trong việc rèn luyện tăng chúng. Ở đây tôi trình bày các bài kinh thảo luận về những trở ngại trong việc phát triển tâm thức, phương tiện để vượt qua những trở ngại đó, những phương pháp thiền tập khác nhau, và những tu chứng đạt được khi hành giả đã vượt qua các trở ngại và đã làm chủ được tâm ý. Trong chương này, tôi giới thiệu sự phân biệt giữa thiền chỉ (samatha) và thiền quán (vipassanā), giữa an địnhtuệ giác, một kiểu thiền đưa đến định (samādhi) và một kiểu thiền đưa đến tuệ ( paññā). Tuy nhiên, tôi đưa vào những bài kinh nói về tuệ giác chỉ giới hạn trong phạm vi phương pháp được dùng để phát sinh tuệ giác, chứ không nói đến nội dung đích thật của tuệ giác.

          Chương IX  nhan đề là “ Chiếu Sáng Tuệ Quang ”, nói về nội dung của tuệ giác. Đối với Phật giáo Nguyên Thủy, và cũng là đối với hầu hết các trường phái Phật giáo, tuệ giác hay trí tuệ là công cụ chính của  giải thoát. Như vậy, trong chương này, tôi chú trọng đến những lời Phật dạy về những đề tài có tính cách quyết định trong việc phát triển trí tuệ như chánh tri kiến, năm uẩn, sáu căn, mười tám giới, lý duyên khởi, Tứ Diệu Đế. Chương này kết thúc với những bài kinh được tuyển chọn nói về Niết Bàn, mục tiêu rốt ráo của trí tuệ.

          Mục tiêu cuối cùng không phải đạt được một cách bất ngờ mà  phải trải qua một loạt các giai đoạn chuyển hóa một cá nhân từ một kẻ vô văn phàm phu trở thành một vị A-la-hán, một bậc giải thoát.

          Như vậy, chương X, “ Những Cấp Bậc Chứng Đắc ”, cống hiến một số bài kinh được tuyển chọn nói về những giai đoạn giác ngộ trên đường tu tập. Trước tiên, tôi trình bày một loạt những giai đoạn theo thứ tự tiệm tiến; rồi tôi quay lại điểm khởi đầu và quan sát ba cột mốc lớn trong tiến trình này : quả Dự-lưu, quả Bất-lai, và quả vị A-la-hán. Tôi kết luận với một số kinh được tuyển chọn  nói về Đức Phật, vị dẫn đầu của các bậc A-la-hán, ở đây được đề cập theo từ ngữ Ngài thường dùng nhất khi nói về chính mình, đó là Như Lai.

 

NGUỒN  GỐC  KINH  TẠNG NIKĀYA

 

          Như tôi đã nói trên đây, những bài kinh tôi rút ra để đưa vào  hợp tuyển này đều được  chọn từ kinh tạng Nikāya, đó là những bộ tuyển tập kinh tạng Pāli chính gốc. Tưởng cũng cần đưa ra một vài lời giải thích về nguồn gốc và bản chất của các xuất xứ đó.

          Đức Phật đã không ghi lại bất cứ một bài giảng nào của Ngài, và những bài giảng của Ngài cũng không được các đệ tử của Ngài ghi lại bằng chữ viết. Văn hóa Ấn Độ thời Đức Phật sinh sống vẫn chủ yếu là văn hóa trước thời kỳchữ viết.(1). Đức Phật đi du hành từ thị trấn này sang thị trấn khác trong vùng thung lũng sông Hằng, giáo hóa tăng ni, thuyết pháp cho các gia chủ trong vùng, họ tập họp lại để nghe Ngài giảng và trả lời câu hỏi của những người thắc mắc tò mò, và Ngài tham gia vào các cuộc thảo luận với quần chúng đủ mọi thành phần trong xã hội. Các văn bản ghi lại những lời giảng dạy của Ngài mà chúng ta có ngày nay không phải do chính tay Ngài viết hay từ những bài phiên tả do những người nghe Ngài giảng rồi ghi lại, nhưng là từ những hội đồng các vị trưởng lão tăng tổ chức kết tập kinh điển sau khi Ngài nhập Niết Bàn ( parinibbāna)- nhằm mục đích gìn giữ giáo lý của Ngài.

          Những lời giảng dạy rút ra từ những công trình do các hội đồng kết tập ấy tái dựng lại   không chắc là chính xác từ miệng của Đức Phật nói . Đức Phật chắc hẳn phải thuyết pháp thật tự nhiên và đã phối hợp các chủ đề bằng vô số cách khác nhau để đáp ứng lại nhu cầu đa dạng của những người tìm đến Ngài để được hướng dẫn. Bảo tồn bằng phương cách truyền khẩu một khối lượng tài liệu đa dạng và rộng lớn như vậy gần như là một điều không thể làm được. Để uốn nắn lời giảng dạy vào một mô thức thích hợp cho việc bảo tồn, các vị trưởng lão tăng chịu trách nhiệm về kinh văn đã phải thâu thập tài liệuấn hành như thế nào cho thích  hợp hơn để đại chúng có thể  nghe, giữ gìn, đọc tụng, học thuộc lòng và lặp lại – đó là năm yếu tố chính của văn truyền khẩu. Tiến trình này, có thể là đã bắt đầu từ thời Đức Phật còn tại thế, sẽ đưa  đến một mức độ đơn giản hóa và tiêu chuẩn hóa trong chừng mực nào đó về những tài liệu cần được bảo tồn.

