8. Bốn Nền Tảng của Chánh Niệm / Tứ Niệm Xứ

06/06/20172:59 SA(Xem: 995)
8. Bốn Nền Tảng của Chánh Niệm / Tứ Niệm Xứ

VIỆN  NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
HỢP  TUYỂN LỜI   PHẬT   DẠY
TỪ  KINH TẠNG  PALI 

In The Buddha’s Words
An Anthology of Discourses from the Pali Canon

By
BHIKKHU  BODHI
Wisdom Publications – 2005
Việt dịch : Nguyên Nhật Trần Như Mai
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG  ĐỨC 2015

 

VIII

TU TẬP TÂM
 

8. BỐN NỀN  TẢNG  CỦA CHÁNH  NIỆM / TỨ NIỆM XỨ

         

          1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú tại xứ Kuru nơi đó có một thị trấn của người Kura là Kammāsadhamma. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

          -Này các Tỷ-kheo.

           –  Bạch Thế Tôn. Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau :

          2.  Này các Tỷ-kheo, đây là con đường duy nhất (25) để thanh tịnh chúng sanh, vượt qua sầu não, diệt trừ khổ đau và ưu phiền, để thành tựu chánh đạo, đưa đến chứng ngộ Niết Bàn – đó là Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm.

          3.  Thế nào là bốn ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời.(26) Vị ấy sống quán thọ trong thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời. Vị ấy sống quán tâm trong tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời. Vị ấy sống quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời. (27)

 

[ Quán thân trong thân ]

[ Quán Niệm Hơi Thở ]

          4.  Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thân trong thân ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến một khu rừng, đi đến một gốc cây, hay một cái ‘ cốc ’ trống, ngồi xuống, bắt chéo chân theo thế kiết già, lưng thẳng, và thiết lập chánh niệm ngay trước mặt, với chánh niệm vị ấy thở vô, với chánh niệm vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy biết : ‘ Tôi thở vô dài ’; thở ra dài, vị ấy biết: ‘ Tôi thở ra dài. ’ Thở vô ngắn, vị ấy biết : ‘ Tôi thở vô ngắn ’; thở ra ngắn, vị ấy biết: ‘ Tôi thở ra ngắn. ’ (28) Vị ấy tập như vầy: ‘ Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vô ’ ; Vị ấy tập :  ‘Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở ra .’(29) Vị ấy tập :  ‘ An tịnh thân hành tôi sẽ thở vô ’; Vị ấy tập :  ‘ An tịnh thân hành tôi sẽ thở ra ’. (30) Cũng giống như người thợ quay đồ gỗ hay học trò của ông ta, khi quay một vòng dài, ông ấy biết : ‘ Tôi quay một vòng dài ’; hay , khi quay một vòng ngắn, ông ấy biết : ‘ Tôi quay một vòng ngắn ’; cũng vậy, thở vô dài, vị tỷ-kheo biết: ‘ Tôi thở vô dài ’… vị ấy tập :  ‘ An tịnh thân hành tôi sẽ thở ra ’.

          5.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hoặc vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hoặc vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân.(31) Hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh sanh khởi trong thân, hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh đoạn diệt trong thân, hoặc vị ấy sống quán bản chất của cả tánh sanh khởi lẫn tánh đoạn diệt trong thân. (32) Hoặc chỉ với chánh niệm là ‘ có một thân ’được thiết lập trong vị ấy tới mức độ cần thiết để hướng đến chánh tríchánh niệm liên tục. Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

[ 2.Bốn tư thế của thân]

          6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi đi, vị Tỷ-kheo ấy biết: ‘ Tôi đang đi ’; khi đứng, vị ấy biết: ‘Tôi đang đứng’;  khi ngồi, vị ấy biết: ‘Tôi đang ngồi’; khi nằm, vị ấy biết: ‘Tôi đang nằm ’; hoặc là dù thân được sử dụng như thế nào vị ấy biết thân như thế ấy.(33)

          7.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hoặc vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hoặc vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân… Và vị ấy sống độc lập, không  chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

[3. Tỉnh giác ]

          8.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo khi đi tới đi lui đều biết rõ việc mình đang làm; (34) khi nhìn trước nhìn sau đều biết rõ việc mình đang làm; khi co tay hay duỗi tay đều biết rõ việc mình đang làm; khi đắp y hay khoác áo Tăng-già-lê bên ngoài và bình bát đều biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai và nếm đều biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện tiểu tiện đều biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói chuyện, im lặng đều biết rõ việc mình đang làm.