          Trong thời Đức Phật còn tại thế , các bài thuyết giảng được sắp xếp thành chin loại tùy theo văn thể :  sutta ( kinh bằng văn xuôi), geyya ( kinh vừa văn xuôi vừa văn vần), veyyākarana  (ký thuyết / trả lời câu hỏi ), gatha (thi kệ ), udāna ( lời cảm hứng ), itivuttaka ( như thị thuyết / lời đáng nhớ), jātaka ( chuyện tiền thân Đức Phật), abbhutadhamma ( vị tằng hữu pháp/ pháp hy hữu), vedalla ( phương quảng / vấn đáp)(2). Vào một vài thời điểm sau khi Đức Phật nhập diệt, kế hoạch phân loại cũ này được thay thế bằng một hệ thống mới sắp xếp các bài kinh thành những tuyển tập lớn hơn gọi là Nikāyas theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, hay tạng Kinh A-Hàm ( Āgamas) theo trường phái Phật giáo Bắc Tông Ấn Độ. (3).  Thời điểm nào Tạng Kinh Nikāyas- A Hàm trở nên phổ biến thì không thể biết một cách chính xác, nhưng một khi tạng kinh này xuất hiện nó hầu như hoàn toàn thay thế hệ thống phân loại cũ.

           Một trong hai phẩm của Luật Tạng Pāli là Cullavagga ( Tiểu Phẩm ), tường thuật về những bài kinhthẩm quyền được kết tập như thế nào ở Hội đồng Kết tập Kinh tạng lần thứ nhất, được tổ chức ba tháng sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Theo bản tường trình này, một thời gian ngắn sau khi Đức Phật nhập diệt, tôn giả  Đại Ca-diếp (MahāKassapa), vị lãnh đạo đương nhiên của giáo đoàn, đã chọn năm trăm vị tỳ kheo, tất cả đều là các bậc A-la-hán hay những bậc đã đạt quả vị giải thoát, để họp và kết tập một văn bản kinh điển chính thức  những lời Phật dạy. Hội đồng Kết tập diễn ra vào mùa an cư tại xứ Rājagaha (là thành phố Rajgir hiện nay), thủ đô của Magadha ( Ma kiệt-đà), vào thời đó là tiểu bang thống trị của miền Trung Ấn (4). Tôn giả Đại Ca-diếp trước tiên yêu cầu tôn giả  Ưu-ba-li ( Upāli ) tỳ kheo  hàng đầu về giới luật, đọc tụng lại giới luật. Dựa trên lời đọc tụng này mà Luật tạng ( Vinaya Piṭaka) được kết tập. Rồi tôn giả Đại Ca-diếp (Mahākassapa) yêu cầu tôn giả A-nan (Ānanda) đọc tụng các Pháp, nghĩa là các bài kinh, và dựa trên nền tảng các bài đọc tụng này, Kinh Tạng ( Sutta Piṭaka) được kết tập .

          Tiểu phẩm Cullavagga nói rằng khi tôn giả Ānanda đọc tụng Kinh tạng, các bộ Nikāya có nội dung giống như hiện nay, với các bài kinh được sắp xếp theo cùng một thứ tự như  chúng ta thấy trong Kinh tạng Pāli hiện nay. Lời tường thuật này chắc chắn là đã ghi lại lịch sử quá khứ qua lăng kính của thời kỳ sau. Tạng Kinh A-hàm của những trường phái Phật giáo khác với truyền thống Nguyên Thủy đều tương hợp với bốn bộ Nikāya chính, nhưng được sắp xếp nội dung theo một trật tự khác với Tạng Kinh Nikāya tiếng Pāli. Điều này gợi ý rằng nếu việc sắp xếp Tạng kinh Nikāya - A Hàm quả thật đã diễn ra ở hội đồng Kết tập Kinh tạng lần thứ nhất, thì hội đồng này chưa ấn định sắp xếp các bài  kinh vào các vị trí nhất định trong hệ thống này. Hay nói cách khác, có thể là kế hoạch này phát sinh vào thời gian sau. Có thể là nó đã phát sinh vào một thời điểm nào đó sau Hội đồng Kết tập lần thứ nhất, nhưng trước khi Giáo đoàn phân chia thành các bộ phái khác nhau. Nếu sự sắp xếp này phát sinh trong thời kỳ phân chia các bộ phái, có thể nó đã được một trong các bộ phái đề xuất và sau đó được các bộ phái khác vay mượn, từ đó các bộ phái khác nhau đã ấn định việc sắp xếp các bài kinh vào những vị trí khác nhau trong hệ thống.

          Trong lúc phần tường thuật của tiểu phẩm Cullavagga về Hội đồng Kết tập Kinh tạng lần thứ nhất có thể bao gồm những tài liệu mang tính huyền thoại xen lẫn với những sự kiện có tính lịch sử, hình như khônglý do gì để nghi ngờ vai trò của tôn giả Ānanda trong việc gìn giữ các bài kinh. Là thị giả của Đức Phật, tôn giả Ānanda đã học thuộc những bài thuyết pháp của Đức Phật và các bậc đại đệ tử của Ngài, khắc ghi trong tâm trí, và giảng dạy lại cho những người khác. Trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế, tôn giả đã được ca tụng về những khả năng ghi nhớ đặc biệt và được mệnh danh là “đệ nhất đa văn thánh đệ tử”(5) (etadaggaṃbahussutānaṃ ). Một vài vị tỳ kheo có thể cũng có trí nhớ ngang hàng với tôn giả Ānanda,  nhưng trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế, mỗi vị tỳ kheo đã phải bắt đầu chuyên môn nghiên cứu về một lãnh vực kinh văn đặc biệt nào đó. Tiêu chuẩn hóa và đơn giản hóa tài liệu sẽ trợ giúp tốt cho việc học thuộc lòng. Một khi các văn bản kinh đã được sắp xếp vào Tạng Nikayas hay A-Hàm, những thách thức về việc bảo tồntruyền bá di sản kinh điển sẽ được giải quyết bằng cách tổ chức các chuyên viên về kinh văn thành những tổ hợp chuyên trách về một loại tuyển tập đặc biệt nào đó. Như vậy các tổ hợp khác nhau trong Tăng đoàn có thể tập trung học thuộc lòngdiễn giải các tuyển tập kinh văn khác nhau và nói chung giáo đoàn có thể tránh được việc áp đặt đòi hỏi mỗi cá nhân các vị tỳ kheo phải ghi nhớ quá nhiều. Chính bằng cách này những lời giáo huấn của Đức Phật tiếp tục được truyền thừa trong ba trăm hoặc bốn trăm năm, cho đến khi cuối cùng chúng được ghi lại bằng chữ viết.(6)

          Trong những thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt, giáo đoàn đã chia rẽ về những vấn đề thuộc giáo lýgiới luật, cho đến thế kỷ thứ ba sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn đã có ít nhất mười tám tông phái của thời kỳ Phật Giáo Bộ Phái. Mỗi tông phái đã có những tuyển tập được xem nhưkinh tạng riêng của họ, mặc dù có thể là nhiều tông phái liên kết chặc chẽ với nhau đã chia sẻ chung một tuyển tập những kinh văn chính thức. Trong lúc những tông phái khác nhau có thể đã tổ chức sắp xếp tuyển tập của họ theo những cách khác nhau, và mặc dù tuyển tập kinh của họ chứng tỏ có sự khác nhau về các chi tiết, điều đáng chú ý là mỗi bài kinh lại  rất tương tự nhau, đôi lúc hầu như giống nhau hoàn toàn, và những giáo lý hay phần tu tập thực hành thì trên căn bản vẫn  giống nhau (7). Sự khác nhau về giáo lý giữa các tông phái không phải xuất phát từ chính những bài kinh nhưng là từ cách diễn giải của các chuyên gia đặc trách kinh tạng áp đạt cho chúng. Những khác biệt đó càng sâu đậm hơn sau khi các tông phái cạnh tranh nhau đã chính thức hóa những nguyên tắc triết học trong các luận đề và luận giải để diễn đạt lập trường rõ ràng của họ về các vấn đề thuộc giáo lý. Đến đây, chúng ta có thể xác định rằng những hệ thống triết lý được gạn lọc như thế chỉ có ảnh hưởng tối thiểu trên  các văn bản kinh chính gốc, mà các tông phái hình như không có khuynh hướng cố ý  nhào nặn cho thích hợp với chủ trương giáo lý của họ. Thay vào đó, bằng phương tiện của những bài luận giải, họ nỗ lực diễn đạt ý kinh theo một phương cách nhằm rút ra những ý tưởng nào ủng hộ cho quan điểm của họ. Chẳng có gì lạ khi những bài diễn giải đó mang tính cách bảo vệ và rất khôn khéo, có vẻ như muốn tạ lỗi với ngôn từ của các bản kinh  chính gốc.