          9.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hoặc vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hoặc vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân… Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

[ 4. Sự bất tịnh của thân ]

          10.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát thân này từ dưới bàn chân trở lên, và từ đỉnh tóc trở xuống, được da bao bọc , và chứa đầy những loại bất tịnh khác nhau như thế này:‘ Trong thân này có tóc trên đầu, lông trên cơ thể, móng tay chân, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột , màng ruột, dạ dày, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, chất dầu, nước miếng, nước mủ, chất nhờn ở khớp xương, và nước tiểu. ‘’ ( 35) Cũng giống như có một cái bao mở cả hai đầu, chứa đầy nhiều loại hạt, như lúa, gạo đỏ, đậu que, đậu hạt, kê, và gạo trắng, và một người có mắt tốt mở bao ấy ra và quán sát như thế này: ‘ Đây là lúa, gạo đỏ, đậu que, đậu hạt, kê, và gạo trắng ’; cũng vậy, vị Tỷ-kheo quán sát thân này…như chứa đầy những loại bất tịnh khác nhau như thế này: ‘ Trong thân này có tóc trên đầu…và nước tiểu.’

          11.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hay vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hay vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân… Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

 

[ 5. Tứ  đại ]

          12.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát thân này, dù đặt ở vị trí nào, dù được sắp đặt như thế nào, gồm có những đại như vầy: ‘ Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.’ (36) Cũng giống như một người mổ thịt thiện xảo, hay học trò của người mổ thịt, đã giết một con bò và ngồi ở ngã tư đường với các phần thịt đã cắt; cũng vậy, vị Tỷ-kheo quán sát thân này … gồm có những đại như vầy: ‘ Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.’

          13.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hoặc vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hoặc vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân… Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

[6-14  Quán chin giai đoạn tan rã của thân trong nghĩa địa ]

          14.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỳ-kheo như thấy một thi thể quăng trong nghĩa địa, đã chết một, hai hoặc ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen và nát thối, vị Tỷ-kheo so sánh thân này với thi thể ấy như vầy: ‘ Thân này cũng có bản chất giống như vậy, rồi nó cũng như thế, không có ngoại lệ nào cho nó cả.’(37)

          15.   Bằng các này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hoặc vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hoặc vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân… Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

          16.  Lại nữa, vị Tỳ-kheo như thấy một thi thể quăng trong nghĩa địa, bị  các loài quạ , diều hâu, chim kên kên, chó, giả can, hay đủ loại côn trùng xâu xé ăn thịt, vị Tỷ-kheo so sánh thân này với thi thể ấy như vầy: ‘ Thân này cũng có bản chất giống như vậy, rồi nó cũng như thế, không có ngoại lệ nào cho nó cả.’

          17.   … Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

          18-24 . “Lại nữa, vị Tỳ-kheo như thấy một thi thể quăng trong nghĩa địa, một bộ xương còn  máu và thịt, được các đường gân nối kết lại … một bộ xương còn dính máu, được các đường gân nối kết lại … một bộ xương không còn  máu và thịt, được các đường gân nối kết lại…và các khúc xương rời rải rác khắp nơi – đây là xương tay, đó là xương chân, đây là xương ống, đó là xương bắp đùi, đây là xương hông, đó là xương lưng, đây là xương sọ - vị Tỷ-kheo so sánh thân này với thi thể ấy như vầy: ‘ Thân này cũng có bản chất giống như vậy, rồi nó cũng như thế, không có ngoại lệ nào cho nó cả.’(38)

          25. … Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

          26-30 .  Lại nữa, vị Tỳ-kheo như thấy một thi thể quăng trong nghĩa địa, xương đã trắng như màu vỏ sò …xương chồng chất lên nhau…xương đã lâu hơn một năm, đã mục và vỡ vụn thành bụi, vị Tỷ-kheo so sánh thân này với thi thể ấy như vầy: ‘ Thân này cũng có bản chất giống như vậy, rồi nó cũng như thế, không có ngoại lệ nào cho nó cả.’