 

KINH TẠNG PĀLI

 

          Điều đáng buồn là những bộ sưu tập kinh điển thuộc về hầu hết các tông phái Phật Giáo Ấn Độ chính thống nguyên thủy đã bị mất mát khi Phật giáo Ấn độ bị  phe Hồi Giáo tàn phá sau khi họ xâm chiếm miền bắc Ấn độ trong thế kỷ thứ mười một và mười hai. Những cuộc xâm lăng đó thật sự đã báo hiệu cái chết của Phật giáo ngay trên mảnh đất phát sinh tôn giáo này. Chỉ có một bộ sưu tập kinh tạng đầy đủ thuộc về một trong những tông phái Phật giáo Ấn độ nguyên thủy là đã cố gắng tìm cách tiếp tục tồn tại nguyên vẹn. Đó là bộ sưu tập được gìn giữ bằng ngôn ngữ Pāli như chúng ta đã biết. Bộ sưu tập này thuộc về tông phái Nguyên Thủy cổ xưa, đã được chuyển qua Tích lan (Sri Lanka) trong thế kỷ thứ ba sau Công Nguyên và nhờ vậy đã tìm cách trốn thoát khỏi tai họa giáng vào Phật giáo trên đất mẹ của mình. Cũng vào khoảng thời gian đó, Phật giáo Nguyên Thủy cũng truyền qua Đông Nam Á và trong những thế kỷ sau đã trở thành tôn giáo thịnh hành nhất trong khu vực này.

          Kinh Tạng Pāli là bộ sưu tập những văn bản kinhtruyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy xem chính thứcLời Phật Dạy (buddhavacana). Sự  kiện những văn bản kinh của bộ sưu tập này đã tồn tại như một bộ sưu tập duy nhất không có nghĩa là tất cả bài kinh  có thể xuất phát từ cùng một thới kỳ; và cũng không có nghĩa là những văn bản tạo thành cốt lõi kinh văn cổ sơ nhất của bộ sưu tập này nhất thiết phải xưa cổ hơn những bài kinh tương đồng với chúng từ những bộ phái Phật giáo khác, rất nhiều văn bản kinh ấy vẫn còn tồn tại trong các bản dịch bằng tiếng Trung hoa và Tây tạng như những thành  phần của toàn bộ  kinh tạng, hoặc, trong một vài trường hợp, như là những văn bản riêng biệt bằng một thứ tiếng Ấn độ khác. Tuy nhiên, Kinh Tạng Pali đặc biệt quan trọng đối với chúng ta, và sở dĩ như vậy là vì ít nhất ba lý do sau :

          Thứ nhất, đó là một bộ sưu tập đầy đủ, tất cả thuộc về một tông phái mà thôi. Mặc dù chúng ta có thể tìm thấy những dấu hiệu rõ ràng về những phát triển lịch sử giữa những phần khác nhau của tạng kinh, sự xếp đặt các văn bản kinh vào một tông phái mà thôi đã cho các văn bản tính chất tương đối đồng nhất. Giữa những bài kinh xuất phát vào cùng một thời kỳ, chúng ta thậm chí có thể nói đến tính đồng nhất về nội dung, mang cùng một hương vị tiềm ẩn bên dưới nhiều cách diễn đạt khác nhau về giáo lý. Tính đồng nhất này được thấy rõ ràng  trong bốn bộ  Nikāya và những phần xưa cổ hơn của bộ Nikāya thứ năm, và cho chúng ta lý do để tin rằng với những văn bản kinh này chúng ta đã đạt đến tài liệu cổ sơ nhất của văn bản Phật giáo đã được khám phá từ trước đến naycho phép xác nhận giá trị của những nhận định đã nêu trên, rằng những văn bản kinh này có những bản tương đồng trong các bộ phái Phật giáo khác mà nay đã không còn tồn tại .

          Thứ hai, toàn bộ sưu tập đã được bảo tồn bằng thứ ngôn ngữ miền Trung Ấn-Aryan, thứ ngôn ngữliên hệ rất gần với ngôn ngữ ( hoặc, rất có thể là, những thổ ngữ thuộc nhiều vùng khác nhau) mà chính đức Phật đã nói .Chúng ta gọi thứ ngôn ngữ này là tiếng Pali, nhưng tên gọi ngôn ngữ này thật ra đã xuất phát từ một sự hiểu lầm . Từ pāli đúng ra có nghĩa là “ kinh văn ”, nghĩa là, văn bản kinh để phân biệt với những bài luận giải. Các nhà bình luận đề cập đến ngôn ngữ mà các văn bản được bảo tồn như là pālibhāsā, nghĩa là “ngôn ngữ của các kinh văn”. Vào một thời điểm nào đó, từ này bị hiểu lầm có nghĩa là “ ngôn ngữ Pāli”, và một khi sự hiểu lầm này đã được tung ra, nó bén rễ và đã đi theo với chúng ta từ đó đến nay. Các học giả xem ngôn ngữ này như là một ngôn ngữ lai để lộ nhiều đặc điểm của các thổ ngữ Prakrit được sử dụng vào khoảng thế kỷ thứ ba trước công nguyên, và đã phải chịu một quá trình “ Sancrit  hóa ” một phần nào (8). Trong lúc ngôn ngữ này không trùng hợp với bất cứ ngôn ngữ nào mà chính Đức Phật đã nói, nó thuộc về cùng một  ngữ tộc rộng lớn như những ngôn ngữ mà có lẽ Ngài đã sử dụngxuất phát từ cùng một cội nguồn khái niệm. Như vậy, ngôn ngữ này phản ảnh thế giới tư tưởngĐức Phật đã kế thừa từ một nền văn hóa Ấn độ rộng lớn hơn trong đó Ngài đã sinh ra, nhờ vậy ngôn từ của nền văn hóa ấy đã diễn đạt được những nét tinh tế của thế giới tư tưởng mà không có sự xâm nhập của các ảnh hưởng ngoại lai, vốn không thể tránh được ngay cả trong những bản văn dịch xuất sắc và cẩn trọng nhất. Điều này trái ngược với những bản dịch kinh văn của Trung hoa, Tây Tạng hay Anh quốc, trong đó ngôn ngữ dịch đã mang nhiều ảnh hưởng của các nghĩa bóng được chọn từ  tiếng Hoa, Tây-tạng hay Anh.

          Lý do thứ ba khiến Kinh Tạng Pāli có tầm quan trọng đặc biệt là vì đối với một trường phái Phật giáo đương thời bộ sưu tập này là tài liệuthẩm quyền. Không giống những bộ sưu tập kinh văn của những trường phái Phật giáo cổ sơ đã bị tuyệt chủng, vốn mang tính chất thuần túy hàn lâm, bộ sưu tập này mang đầy sức sống. Nó đã khơi dậy niềm tin của hàng triệu Phật tử từ các thôn làng và tự viện ở Sri Lanka (Tích lan), Myanmar ( Miến điện), và Đông Nam Á cho đến những thành phố và các trung tâm thiền ở Âu Châu và Mỹ châu. Bộ sưu tập kinh tạng này đã định hình tri kiến của họ, hướng dẫn họ trước những chọn lựa đạo đức khó khăn, cung cấp thông tin cho việc tu tập thiền định của họ, và cho họ những chìa khóa để đạt đến tuệ giác giải thoát.

          Kinh Tạng Pāli thường được biết như là Tipiṭaka, nghĩa là “Tam Tạng Kinh Điển” hay  ‘Ba Bộ Sưu Tập Kinh”. Sự phân chia làm ba tạng này không phải chỉ là tính chất độc đáo của trường phái Nguyên Thủy, mà còn thông dụng giữa các trường phái Phật giáo Ấn Độ như là một cách phân loại các văn bản kinh Phật giáo. Ngày nay, ngay cả những kinh điển được bảo tồn trong các bản dịch chữ Hán cũng được biết như là Tam Tạng Kinh chữ Hán . Ba bộ sưu tập kinh tạng Pali là :

          1. Luật Tạng ( Vinaya Piṭaka), bộ sưu tập về Giới Luật, gồm có những giới luật  được đặt ra để hướng dẫn tăng ni và những điều lệ qui định để việc hoạt động của giáo đoàn được hài hòa.

          2. Kinh Tạng ( Sutta Piṭaka), là bộ sưu tập các bài Kinh, gồm có Kinh ( suttas), là những bài giảng của Đức Phật và  các vị đại đệ tử của Ngài cũng như những tác phẩm khơi nguồn cảm hứng bằng thơ, bằng thi kệ, và một số tác phẩm mang tính chất bình luận.

          3. Luận Tạng ( Abhidharma Piṭaka), bộ Sưu tập về Triết học, là bộ sưu tập gồm bảy bộ luận nhằm  hệ thống hóa triết học thật chặt chẽ những lời giảng dạy của Đức Phật.  

          Luận Tạng (  Abhidhamma Piṭaka) rõ ràng là sản phẩm của thời kỳ sau so với hai Tạng kia. trong quá trình tiến hóa tư tưởng Phật giáo. Văn bản tiếng Pāli tiêu biểu cho nỗ lực của trường phái Nguyên thủy muốn hệ thống hóa những lời giảng dạy xưa cổ hơn. Những trường phái khác rõ  ràng cũng đã có hệ thống Luận tạng  riêng của họ. Trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ (Savāstivāda ) là hệ thống duy nhấttoàn bộ các văn bản kinh của họ được tồn tại nguyên vẹn. Bộ sưu tập kinh tạng của họ, giống như Pāli tạng, cũng gồm có bảy tập kinh văn. Những kinh văn đó nguyên gốc được viết bằng tiếng Sancrit nhưng chỉ được bảo tồn đầy đủ bằng các bản dịch chữ Hán. Hệ thống mà họ khẳng định khác biệt đáng kể so với phần kinh văn tương đương của trường phái Nguyên Thủy cả trong phần  trình bày lẫn triết học.