          31.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hoặc vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hoặc vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân.  Hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh sanh khởi trong thân, hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh đoạn diệt trong thân, hoặc vị ấy sống quán bản chất của cả tánh sanh khởi lẫn tánh đoạn diệt trong thân. Hoặc chỉ với chánh niệm là ‘ có một thân’ được thiết lập trong vị ấy tới mức độ cần thiết để hướng đến chánh tríchánh niệm liên tục. Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

 

[ Quán cảm thọ ]

          32.  Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trong thọ ? (39) Ở đây khi Tỷ-kheo có cảm giác lạc thọ, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác lạc thọ ’; khi Tỷ-kheo có cảm giác khổ thọ, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác thổ thọ ’; khi Tỷ-kheo có cảm giác bất lạc bất khổ thọ, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác bất lạc bất khổ  thọ ’; khi Tỷ-kheo có cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác lạc thọ thuộc vật chất’; khi Tỷ-kheo có cảm giác lạc thọ thuộc tinh thần, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác lạc thọ thuộc tinh thần ’; khi Tỷ-kheo có cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác khổ thọ thuộc vật chất’; khi Tỷ-kheo có cảm giác khổ thọ thuộc tinh thần, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác khổ thọ thuộc tinh thần ’;  khi Tỷ-kheo có cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác  bất khổ bất lạc thọ  thuộc vật chất’;  khi Tỷ-kheo có cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc tinh thần, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác  bất khổ bất lạc thọ  thuộc tinh thần .’

          33.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thọ trong các  nội thọ, hoặc vị ấy sống quán thọ trong các ngoại thọ, hoặc vị ấy sống quán thọ cả trong các nội thọ  lẫn ngoại thọ.  Hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh sanh khởi trong các thọ, hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh đoạn diệt trong các thọ,  vị ấy sống quán bản chất của cả tánh sanh khởi lẫn tánh đoạn diệt trong các thọ. (40) Hoặc chỉ với chánh niệm là ‘ có cảm thọ ’ được thiết lập trong vị ấy tới mức độ cần thiết để hướng đến chánh tríchánh niệm liên tục. Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thọ trong thọ.

 

[Quán tâm ]

          34.  Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trong tâm ? (41) Ở đây, vị Tỷ-kheo biết một tâm có tham dục là tâm có tham dục và một tâm không tham dụctâm không tham dục.  Vị ấy biết một tâm có sân hận là tâm có sân hận và một tâm không sân hậntâm không sân hận. Vị ấy biết một tâm có si mê là tâm có si mê và một tâm không si mêtâm không si mê. Vị ấy biết một tâm có chuyên chú là tâm có chuyên chú và một tâm bị  tán loạn là tâm bị tán loạn. Vị ấy biết một tâm hoan hỷ là tâm hoan hỷ và một tâm không hoan hỷtâm không hoan hỷ. Vị ấy biết một tâm hữu hạn là tâm hữu hạn và một tâm vô thượng  là tâm vô thượng. Vị ấy biết một tâm có định là tâm có định và một tâm không định là tâm không định. Vị ấy biết một tâm giải thoát  là tâm giải thoát và một tâm không giải thoáttâm không giải thoát.(42)

          35.   Bằng cách này, vị ấy sống quán tâm trong  nội tâm, hoặc vị ấy sống quán tâm trong ngoại tâm, hoặc vị ấy sống quán tâm cả trong các nội tâm  lẫn ngoại tâm.  Hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh sanh khởi trong tâm, hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh đoạn diệt trong tâm, hoặc vị ấy sống quán bản chất của cả tánh sanh khởi lẫn tánh đoạn diệt trong tâm.(43) Hoặc chỉ với chánh niệm là ‘ có tâm ’ được thiết lập trong vị ấy tới mức độ cần thiết để hướng đến chánh tríchánh niệm liên tục. Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán tâm trong tâm.

 

Quán pháp ]

          [ 1. Năm  Chướng Ngại / Triền cái ]

          36.  Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp ? Và thế nào là  vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với năm chướng ngại ? (44) Ở đây,  khi trong tâm vị ấy có dục vọng, vị ấy biết: ‘ Tâm tôi có dục vọng’; hoặc khi trong tâm vị ấy không có dục vọng, vị ấy biết: ‘ Tâm tôi không có dục vọng ’; và vị ấy cũng biết làm thế nào dục vọng chưa sinh nay lại sinh khởi, và làm thế nào dục vọng đã sinh khởi được đoạn trừ, và làm thế nào dục vọng đã bị đoạn trừ không sinh khởi trở lại trong tương lai.(45)

           Khi trong tâm vị ấy có sân hận… Khi trong tâm vị ấy có hôn trầm … Khi trong tâm vị ấy có bất an và hối hận…Khi trong tâm vị ấy có nghi ngờ, vị ấy biết: ‘ Trong tâm tôi có nghi ngờ ’; hoặc khi trong tâm vị ấy không có nghi ngờ, vị ấy biết: ‘ Trong tâm tôi  không có nghi ngờ ’; và vị ấy cũng biết làm thế nào nghi ngờ chưa sinh nay lại sinh khởi, và làm thế nào nghi ngờ đã sinh khởi được đoạn trừ, và làm thế nào nghi ngờ đã bị đoạn trừ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

          37. Bằng cách này, vị ấy sống quán pháp trong nội pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp trong ngoại pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp cả trong  nội pháp  lẫn ngoại pháp.  Hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh sanh khởi trong các pháp, hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh đoạn diệt trong các pháp, hoặc vị ấy sống quán bản chất của cả tánh sanh khởi lẫn tánh đoạn diệt trong các pháp. Hoặc chỉ với chánh niệm là ‘ có các pháp ’ được thiết lập trong vị ấy tới mức độ cần thiết để hướng đến chánh tríchánh niệm liên tục. Và vị ấy sống độc lập, không  chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với năm chướng ngại.

          [ 2. Năm Uẩn ]

          38.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với năm uẩn bị  chấp thủ chi phối . (46) Và làm thế nào vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với năm uẩn bị  chấp thủ chi phối ? Ở đây, vị Tỷ-kheo biết : ‘ Đây là sắc, đây là nguồn gốc của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc; đây là thọ, đây là nguồn gốc của thọ, đây là sự đoạn diệt của thọ; đây là tưởng, đây là nguồn gốc của tưởng, đây là sự đoạn diệt của tưởng; đây là hành, đây là nguồn gốc của hành, đây là sự đoạn diệt của, hành; đây là thức, đây là nguồn gốc của thức, đây là sự đoạn diệt của thức,’ (47)

          39.  Bằng cách này, vị ấy sống quán pháp trong nội pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp trong ngoại pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp cả trong  nội pháp  lẫn ngoại pháp ... Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với năm uẩn bị chấp thủ chi phối.

 

          [ 3. Sáu Xứ / Sáu căn ]

          40.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với sáu nội và ngoại xứ.(48) Và làm thế nào vị Tỷ-kheo  sống quán pháp trong pháp đối với sáu nội và ngoại xứ ? Ở đây, vị Tỷ-kheo biết mắt, và biết các sắc, và vị ấy biết kiết sử ( sự trói buộc vào luân hồi ) sanh khởi do hai căn này; và vị ấy cũng biết  làm thế nào kiết sử chưa sinh nay lại sinh khởi, và làm thế nào kiết sử đã sinh khởi được đoạn trừ, và làm thế nào kiết sử  đã bị đoạn trừ không sinh khởi trở lại trong tương lai.’(49)

           Vị ấy biết tai, vị ấy biết âm thanh…Vị ấy biết mũi, vị ấy biết các mùi hương…Vị ấy biết lưỡi, vị ấy biết các mùi vị… Vị ấy biết thân, vị ấy biết các đối tượng xúc chạm… Vị ấy biết tâm thức, vị ấy biết các pháp, và vị ấy biết kiết sử sinh khởi do cả hai căn; và vị ấy cũng biết biết làm thế nào kiết sử chưa sinh nay lại sinh khởi, và làm thế nào kiết sử đã sinh khởi được đoạn trừ, và làm thế nào kiết sử  đã bị đoạn trừ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

          41.  Bằng cách này, vị ấy sống quán pháp trong nội phápngoại pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp cả trong  nội pháp  lẫn ngoại pháp ... Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với sáu nội và ngoại xứ.

          [ 4.  Bảy Giác Chi ]( Bảy yếu tố giác ngộ )

          42.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với bảy giác chi.(50) Và làm thế nào vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với bảy giác chi ? Ở đây, khi trong nội tâm vị Tỳ-kheo có niệm giác chi, vị ấy biết: ‘ Trong tâm tôi có niệm giác chi ’; hoặc khi trong nội tâm vị Tỳ-kheo không có niệm giác chi, vị ấy biết: ‘ Trong tâm tôi không có niệm giác chi ’; và vị ấy cũng biết làm thế nào niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, và làm thế nào niệm giác chi đã sanh khởi được phát triển viên mãn.