          Kinh Tạng ( Sutta Piṭaka),  chứa đựng các bản ghi chép những lời giảng dạy và thảo luận của Đức Phật, gồm có năm bộ sưu tập gọi là Nikaya. Vào thời đại của các nhà luận giải, chúng cũng còn được biết đến như là  Āgamas, giống như các bản kinh tương đương của Phật giáo Bắc Truyền. Bốn tập Nikaya là :

1. Trường Bộ Kinh (Digha Nikāya): ba mươi bốn bài kinh được sắp xếp thành ba quyển ( vaggas) .

2. Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya) gồm 152 bài kinh được sắp xếp thành ba quyển.

3. Tương Ưng Bộ Kinh ( Saṃyutta Nikāya) gần ba ngàn bài kinh ngắn sắp xếp thành năm mươi sáu chương, gọi là saṃyuttas,  được xếp thành năm quyển.

4. Tăng Chi Bộ Kinh ( Aṅguttara Nikāya), gồm gần 2,400 bài kinh ngắn được sắp xếp thành 11 chương, gọi là Kinh Tập (nipātas).

          Thoạt nhìn, Trường Bộ KinhTrung Bộ Kinh hình như được thành lập chính yếu trên căn bản chiều dài của kinh: những bài kinh dài hơn được đưa vào Trường Bộ, những bài có chiều dài cỡ trung bình thì đưa vào Trung Bộ. Tuy nhiên, nếu cẩn thận sắp xếp nội dung của các bài kinh sẽ gợi ý cho thấy rằng  một yếu tố khác có thể tiềm ẩn bên dưới sự phân biệt giữa hai bộ kinh đó. Những bài kinh trong Trường Bộ Kinh phần lớn nhắm đến đại chúng và hình như có ý định thu hút những người có thể cải đạo đến nghe kinh bằng cách chứng minh tính siêu đẳng của Đức Phậtgiáo lý của Ngài. Các bài kinh trong Trung Bộ Kinh phần lớn hướng đến nội bộ cộng đồng Phật tử và hình như được sắp xếp để các vị tân tỳ kheo làm quen với giáo lýcông phu tu tập của Phật giáo (9). Điều này vẫn còn là một câu hỏi mở rộng về vấn đề có phải những mục đích thực dụng ấy là những tiêu chuẩn quyết định đằng sau hai Bộ kinh Nikaya đó, hay tiêu chuẩn đầu tiên là chiều dài của kinh, với những mục đích thực dụng ấy theo sau như là kết quả ngẫu nhiên của những khác nhau về độ dài của các bài kinh đó.

          Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya) được sắp xếp theo đề tài. Mỗi đề tài là cái ‘ ách’ (saṃyoga) kết nối  bài kinh vào một chương ( saṃyutta). Từ đó nhan đề của bộ kinh là “những bài kinh được kết nối ”( Tương Ưng). Quyển thứ nhất, Thi Kệ, độc đáo ở chỗ là đã được tập hợp trên căn bản thể loại văn chương. Quyển này gồm có những bài kinh trong đó vừa có văn xuôi vừa có thi kệ, được sắp xếp thành mười một chương theo đề tài. Bốn quyển kia mỗi quyển gồm có những chương dài nói về những giáo lý chính yếu của Phật Giáo Nguyên Thủy. Các Quyển II, III, và IV mỗi quyển đều được  mở đầu bằng một chương dài dành cho một đề tài rất quan trọng, như là Lý Duyên Khởi ( chương 12: Nidānasaṃyutta); Ngũ Uẩn ( chương 22: Khandhasaṃyutta); và Sáu Nội Xứ và Sáu Ngoại Xứ ( chương 35: Saḷāyatanasaṃyutta) . Phần V nói về những chi phần tu tập chính yếu, mà trong thời kỳ ‘’hậu kinh điển’’ được gọi là Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo ( bodhipakkhiyādhammā). Những chi phần này gồm có Bát Thánh Đạo ( chương 45: Maggasaṃyutta) , Thất Giác Chi ( chương 46: Bojjhangasaṃyutta) , và Tứ Niệm Xứ ( chương 47: Satipaṭṭhānasaṃyutta) . Từ nội dung, chúng ta có thể suy luận rằng Tương Ưng Bộ Kinhdụng ý phục vụ cho nhu cầu của hai nhóm trong giáo đoàn. Một nhóm gồm những vị chuyên môn về giáo lý, những vị tăng ni chuyên tâm tìm tòikhám phá ý nghĩa sâu sắc của Giáo Pháp để giải thích cho những bạn đồng tu của họ. Nhóm kia gồm những vị dành trọn công phu để phát triển tuệ giác thiền định.

          Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara Nikāya) được sắp xếp theo một hệ thống số rút ra từ một đặc điểm kỳ lạ trong phương pháp sư phạm của Đức Phật. Để giúp cho việc học thuộc lòng và hiểu các bài giảng dễ dàng hơn, Đức Phật thường hình thành các bài giảng bằng cách xếp theo từng bộ số, một kiểu thiết kế nhằm bảo đảm rằng những tư tưởng Ngài truyền đạt sẽ được dễ dàng ghi nhớ. Tăng Chi Bộ Kinh tập hợp những bài pháp thoại xếp theo số thành một tác phẩm đồ sộ gồm có mười một chương ( nipātas), mỗi chương tiêu biểu cho một số các bài kinh đã được hình thành theo pháp số. Như vậy có Chương của những Bài Kinh Số Một ( ekākanipāta), Chương của những Bài Kinh Số Hai ( dukanipāta), Chương của những Bài Kinh Số Ba ( tikanipata) và cứ như thế, cho đến lúc chấm dứt với Chương của những Bài Kinh Số Mười Một ( ekākanipāta). Vì những nhóm khác nhau của các chi phần trong đạo lộ tu tập đã được bao gồm trong Tương Ưng Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh có thể tập trung vào các phương diện khác của việc tu tập chưa được thể nhập vào các tập kinh pháp số trùng lặp . Tăng Chi Bộ Kinh bao gồm một số lượng kinh đáng kểĐức Phật đã giảng cho cư sĩ để giải quyết các mối quan tâm của họ về các vấn đề đạo đứctâm linh trong cuộc sống đời thường, bao gồm các quan hệ gia đình (vợ chồng, con cái và cha mẹ) , và những phương cách đúng đắn để tạo lập, giữ gìnsử dụng tài sản. Những bài kinh khác nói về việc rèn luyện thực tiển cho các tăng sĩ. Việc sắp xếp tuyển tập kinh theo pháp số giúp cho việc giảng dạy chính thức được đặc biệt thuận tiện, và như vậy được các vị trưởng lão tăng sử dụng dễ dàng khi giảng dạy cho  các đệ tử và các vị pháp sư khi thuyết pháp cho  thính chúng.

          Ngoài bốn bộ kinh Nikāya chính, Kinh Tạng Pāli còn một bộ kinh Nikāya thứ năm, gọi là Tiểu Bộ Kinh ( Khuddaka Nikāya) . Tên kinh này có nghĩa là Tiểu Bộ. Có lẽ  lúc ban đầu bộ kinh này chỉ gồm có một số tác phẩm nhỏ không thể đưa vào bốn bộ kinh Nikāya lớn. Nhưng vì càng ngày càng có nhiều bài kinh được sáng tác qua nhiều thế kỷ và được thêm vào Tiểu Bộ, và kích cỡ của bộ kinh này phát triển cho đến lúc nó trở thành bộ kinh có nhiều quyển nhất trong năm bộ kinh Nikāya. Tuy nhiên, trọng tâm của Tiểu Bộ Kinh là một tập hợp nhỏ những tác phẩm ngắn được sáng tác hoặc là hoàn toàn bằng thi kệ ( chẳng hạn như , Kinh Pháp Cú ( The Dammapada), Trưởng Lão Tăng Kệ ( the Theragāthā), Trưởng Lão Ni kệ ( the Therigāthā), hoặc hỗn hợp văn xuôi lẫn văn vần như là Kinh Tập (Suttanipāta), Kinh Phật Tự Thuyết ( Udāna) , và Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Itivuttaka ), những kinh này có văn phong và nội dung  thuộc loại rất xưa cổ. Những bài kinh khác trong Tiểu Bộ Kinh – như là Kinh  Phân Tích Đạo (Paṭisambhidāmagga) và hai bài kinh Diễn giải (Niddesas) – tiêu biểu cho lập trường của tông phái Nguyên Thủy và như vậy ắt hẳn phải được sáng tác trong thời kỳ Phật Giáo Bộ Phái, khi mà những tông phái cổ sơ đã đi theo con đường riêng của họ về việc  phát triển giáo lý.

          Bốn bộ kinh Nikāya tiếng Pāli có các bộ tương đương là Kinh A-Hàm của Tam Tạng Kinh chữ Hán, mặc dù những kinh này thuộc về các tông phái xưa cổ khác nhau . Tương đương với từng bộ kinh  gồm có Trường A-hàm ( Dirghāgama), có lẽ xuất phát từ  phái Pháp Tạng Bộ (Dharmaguptaka), nguyên gốc được dịch từ tiếng Prakrit, Bộ Trung-A-Hàm (Madhyamagama)  và Tạp-A-Hàm ( Samyuktāgama), cả hai xuất phát từ phái Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda) và được dịch từ tiếng Sanscrit, và một bộ Tăng-Nhất-A-Hàm (Ekottarāgama), tương đương với Tăng Chi Bộ Kinh, thường được cho là thuộc về một chi nhánh của tông phái Đại Chúng Bộ (Mahāsāṅghika) và đã được dịch từ một thổ ngữ thuộc miền Trung Indo-Aryan hay là một thổ ngữ pha trộn của ngôn ngữ Prakrit với những yếu tố của tiếng Sancrit. Tam Tạng Kinh chữ Hán cũng gồm có những bản dịch các bài kinh riêng lẻ từ bốn tuyển tập lớn, có lẽ từ những tông phái khác chưa được nhận diện, và những bản dịch của từng quyển riêng lẻ từ Tiểu Bộ Kinh, gồm hai bản dịch của Kinh Pháp Cú  (Dhammapada) ( một bản đươc nói là rất giống với văn bản tiếng Pali) và những phần của Kinh Tập ( Suttanipāta) , vốn là  một tác phẩm thống nhất, không có trong bản dịch chữ Hán.