           Khi trong tâm vị ấy có trạch pháp (/ phân tích ) giác chi… Khi trong tâm vị ấy có tinh tấn giác chi… Khi trong tâm vị ấy có hỷ giác chi… Khi trong tâm vị ấy có khinh an giác chi… Khi trong tâm vị ấy có định giác chi… Khi trong tâm vị ấy có xả giác chi, vị ấy biết: ‘Trong tâm tôi có xả giác chi ’; hoặc khi trong tâm vị ấy không có xả giác chi, vị ấy biết: ‘Trong tâm tôi không có xả giác chi ’; và vị ấy cũng biết làm thế nào xả giác chi chưa sanh nay sanh khởi, và làm thế nào xả giác chi đã sanh khởi được phát triển viên mãn.(51)

          43.  Bằng cách này, vị ấy sống quán pháp trong nội phápngoại pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp cả trong  nội pháp  lẫn ngoại pháp ... Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với bảy giác chi.

          [ 5. Tứ Diệu Đế ]

          44.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với Tứ Diệu Đế. (52) Và làm thế nào vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với Tứ Diệu Đế ? Ở đây, vị Tỷ-kheo biết như thật : ‘ Đây là khổ. Đây là nguồn gốc của khổ. Đây là sự diệt khổ. Đây là con đường đưa đến diệt khổ.’

          45. . Bằng cách này, vị ấy sống quán pháp trong nội pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp trong ngoại pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp cả trong  nội pháp  lẫn ngoại pháp.  Hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh sanh khởi trong các pháp, hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh đoạn diệt trong các pháp, hoặc vị ấy sống quán bản chất của cả tánh sanh khởi lẫn tánh đoạn diệt trong các pháp. Hoặc chỉ với chánh niệm là ‘ có các pháp ’ được thiết lập trong vị ấy tới mức độ cần thiết để hướng đến chánh tríchánh niệm liên tục. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp vào bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với Tứ Diệu Đế.

[ Kết luận]

          46. Này các Tỷ-kheo, nếu vị nào tu tập Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm   như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng đắc một trong hai quả sau đây: hoặc là chứng Chánh trí ngay bây giờ và ở đây, hay nếu còn dấu vết của chấp thủ, thì chứng quả Bất Lai. (53)

          Này các Tỷ-kheo, không cần đến bảy năm. Nếu vị nào tu tập Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm   như vậy trong sáu năm…trong năm năm… trong bốn năm…trong ba năm… trong hai năm…trong một năm, vị ấy có thể chứng đắc một trong hai quả sau đây: hoặc là chứng Chánh trí ngay bây giờ và ở đây, hay nếu còn dấu vết của chấp thủ, thì chứng quả Bất Lai

          Này các Tỷ-kheo, không cần đến một năm. Nếu vị nào tu tập Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm như vậy trong bảy tháng.. . trong sáu tháng…trong năm tháng…trong bốn tháng… trong ba tháng… trong hai tháng… trong một  tháng… trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng đắc một trong hai quả sau đây: hoặc là chứng Chánh trí ngay bây giờ và ở đây, hay nếu còn dấu vết của chấp thủ, thì chứng quả Bất Lai

          Này các Tỷ-kheo, không cần đến nửa tháng. Nếu vị nào tu tập Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm như vậy trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng đắc một trong hai quả sau đây: hoặc là chứng Chánh trí ngay bây giờ và ở đây, hay nếu còn dấu vết của chấp thủ, thì chứng quả Bất Lai

          47.  Như vậy, liên hệ đến sự kiện này, Thế Tôn đã nói rằng: “Này các Tỷ-kheo, đây là con đường trực tiếp  để thanh tịnh chúng sanh, vượt qua sầu não, diệt trừ khổ đau và ưu phiền, để thành tựu chánh đạo, đưa đến chứng ngộ Niết Bàn – đó là Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm.”

          Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

      ( Trung BK I- Kinh số 10: Kinh Niệm Xứ ( Sathipatthana Sutta), tr.131-150)

 

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 165466)
30/06/2015(Xem: 10780)
08/02/2015(Xem: 19964)
10/10/2010(Xem: 98765)
10/08/2010(Xem: 102509)
08/08/2010(Xem: 106291)
21/03/2015(Xem: 10435)
27/10/2012(Xem: 55404)
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.