 

GHI CHÚ VỀ VĂN PHONG

          Độc giả của kinh tạng Pāli thường cảm thấy bực mình trước sự  trùng lặp của các lời kinh. Thật khó nói có bao nhiêu phần lặp lại này xuất phát từ chính lời giảng của Đức Phật, vốn là một vị giáo sĩ du hành khắp nơi ắt hẳn Ngài phải dùng phương cách lặp lại để củng cố những điểm cần nhấn mạnh, và Ngài đã dùng nhiều ít thế nào thì lại tùy vào những người sưu tập kinh văn. Tuy nhiên, rõ ràng là một phần lớn lời kinh trùng lặp  xuất phát từ quá trình truyền khẩu.

          Để tránh quá nhiều trùng lặp trong lúc phiên dịch, tôi đã phải thực hiện việc rút gọn nhiều lần.Về mặt này, tôi theo các ấn bản kinh tiếng Pāli, vốn cũng đã rút gọn bớt rất nhiều, nhưng một bản dịch nhắm đến các độc giả đương đại đòi hỏi cần phải rút gọn hơn nữa nếu muốn tránh cho độc giả khỏi bực mình. Mặc khác, tôi cũng phải nhạy bén để thấy rằng không có điểm nào cần thiết trong văn bản gốc đã bị bỏ sót trong khi rút gọn, kể cả phong cách của lời kinh. Lý tưởng vừa muốn làm vui lòng độc giả vừa muốn giữ tính trung thực của văn bản kinh đôi lúc đã tạo ra những yêu cầu trái ngược nhau cho người dịch.

          Việc xử lý các kiểu mẫu trùng lặp của cùng một lời kinh liên hệ đến một loạt các thành phần của bài kinh là một vấn đề bất tận đối với việc phiên dịch kinh tạng Pali. Thí dụ, khi dịch một bài kinh về ngũ uẩn, ngươi ta thường muốn bỏ qua việc kể ra từng uẩn, thay vào đó chuyển bài kinh thành một lời xác định tổng quát về các uẩn như một tập hợp. Theo ý tôi, phương cách này có nguy cơ là biến bản phiên dịch thành một bài viết có ý nghĩa tương đương và như vậy đánh mất quá nhiều đặc tính của văn bản gốc. Chính sách chung của tôi là dịch toàn bộ lời kinh liên quan đến thành phần thứ nhất và thành phần cuối của toàn bộ (ngũ uẩn) và chỉ dùng các dấu chấm  ngăn cách để kể các thành phần ở giữa. Như vậy, trong một bài kinh vể ngũ uẩn, tôi chỉ dịch đầy đủ về phần sắc và thức, và các thành phần ở giữa sẽ là “thọ…tưởng…hành…”, ngụ ý rằng toàn bộ lời kinh kể trước cũng áp dụng cho các thành phần này.

          Phương cách này đòi hỏi sử dụng thường xuyên việc rút gọn bằng các dấu chấm, một cách thực hành cũng dễ tạo ra nhiều bình phẩm. Khi phải đối diện với những đoạn văn trùng lặp trong khung cảnh một bài tường thuật, đôi lúc tôi cô đọng chúng thay vì dùng cách rút gọn bằng gọn bằng các dấu chấm để chỉ định phần nào của bài kinh đang được bỏ bớt. Tuy nhiên, với những bài kinhtính cách giải thích giáo lý, tôi vẫn tuân thủ theo cách thực hành như đã nói ở đoạn trước. Khi dịch những đoạn kinh mang ý nghĩa giáo lý quan trọng, tôi nghĩ dịch giả có trách nhiệm cần chỉ rõ nơi nào bài kinh được rút gọn, và đối với loại kinh này, việc rút gọn bằng các dấu chấmvẫn là phương cách sẵn có tốt nhất.





Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 165491)
30/06/2015(Xem: 10784)
08/02/2015(Xem: 19975)
10/10/2010(Xem: 98765)
10/08/2010(Xem: 102510)
08/08/2010(Xem: 106298)
21/03/2015(Xem: 10437)
27/10/2012(Xem: 55410)
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.